Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất trong nền văn hóa của nhân loại, được hình thành với sự đóng góp của tất cả các quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp và cá nhân con người trên trái đất. Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập (10/1945), quyền con người đã được quy định trong rất nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu được các quốc gia tôn trọng và thực hiện. Ở Việt Nam, trải qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xương máu để giành lấy những quyền cơ bản của con người: được sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, được học hành, nhân phẩm được tôn trọng. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, vấn đề quyền con người luôn luôn được quan tâm và là một trong những mục tiêu cao cả nhất trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư (khóa VII) ban hành Chỉ thị 12/CT-TW về "Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta". Chỉ thị 12/CT-TW của Ban Bí thư đã đề cập đến những nội dung cốt lõi nhất của vấn đề quyền con người và quan điểm của Đảng ta về vấn đề quan trọng này. Đại hội XIII của Đảng (2021) tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức về quyền con người trong thời kỳ mới của đất nước. Đó là thời kỳ đẩy mạnh mọi hoạt động đối nội và đối ngoại nhằm hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đảng, Nhà nước ta khẳng định việc bảo đảm quyền con người là nhân tố quan trọng trong hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trên cơ sở kiến thức được truyền thụ từ môn Lý luận và pháp luật về quyền con người trong chương trình Hoàn thiện kiến thức về Cao cấp lý luận chính trị, tôi xin phép được viết bài thu hoạch môn với chủ đề “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo đảm quyền con người gắn với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
MÔN LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Đề tài: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI GẮN VỚI KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 3
PHẦN II: NỘI DUNG 4
1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam 4
1.1 Nội dung quan điểm của Đảng về quyền con người ……….8
1.2 Quan điểm của Đảng về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trên cơ sở đảm bảo quyền con người 7
2 Thực tiễn và giải pháp nhằm bảo đảm quyền con người gắn với sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc 8
2.1 Những thành tựu đạt được: 8
2.2 Một số vấn đề còn tồn tại: 10
2.3 Một số giải pháp cơ bản 12
PHẦN III: KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU
Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất trong nền văn hóa của nhân loại, được hình thành với sự đóng góp của tất cả các quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp và cá nhân con người trên trái đất Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập (10/1945), quyền con người đã được quy định trong rất nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu được các quốc gia tôn trọng và thực hiện Ở Việt Nam, trải qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xương máu để giành lấy những quyền cơ bản của con người: được sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà
ở, được học hành, nhân phẩm được tôn trọng Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, vấn đề quyền con người luôn luôn được quan tâm và là một trong những mục tiêu cao cả nhất trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư (khóa VII) ban hành Chỉ thị 12/CT-TW về "Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta" Chỉ thị 12/CT-TW của Ban Bí thư đã đề cập đến những nội dung cốt lõi nhất của vấn đề quyền con người và quan điểm của Đảng ta về vấn đề quan trọng này Đại hội XIII của Đảng (2021) tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức về quyền con người trong thời kỳ mới của đất nước Đó là thời kỳ đẩy mạnh mọi hoạt động đối nội và đối ngoại nhằm hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc Đảng, Nhà nước ta khẳng định việc bảo đảm quyền con người là nhân tố quan trọng trong hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Trên cơ sở kiến thức được truyền thụ từ môn Lý luận và pháp luật về quyền con người trong chương trình Hoàn thiện kiến thức về Cao cấp lý luận chính trị, tôi xin
phép được viết bài thu hoạch môn với chủ đề “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về bảo đảm quyền con người gắn với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1 Nội dung quan điểm của Đảng về quyền con người
Kế thừa nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, xuất phát từ quan điểm mácxít, từ thực tiễn Việt Nam và thế giới, Đảng đã xác định một số quan điểm cơ bản
về vấn đề quyền con người trên cơ sở thực tiễn đổi mới, phù hợp với các Hiến pháp năm 1992 và 2013, các văn kiện của Đảng, Nhà nước:
Thứ nhất, quyền con ngườỉ là giá trị chung của nhân loại: Đảng ta khẳng định:
“quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại” Ngày nay, những nguyên tắc và quy định của Luật quốc tế về quyền con người được coi là mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia Ở hầu hết các nước, nội dung các công ước quyền con người đã được nội luật hóa và tùng bước tổ chức thực hiện trên thực tế Là giá trị chung nên tất cả các quốc gia, dân tộc - không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa - đều có quyền thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý này
Thứ hai, trong xã hội có phân chia giai cẩp đổi kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc: Quyền con người, về bản chất không có tính giai cấp, nhưng trong xã hội có giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người được hiểu theo góc nhìn hay “lăng kính”, hệ tư tưởng của mỗi giai cấp cụ thể Tuy nhiên, trong khi nhận rõ tính chất giai cấp của khái niệm quyền con người, cũng cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp trong giải quyết các vấn đề cụ thể về quyền con người Như thế dễ dẫn tới cực đoan, làm cản trở sự hợp tác, tăng đối đầu trên lĩnh vực quyền con người Trong xã hội Việt Nam, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động gắn liền với quyền lợi của đất nước, dân tộc; tính giai cấp của khái niệm quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ biến của quyền con người Do
đó, quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo
Thứ ba, quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia: Đảng
ta khẳng định: “Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia” Quyền dân tộc tự quyết đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của quyền con người, được ghi nhận ở điều đầu tiên của hai công ước cơ bản về quyền con người năm 1966 Ngày nay, quyền con người đã được quốc tế hóa về nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các quốc gia
Trang 5Có thể nói, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người; không có độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, không thể nói đến các quyền con người Tuy nhiên, điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là nhà nước phải sử dụng các điều kiện này để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho mọi thành viên của quốc gia Điều này thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa quyền dân tộc tự quyết với quyền con người và trở thành định hướng chính trị quan trọng trong mọi hoạt động bảo vệ quyền con người của Nhà nước Việt Nam
Thứ tư, quyền con ngườỉ gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kỉnh tế, văn hóa của mỗi quốc gia: Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác” Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia Chính nét đặc sắc trong việc bảo đảm quyền con người của mỗi quốc gia lại làm phong phú thêm giá trị chung của quyền con người Tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển “không đều” về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà luôn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước Đây là cơ sở lý luận để bác bỏ mọi sự sao chép, áp đặt các mô hình dân chủ, quyền con người; đồng thời đòi hỏi phải chủ động, sáng tạo trong việc bảo đảm các quyền con người phù hợp với thực tiễn mỗi quốc gia
Thứ năm, quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, là bản chất của chế độ XHCN: Từ hoạt động nghiên cứu lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã đi đến kết luận: “Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt
ra xuất phát từ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta”5 ; “Giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới được bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất” Kiên trì trong nhận thức và nhất quán trong hành động, Đại hội lần thứ XIII của Đảng chủ trương: Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây đựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm
2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở Thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” Trên ý nghĩa ấy, quyền con người thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội XHCN, của Nhà nước pháp quyền XHCN Đó vừa là mục tiêu, vừa là
Trang 6động lực thúc đẩy xã hội phát triển theo dòng chảy chung của nhân loại là hướng tới tự
do, bình đẳng, hạnh phúc và thịnh vượng cho tất cả mọi người
Thứ sáu, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật: Thực tiễn Việt Nam và thế giới cho thấy, bảo đảm bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người được thực hiện Trong phạm vi quốc gia, pháp luật bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc ghi nhận các quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, pháp luật; hoàn thiện các thiết chế, bộ máy nhằm bảo
vệ ngày càng tốt hơn quyền con người Mặc dù luôn nhấn mạnh “quyền bẩm sinh”, nhung ngày nay, ở mọi quốc gia, quyền con người đều được ghi nhận và bảo vệ bằng các hình thức pháp luật khác nhau Đó là cơ sở để Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người Hiến pháp năm
2013, tại Điều 14, đã nhấn mạnh: Các quyền con người được “công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” và “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
Thứ bảy, quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân: Đảng khẳng định: “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa
vụ và trách nhiệm công dân Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật” Quan điểm này có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó chỉ ra được cách thức giải quyết một trong những mối quan hệ cơ bản nhất của vấn đề quyền con người, khắc phục được cách hiểu phiến diện, cực đoan về vấn đề quyền con người
Hệ thống các quan điểm, cách tiếp cận nói trên của Đảng về quyền con người nhìn chung tương đồng với quan điểm của nhiều quốc gia trên thế giới; có giá trị định hướng cho mọi hoạt động của Nhà nước Việt Nam nhằm bảo vệ, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người trong thời kỳ mới - thời kỳ đất nước hội nhập toàn diện, sâu rộng vào mọi lĩnh vực của sinh hoạt quốc tế và khu vực, trong bối cảnh toàn cầu hóa Quán triệt đầy đủ các quan điểm nói trên chắc chắn sẽ tạo ra bước phát triển vững chắc trên lĩnh vực quan trọng này, không chỉ bảo đảm giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người hiện nay mà điều quan trọng nhất là đem lại tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người dân Việt Nam - một nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng và cũng
là mục tiêu chủ yếu của Đảng và Nhà nước Việt Nam Nội dung này tiếp tục được Đại hội XIII của Đảng khẳng định với quan điểm chỉ đạo: Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Trang 71.2 Quan điểm của Đảng về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trên cơ sở đảm bảo quyền con người
Việt Nam đang xây dựng các nền tảng cơ bản, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản Chủ nghĩa xã hội hiểu một cách đơn giản theo tư tưởng Hồ Chí Minh đó là nước được hoàn toàn độc lập, nhân dân được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành; đó chính là mục tiêu theo cách diễn đạt dễ hiểu của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Như vậy, chủ nghĩa xã hội chính là mục tiêu, khát vọng hiện thực hóa quyền con người, mà quyền con người là giá trị chung của nhân loại, là thành quả đấu tranh của nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, trong đó có dân tộc Việt Nam Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người là vấn đề thuộc bản chất của chế
độ XHCN, ngọn cờ của những người cộng sản Lịch sử loài người đã chứng minh rằng, toàn bộ các cuộc đấu tranh chống bất công, chống áp bức, bóc lột, chống đô hộ, suy cho cùng là lịch sử đấu tranh giải phóng con người, vì quyền con người
Từ khi Đảng ra đời đã khơi dậy tinh thần, ước vọng, khát vọng và đấu tranh để đạt được độc lập, tự do, thống nhất, phát triển đất nước, “sánh vai 7 cùng các cường quốc năm châu” Với khát vọng mạnh mẽ về độc lập, tự do, thống nhất trong thời kỳ đất nước chưa độc lập, Đảng ta đã khơi dậy ý chí và tinh thần yêu nước của dân tộc, huy động toàn bộ sức mạnh chiến đấu hy sinh trong suốt 45 năm để thực hiện được một cách trọn vẹn Ngày nay, khát vọng phát triển dân tộc giàu mạnh, hùng cường là một động lực thúc đẩy dân tộc ta tiến lên, khắc phục đói nghèo, lạc hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nguy cơ tụt hậu về kinh tế Đồng thời, việc phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại có ý nghĩa vô cùng quan trọng để xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy hơn bao giờ hết chúng ta phải phát huy cao độ truyền thống yêu nước và cách mạng, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm,
nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, khát vọng phát triển thành một quốc gia giàu mạnh Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ XHCN, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước” Đây là lần đầu tiên trong chủ đề Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng và Báo cáo chính trị sử dụng cụm từ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”
Trang 8Đây là một điểm rất mới và là điểm nhấn rất quan trọng thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta Điều đó cũng thể hiện quan điểm, tư tưởng của Đảng ta: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”
2 Thực tiễn và giải pháp nhằm bảo đảm quyền con người gắn với sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
2.1 Những thành tựu đạt được:
Trong các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước từ trước đến nay, quyền con người và pháp luật về quyền con người là nội dung rất quan trọng, được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam Hiến pháp năm 1946,
1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia Đồng thời, để bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống pháp luật về quyền của con người cũng đã được bổ sung, hoàn thiện như việc ban hành Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng…
Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền con người, Việt Nam cũng đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa Cụ thể: Tham gia 4 Công ước Geneve của Luật Nhân đạo quốc tế năm 1957; Tham gia Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ký ngày 24/9/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ký ngày 18/12/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ký ngày 19/3/1982; Công ước về quyền trẻ em, ký ngày 20/2/1990; Công ước về quyền của người khuyết tật, ký ngày 22/10/2007; tham gia
Trang 9trong việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về quyền con người, ký ngày 23/10/2009, Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC), ngày 7/4/2010
Thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết, nhất quán quan điểm về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người đã được Đảng ta đề ra tại các đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội” Đây là cách tiếp cận mới của Đảng ta trong bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn mới Vấn đề quyền con người gắn với quyền dân tộc, khẳng định chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm quyền con người cho nhân dân Việt Nam Từ đó, Đảng, Nhà nước luôn xem xét, giải quyết hài hòa, đúng đắn mối quan hệ giữa quyền dân tộc - quốc gia với quyền của các cộng đồng dân tộc thiểu số
và các giai tầng xã hội Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp, pháp luật Những thành quả trong việc bảo đảm, tôn trọng quyền con người và nâng cao chất lượng thụ hưởng các quyền con người của mọi người dân được thể hiện trên mọi lĩnh vực, ở mọi điều kiện, hoàn cảnh và đã được cộng đồng quốc tế, Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao
Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc
đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015
và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc Tạp chí The Economist tháng 8/2020 xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới Năm 2019, Việt Nam đã vinh dự lọt vào Top 10 danh sách những quốc gia đáng sống và làm việc nhất thế giới và thuộc nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ
số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 4,8 năm, số năm đi học trung bình tăng 4,3 năm, thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng trên 354%; tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 3,73% (năm 2019) Theo báo cáo của trang mạng "We are social", năm 2020 Việt Nam có hơn 68 triệu dân sử dụng Internet (chiếm tỷ lệ 70% dân số) với mục đích sinh kế, học tập, giải trí, biểu đạt và thực hiện các quyền con người của mình, kể cả những quyền dân sự, chính trị như tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản chính sách, pháp luật, văn kiện Đại hội Đảng
Trang 10Đồng thời, với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016) Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần tuyệt đối (192/193 phiếu)
Mới đây, Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong tháng 1 và tháng 4 năm 2021 với nhiều dấu ấn, đóng góp, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước đại dịch COVID-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và thể hiện uy tín, vị thế quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam Thành tựu đảm bảo quyền con người tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa,
xã hội, kinh tế, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảM quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19
là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến
cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua
2.2 Một số vấn đề còn tồn tại:
Thứ nhất, thực tế cho thấy, hiểu biết về quyền con người ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, dẫn đến có những hành động cố ý hoặc vô ý vi phạm các quyền hợp pháp của công dân, đặc biệt là ở một số cơ quan công quyền và một số cơ quan tư pháp Sự hạn chế như vậy có nguyên nhân từ công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền con người Trong hoạt động tuyên truyền và đấu tranh chống vi phạm quyền con người, các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ta chủ yếu đề cập đến vấn đề quyền con người dưới dạng phê phán sự xuyên tạc, lợi dụng nhân quyền để chống phá ta của các thế lực phản động, thù địch Quyền con người được coi là một vấn đề nhạy cảm, ít khi những vấn đề quyền con người trong nước được tuyên truyền, phổ cập trực tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng
Thứ hai, Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Pháp luật về quyền con người ở Việt Nam mặc dù đang từng bước được kiện toàn nhưng vẫn chưa đồng bộ, một số lĩnh vực chưa theo kịp với sự thay đổi của cuộc sống, chậm được sửa đổi, bổ sung dẫn đến khó khăn trong quá trình vận dụng và thực thi pháp luật ở cơ sở Việc Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013 đang đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều đạo luật để cụ thể hóa các quy định trong Hiến pháp nhằm bảo đảm trên thực tế các quyền, tự do cơ bản của con người, của công dân
Thứ ba, tuy đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định trong các năm qua, nhưng Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề thiếu hụt các nguồn lực cần thiết dành cho