Mặc dù vấn đề giới đã được quy chuẩn và thể chế hóa trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhưng trong thực tiễn thực hiện các hoạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
GIÁP THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ GIỚI TRONG QUẢN LÝ RỪNG TẠI HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
GIÁP THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ GIỚI TRONG QUẢN LÝ RỪNG TẠI HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60620116
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Giáp Thị Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành chương trình Cao học chuyên ngành Phát triển nông thôn và hoàn thiện luận văn này Tôi đã được sự đồng tình ủng hộ của gia đình, bạn bè và được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan Đặc biệt là sự quan tâm của nhà trường, sự tận tụy dạy bảo của thầy cô đã và đang đưa tôi đi đến những thành công trên con đường học tập, bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo sau Đại học, Ban chủ nhiệm lớp cùng các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi hoàn thiện
đề tài này Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn này đến thầy giáo - PGS.TS Dương Văn Sơn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thiện luận văn tốt nghiệp Tôi xin trân thành cảm ơn Ban Quản lý dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp (3PAD) tại tỉnh Bắc Kạn và các quý cơ quan, bao gồm: Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện Ba Bể, Hội LHPN huyện Ba Bể, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện Ba Bể, Phòng lao động - xã hội huyện Ba Bể, Phòng thống kê huyện Ba Bể, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Ba Bể, Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội xã Hoàng Trĩ và xã Phúc Lộc, cấp ủy chính quyền thôn Nà Đuổn, thôn Bản Luộc, thôn Nà Slải và thôn Bản Duống
Bản thân, tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn này, nhưng khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy, cô giáo và các bạn học viên chỉ bảo, đóng góp ý kiến để luận văn của tôi có thể hoàn thiện hơn
Thái nguyên, ngày 08 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Giáp Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về quản lý rừng và thực trạng tài nguyên rừng của tỉnh Bắc Kạn 4
1.1.1 Khái niệm rừng, quản lý rừng 4
1.1.2 Quản lý rừng 5
1.2 Tổng quan về Giới và tiếp cận Giới trong quản lý và phát triển rừng 9
1.2.1 Lý thuyết cập nhật về các vấn đề giới 9
1.2.2 Chính sách/chiến lược của Việt Nam liên quan đến bình đẳng giới và giới trong quản lý sử dụng rừng 13
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
Trang 62.2.1 Đánh giá, phân tích vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong quản
lý rừng tại địa bàn nghiên cứu 23
2.2.2 Đánh giá, phân tích định kiến giới - lực cản đối với phụ nữ trong quản lý, sử dụng rừng tại địa bàn nghiên cứu 24
2.2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giới trong quản lý và phát triển rừng tại huyện Ba Bể 24
2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu 24
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.3.3 Phương pháp phân tích sử lý số liệu 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 27
3.1.1 Thực trạng tài nguyên rừng của tỉnh Bắc Kạn 27
3.1.2 Định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn 28
3.1.3 Mô tả địa bàn khu vực nghiên cứu 29
3.2 Đánh giá, phân tích vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong quản lý rừng tại địa bàn nghiên cứu 36
3.2.1 Vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong việc giao đất lâm nghiệp và quyền sử dụng đất lâm nghiệp 36
3.2.2 Vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong hoạt động canh tác nông-lâm nghiệp và quản lý, bảo vệ rừng 40
3.2.3 Vai trò vị thế của phụ nữ và nam giới trong hoạt động khai thác các nguồn lợi từ rừng 46
3.2.4 Vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong tiếp cận, kiểm soát nguồn lực liên quan đến quản lý rừng 48
3.3 Đánh giá, phân tích định kiến giới - lực cản đối với phụ nữ trong quản lý, sử dụng rừng tại địa bàn nghiên cứu 63
3.3.1 Định kiến giới trong phân công lao động theo giới 63
3.3.2 Định kiến giới trong quyền ra quyết định 65
3.3.3 Định kiến giới trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực 67
Trang 73.3.4 Định kiến giới trong công việc lãnh đạo chính quyền và cộng đồng 70
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giới trong quản lý tại huyện Ba Bể 71
3.4.1 Một số giải pháp đối với cấp huyện 71
3.4.2 Một số giải pháp đối với chính quyền cấp xã 73
3.4.3 Một số giải pháp cho hoạt động khuyến nông, khuyến lâm 74
3.4.4 Một số giải pháp đối với người dân, đặc biệt là phụ nữ 74
76
1 Kết luận 76
2 Kiến nghị 77
78
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CASI Chương trình tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội
trong Xóa đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên
GCNQSDD Giấy chúng nhận quyền sử dụng dất (sổ đỏ, xanh)
UBQGVSTBPN Uỷ Ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ
IFAD Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc tế
LĐTBXH Lao động thương binh xã hội
NN&PTNN Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 9WB Ngân hàng Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
2020 28
Bảng 3.2 Diện tích đất phân theo loại đất của huyện Ba Bể năm 2012 30
Bảng 3.3 Phụ nữ trong các nhóm tuổi lao động 38
Bảng 3.4 Người đưa ra quyết định trong các hộ 40
Bảng 3.5 Thời gian hoạt động sản xuất theo mùa trong năm của hộ gia đình 41
Bảng 3.6 Nam/nữ tham gia các hoạt động canh tác nông - lâm nghiêp 42
Bảng 3.7 Tỷ lệ nữ chủ hộ và tham gia quản lý hộ 43
Bảng 3.8 Việc làm nhiều hơn của mỗi giới qua thảo luận nhóm 46
Bảng 3.9 Phân công lao động trong hoạt động khai thác nguồn lợi từ rừng phân theo nhóm kinh tế hộ 47
Bảng 3.10 Khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực đối với từng giới của các hộ 48
Bảng 3.11 Ngưòi đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 50
Bảng 3.12 Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở 2 xã nghiên cứu 51
Bảng 3.13 Tình hình sử dụng nguồn vốn của hộ phân theo giới tính 52
Bảng 3.14 Kết quả vay vốn qua kênh Hội LHPN của 2 xã nghiên cứu 53
Bảng 3.15 Tỷ lệ tiếp cận khuyến nông/khuyến lâm của phụ nữ và nam giới ở các địa điểm nghiên cứu 55
Bảng 3.16 Phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2010 - 2015 59
Bảng 3.17 Số giời làm việc của từng giới trong ngày 63
Bảng 3.18 Hoạt động trong gia đình của từng giới qua thảo luận nhóm 64
Bảng 3.19 Người ra quyết định các công việc lớn trong gia đình 65
Bảng 3.20 Quyền ra quyết định của phụ nữ và nam giới trong hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp 66
Bảng 3.21 Số lượng nam/nữ giới tham dự lớp tập huấn của dự án 3PAD tổ chức tại xã Phúc Lộc 68
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nam giới và nữ giới được đứng têngiao nhận đất lâm nghiệp 36
Biểu đồ 3.2 Khảo sát khả năng tiếp cận việc làm của nam giới và phụ nữ 58
Biểu đồ 3.3 Trình độ văn hóa của nam và nữ tại địa bàn nghiên cứu 59
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ người ốm trong gia đinh được chăm sóc chữa trị 61
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ nam giới và phụ nữ thực hiện Kế hoạch hóa gia đình tại địa bàn nghiên cứu 62
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ nam/nữ giới tham dự lớp tập huấn của dự án 3PADtổ chức tại xã Phúc Lộc 69
Hình 3.1 Bộ máy lãnh đạo thôn có sự tham gia của phụ nữ (Chi hội phụ nữ) 70
Trang 12MỞ ĐẦU
Giới được coi là vấn đề xuyên suốt trong tất cả các quá trình vận động và biến đổi của xã hội nói chung, trong đó có sản xuất nông - lâm nghiệp - một lĩnh vực hiện chiếm tới khoảng 70% [2] lực lượng lao động của Việt Nam
Trong thời gian qua, Việt Nam đã có những biến đổi rất nhanh chóng về kinh
tế - xã hội, đặc biệt là có những thành công lớn trong lĩnh vực giảm nghèo Chính vì vậy, trong chiến lược giới và phát triển, giới hiện đang được coi là vấn đề trọng tâm cho phát triển bền vững, trong đó việc lồng ghép giới được coi là chiến lược hữu hiệu nhằm xóa đói giảm nghèo
Mặc dù vấn đề giới đã được quy chuẩn và thể chế hóa trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhưng trong thực tiễn thực hiện các hoạt động cộng thêm bối cảnh xã hội nông thôn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi những tàn dư của chế độ gia trưởng phong kiến, việc thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vai trò của phụ nữ trong ra quyết định phát triển kinh
tế vẫn còn rất hạn chế Yêu cầu về lồng ghép giới hiện nay gần như là vấn đề xuyên suốt bắt buộc trong tất cả các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế của Việt Nam
Gói gọn trong lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp và cụ thể hơn là quản lý rừng, vấn đề giới gần như là một lĩnh vực bị bỏ quên trong suốt thời gian qua Các chương trình, chính sách trong quản lý và phát triển rừng gần như chưa chú trọng đến vai trò của giới, đặc biệt là vai trò của phụ nữ trong quản lý bền vững rừng Theo nhiều đánh giá gần đây, phụ nữ là những người tham gia trực tiếp nhiều nhất vào các hoạt động quản lý rừng (khai thác lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng, chăm sóc rừng, chăn thả gia súc trong rừng, canh tác sản xuất trong rừng,…) nhưng họ lại là những người ít biết về cách thức, phương pháp, định hướng, chiến lược quản lý phát triển rừng Có thể nói, việc suy giảm diện tích rừng và suy giảm đa dạng sinh học nhanh chóng như hiện nay có một phần từ việc chưa phát huy được vai trò của phụ
nữ trong bảo vệ và phát triển rừng
Trang 13Dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp (3PAD) tại tỉnh Bắc Kạn được tài trợ bằng nguồn kinh phí từ vốn vay của Chính phủ Việt Nam đối với Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD), đối ứng của Chính phủ Việt Nam, sự đóng góp của người hưởng lợi và kinh phí tài trợ không hoàn lại của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) Dự án có nhiều hoạt động hỗ trợ cán
bộ chính quyền nâng cao năng lực quản trị và tạo điều kiện cho người dân, đặc biệt là đối tượng nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận đất đai, vốn, khoa học kỹ thuật, thị trường để phát triển sản xuất, cải thiện sinh kế bền vững Phân tích giới trong quản lý và phát triển rừng theo như tham chiếu của dự
án là hoạt động quan trọng và không thể thiếu trong kết quả của tất cả các hợp phần của dự án
Tại huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) với hơn 34 nghìn ha đất rừng sản xuất, trong
đó rừng tự nhiên được khoanh nuôi hơn 13 nghìn ha, rừng trồng gần 4 nghìn ha, còn gần 17 nghìn ha đất chưa có rừng Tính bình quân, mỗi xã có gần 2 nghìn ha đất chưa có rừng [12], có thể khai thác để trồng rừng sản xuất và xen canh cây lương thực hằng năm Nếu khai thác hết được tiềm năng đất rừng hiện có để nhân rộng mô hình xen canh giữa trồng rừng và cây lương thực thì chỉ riêng huyện Ba Bể sẽ thu thêm hàng trăm nghìn tấn sắn, ngô mỗi năm Đây nguồn lực rất lớn để sớm đưa Ba
Bể thoát khỏi diện 62 huyện nghèo nhất nước
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nhằm nâng cao vai trò giới trong quản
lý rừng tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Làm rõ thực trạng vai trò giới trong sử dụng và quản lý rừng, trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp/khuyến nghị giúp dự án thực hiện LGG trong sử dụng, quản lý
và phát triển rừng bền vững tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá, phân tích giới làm rõ hơn vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong quản lý rừng tại địa bàn nghiên cứu;
Trang 14- Đánh giá, phân tích định kiến giới - lực cản đối với phụ nữ trong quản lý,
sử dụng rừng
- Nghiên cứuđề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giới trong quản lý
và phát triển rừng tại địa bàn huyện Ba Bể
3 Ý nghĩa của đề tài
trong dự án phát triển, quản lý rừng;
nam giới, phụ nữ trong việc tham gia quản lý và phát triển rừng;
- Giúp chúng ta nhìn nhận ra được mặt tích cực của dự án để quản lý và phát triển rừng tại huyện Ba Bể, đồng thời cũng tìm ra được những mặt còn hạn chế trong quá trình thực hiện dự án để chúng ta khắc phục những hạn chế đó để mang lại hiệu quả cao nhất khi thực hiện dự án
-
- Cung cấp những bằng chứng cho các chiến lược vận động chính sách đối với dự án 3PAD
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
phương Giúp chúng ta nhận biết tầm quan trọng của vai trò giới trong quá trình lập
kế hoạch, thực hiện và đánh giá dự án
- Đề tài có thể là cơ sở để có những định hướng, giải pháp nhằm góp phần phát huy hiệu quả quản lý rừng
- Giúp chúng ta có một cái nhìn tổng thể hơn về mặt tích cực và những tồn đọng của dự án để chúng ta phát huy những mặt tích cực đó và đồng thời cũng có những đề xuất để khắc phục những mặt tồn đọng đó Làm sao mang lại hiệu quả cao nhất cho dự án
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về quản lý rừng và thực trạng tài nguyên rừng của tỉnh Bắc Kạn
1.1.1 Khái niệm rừng, quản lý rừng
Rừng là một dạng tài nguyên thiên nhiên có thể tự tái tạo (nay có một phần là tài nguyên nhân tạo), là đối tượng tác động để tạo ra lợi ích vật chất trực tiếp như lâm sản, lợi ích môi trường dịch vụ phục vụ con người Rừng lại là môi trường mà con người và nhiều sinh vật khác phát sinh, phát triển, song môi trường rừng còn có khả năng tương tác và cải thiện các dạng môi trường khác trong cùng không gian tồn tại như không khí, đất, nước Ngày nay, rừng đang đóng vai trò quan trọng trong môi trường sống, môi trường phát triển, và có tác dụng lớn trong việc hấp thụ, lưu trữ CO2 hạn chế quá trình thay đổi khí hậu trên trái đất
Do đứng từ nhiều góc độ nhìn nhận và sử dụng rừng, nhiều giai đoạn lịch sử phát triển nên đã có nhiều định nghĩa khác nhau về rừng
Những định nghĩa kinh điển xuất phát từ thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ XIX đều định nghĩa rừng tạo thành từ quần thể thực vật, động vật, vi sinh vật, đất đai, có tương tác lẫn nhau tạo thành hoàn cảnh rừng và có tương tác với các hoàn cảnh xung quanh, trong đó phải có quần thể cây gỗ cao (hoặc cầy loài thân thảo), tạo
thành hoàn cảnh rừng hoặc là một quần lạc sinh địa luôn phát triển như trường phái
Nga: Morodop G.F (1930), Tkachenko M.E (1952), Sucasep S.I (1944;1964) [5], hoặc trường phái Tây Âu: Tansley A.G (1926,1940), Richards P.W (1936,1956) [12] Việt nam chịu ảnh hưởng nặng từ những trường phái này, thể hiện trong các
ấn phẩm nghiên cứu của Thái văn Trừng (1962,1998), Trần Ngũ Phương (1964) Các giáo trình lâm học của Đại học Lâm nghiệp
Để hướng dẫn đo đạc và công bố độ che phủ rừng mỗi nước, FAO đã định nghĩa rừng, trong FAO FORESTRY PAPER số 12 đến 130: “Rừng là các hệ sinh thái có tối thiểu 10% tàn che của cây gỗ hoặc tre nứa trong điều kiện phức hệ đất, hệ động vật, hệ thực vật tự nhiên nói chung không phải là đối tượng để canh tác nông nghiệp Rừng được phân chia theo nguồn gốc với 2 phạm trù: Rừng tự nhiên là các
Trang 16khu rừng có tổ thành gồm cây bản địa của vùng Rừng trồng được con người tạo ra trên diện tích trước đây chưa từng có rừng nhưng thay đổi loài cây bản địa bằng loài mới khác, loài đa dạng di truyền” [3]
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế đưa ra định nghĩa, giống như FAO, được Thang
Hooi Chiew (2006) tiếp nhận như sau:” Đất phải rộng trên 0,5 ha, với chiều cao của các cây hơn 5m và độ che phủ hơn 10% hoặc các cây có khả năng đạt đến ngưỡng
nguyên vị của nó Điều này không bao gồm đất mà phần lớn đang sử dụng đất đô thị hoặc nông nghiệp Các cây có khả năng đạt đến độ cao tối thiểu là 5m Những diện tích đang khôi phục mà chưa đạt được nhưng hy vọng sẽ đạt độ che phủ 10% thì dược chấp mhận và bao gồm cả các cây có chiều cao 5m…” [13]
Trong quá trình hòa nhập, luật bảo vệ và phát triển rừng Việt nam (2004) đã định nghĩa” Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng [10]
Gần đây nhất Bộ NN-PTNT đã đưa ra định nghĩa mới (2009), theo xu thế hội nhập có định lượng các chỉ tiêu, mới ban hành 2009 là “ Rừng là hệ sinh thái, trong
đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn
từ 5m trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), có khả năng cung cấp gỗ Lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan” [1]
1.1.2 Quản lý rừng
Cũng giống như định nghĩa rừng, việc phân loại rất khác nhau, phong phú và đáp ứng yêu cầu sử dụng của người phân loại, chúng gồm phân loại theo đặc điểm sinh thái cấu trúc tự nhiên, theo sinh thái phát sinh, theo mục đích khai thác gỗ và quản lý rừng, theo năng lực phòng hộ nguồn nước, theo mục đích bảo tồn tự nhiên
và đa dạng sinh học (ĐDSH)
Phân loại từ lâu nay và bao trùm cả thế giới là theo đặc điểm sinh thái cấu trúc, người ta phân cấp theo nguồn gốc, theo vùng, theo cáu trúc tổ thành loài,
Trang 17Theo nguồn gốc thì có 2 cấp là rừng tự nhiên và rừng trồng; rừng tự nhiên lại được phân cấp theo điều kiện khí hậu như rừng ôn đới, nhiệt đới, rồi phân cấp thành rừng
lá kím, lá rộng, tre nứa, rồi ẩm, khô, ngập nước, ngập mặn, đá vôi, rồi kín, hở, hỗn loại thuần loại, núi cao, đồi gò, thung lũng, ẩm ướt, ngập nước v.v Ví dụ : Rừng hỗn loại, nhiệt đới, kín, ẩm, thường xanh, núi thấp, ưu thế cây họ dầu Cách phân loại này kinh điển và cả thế giới áp dụng
Phân loại theo lý thuyết sinh lạc quần địa theo lý thuyết Sucasev lấy “Kiểu
rừng” = Type làm đơn vị cơ bản và hệ thống các kiểu phụ không chỉ thảm cây mà
gắn liền với các nhân tố lập địa
Phân loại 14 kiểu rừng theo nhân tố sinh thái phát sinh của Thái văn Trừng
(1962) [4]
Phân chia rừng phục vụ khai thác gỗ và quản lý rừng (1960) do chuyên gia CHDC Đức Loschau đưa vào Việt nam, đã được cải tiến, Việt nam hóa nhiều lần và
sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay, gồm có 4 loại chính:
Loại I Không có rừng hoặc đã mất rừng, tùy theo thảm cỏ, cây bụi, cây gỗ tái sinh từ “ít đến nhiều” mà chia loại phụ Ia, Ib, Ic
Loại II Rừng non tái sinh hoặc trồng, đã khép tán
Loại III Rừng tự nhiên đã bị khai thác chính 1 hoặc nhiều lần tùy theo mức
độ khai thác từ “tàn kiệt đến khai thác ít” mà chia ra IIIa, IIIb, IIIc
Loại IV Rừng nguyên chưa khai thác chính hoặc khai thác rất ít
Phân chia rừng và thảm thực vật theo chức năng phòng hộ nguồn nước dựa trên cơ sở tác dụng điều tiết nước (biến lượng mưa, dòng chảy mặt thành dòng chảy ngầm, và chống lũ lụt xói mòn rửa trôi đất) của 3 nhân tố rừng là “độ tàn che tán lá,
số lượng tầng tán, kết cấu loài cây”, do Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải, 1997, Chương trình 327, trồng rừng phòng hộ phủ xanh đất trống đồi núi trọc [6]
Phân chia rừng phục vụ mục đích bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn ĐDSH của
tổ chức IUCN được nhiều quốc gia áp dụng Cấp phân loại đầu tiên là rừng sản xuất
Trang 18và rừng bảo vệ Rừng bảo vệ được chia tiếp thành vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài, khu bảo tồn cảnh quan,…
* Quản lý rừng và quản lý rừng bền vững
Khoa học quản lý rừng bắt đầu có từ đầu thế kỷ XIX, khi gỗ có giá trị thương mại trao đổi lớn Chủ rừng muốn có nhiều lãi suất bằng cách nâng cao năng suất, sản lượng gỗ trên đơn vị diện tích trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật tạo rừng, nuôi dưỡng, khai thác, thương mại dần dần trở thành các môn khoa học được nghiên cứu
áp dụng
Suốt thế kỷ XIX và gần hết thế kỷ XX, khoa học quản lý rừng luôn nhằm mục tiêu sản lượng ổn định, nghĩa là năm sau không ít hơn năm trước, từ đó các lý thuyết về điều chỉnh sản lượng theo diện tích, theo cấp đất để hàng năm có thu hoạch gỗ, thu nhập đồng đều đã được xây dựng, phát triển cho môn quản lý /quy hoạch rừng
Nửa cuối của thế kỷ XX, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, môi trường, con người chờ đợi ở rừng nhiều hơn nữa các khả năng cung ứng không chỉ về gỗ, lâm sản ngoài gỗ mà còn các chức năng bảo vệ môi trường, như phòng hộ nguồn nước, chống thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, giáo dục thẩm mỹ, môi trường, môn quản lý rừng đã giao thoa với nhiều môn khoa học khác và cũng
do vậy đem nhiều tên khác nhau, như quản lý rừng, điều chế rừng, quy hoạch rừng, thiết kế kinh doanh rừng, kinh lý rừng, nhưng nội dung vẫn tương đồng
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, khi con người thức tỉnh từ hậu quả hàng thế kỷ, phát triển nhanh bất chấp môi trường bị hủy hoại, nhất là tại nhiều nước đang phát triển vùng nhiệt đới Từ sau hội nghị thượng đỉnh toàn cầu Rio de Janeiro 1992, hàng loạt hoạt động của thế giới về phát triển bền vững, sôi động và được sự hưởng ứng của khắp nơi trên lục địa, biểu thị bằng các công ước, các chương trình, trong đó có hoạt động quản lý rừng bền vững đang phát triển sâu rộng trên một nửa diện tích mặt đất có rừng và cũng là nội dung xem xét trong phạm vi bài này
Khái niệm Quản lý rừng bền vững (QLRBV) được hiểu là chủ rừng hoặc người quản lý rừng tổ chức các hoạt động của một khu rừng xác định luôn thu được
Trang 19lợi ích về gỗ, lâm sản và giá trị dịch vụ tối đa mà không làm thay đổi diện tích, trữ lượng và năng suất lâm sản trong đó và không làm ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của khu rừng
Tiến sỹ Helsinki (1995) định nghĩa như sau: “Quản lý rừng bền vững là sự
quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện, hiện nay và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, và không gây
ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác”
Tổ chức gỗ nhiệt đới ITTO (2004) định nghĩa là: “Quản lý rừng bền vững là
quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý đã được đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội” [9]
Như vậy, phong trào QLRBV trên thế giới và các khối quốc gia rất sôi động, nhiều quốc gia lập thành chương trình, kế hoạch Việt nam đã đưa thành chương trình số 1 trong 3 chương trình phát triển của chiến lược Lâm nghiệp quốc gia 2006-2020.[2]
QLRBV có mục tiêu hạn chế mất rừng và suy giảm chất lượng cũng như tăng trưởng sản lượng rừng Đổi lại chủ rừng nào đã quản lý rừng bền vững đều được cấp một chứng chỉ đảm bảo rằng gỗ khai thác từ các khu rừng đạt tiêu chuẩn QLRBV được chấp nhận lưu thông trên mọi thị trường lâm sản với giá bán cao hơn bình thường Đây là sáng kiến của các đại gia buôn bán lâm sản và của người tiêu dùng chấp nhận giá mua cao hơn để bảo vệ rừng trên toàn thế giới
Trở lại hiệu quả đầu tiên của QLRBV, một là đảm bảo được diện tích rừng
ổn định từ quy mô nhỏ của chủ rừng đến lâm phận quốc gia, hai là ổn định việc sử dụng đất, ít thay đổi về đất và rừng (LULUCF) Ba là giữ ổn định chất lượng rừng với sản lượng và lượng sinh trưởng gỗ và lâm sản không suy giảm Đây chính là đầu vào sản phẩm quang hợp từ hấp thụ Cacbonic tỷ lệ thuận với lượng tăng
Trang 20trưởng của rừng Hai yếu tố này chính là mục tiêu phấn đấu của REDD sẽ đạt được khi QLRBV
Trong thời gian chưa đến 20 năm kể từ khi sáng kiến QLRBV được các chủ rừng thực hiện trên thế giới đã đạt được (30/10/2009): 117,09 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ FSC về QLRBV=5% diện tích rừng sản xuất (một diện tích tương đương 2 lần như vậy cũng đã được cấp chứng chỉ PEFC) trong 995 giấy chứng chỉ của 82 quốc gia Giá trị gỗ có nhãn CCR FSC ước 20 tỷ USD Trong số này Canada đứng đầu với trên 23 triệu ha, Nga thứ 2 thế giới với 21 triệu ha [14], trong khi VN mới có 10.000 ha rừng trồng đạt chứng chỉ rừng FSC nam 2006
1.2 Tổng quan về Giới và tiếp cận Giới trong quản lý và phát triển rừng
1.2.1 Lý thuyết cập nhật về các vấn đề giới
- Giới là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy
định cho nam và nữ Nhìn từ góc độ xã hội, Giới đề cập đến sự phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội
cụ thể.[1]
- Vai trò giới: Là công việc và hoạt động cụ thể mà phụ nữ hoặc nam giới
thực tế đang làm Ví dụ: phụ nữ làm cô nuôi dạy trẻ, nam giới làm nghề lái xe.[1]
- Định kiến giới là tập hợp các đặc điểm được coi là thuộc tính riêng của phụ
nữ hoặc nam giới.[1]
- Khoảng cách giới là những khác biệt về khối lượng công việc, về cơ hội
phát triển và về lợi ích mà phụ nữ và nam giới được hưởng.[1]
- Bình đẳng giới
+ Là một cách tiếp cận giải quyết các vấn đề đang đối diện với cả nam và nữ theo cách chia sẻ các lợi ích của phát triển một cách bình đẳng, bảo đảm chống lại gánh nặng thiên lệch của những tác động tiêu cực
+ Sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới; Phụ nữ và nam giới được coi trọng như nhau, cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng
- Bình đẳng giới một cách toàn diện là mục tiêu, lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi hàng nhiều thế kỷ qua Bước sang thế kỷ XXI, thế giới đã có nhiều đổi
Trang 21thay, nhiều thành tựu vượt bậc về khoa học, kỹ thuật và kinh tế là nét nổi bật mà loài người đã đạt được Thế nhưng, vấn đề giới, sự phân biệt về vị trí, vai trò giữa nam và nữ ở hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước có trình độ phát triển cao về kinh tế, xã hội vẫn chưa được giải quyết một cách hiệu quả Hố ngăn cách về thân phận giữa nam và nữ vẫn chưa được san bằng.[2]
Đấu tranh vì bình đẳng giới trở thành phong trào rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn Lý thuyết về giới đã phát triển từ
quan điểm Phụ nữ trong phát triển (WID) vào những năm 70-80 thế kỷ XX đến quan điểm Giới và phát triển (GAD) vào những năm cuối thế kỷ XX Những quan
điểm này đã đóng góp quan trọng trong việc thay đổi địa vị, vai trò của phụ nữ trong mối quan hệ với nam giới cũng như trong dòng phát triển của nhân loại Đồng thời, đầu thế kỷ XXI, bình đẳng giới và nâng cao năng lực cho phụ nữ đã trở thành
một trong tám Mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (LHQ), nhận
được sự đồng thuận của 190 quốc gia, trong đó có Việt Nam
Lý thuyết Phụ nữ trong phát triển (WID) Lý thuyết “phụ nữ trong phát triển”
có nhiều cách tiếp cận và được áp dụng khác nhau tùy theo từng giai đoạn Có thể tóm tắt một số cách tiếp cận sau đây [2]:
- Tiếp cận bình đẳng
- Tiếp cận chống nghèo đói
- Tiếp cận hiệu quả
- Tiếp cận trao quyền
Những thành công và tiến bộ của WID
Phong trào WID đã tạo cơ sở cho các bộ máy thể chế trong các tổ chứcphát
triển và các Chính phủ có nhiệm vụ phải đưa phụ nữ vào quá trình phát triển Công ước về việc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) vào năm 1979
Ảnh hưởng của WID đến sự hình thành các cơ quan nghiên cứu về phụ nữ ở các nước đang phát triển Cùng với mô hình WID nhiều chương trình/dự án phát triển dành cho phụ nữ ra đời, điển hình là những dự án nhằm tăng thu nhập cho phụ nữ Những hạn chế của WID
Trang 22- Gia tăng gánh nặng cho phụ nữ khi các hoạt động chỉ tập trung vào nữ giới
- Phụ nữ bị tách biệt trong quá trình tham gia vào phát triển Phụ nữ được xem
là một “nhóm mục tiêu” riêng biệt
- Vấn đề quyền lực của phụ nữ không được đề cập đến
- Chú ý đến khía cạnh kinh tế mà bỏ qua yếu tố xã hội
Cách tiếp cận Giới và Phát triển (Viết tắt từ tiếng Anh là GAD: Gender And Development) ra đời vào cuối những năm 80/XX nhằm khắc phục những hạn chế
của cách tiếp cận Phụ nữ trong phát triển như đã được đề cập ở trên Một số luận
điểm chính của GAD bao gồm:
Thứ nhất, theo cách tiếp cận Giới và Phát triển, để thực hiện mục tiêu vì sự
tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới cần nhấn mạnh đến mô hình phát triển vì lợi ích của cả phụ nữ và nam giới, vì mục tiêu công bằng và phát triển bền vững
Thứ hai, cách tiếp cận giới và phát triển cho rằng muốn thực hiện bình đẳng
giới thì phải cải thiện mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới bao gồm mối quan hệ trong gia đình, cộng đồng và xã hội
Thứ ba, cách tiếp cận này xuất phát từ cách nhìn hệ thống và tổng thể cho
rằng, bất bình đẳng giới do nhiều nguyên nhân kết hợp lại: kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội,…
Thứ tư, về đối tượng phát triển, cách tiếp cận này xem phụ nữ là nhân tố tích
cực chứ không phải là những người chỉ “đón nhận” thành quả phát triển Sự tham gia và phát huy tiềm năng, kinh nghiệm của họ vào hoạt động kinh tế, xã hội hay quản lý xã hội có ý nghiã chính trị xã hội tích cực, vừa tăng cường năng lực cá nhân, vừa thúc đẩy tốc độ phát triển chung của quốc gia có hiệu quả
Để đạt được mục tiêu bình đẳng giới, cách Tiếp cận Giới và Phát triển sử dụng Phương pháp Lồng ghép giới hay Tiếp cận lồng ghép giới1 Hiện nay quan
điểm này đang được áp dụng như là một phương pháp tiếp cận hiệu quả trong hoạch định chính sách và lập kế hoạch có trách nhiệm giới ở nhiều quốc gia Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của phương pháp lồng ghép giới đối với mục tiêu bình
1
Có một số Tài liệu sử dụng cụm từ Phương pháp Lồng ghép giới, trong một số tài liệu khác sử dụng cụm từ
Trang 23đẳng giới và phát triển bền vững, những năm gần đây, Việt Nam bắt đầu có một số hoạt động liên quan đến công tác lồng ghép giới
Lý thuyết cấu trúc - chức năng về vai trò giới: Lý thuyết này cho rằng phụ nữ
và nam giới là những bộ phận khác nhau tạo nên hệ thống xã hội và có quan hệ về mặt xã hội hết sức chặt chẽ Việc thực hiện chức năng và vai trò xã hội giữa phụ nữ
và nam giới trong phạm vi gia đình và cộng đồng là một trong những yếu tố thể hiện mối quan hệ xã hội giữa họ Theo lý thuyết này, vai trò giới thể hiện rõ nhất trong phân công lao động, và mang tính tự nhiên và phổ biến trong trong xã hội truyền thống
Điểm hạn chế của lý thuyết cấu trúc - chức năng là quan điểm cho rằng phân công lao động theo giới hay vai trò giới có tính truyền thống, là tự nhiên và phổ biến, đồng thời lý giải điều này dựa trên tính chất sinh học giữa nam và nữ
Lồng ghép giới [3]
Khái niệm lồng ghép giới được đưa ra lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ IV về Phụ nữ được tổ chức tại Bắc Kinh năm 1995, và được cộng đồng quốc tế nhất trí coi
là biện pháp mang tính chiến lược nhằm thúc đẩy bình đẳng giới
Lồng ghép giới là một phương pháp tiếp cận, hay là một biện pháp chiến lược nhằm đạt được bình đẳng giới trên diện rộng trong xã hội - bằng cách đưa các yếu
tố giới vào dòng chảy chủ đạo (UBQGVSTBPN, 2004)
Mục đích áp dụng phương pháp lồng ghép giới là để quản lý nhà nước tốt Trong thực tế chỉ có thể quản lý nhà nước tốt với việc đưa ra các chính sách, chương trình và dự án hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của mọi người dân và mang lại lợi ích bình đẳng cho họ nếu lồng ghép giới được áp dụng trong mọi giai đoạn của chính sách, chương trình và dự án, từ việc xác định vấn đề cho đến việc thiết kế, thẩm định, phân bổ nguồn lực, thực hiện, giám sát và đánh giá Cụ thể là theo UBQGVSTBPN (2004) chiến lược cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn hoạch định chính sách, lồng ghép giới có nghĩa là phải tính đến các nhu cầu và trải nghiệm khác nhau của nam giới và phụ nữ
Trang 24- Với giai đoạn thiết kế, lồng ghép giới có nghĩa là phải đưa ra những mục tiêu, hành động và chỉ số rõ ràng, cụ thể nhằm làm giảm tình trạng bất bình đẳng giới; đảm bảo phụ nữ và nam giới được hưởng thụ thành quả phát triển một cách bình đẳng
- Ở giai đoạn thực hiện, lồng ghép giới có nghĩa là đảm bảo sự tham gia bình đẳng của phụ nữ và nam giới trong quá trình ra quyết định và phụ nữ và nam giới đều được tôn trọng như nhau
- Trong giai đoạn giám sát, lồng ghép giới có nghĩa là thu thập những số liệu tách bạch theo giới tính, sử dụng những chỉ số nhằm lượng hoá tác động khác nhau của các biện pháp phát triển đối với phụ nữ và nam giới
- Trong giai đoạn đánh giá, lồng ghép giới có nghĩa là đảm bảo sao cho cả phụ
nữ và nam giới đều tham gia quyết định các tiêu chí đánh giá; theo đó những tác động đối với bình đẳng giới được đánh giá một cách cụ thể, công khai; đảm bảo rằng thành viên nhóm đánh giá có cả nam và nữ, và thiết kế đánh giá phải mang tính trách nhiệm giới.Trong thực tế chỉ có thể quản lý nhà nước tốt với việc đưa ra các chính sách, chương trình và dự án hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của mọi người dân và mang lại lợi ích bình đẳng cho họ nếu lồng ghép giới được áp dụng trong mọi giai đoạn của chính sách, chương trình và dự án Đảm bảo phụ nữ và nam giới được hưởng thụ thành quả phát triển một cách bình đẳng
Như vậy, có thể hiểu lồng ghép giới có nghĩa là thay đổi cách thức làm việc của các cơ quan nhà nước và các tổ chức sao cho những khía cạnh phức tạp và khác biệt liên quan đến thực tế trải nghiệm, nhu cầu và ưu tiên của phụ nữ và nam giới đều được coi trọng, xem xét và giải quyết một cách tự giác ngay từ ban đầu, ở mọi cấp mọi ngành và mọi giai đoạn của chu trình chính sách, chương trình và dự án
1.2.2 Chính sách/chiến lược của Việt Nam liên quan đến bình đẳng giới và giới trong quản lý sử dụng rừng
* Chính sách/chiến lược của Việt Nam liên quan đến bình đẳng giới
Trang 25Bình đẳng giới ở Việt Nam được đảm bảo ở cấp độ cao nhất trong các điều khoản của Hiến pháp Việt Nam Hiến pháp và Luật pháp là cơ sở cho việc xây dựng các chính sách/chiến lược phát triển Việt Nam cũng đã ký kết hiệp ước CEDAW Tuy nhiên, ở cấp độ thấp hơn, đặc biệt ở cấp cơ sở, những điều luật và chính sách này thường không được triển khai đẩy đủ Kết quả là bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại ở hình thức này hay hình thức khác, ẩn hay hiện
Hộp 1: PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1 Đảm bảo bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội và gia đình; để hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam giới và phụ nữ thể hiện các khả năng của họ; tạo cho họ cơ hội bình đẳng để tham gia trong quá trình phát triển và được hưởng lợi các thành quả của sự phát triển
2 Bảo vệ và hỗ trợ các bà mẹ trong thời kỳ thai sản, sinh nở và nuôi con; tạo điều kiện cho phụ nữ và nam giới trong việc chia sẻ các công việc gia đình
3 Áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá phù hợp để xóa bỏ các phong tục tập quán lạc hậu cản trở việc triển khai các mục tiêu bình đẳng giới
4 Khuyến khích các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia vào các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới
5 Hỗ trợ các hoạt động bình đẳng giới ở các vùng sâu vùng xa và miền núi, ở các khu vực dân tộc thiểu số và cá khu vực đặc biệt khó khăn về kinh tế- xã hội;đưa ra các hỗ trợ cần thiết để tăng các chỉ số phát triển giới (GDI) trong các ngành, lĩnh vực và các địa phương mà ở đó chỉ số phát triển giới (GDI) thấp hơn
so với mức trung bình của cả nước
(Luật bình đẳng giới của Việt Nam, được Quốc hội thông qua tháng 10,2007)
Với việc đưa ra Luật bình đẳng giới, Việt Nam có một khung pháp lý vững chắc để thúc đẩy và triển khai bình đẳng giới trong thực tế Tuy nhiên, một số quy
Trang 26định trong các điều luật đôi khi tự nhượng bộ trước “các phong tục tập quán” ở các địa phương Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn và nữ nông dân vẫn còn do dự thực hiện các quyền đã được đảm bảo trong luật của mình
Luật Đất đai năm 2003 & Nghị định 181/2004 ra đời là một bước tiến quan
trọng đối với bình đẳng giới trong việc yêu cầu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả tên vợ và tên chồng đối với tài sản có trong hôn nhân Trên thực tế, việc thực hiện điều này còn tiến triển chậm
Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008, chỉ có 10,9% giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nông nghiệp, 18,2% giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn và 29,8% giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị là ghi tên cả vợ và chồng
Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004: Luật này đã không đề cập gì tới vấn đề
giới hay sự tham gia của phụ nữ trong công tác bảo vệ phát triển rừng
Chiến lược, chính sách phát triển quốc gia liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới đã tiến hành lồng ghép giới hiệu quả nhất Chiến lược, chính sách phát triển
quốc gia liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới bao gồm: Chiến lược Toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo được thủ tướng chính phủ phê duyệt 2001; Chiến lược quốc gia VSTBPN đến năm 2010, Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội từ năm 2006 -2010; Chiến lược bình đẳng giới từ 2010 đến 2020, Kế hoạch hành động vì bình đẳng giới từ 2011-
2015 Trên cơ sở này các cấp, các ngành và địa phương đã xây dựng Kế hoạch hành động VSTBPN phù hợp với đặc điểm của từng bộ/ngành và lồng ghép giới vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Một trong những ngành đi đầu trong việc lồng ghép giới vào hoạt động
là ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành Y tế, ngành Giáo dục,
Cho tới ngày nay Việt nam đã có hệ thống quản lý rừng khá hoàn chỉnh về chính sách, thể chế, tổ chức quản lý và phân cấp quản lý Song, cũng là giai đoạn chuyển mạnh từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp khai thác lâm sản là chính, sang sử dụng tổng hợp rừng với cả chức năng kinh tế, môi trường,
Trang 27xã hội, nhƣ các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững, trong đó đã có những quan tâm đến công tác giới trong quản lý rừng và đƣợc sự ủng hộ mạnh mẽ trên thế giới Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện điều này còn tiến triển chậm, nhất là việc lồng ghép giới vào hoạt động Do đó hiệu quả mang lại chƣa phù hợp với tiềm năng vốn
có từ việc quản lý rừng
Trang 28Hộp 2: Khái quát pháp luật và chính sách vĩ mô liên quan đến bình đẳng giới
khoẻ, Luật Giáo dục,
2.3 Công ước Quốc tế
VN tham gia ký
(CEDAW, Công ước Quyền Trẻ em, Công ước quyền kinh tế, chính trị và dân sự)
3 Chiến lược phát triển
3.1 Chiến lược VSTBPN
đến năm 2010, KHHĐ
VSTBPN
Chiến lược quốc gia về
Bình đẳng giới giai đoạn
3.3 Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
3.4 Kế hoạch phát triển KT-
XH 2010;
2006-Kế hoạch phát triển KT- XH giai đoạn 2011
- 2015
Ở cấp Bộ, năm 2005 với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội Phụ nữ Việt Nam đã đề ra “Chiến lược Giới trong Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đến năm 2010” Cùng với
Trang 29chiến lược này, “Kế hoạch hành động Giới trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đến năm 2005” đã được thực thi Ban quản lí dự án phối hợp chặt chẽ với Ủy ban vì sự tiến bộ Phụ nữ của Bộ NN & PTNN tổ chức hàng loạt các hoạt động tiên phong về nhạy cảm giới như Hội thảo về quan hệ giới, Bối cảnh của nhận thức giới,
và BQL của dự án cũng đã phối hợp với Vụ tổ chức cán bộ triển khai mô tả nhạy cảm giới trong Bộ NN & PTNT Tuy nhiên, hầu hết các nhóm chủ chốt được hỏi trong xã không quan tâm lắm đến chiến lược này Dường như việc triển khai chiến lược này không đến được tới nhóm lãnh đạo và nông dân
1.3 Gới trong quản lý rừng tại Việt Nam hiện nay
Sự hình thành và phát triển phương thức quản lý rừng đòi hỏi những thay đổi
và bổ sung về các mặt thể chế, tổ chức, tài chính và kỹ thuật Vì vậy cần có những hoạt động thử nghiệm để đúc rút kinh nghiệm cho việc phát triển quản lý rừng cộng đồng - Một phương thức quản lý rừng mới [13] Trong những năm qua, nhiều chương trình, dự án về quản lý rừng cộng đồng của chính phủ, các tổ chức Quốc tế được thực hiện nhiều nơi trên đất nước ta với nhiều hoạt động và đã mang lại những kết quả nhất định Theo Võ Đình Tuyên tính đến tháng 12 năm 2011 đã giao cho cộng đồng quản lý trên toàn quốc là 191.383 hecta rừng chiếm 1,44% tổng điện tích rừng trong cả nước [16] Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản
lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đại đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4% [14]
Bài học từ thực tiễn về phát huy vai trò giới trong quản lý rừng
Trong lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp và cụ thể hơn là quản lý rừng vấn đề giới gần như là một lĩnh vực bị bỏ quên trong suốt thời gian qua Các chương trình, chính sách trong quản lý và phát triển rừng gần như chưa chú trọng đến vai trò của giới, đặc biệt là vai trò của phụ nữ trong quản lý và phát triển bền vững rừng
Theo nhiều đánh giá gần đây, phụ nữ là những người tham gia trực tiếp nhiều nhất vào các hoạt động khai thác, sử dụng và phát triển rừng (khai thác lâm sản ngoài
gỗ, trồng rừng, chăm sóc rừng, chăn thả gia súc trong rừng, canh tác sản xuất trong rừng,…) nhưng họ lại là những người ít được tham vấn về cách thức, phương pháp, định hướng, chiến lược quản lý phát triển rừng Có thể nói, việc suy giảm diện tích
Trang 30rừng và suy giảm đa dạng sinh học nhanh chóng như hiện nay có một phần từ sự lơ là trong tham vấn và coi trọng vai trò của phụ nữ trong bảo vệ và phát triển rừng Tính cấp thiết trong việc hiểu biết về vai trò, trách nhiệm, và quyền lợi của giới trong quản
lý, sử dụng rừng do vậy mang tính chất quan trọng hơn bao giờ hết
Từ những bài học thực tiễn như chương trình lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam, đặt ra vấn đề rằng cần có phương pháp tiếp cận giới khác biệt, tập trung vào
cả hai đối tượng nam và nữ chứ không chỉ khu biệt nữ giới:
- Sự khác biệt giữa lợi ích của nam giới và nữ giới và cách biểu hiện của chúng như thế nào;
- Các qui ước và luật tục quy định vị trí giữa người nam và người nữ trong gia đình, cộng đồng và rộng hơn là trong xã hội;
- Những sự khác biệt trong giới nữ và giới nam trên các phương diện độ tuổi, tài sản, dân tộc, và các yếu tố khác;
- Vai trò giới thay đổi theo sự thay đổi của các xu hướng kinh tế, xã hội
Có rất nhiều lựa chọn khác nhau liên quan đến quản lý và chọn giống cây rừng của nhóm nam giới và phụ nữ Nếu thiếu đi quá trình có sự tham gia và toàn diện thì những nhu cầu của các nhóm, thường là những nhóm yếu và dễ bị tổn thương sẽ bị bỏ qua Điều này tạo nên những hậu quả ảnh hưởng tới các quá trình giảm nghèo, an toàn lương thực và đa dạng sinh học
Nhu cầu giữa nam và nữ cũng khác nhau Nói chung, phụ nữ trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ưa chọn các loại giống cây trồng cho đa lợi ích, đóng góp nhiều vai trò như có thể làm củi đun nấu, thức ăn cho gia súc, và an toàn lương thực Người phụ nữ thường đánh giá cao các loại cây bụi, nhiều cành và khả năng chắn gió tốt hơn là cây lấy gỗ Họ sẽ chọn các cây như cây me, các cây thuốc và một số lâm sản ngoài gỗ (quả, hạt, nhựa,và mật ong) mà họ có thể tự chế biến và đem bán vì họ không hoặc ít tham gia vào quá trình chế biến và bán sản phầm gỗ Nam giới trong khu vực lại có xu hướng chọn các loại cây có giá trị gỗ cao như bạch đàn, thông, tếch, keo, xoan Có sự cạnh tranh trực tiếp giữa các lựa chọn này Theo những lựa chọn của phụ nữ về các loại cây đa tác dụng thì chiến lược kết hợp nông lâm nghiệp có hiệu quả cho quản lý rừng
Trang 31Dự án REDD+ (Bếp nấu dùng nhiên liệu hiệu quả) nhằm giới thiệu và
khuyến khích sử dụng bếp nấu sử dụng nhiên liệu hiệu quả Đã chỉ ra rằng nếu phụ nữ được cân nhắc nhiều hơn nữa trong chương trình REDD+ và các dự án phát triển thì tiềm năng rõ rệt của loại bếp nấu sử dụng nhiên liệu hiệu quả để cải thiện cuộc sống của họ và giảm phá rừng hẳn sẽ là một sáng kiến có ưu tiên cao Khi xem xét các nguyên nhân của nạn phá rừng, một nhân tố quan trọng - liên quan đến giới - lại đang bị xem nhẹ Sinh khối rừng đóng vai trò cực kỳ then chốt trong cuộc sống của người nghèo nông thôn ở các nước đang phát triển, là nguồn năng lượng chính cho đun nấu và sưởi ấm trong gia đình Việc kiếm củi do phụ nữ
và trẻ em thực hiện là chính; nam giới chỉ tham gia khi thu lượm củi để bán Việc diện tích rừng giảm hoặc suy thoái làm cho trẻ em và phụ nữ phải bỏ nhiều thời gian hơn để kiếm củi, do đó có ít thời gian hơn cho các hoạt động khác như học hành của các bé gái Sẽ là sai lầm nếu giả định rằng việc thu nhặt củi quá bé nhỏ, không tác động đến mất rừng Trên thực tế, như tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, tiêu thụ củi đốt đã lên tới 2.4 triệu tấn/năm, trong khi đó khai thác rừng lấy gỗ chỉ đạt khoảng 600-1,000,000 tấn/ năm Ở các nước khối ASEAN, nhìn chung tiêu thụ năng lượng sinh khối gỗ và các phế phẩm nông nghiệp chiếm tới 40% tổng tiêu thụ năng lượng Nguồn cung cấp năng lượng chất lượng thấp và các thiết bị chuyển hóa kém hiệu quả là những hiểm họa sức khỏe do ô nhiễm không khí trong nhà Người phụ nữ làm việc gần với các nguồn đốt nóng này đặc biệt dễ
bị ảnh hưởng Hơn nữa, để tiết kiệm củi đốt, phụ nữ thường có xu hướng nấu các món ăn đòi hỏi cấp nhiệt ít Hậu quả là các thức ăn có dinh dưỡng cao, chẳng hạn như đậu bị loại khỏi thực đơn, dẫn đến sự thiếu dinh dưỡng, đặc biệt đối với trẻ
em Việc giới thiệu và khuyến khích sử dụng bếp nấu sử dụng nhiên liệu hiệu quả
là một sáng kiến có tác động lớn đến đời sống của người phụ nữ, và đặc biệt là phụ nữ vùng nông thôn cũng như tác động tích cực đến điều kiện phát triển rừng teo hướng bền vững
Chiến lược phát triển ngành lâm nghiêp giai đoạn 2006 - 2020 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn: “Kết quả nghiên cứu tham vấn hiện trường các
vấn đề về giới trong lâm nghiệp” (làm cơ sở việc LGG trong chiến lược phát triển
Trang 32ngành lâm nghiêp giai đoạn 2006 - 2020)- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra phát hiện chính liên quan đến:
(1) Giới và vấn đề lập quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp và phát triển bền vững;
(2) Vai trò của phụ nữ trong phát triển sản xuất, khai thác, chế biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ;
(3) Vấn đề giới trong phổ biến luật và chính sách lâm nghiệp, sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động khuyến lâm;
(4) Vấn đề giới trong các hoạt động về vườn ươm, bảo tồn và dịch vụ môi trường rừng
Các nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên:
- Địa phương chưa có cách tiếp cận đúng trong quy hoạch sử dụng đất và giao đất, ảnh hưởng đến cuộc sống của phụ nữ;
- Dân số tăng nhanh gây sức ép lên tài nguyên và ảnh hưởng lớn đến đời sống của đồng bào dân tộc ít người, trong đó có phụ nữ;
- Việc chưa huy được người dân địa phương, đặc biệt là chị em phụ nữ tham gia tích cực vào công tác quản lý rừng bền vững một phần là do chưa có cơ chế chính sách hợp lý để bảo đảm đời sống và đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của người dân, đặc biệt là quyền sử dụng đất và cơ chế hưởng lợi;
- Quyền sử dụng đất không rõ ràng, đất canh tác thiếu nghiêm trọng, cơ chế hưởng lợi chưa rõ ràng, quyền của phụ nữ còn hạn chế;
- Nhu cầu đời sống không được bảo đảm dẫn đến phá rừng;
- Gánh nặng kiếm sống vẫn chất trên vai người phụ nữ
- Thiếu cán bộ địa phương có khả năng và kiến thức về lồng ghép giới trong các hoạt động lâm nghiệp
- Liên quan đến lĩnh vực dịch vụ môi trường vẫn tồn tại sự phân biệt trong phân công lao động giữa nam và nữ Phụ nữ thường được phân công làm những việc cho là hợp với phụ nữ, không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao nhưng không mang lại hiệu quả bền vững và lâu dài
Trang 33Các nghiên cứu về giới ở Việt Nam chỉ ra rằng, trong suy nghĩ của người nông dân, người đàn ông làm công việc nặng nhọc và phụ nữ làm việc nhẹ nhàng Chẳng hạn trong sản xuất, đàn ông làm việc nặng, phụ nữ làm việc nhẹ; đàn ông làm những việc liên quan đến ứng dụng máy móc, công nghệ, phụ nữ làm những việc thủ công Những việc nặng như: làm đất, trồng rừng, khai thác, vận chuyển, bảo vệ rừng,… Những việc nhẹ như: gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chăn nuôi, nội trợ,… Sự phân chia công việc này được giải thích là đàn ông khoẻ hơn nên làm việc nặng, phụ nữ yếu hơn nên làm việc nhẹ
Những căn cứ lý luận và thực tiễn phân tích trên đã xác minh thêm tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề giới/ LGG trong quá trình phát triển nói chung, phát triển bền vững lâm nghiệp nói riêng
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Lựa chọn các địa bàn mà người dân sống phụ thuộc vào rừng gồm: Các hộ gia đình nông dân tại 2 xã : Xã Phúc Lộc (Thôn Nà Đuổn và thôn Bản Luộc); Xã Hoàng Trĩ (Thôn Nà Slải và thôn Bản Duống)
2.1.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phát triển sản xuất lâm nghiệp hay sử dụng rừng gồm các hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng, chăm sóc rừng, chăn thả gia súc trong rừng, canh tác sản xuất trong rừng Hoạt động sinh kế của hộ nông - lâm nghiệp gồm các cây trồng, vật nuôi chính của địa phương (sắn, lạc, lợn, gà, )
- Phân tích giới, làm rõ vai trò giới và sự khác biệt giữa nam và nữ giới trong quản lý và phát triển rừng
- Can thiệp về các khuyến nghị kỹ thuật, chính sách trong quản lý và sử dụng rừng tại địa phương Cụ thể, can thiệp về giới, can thiệp về kỹ thuật chăm sóc rừng,…
- Nghiên cứu các giải pháp nâng cao vai trò giới trong quản lý rừng
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá, phân tích vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong quản lý rừng tại địa bàn nghiên cứu
* Vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong việc giao đất lâm nghiệp và quyền sử dụng đất lâm nghiệp
* Vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong hoạt động canh tác nông-lâm nghiệp và quản lý, bảo vệ rừng
* Vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong hoạt động khai thác các nguồn lợi từ rừng
* Vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong tiếp cận, kiểm soát nguồn lực liên quan đến quản lý rừng:
- Tiếp cận, kiểm soát đất đai
-Tiếp cận thông tin
Trang 35- Tiếp cận nguồn vốn
- Tiếp cận khu yến nông/khu yếnlâ m
- Việc làm và thị trường
2.2.2 Đánh giá, phân tích định kiến giới - lực cản đối với phụ nữ trong quản lý,
sử dụng rừng tại địa bàn nghiên cứu
* Định kiến giới trong phân công lao động theo giới
* Định kiến giới trong quyền ra quyết định
* Định kiến giới trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực
* Định kiến giới trong công việc lãnh đạo chính quyền và cộng đồng
2.2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giới trong quản lý và phát triển rừng tại huyện Ba Bể
* Một số giải pháp đối với Dự án 3PAD
* Một số giải pháp đối với các cấp chính quyền huyện, xã
* Một số giải pháp đối với người dân, đặc biệt là phụ nữ
2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu
* Tiếp cận vĩ mô
quan về các hoạt động giới trong quản lý rừng ở cấp độ cộng đồng và hộ gia đình
- Thu thập các tư liệu, số liệu từ dự án
* Tiếp cận vi mô
Thu thập thông tin thông qua tiếp xúc trực tiếp tại hiện trường với đối tượng nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau (như: thảo luận, phỏng vấn, quan sát trực tiếp, )
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 36thôn, Sở Tài nguyên môi trường, Hội Liên hiệp phụ nữ và các phòng ban chức năng của huyện, tỉnh để kế thừa các sản phẩm mà họ đã làm từ trước Tham khảo hệ thống tài liệu, sổ tay, văn bản về giới và lồng ghép giới của dự án đã xây dựng và thực hiện làm tiền đề cho việc đánh giá sự tham gia, cách tiếp cận và hưởng lợi của giới trong hoạt động quản lý rừng
* Thu thập số liệu sơ cấp
Cấp huyện: Gặp gỡ trực tiếp với: Lãnh đạo, chuyên viên các phòng: Đại diện
UBND huyện, Hội Phụ nữ huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kiểm lâm và BQL dự án huyện
Cấp xã: Tác giả đã làm việc với đại diện lãnh đạo UBND xã, Chủ tịch Hội
phụ nữ xã, cán bộ địa chính xã, cán bộ khuyến nông/khuyến lâm xã
Cộng đồng: Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 124 người dân và thảo luận
nhóm một số người dân để thu thập thông tin của cộng đồng dân cư là các nam và
nữ nông dân thuộc 04 thôn của 02 xã thuộc huyên Ba Bể
2.3.3 Phương pháp phân tích sử lý số liệu
* Phương pháp xử lý thông tin
- Đối với thông tin thứ cấp: Sau khi thu thập được sẽ tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo chế độ ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Sau đó trích dẫn vào báo cáo và các nghiên cứu trường hợp sẽ được sử dụng để làm rõ số liệu định lượng hoặc để đưa ra ý tưởng mới Đối với các thông tin là số liệu thì tiến hành lập bảng, biểu để đưa vào báo cáo
- Đối với thông tin sơ cấp: Sau khi hoàn thành phiếu điều tra sẽ được tiến hành kiểm tra và nhập vào máy tính bằng phần mềm Microsoft Excel đã được tích hợp các chức năng phân tích, thống kê được nhóm đánh giá lựa chọn để tổng hợp số liệu điều tra và phân tích Các kết quả xử lý sẽ được trích suất sử dụng trong báo cáo
* Phương pháp phân tích số liệu
Bên cạnh người điều tra viên chính, dự án 3PAD sẽ hỗ trợ thêm 02 tư vấn viên nhằm chọn kỹ càng các số liệu và để cùng tham gia hỗ trợ điều tra đảm bảo đúng chất lượng, tiến độ và phân tích số liệu theo phương pháp phân tổ, nhóm: Nhằm chỉ ra sự khắc biệt giữa các nhóm hộ theo một tiêu chí định trước
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Thực trạng tài nguyên rừng của tỉnh Bắc Kạn
* Trữ lượng rừng [12]
Căn cứ kết quả kiểm kê trữ lượng rừng theo chỉ thị 286/CT kết hợp với kết quả điều tra bổ sung của Phân viện ĐTQHR Trung Trung Bộ, tổng trữ lượng các
loại rừng tỉnh Bắc Kạn tính đến tháng 12 năm 2010 như sau:
- Rừng gỗ: 9,9873 triệu m3, trong đó: Rừng tự nhiên: 8,0400 triệu m3; Rừng trồng: 1,9470 triệu m3
- Hệ động vật có 527 loài động vật, trong đó lớp thú 94 loài thuộc 26 họ; lớp chim 276 loài thuộc 51 họ; lớp lưỡng cư 24 loài, thuộc 4 họ Trong 527 loài động vật có 66 loài quí hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam có nguy cơ bị tiêu diệt, trong đó: lớp thú 32 loài, lớp chim 10 loài, lớp bò sát 11 loài và lớp lưỡng cư 03 loài
* Diện tích đất có rừng[4]
Căn cứ Quyết định số 2159/QĐ-BNN-KL ngày 17/7/2011 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2010 kết hợp với kết quả rà soát bổ sung của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Trung Trung Bộ, diện tích rừng và đất rừng tỉnh Bắc Kạn tính đến hết năm 2010, tổng diện tích rừng tự nhiên là 224.755,8 ha Diện tích
Trang 39rừng giàu, trung bình và rừng nghèo chiếm tỉ lệ thấp (14,04%), diện tích rừng non có trữ lượng chiếm tỉ lệ tương đối cao (51,13%), phân bố không đều giữa các xã, huyện Diện tích rừng trồng ít (16,03%), tuy nhiên, trong những năm gần đây do làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng nên diện tích rừng phục hồi ngày một tăng, góp phần nâng cao độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
* Đất chưa có rừng [4]
Tổng diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng là: 120.401,2, trong đó:
- Đất trống trảng cỏ có diện tích 23.576,6 ha, chiếm 4,84% diện tích đất tự nhiên, thường gặp sau nương rẫy, đất bị thoái hoá, bạc màu, không còn khả năng sản xuất nông nghiệp, thực bì chủ yếu là trảng cỏ
- Đất trống cây bụi có diện tích 23.384,3 ha, chiếm 4,80% diện tích đất tự
nhiên, gồm một số loài cây bụi thân gỗ, xen lẫn là trảng cỏ, chiều cao từ 1,0 - 1,5 m,
độ che phủ từ 20 - 30%
- Đất trống có cây gỗ tái sinh có diện tích 73.440,4 ha, chiếm 15,09% diện tích đất tự nhiên, gồm các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh, đan xen lau lách, chít,
3.1.2 Định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn
* Quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2020
Công tác quy hoạch các loại rừng có ý nghĩa vô cùng quan trọng việc định hướng phát triển, quản lý và bảo vệ rừng Căn cứ kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn đã được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt theo Quyết định số 757/2007/QĐ-UBND ngày 21/5/2007, diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch theo 3 loại rừng được thể hiện ở bảng sau:
Trang 40(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Ba Bể 2010)
* Đối với rừng sản xuất:
- Theo quy hoạch diện tích quy hoạch ổn định đến năm 2020 là 268.339,3 ha Diện tích trồng rừng sản xuất là 48.800 ha trên diện tích đất trống, đồi núi trọc, 32.340 ha trên diện tích cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt và 52.440 ha[8] trên diện tích đất rừng sau khi khai thác trắng
- Đầu tư trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch trên diện tích trống, đồi núi trọc Diện tích dự kiến 6.000 ha vào giai đoạn 2016-2020
* Đối với rừng đặc dụng
- Diện tích quy hoạch ổn định đến năm 2020: 25.582 ha, gồm (Vườn quốc gia
Ba Bể: 9.022,0 ha; Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ: 14.722,0 ha; Khu bảo tồn loài
và sinh vật cảnh Nam Xuân Lạc: 1.788,0 ha)
- Ưu tiên xây dựng hoàn thiện vườn Quốc gia Ba Bể và xây dựng hệ thống rừng đặc dụng, Đẩy mạnh phát triển đặc sản rừng, trước mắt tập trung vào các loại như: Thảo quả, Sa nhân, nhưng với cách làm rất thận trọng theo phương châm có kết quả mới tiếp tục triển khai trên quy mô rộng và có đầu tư lớn
* Đối với rừng phòng hộ
- Diện tích quy hoạch ổn định đến năm 2020 là 94.127,7 ha.[8]
- Bảo đảm yêu cầu phòng hộ, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm duy trì sự cân bằng ổn định về môi trường đất, môi trường nước và khí hậu, phòng, chống thiên tai,… kết hợp với phát triển lâm sản ngoài gỗ để có nguồn thu từ rừng đồng thời gắn với du lịch sinh thái và có thể tạo nguồn thu phí trồng lâm sản phụ như cây dược liệu, các loại cây lâm sản ngoài gỗ để cho thu nhập từ rừng Rà soát diện tích đất trống, nơi có điều kiện trồng rừng phòng hộ
3.1.3 Mô tả địa bàn khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý và các đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý: Huyện Ba Bể nằm ở phía tây bắc tỉnh Bắc Kạn, cách tỉnh lỵ
60km về phía Bắc, có diện tích tự nhiên là 67.412ha[8] Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp huyện Chợ Đồn và huyện Bạch Thông, phía Bắc Giáp huyện Pác Nặm và tỉnh Cao Bằng Huyện có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông, suối, núi nên giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao Ở đây chủ yếu là núi cao xen lẫn những