Chương 4. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM
4.2. Một số giải pháp đối với huyện Phú Lương tỉnh Thái nguyên trong việc giải quyết việc làm cho người nông dân khi thu hồi đất
4.2.5. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề trên địa bàn huyện
Thực tiễn cho thấy, dạy nghề để chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp đƣợc coi là giải pháp hữu hiệu nhằm đáp ứng nhu cầu của đông đảo nông dân thiếu việc làm và thất nghiệp, đồng thời cũng góp phần tích cực trong việc ổn định kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện. Đào tạo nghề sẽ tạo ra nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng đƣợc yêu cầu của CNH - HĐH; tạo ra một đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng nhanh với mọi biến động của quá trình sản xuất. Để đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cần làm tốt những công việc sau:
Đối với UBND huyện, UBND các xã
Cần rà soát, gắn quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp với phát triển các ngành nghề; quy hoạch đất dịch vụ và đất liền kề các khu công nghiệp; đồng thời tiếp tục xây dựng trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ người nông dân bị thu hồi đất về dạy nghề và việc làm phù hợp với tình hình thực tiễn của mỗi thôn, mỗi xã. Chủ động xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người nông dân ngay trong quá trình xây dựng quy hoạch và kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp; tăng cường kinh phí đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm trong chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và giáo dục đào tạo để hỗ trợ người nông dân bị thu hồi đất sớm chuyển đổi nghề, ổn định việc làm.
Thường xuyên rà soát, tổng hợp, dự báo nhu cầu học nghề của nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện để xây dựng phương án hỗ trợ dạy nghề.
Thông báo công khai kế hoạch hàng năm về chỉ tiêu và kinh phí đƣợc duyệt cho huyện, cho các xã và các cơ sở dạy nghề trên địa bàn để đăng ký số lƣợng học viên; giao nhiệm vụ và hướng dẫn các cơ sở dạy nghề đủ điều kiện để tổ chức các khoá dạy nghề cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp theo kế hoạch và mức chi đã được duyệt. Đặc biệt, các địa phương cần có cơ chế khuyến khích để thu hút các cơ sở doanh nghiệp tham gia vào dạy nghề, ƣu tiên cho vay vốn từ quỹ quốc gia đối với những người đã học nghề cần vốn để tạo việc làm; chỉ đạo, kiểm tra thực hiện kế hoạch hàng năm về dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện.
Đối với các doanh nghiệp
Phải cam kết sử dụng lao động tại chỗ. Doanh nghiệp phải công khai số lƣợng tuyển dụng lao động trong dự án và theo tiến độ tuyển dụng trong từng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thời kỳ, số lƣợng cần tuyển bao nhiêu, yêu cầu nghề nghiệp, trình độ, tay nghề ra sao. Khuyến khích các doanh nghiệp tự đào tạo công nhân bằng chính sách hỗ trợ một phần kinh phí dạy nghề cho công nhân, nhân viên mới tuyển chƣa có chứng chỉ nghề.
Đối với các cơ sở dạy nghề
Tham gia dạy nghề cho lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mở rộng số lượng nghề đào tạo phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện, với thực tiễn sản xuất và yêu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Việc chọn nghề và nội dung dạy nghề cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của địa phương, phải là các nghề có nhu cầu đào tạo ở đại phương và có nhiều nông dân tham gia học nghề. Trên cơ sở xác định rõ mục tiêu cần dạy theo yêu cầu, mục tiêu của người học, biên soạn chương trình hoặc chuyên đề cho phù hợp. Cùng với việc dạy cũng cần đẩy mạnh việc liên kết với các doanh nghiệp trên địa bàn để vừa đào tạo, vừa giải quyết việc làm cho học viên.
4.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại nông thôn
Để đạt đƣợc mục tiêu phát triển CNH-HĐH mà Đảng ta đã đề ra thì việc đào tạo nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực nông thôn đƣợc coi là giải pháp trọng điểm. Trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề có đƣợc nâng cao thì người nông dân mới có điều kiện, có nhiều cơ hội hơn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động. Một số biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn:
Thứ nhất, đào tạo nghề nông cho nông dân, chủ yếu là tập huấn, bồi dƣỡng kiến thức cho lao động nông nghiệp qua trung tâm học tập cộng đồng tại thôn. Sử dụng các mô hình mẫu của chương trình khuyến nông. Kết hợp hình thức đào tạo, bồi dưỡng ở trình độ cao hơn tại các trường cao đẳng, trung cấp nông nghiệp. Xây dựng các mô hình trình diễn ngay trên đồng ruộng, chuồng trại, ao hồ…sau đó mời nông dân đến tham quan, học tập huấn luyện, tập huấn kỹ thuật ngay trên những mô hình trình diễn. Người học nghề cũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
có thể đến trang trại của các nông dân làm kinh tế giỏi để học chăn nuôi thuỷ sản, cách trồng cây ăn quả, làm nấm, trồng hoa, chế biến nông sản…
Thứ hai, đào tạo những nghề thuộc khu vực công nghiệp-dịch vụ cho lao động nông thôn, chủ yếu là thanh niên, học sinh mới tốt nghiệp phổ thông hoặc bổ túc văn hoá giúp họ chuẩn bị sẵn điều kiện chuyển sang lao động phi nông nghiệp. Với lực lƣợng lao động này, cần đặc biệt coi trọng dạy nghề, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu lao động. Hình thức đào tạo chủ yếu qua các cơ sở dạy nghề trên địa bàn huyện.
Thứ ba, nâng cao chất lƣợng giáo dục phổ thông nông thôn. Liệu chất lƣợng đào tạo có đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao của xã hội không?
Muốn vậy công tác giảng dạy, đào tạo luôn phải đổi mới, cập nhật và chuẩn hoá giáo trình cũng nhƣ đội ngũ giáo viên. Về nội dung này cần tập trung thực hiện đồng bộ nâng cấp cơ sở vật chất và nâng cao chất lƣợng đôi ngũ giáo viên. Tiếp tục đầu tƣ kinh phí cho kiên cố hoá phòng học ở khu vực nông thôn chƣa hoàn thành. hỗ trợ 100% kinh phí sách giáo khoa, sinh hoạt phí cho học sinh thuộc diện hộ nghèo hoặc đối tƣợng chính sách xã hội. Có chính sách đƣa cán bộ khoa học-kỹ thuật về nông thôn thông qua việc yêu cầu thực hiện chế độ nghĩa vụ đối với sinh viên đại học học các ngành liên quan đến nông nghiệp, nông thôn về công tác tại cơ sở xã thời hạn từ 3 đến 5 năm.
4.2.7. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng cho người nông dân tìm và tự tạo việc làm
Cơ sở của giải pháp chính sách xuất phát từ thực trạng quy mô các nguồn vốn hỗ trợ việc làm còn nhỏ bé, mức vốn cho vay còn khiêm tốn, hạn chế, khó lòng để giúp họ học đƣợc một nghề, tìm đƣợc việc làm hay tự mở doanh nghiệp, cơ sở SXKD của riêng mình; xuất phát điểm thu nhập của đối tƣợng nông dân vùng thu hồi đất rất thấp so với mặt bằng các đối tƣợng khác ở vùng đô thị nên họ gặp khó khăn về tài chính trong quá trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
học nghề và tự tạo việc làm; do trình độ hạn chế nên họ cũng khó khăn trong tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay để phát triển SXKD; điều kiện, thủ tục hành chính để vay vốn còn khá rườm rà, khiến người nông dân khó tiếp cận với các nguồn vốn.
Vì vậy rất cần có giải pháp hỗ trợ tín dụng để người nông dân có thể tiếp cận và sử dụng có hiệu quả vốn vay trong quá trình tìm và tự tạo việc làm.
Hỗ trợ tín dụng trong khi học nghề đổi mới chính sách hỗ trợ tín dụng cho người nông dân trong khi học nghề theo hướng giảm dần tính bình quân hoá kinh phí dạy nghề và thay đổi hình thức hỗ trợ nhằm sử dụng nguồn vốn hỗ trợ một cách hiệu quả. Cụ thể, xác định rõ từng loại đối tƣợng đƣợc hỗ trợ và định mức hỗ trợ tương ứng đồng thời hình thức hỗ trợ cần được thay đổi phù hợp với từng đối tƣợng (bao gồm cả hiện vật, tiền mặt…) đảm bảo cung cấp được đầy đủ các hỗ trợ cần thiết để đưa được người nông dân đến với các chương trình đào tạo nghề.
Hỗ trợ cho người học trong thời gian học nghề để chi trả các chi phí cho việc học tập, sinh hoạt trong thời gian theo học tại cơ sở dạy nghề (bao gồm: học phí, chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại). Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng nhóm đối tƣợng ở nông thôn để xác định mức hỗ trợ, phương thức hỗ trợ cho phù hợp, có thể dưới các hình thức:
- Hỗ trợ không hoàn lại một phần cho người học nghề thuộc các đối tƣợng chớnh sỏch, trong ủú cú lao động thuộc cỏc hộ bị thu hồi đất canh tỏc do ĐTH hoặc do xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp, khu chế xuất và các dự án khác về an ninh quốc phòng vì lợi ích quốc gia có nhu cầu học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp. Mức hỗ trợ một tháng tối đa bằng 1,5 lần mức tiền lương tối thiểu hiện hành của Nhà nước. Số tiền hỗ trợ tính theo số tháng thực học trong năm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Hỗ trợ về kinh phí đào tạo cho người học thông qua kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia việc làm, giảm nghèo và Dự án Tăng cường năng lực dạy nghề thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục - đào tạo.
Hỗ trợ tín dụng sau quá trình đào tạo để tìm việc làm Chính sách này chủ yếu sẽ liên quan đến các hoạt động tƣ vấn, hỗ trợ tìm việc làm hoặc tạo việc làm cho người nông dân sau quá trình học nghề. Việc hỗ trợ để người nông dân sau học nghề có thể tự tạo đƣợc việc làm cũng là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo người nông dân sau khi học nghề có thể có tự tìm cơ hội chuyển nghề hoặc tự tạo việc làm mới để gia tăng thu nhập. Chính vì vậy, chính sách hỗ trợ này nhƣ một yếu tố đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của quá trình thực hiện chính sách - người nông dân học được nghề và có thể thực hành được trong cuộc sống để cải thiện sinh kế, cải thiện thu nhập.
Hỗ trợ tín dụng cho người nông dân tự tạo việc làm Khuyến khích những người có phương án sản xuất kinh doanh khả thi được vay vốn với quy mô lớn hơn vay đi học nghề và với lãi suất thấp để thành lập doanh nghiệp của mình hoặc góp vốn sản xuất kinh doanh. Cùng với cho vay vốn, các tổ chức chính quyền, chuyên môn, các hiệp hội, doanh nghiệp cần hướng dẫn đối tƣợng cách làm ăn, sử dụng vốn sao cho hiệu quả, ví dụ cách lập dự án, cách xây dựng kế hoạch sản xuất, khảo sát và phát triển các mô hình trang trại trồng trọt, chăn nuôi, khu du lịch sinh thái, v.v. . Cần xây dựng cơ chế kiểm soát nguồn vốn vay để tạo việc làm từ lúc lập dự án đến sử dụng vốn vay và cuối cùng là trả nợ.
Cải tiến thủ tục và định mức cho vay, đề xuất một số giải pháp hỗ trợ thủ tục và định mức cho vay cụ thể nhƣ sau:
- Cho vay không lấy lãi với người học nghề thuộc các đối tượng chính sách. Mức cho vay tối đa một lần được tính bằng 1,5 lần mức tiền lương tối thiểu nhân với số tháng thực học trong năm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Cho vay với mức lãi suất thấp cho người học nghề thuộc các đối tượng chƣa có việc làm; lao động thuộc các làng nghề nằm trong dự án khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống mà dự án không có khoản kinh phí riêng cho dạy nghề; lao động thuộc vùng chuyên canh có nhu cầu chuyển đổi nghề; lao động nông thôn khác có nhu cầu học nghề. Mức cho vay tối đa một lần đƣợc tính bằng 2 lần mức tiền lương tối thiểu nhân với số tháng thực học trong năm.
4.2.8. Người lao động cần nâng cao tính chủ động về tự tạo, tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình sau khi thu hồi đất nông nghiệp
Sự tham gia hỗ trợ, giúp đỡ của nhà nước cũng như chính quyền các cấp chỉ ở một mức độ nhất định. Nhu cầu giải quyết việc làm thì nhiều, song nhà nước và chính quyền các cấp chỉ có thể giải quyết được một phần nhu cầu đó.
Nếu cứ ỷ lại, trông chờ vào nhà nước thì vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất sẽ trở nên nan giải hơn rất nhiều. Vì vậy, người nông dân cần chủ động, dựa vào những điều kiện mà bản thân mình và gia đình có được tìm hướng đi cho mình. Để làm được điều đó cần nâng cao nhận thức về tự tạo việc làm cho người nông dân. Thay vì sử dụng tiền đền bù thông thường, có thể hướng dẫn người dân sử dụng bằng những cách hiệu quả hơn nhƣ:
+ Trích một khoản tiền được bồi thường góp vốn vào các dự án khu công nghiệp hoặc doanh nghiệp trong khu công nghiệp, trở thành các cổ đông.
Các cổ đông cá nhân không chỉ hưởng cổ tức mà còn tập hợp cổ phần, cử người đại diện tham gia quản lý trong công ty.
+ Sử dụng nguồn tiền làm kinh tế hộ gia đình hoặc thành lập hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông qua các hợp đồng cung ứng nguyên vật liệu, dịch vụ…tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn huyện.
+ Sử dụng tiền đền bù cho mình và con em mình học nghề, chuyển đổi nghề nghiệp.
4.2.9. Nâng cao năng lực, vai trò lãnh đạo, quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm