Sau khi được học tập, nghiên cứu các chuyên đề môn Giới trong lãnh đạo, quản lý, tôi lựa chọn chủ đề: “Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” để hoàn thành môn học Giới trong lãnh đạo, quản lý trong chương trình hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị. Về vấn đề Bình đẳng giới là một vấn đề tương đối rộng mà tiểu luận không thể đề cập hết. Tôi xin được trình bày một số nội dung cụ thể của Tiểu luận như sau: Chương I : Tầm quan trọng và cơ sở chính trị, pháp lý của việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam Chương II: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.
Trang 1MÔN GIỚI TRONG QUẢN LÝ - LÃNH ĐẠO
chủ đề: “Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện
nay”
PHỤ LỤC
Trang 2A MỞ ĐẦU
"Bình đẳng giới" chính là bình đẳng nam nữ và là một trong những vấn đề cơ bản của quyền con người Xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì bình đẳng giới càng được chú trọng và thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống - xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lí Bình đẳng giới trong hoạt động quản lí, không đơn giản là nam - nữ có số lượng ngang nhau tham gia vào quản lí; cũng không có nghĩa coi nam, nữ là giống nhau, không tính đến yếu
tố tâm sinh lý, yếu tố xã hội của từng giới trong hoạt động quản lí Bình đẳng giới trong hoạt động quản lí thể hiện ở chỗ nam và nữ cùng có vị thế xã hội như nhau khi tham gia và thực hiện quản lí; sự tương đồng và khác biệt của nam và nữ (dưới góc độ giới và giới tính) được thừa nhận và được coi trọng như nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của từng giới; cả cán bộ nam và cán bộ nữ đều có cơ hội, nghĩa vụ và quyền lợi như nhau trong quá trình thực hiện quản lí, được hưởng các lợi ích bình đẳng như nhau theo các nguyên tắc nhất định
Vấn đề bình đẳng giới đã và đang trở thành mối quan tâm chung của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đây là một trong những mục tiêu quan trọng trong chương trình phát triển của nước nhà Chính
vì vậy trong quá trình
Sau khi được học tập, nghiên cứu các chuyên đề môn Giới trong lãnh
đạo, quản lý, tôi lựa chọn chủ đề: “Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” để hoàn thành môn học Giới trong lãnh đạo, quản lý
trong chương trình hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị Về vấn đề Bình đẳng giới là một vấn đề tương đối rộng mà tiểu luận không thể đề cập hết Tôi xin được trình bày một số nội dung cụ thể của Tiểu luận như sau:
Chương I : Tầm quan trọng và cơ sở chính trị, pháp lý của việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay
Trang 3B NỘI DUNG Chương I : Tầm quan trọng và cơ sở chính trị, pháp lý của việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam
1 Khái niệm bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý
Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý có nghĩa là nam giới, nữ giới có
vị trí, vai trò ngang nhau trong công tác lãnh đạo, quản lý, được tạo điều kiện
và cơ hội phát huy năng lực của mình ngang nhau ở tất cả các khâu của quy trình công tác cán bộ và được thụ hưởng kết quả bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo, quản lý chính thức trong hệ thống chính trị công bằng
2 Cơ sở chính trị, pháp lý của việc thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý
Nhà nước đã ban hành nhiều Luật và chính sách trực tiếp hoặc gián tiếp có lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị Cam kết chính trị mạnh mẽ của Nhà nước về thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý được thể hiện trong các văn bản pháp luật cao nhất như Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; Luật bình đẳng giới
2016, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2010-2020 và Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị là những chương trình, chủ trương thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực tham chính đã chỉ rõ rằng:
“Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp từ 35% đến 40%
Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”; phấn đấu đến năm 2020 đạt 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ
Tinh thần bình đẳng giới trong chính trị cũng được khẳng định tại các
kỳ đại hội Đảng gần đây Tại Đại hội XII, Đảng ta đã nhấn mạnh, phải “tăng
Trang 4tỷ lệ phụ nữ tham gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước” Tiếp theo đó, Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ” Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) đã xác định rõ mục tiêu đến năm 2030: “Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp ủy và tổ chức đảng các cấp Tỷ lệ nữ cấp ủy viên các cấp đạt từ 20-25%
Đối với cán bộ lãnh đạo nữ trong bộ máy chính quyền nhà nước, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đề ra chỉ tiêu:
“Phấn đấu đến năm 2020 đạt 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ’ Gần đây nhất, Chương trình
“Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn 2021-2030” đề ra mục tiêu
“Đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75%, các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ”
Có thể nói, đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
3 Tầm quan trọng của việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý
Thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị có tầm quan trọng to lớn vì một số lý do căn bản sau:
Thứ nhất, bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý có vai trò quan trọng vì thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý là vấn đề của quyền bình đẳng và công bằng về sự đại diện chính trị Lãnh đạo còn là sự đại diện cho lợi ích và tiếng nói của mọi giai cấp, tầng lớp và giới tính
Thứ hai, thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý trong khu vực công đảm bảo luật pháp, chính sách công có chất lượng tốt hơn, đảm bảo được nhu cầu và lợi ích của nữ giới và nam giới Nữ giới và nam giới có những nhu cầu, lợi ích, sự trải nghiệm cuộc sống và cách nhìn nhận vấn đề khác nhau ra quyết định khác nhau
Trang 5Thứ ba, thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý có đóng góp cho sự phát triển bền vững của các quốc gia vì nữ lãnh đạo trong khu vục công có xu hướng ủng hộ hơn những chính sách quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của một quốc gia như chính sách về giáo dục, y tế, môi trường
Thứ tư, thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý là sự huy động
và sử dụng nguồn lực chất lượng cao làm lãnh đạo hiệu quả
Thứ năm, thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý gopc phần truyền cảm hứng, xây dựng hình mẫu nữ lãnh đạo cho các phụ nữ trẻ và trẻ
em gái trong xã hội
Thứ sáu, thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lysgops phần từng bước xóa bỏ định kiến giới về vai trò giới trong gia đình và ngoài xã hội, dần xóa borddinhj kiến về việc nữ giới chỉ làm tốt công việc gia đình, nội trợ
và phục vụ
Thứ bảy, thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thứ tám, việc thực hiện bình đẳng giới trong quản lý, lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay có căn cứ từ thực tiễn
Trang 6Chương II: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay
1 Thực trạng về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý
Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam có cơ hội phát huy tài năng của mình và tham gia những vị trí lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các đơn vị, doanh nghiệp… Hàng loạt văn bản pháp luật được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới Đặc biệt, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã quy định rõ phụ nữ có quyền bầu cử, ứng cử, cũng như các cơ chế để đảm bảo phụ nữ được thực hiện những quyền đó
Gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam luôn có một Phó Chủ tịch nước là nữ Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25% Tỷ lệ đại biểu nữ từ năm 2005 đến 2011 tại các cơ quan dân cử ở địa phương, như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên 23,8%, cấp huyện tăng từ 20,1% lên 23,2%; cấp xã tăng từ 16,6% lên 20,1% Mặc dù tỷ lệ này chưa cao, nhưng đã chứng minh được vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc đảm nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương
Bảng 1: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam qua các kỳ bầu cử
Trang 7Nhiệm kỳ Nữ Đại biểu Tổng số
Đại biểu
Tỷ lệ nữ/ Tổng số
Nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, nguyên Chủ tịch
Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam khẳng định: “So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, vị thế của phụ nữ Việt Nam đứng trong tốp đầu
Có thể ít chỗ này, hạn chế chỗ nọ, nhưng tựu trung lại thì chỉ số phát triển giới
và phụ nữ tham gia Quốc hội của chúng ta đứng đầu trong 8 nước có Nghị viện ở Đông Nam Á Còn ở châu Á- Thái Bình Dương, chúng ta cũng đứng hàng thứ 4 Và trên toàn thế giới, trong tất cả 155 nước được xếp hạng thì chúng ta ở trong nhóm khá”
Ngoài việc tham gia vào bộ máy cơ quan Nhà nước, phụ nữ Việt Nam còn tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức nghề nghiệp và đặc biệt tham gia vào hầu hết các ngành nghề, công việc, kể cả những lĩnh vực trước đây chỉ dành cho nam giới Với hơn 50% tỷ trọng lao động trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, đội ngũ cán bộ nữ khoa học, phụ nữ nông dân đã đóng góp rất lớn vào thành tựu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sự đóng góp của đội ngũ lao động nữ trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ cũng là động lực để phát triển kinh tế Nhiều chị đã phấn đấu vươn lên, giữ những cương vị chủ chốt trong hoạt động quản trị doanh nghiệp Đội ngũ nữ trí thức Việt Nam đã có bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, với 36,64% trong khoa học tự nhiên; 43,42% trong lĩnh vực khoa học nông - lâm - thủy sản; 33% trong khoa học
Trang 8công nghệ Ngày càng có nhiều tập thể và cá nhân khoa học nữ có công trình nghiên cứu được nhận giải thưởng VIFOTEC của Liên hiệp các Hội khoa học
và kỹ thuật Việt Nam, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kovalevskaia Nhiều nhà khoa học nữ đã lập ra các hội nghề nghiệp, câu lạc
bộ, trung tâm nghiên cứu, tư vấn để tiếp tục phát huy trí tuệ, tài năng của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước
Tuy nhiên, bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và là rào cản đối với sự phát triển của phụ nữ Theo đánh giá của Ban tổ chức Trung ương, sau 5 năm tổng kết Chỉ thị 37 và 2 năm thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng, chính quyền, đại biểu dân cử vẫn còn thấp, chưa ổn định
Để phụ nữ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong gia đình và xã hội, nhất là vai trò trong quản lý lãnh đạo, các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến cơ sở, cần nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí và tài năng của phụ nữ cũng như sự đóng góp của họ để đưa vị thế xã hội của người phụ nữ Việt Nam lên một tầm cao mới
Theo số liệu của Hội Phụ nữ, tỷ lệ nữ trong các tổ chức Đảng nhiệm
kỳ 2010-2015 cấp T.Ư là 8,57%, tỉnh/thành là 11,37%, quận/huyện 15,01%, xã/phường 18,01%, tăng không đáng kể so với nhiệm kỳ trước và không đạt tiêu chuẩn 15% ở cấp T.Ư và tỉnh/thành Còn trong Quốc hội, nhiệm kỳ
2011-2016 chỉ đạt 24,4% Đây là nhiệm kỳ thứ 2 tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội bị tụt giảm Nhiệm kỳ 2002-2007 là 27,3%, nhiệm kỳ 2007-2011 là 25,76%
Trong các cấp ủy đảng: Kết quả đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ
2020-2025 vừa qua cho thấy, ở cấp cơ sở, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt 20,8% (tăng 1,62%) so với nhiệm kỳ trước Đối với cấp trên cơ sở đạt 17,4% tăng 2,41% Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 15,73% và tăng 2,72% so với nhiệm kỳ trước
Trong các cơ quan dân cử: Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 vừa qua đạt được những dấu hiệu tích cực, cụ thể: tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV là 30,26%, cao nhất từ trước
Trang 9đến nay Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026 là 29%; cấp huyện là 29,8%; cấp xã là 28,98% (Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, “bảo đảm có ít nhất là 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND là phụ nữ; phấn đấu tỷ lệ phụ nữ trúng cử là khoảng 30% tổng số đại biểu HĐND”)
Trong bộ máy hành chính nhà nước cấp Trung ương và địa phương: Tính đến hết tháng 7-2020, tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ có lãnh đạo nữ đạt 36,6% (11/30), trong đó có 11/16 nữ thứ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Đến cuối nhiệm
kỳ 2011-2015, tỷ lệ UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã lần lượt là: 32,14%; 32,64%; 21,95%
Bảng 2: Tỷ lệ phân bố nữ đại biểu trong một số cơ quan của Quốc hội Đơn vị
Khoá 2002-2007 Khoá 2007 - 2011
Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng 43,2 56,8 28,2 71,8
Uỷ ban về các vấn đề xã hội 40,5 59,5 7,5 62,5
Uỷ ban KH công nghệ và môi trường 19,4 80,6 2,4 67.6
Uỷ ban quốc phòng và an ninh 2,6 97,4 0 100
Uỷ ban kinh tế và ngân sách 12,5 87,5 8,3 91,7
Bảng 3: Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp
Các cấp Khoá 1999-2004 Khoá 2004-2011
(Nguồn: Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2004)
Bảng 4: Tỷ lệ nữ chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp (%)
Nhiệm kỳ 1999-2004 Nhiệm kỳ 2004-2011
Trang 10Chức danh Cấp
tỉnh
Cấp huyện Cấp xã
Cấp tỉnh
Cấp huyện Cấp xã
Phó chủ tịch 8,19 11,42 5,57 26,56 19,64 10,61
Như vậy có một nghịch lý, bất chấp sự nỗ lực tuyên truyền của Hội LHPN Việt Nam và Vụ Bình đẳng giới – Bộ LĐTBXH, càng hô hào bầu cử cho đại biểu nữ, tỷ lệ càng tụt giảm
Tỷ lệ phụ nữ tham gia chính trị còn quá nhỏ so với tổng số “một nửa thế giới” Tuy nhiên, phụ nữ giữ vị trí chủ chốt trong cơ quan Đảng, dân cử và chính quyền còn ít ỏi, hiếm hoi hơn nữa Ở cấp T.Ư nhiệm kỳ 2011-2016 chỉ
có 1 nữ Ủy viên Bộ Chính trị và 2 nữ Bí thư Cấp địa phương, phụ nữ là Bí thư Tỉnh ủy, Huyện ủy và Đảng ủy xã chỉ đạt 0,25%; 5,5% và 7,25% Thậm chí, 9/35 tỉnh thành không có nữ lãnh đạo chủ chốt
Đến năm 2001 số cán bộ nữ có học hàm học vị là gần 18.000 người song tỷ lệ những người chủ trì các đề tài, dự án khoa học và công nghệ các cấp, nhất là cấp nhà nước là rất thấp Trong giai đoạn 1991 – 1995 trong tổng số trên 500 đề tài thuộc 31 chương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước chỉ có 21 cán bộ nữ đảm đương cương vị chủ trì đề tài (chiếm dưới 4%) Ở giai đoạn sau 1996 – 2000, số phụ nữ chủ trì đề tài tuy có tăng lên tới 10% song vẫn còn rất thấp và chưa phản ánh đúng năng lực và khả năng đóng góp của phụ nữ trong những nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan trọng tầm quốc gia (Báo cáo của Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, 2005) Năm
2008 - 2009 trong ngành khoa học xã hội có hai nữ phó giáo sư, tiến sỹ là chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước Tình trạng phổ biến hiện nay là nữ cán bộ khoa học là lực lượng tham gia (đôi khi là lực lượng chính) vào các công trình khoa học công nghệ cấp nhà nước, còn người chủ trì các công trình này chủ yếu lại
là cán bộ nam Điều nghịch lý là trong nhiều trường hợp, trình độ năng lực và kiến thức khoa học công nghệ của phụ nữ đã không thua kém nam giới, thậm chí chính những người đang điều hành các công trình này
Bảng 11: Tỷ lệ nam, nữ giữ các chức danh, học vị khoa học