1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giới và quản lý lãnh đạo ở việt nam

16 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 129,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, vấn đề giải phóng phụ nữ tăng cường sự tham chính của phụ nữ đã và đang gắn liền với vấn đề bình đẳng giới và được thực hiện bằng hành động thực tiễn chứ không chỉ dừng lại ở n

Trang 1

XÃ HỘI HỌC GIỚI

Đề tài: Giới và quản lý lãnh đạo ở Việt Nam.

Trang 2

I Đặt vấn đề

Giới là phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ không phải

là mối quan hệ cá biệt giữa một người nam giới và một người phụ nữ nào Các vai trò của giới là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở phụ nữ và nam giới liên quan đến những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về đàn ông hay đàn bà (trẻ em trai hay trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nền văn hóa nào

đó Đó cũng là mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới: ai nên làm gì, ai là người ra quyết định, khả năng tiếp cận các nguồn lực và các lợi ích Thông thường mọi người chịu rất nhiều áp lực buộc phải tuân thủ các quan niệm xã hội này

Bình đẳng giới được coi là sự bình đẳng về pháp luật, về cơ hội tiếp cận (bao gồm cả nguồn vốn, nguồn lực và thành quả lao động), về tiếng nói, tức là khả năng tác động và đóng góp cho quá trình phát triển Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng

Vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong những thập kỷ qua Một trong những khía cạnh nằm trong mối quan tâm ấy là hiện tượng phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý đang ngày càng có xu hướng gia tăng Ngày nay, vấn đề giải phóng phụ nữ tăng cường

sự tham chính của phụ nữ đã và đang gắn liền với vấn đề bình đẳng giới và được thực hiện bằng hành động thực tiễn chứ không chỉ dừng lại ở những khái niệm, ý tưởng trừu tượng hay những tuyên bố pháp lý Nhà xã hội học Chủ Nghĩa Xã hội không tưởng Phurie (XIX) cho rằng: "Giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ cùng với nam giới là một thước đo của văn minh"

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm tham gia ký và phê chuẩn Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ Việt Nam đang tích cực xây dựng một xã hội bình đẳng, dân chủ và văn minh, vấn đề nam nữ bình quyền được chú trọng hơn bao giờ hết Việt Nam cũng là nước được Liên hiệp Quốc đánh giá cao trong việc nỗ lực rút ngắn khoảng cách Bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm, tiền lương… Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần của phụ nữ, củng cố và tăng cường vị trí và đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho cho phụ

nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào việc quản lý Nhà nước và xã hội

Trước kia, phụ nữ thường bị trói buộc trong phạm vi gia đình với những tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, “nam nội, nữ ngoại” … nên cơ hội tham gia các hoạt động xã hội nói chung và hoạt động lãnh đạo quản lý nói riêng hầu như là không

Trang 3

có Nâng cao vị thế, vai trò phụ nữ, tạo điều kiện cho họ tham gia vào hoạt động chính trị, vào công tác lãnh đạo quản lý là vấn đề hết sức cần thiết cho sự phát triển xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỉ thị 37/CT ngày 16/5/1994 đã khẳng định: “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị phụ nữ” Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về giới cũng đều cản trở sự phát triển bền vững, tạo nên xung đột

xã hội Vì vậy, hướng tới sự bình đẳng giới mang ý nghĩa hết sức sâu sắc về cả kinh tế, văn hóa và chính trị

Phụ nữ Việt Nam cũng đã có rất nhiều đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển của đất nước Tuy nhiên, vị thế và vai trò của họ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của họ Trong quá trình tham gia công tác lãnh đạo quản lý, phụ nữ ngày càng có nhiều thuận lợi, song cũng còn khá nhiều rào cản ảnh hưởng tới con đường lãnh đạo của họ mà bao trùm đó là định kiến giới và năng lực, từ phía gia đình Chính sách xã hội và những phong tục lạc hậu, kéo theo những bất cập khác khi họ tiếp cận hay tham gia lãnh đạo quản lý cùng nam giới Chính vì vậy, nhóm đã đề cập chủ yếu đến tình hình người phụ nữ tham gia quản

lý và lãnh đạo ở Việt Nam để làm rõ vấn đề Giới và Quản lý lãnh đạo ở Việt Nam

Trang 4

II Nội dung

1 Thực trạng tình hình phụ nữ tham gia quản lý và lãnh đạo ở Việt Nam

Với sự phát triển không ngừng của đất nước, thêm vào đó là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ cũng như toàn xã hội mà phụ nữ đã và đang vươn lên tham gia vào các công việc lãnh đạo, quản lý ngày càng xuất sắc Ngày nay trong hệ thống dân cử thì số lượng phụ nữ tham gia vào các cấp các ngành ngày càng lớn, đáng kể hơn là điều này còn đi đôi với chất lượng và năng lực làm việc hiệu quả

Mặc dù chỉ số Phát triển giới của Việt Nam cho thấy, Việt Nam đạt được tiến triển trong thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng giới, nhưng trong lĩnh vực tham gia

và lãnh đạo của phụ nữ nữ, tỷ lệ lãnh đạo nữ trong khu vực nhà nước còn thấp Về tham gia của phụ nữ trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội hiện nay thấp nhất

kể từ năm 1997 Tỷ lệ đại biểu nữ cao hơn ở cấp địa phương, tuy nhiên ít có tiến triển giữa các nhiệm kỳ và chỉ tiêu 30% đại diện nữ vào năm 2011 chưa đạt được Trong Đảng Cộng sản Việt Nam, tỷ lệ đảng viên nữ tăng chậm và đạt 33% vào năm 2010 Tuy nhiên, số lượng lãnh đạo nữ ở các vị trí chủ chốt như Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ban Bí thư còn thấp

(Nguồn:

http://lanhdaonu.vn/chi-tiet-tin/su-tham-gia-cua-phu-nu-trong-vai-tro-lanh-dao-va-quan-ly-o-viet-nam.html)

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu về bình đẳng giới, nhưng Việt nam vẫn còn gặp nhiều thách thức trong việc nâng cao vai trò lãnh đạo trên lĩnh vực chính trị và kinh tế của phụ nữ Phụ nữ chỉ chiếm ¼ số thành viên trong Quốc hội và chiếm tỉ lệ nhỏ trong các cơ quan quan trọng của Đảng Mặc dù phụ nữ rất năng động trong hoạt động kinh tế, các công ty do phụ nữ quản lý thường có ít nhân viên hơn và có doanh thu thấp hơn so với doanh nghiệp do nam giới lãnh đạo Phụ nữ Việt nam vẫn còn gặp rất nhiều rào cản trong nỗ lực vươn lên vai trò lãnh đạo, chẳng hạn như phụ nữ vẫn làm phần lớn việc nhà và có ít thời gian hơn cho phát triển sự nghiệp Hơn nữa, độ tuổi nghỉ hưu của phụ nữ thấp hơn nam giới (55 so với 60 tuổi ) cũng hạn chế thời gian phụ nữ tích lũy kinh nghiệm3 và kỹ năng để tiến tới những vị trí cao cấp Kinh nghiệm quốc tế cho thấy bình đẳng giới

sẽ mang lại thành công cho cả lĩnh vực phát triển lẫn lĩnh vực kinh doanh và chúng

ta có thể thực hiện được những thay đổi để có thêm nhiều phụ nữ đảm nhiệm các

vị trí lãnh đạo

(Nguồn: http://live.worldbank.org/vietnam-women-and-leadership)

Số phụ nữ tham gia quản lý nhà nước hiện nay đã tăng nhiều so với trước đây nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước là một

Trang 5

bảo đảm để các vấn đề giới được phản ánh trong quá trình ra quyết định, là sự khẳng định về năng lực, trí tuệ của mình

Phụ nữ Việt Nam chiếm 51,48% số dân và 48% lực lượng lao động toàn xã hội, và chiếm khoảng 20% cán bộ làm công tác lãnh đạo và quản lý nhà nước các cấp từ Trung ương đến cơ sở Trong đó, số nữ Ủy viên Trung ương Ðảng khóa VII

là 12, khóa VIII tăng lên 18 (tuy vậy khóa IX lại còn 12) Ở cấp tỉnh, tỉnh ủy viên

là nữ cũng tăng từ 182 ở khóa VII lên 280 trong khóa VIII Phụ nữ tham gia các cấp ủy địa phương đạt 10-11%, trong đó bí thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ đạt

từ 3% đến 8% Phần lớn các chị tham gia thường vụ cấp ủy đều được phân công công tác kiểm tra và dân vận Về chính quyền, trong khóa VIII, tỷ lệ nữ Bộ trưởng

và tương đương chiếm 13,1%, nữ Thứ trưởng và tương đương chiếm 7,4%; nữ vụ trưởng, vụ phó và tương đương chiếm 13% Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện và xã

có khoảng 1,6% là nữ Phó Chủ tịch UBND là 2 - 4% Khóa 1999 - 2004, số nữ là đại biểu HÐND cấp tỉnh chiếm 22,5%, cấp huyện chiếm 20,7%, cấp xã chiếm 17% Nữ đại biểu QH khóa X là 26,22%, khóa XI là 27,31% Việt Nam là nước có

tỷ lệ nữ đại biểu QH cao thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (sau New Zealand)

Sự gia tăng số lượng nữ tham gia quản lý nhà nước chứng tỏ chất lượng, trình

độ cán bộ lãnh đạo của nữ giới ngày càng nâng cao Hiện nay, phụ nữ chiếm tỷ lệ 61% những người có trình độ cao đẳng, 34% những người có trình độ đại học, 30% những người có trình độ thạc sĩ, 21% những người có trình độ tiến sĩ và 4% những người là tiến sĩ khoa học Mặt bằng học vấn này đã giúp phụ nữ tham gia ngày càng tốt hơn công tác quản lý nhà nước Theo đánh giá của Văn phòng QH, việc tham gia xây dựng pháp luật và chính sách, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý nhà nước và tọa đàm với cử tri của các nữ đại biểu QH ngày càng có chất lượng Vì vậy, các chị càng thêm tự tin, trình bày ý kiến đại diện cho người dân và cho chính giới nữ trong các kỳ họp của QH

Hiện nay, số cán bộ công chức (CBCC) nữ tham gia công tác quản lý nhà nước trong hệ thống chính quyền các cấp nhiều hơn so với trước: Một Phó Chủ tịch nước, ba Bộ trưởng, 26 thứ trưởng và tương đương, hai Chủ tịch UBND, 22 Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuy nhiên, tỷ lệ CBCC nữ tham gia lãnh đạo ở cấp bộ,

vụ còn thấp, mới khoảng 8 - 15%, chưa tương xứng lực lượng lao động và năng lực đóng góp của phụ nữ

Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản lý hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp Phụ nữ chiếm 50,3% số người làm công ăn lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp

Trang 6

Trong số hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, có khoảng 15% do phụ nữ đứng đầu hoặc nắm giữ cương vị chủ chốt Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp của một số ngành: dệt, may mặc, giày dép, thực phẩm,

đồ uống chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông - vận tải, xây dựng, khai khoáng có 20% người quản lý doanh nghiệp là nữ Trong số 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình, có 27% do phụ nữ điều hành

Bên cạnh những điều đó, mặc dù Ðảng, Nhà nước đã có chủ trương cụ thể, chính sách rõ ràng, song tỷ lệ nữ CBCC tham gia quản lý nhà nước còn ít Tỷ lệ nữ CBCC là lãnh đạo trong các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành và các cơ quan nghiên cứu khoa học lại càng thấp Hơn nữa, nữ lãnh đạo thường chỉ liên quan các lĩnh vực xã hội Rất hiếm nữ CBCC làm lãnh đạo trong lĩnh vực quản lý kinh tế,

kế hoạch, nghiên cứu khoa học Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở chỉ chiếm khoảng 10 - 11% Trong các cấp ủy đảng, số nữ CBCC giữ vị trí trọng trách rất ít Tỷ lệ trung bình nữ CBCC ở vị trí chủ chốt như bí thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ chỉ khoảng 3-8% ở mọi cấp Phần lớn các ủy viên thường vụ trong các cấp ủy đảng chỉ được phụ trách những công việc hành chính liên quan đến động viên hơn là những nhiệm vụ chiến lược Sự khác biệt này đã hạn chế ảnh hưởng của phụ nữ trong nhiều lĩnh vực công tác So với yêu cầu của

sự nghiệp đổi mới đất nước, số lượng nữ ở các cương vị quản lý nhà nước chưa tương xứng vai trò, vị trí và những đóng góp của họ trong các hoạt động phát triển Trước đây, tỷ lệ nữ CBCC tham gia quản lý nhà nước trong ngành công nghiệp chiếm gần 20%, nay giảm xuống còn 10% Có thể nói, đội ngũ cán bộ nữ giảm sút không chỉ ở các cơ quan dân cử mà còn ở các bộ, ngành và cơ quan chính quyền

Sự thiếu hụt cán bộ nữ trên một số lĩnh vực quan trọng làm cho việc hoạch định kế hoạch, chính sách không có tiếng nói đại diện của phụ nữ, dẫn đến thực hiện bình đẳng giới về mọi mặt chưa đạt kết quả mong muốn

Cán bộ nữ đã ít, lại bị hạn chế bởi tuổi về hưu và tuổi đề bạt Hiện nay, cơ cấu tuổi của cán bộ nữ khá cao, hầu hết cán bộ nữ làm quản lý đều ở tuổi trên dưới

50, trong khi nhiều nữ thanh niên hiện nay ngại làm chính trị, chỉ thích làm chuyên môn Trong khi tỷ lệ cán bộ nữ vốn đã thấp, thì lãnh đạo là nữ chủ yếu đảm nhiệm cấp phó giúp cho trưởng (nam) Ở những vị trí này, phụ nữ không có thực quyền, quan niệm trọng nam, khinh nữ vẫn còn phổ biến và coi phụ nữ chỉ là "giúp việc" cho nam giới Còn có hiện tượng xem xét, cất nhắc chị em vào các vị trí lãnh đạo diễn ra khó khăn hơn so với nam giới Trong một cơ quan, phụ nữ thường bị nhìn nhận xét nét hơn, cơ quan chủ quản chưa nhận thấy ở chị em một cách đầy đủ những điểm mạnh nổi bật về chuyên môn, uy tín

Trang 7

Hiện nay, đội ngũ nữ chỉ chiếm 4% giáo sư, 25% tiến sĩ và 9% số người được trao tặng các giải thưởng về khoa học - công nghệ, chứng tỏ việc đào tạo nhân lực trong giới nữ chưa tương xứng yêu cầu của sự nghiệp giải phóng phụ nữ và nguyện vọng chị em Những năm qua, tuy số lượng phụ nữ tham gia quản lý nhà nước tăng lên về con số tuyệt đối, song tỷ trọng lại có xu hướng giảm

(Nguồn :http://www.haugiang.gov.vn/portal/data/sites/10/chuyende/phunu/ph

an2/vaitrophunuthamgiaquanlynhanuoc.html)

Việt nam đã đạt được những tiến bộ rất đáng khích lệ trong bình đẳng giới như tỉ lệ đi học của trẻ em gái và tỉ lệ của lao động nữ trong lực lượng lao động rất cao Cuối năm 2013 chúng ta có một tin vui là một nghiên cứu của Grant Thornton, cho thấy phụ nữ Việt nam ngày càng nắm nhiều vị trí lãnh đạo trong các doanh nghiệp Tỉ lệ nữ trong hội đồng quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam là 30% trong khi tỉ lệ trung bình toàn cầu là 19% Tỉ lệ đảng viên nữ trong Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tăng từ 25% năm 2005 lên 30% năm 2010 Tuy vậy, đa

số các vị trí lãnh đạo doanh nghiệp, chính quyền và đời sống chính trị vẫn là nam giới Xét chung về vai trò của phụ nữ trên các cương vị lãnh đạo thì còn nhiều việc cần làm

Tỉ lệ nữ trong Quốc hội giảm dần trong thập niên vừa qua Trong số 9 người đứng đầu các ủy ban của Quốc hội, chỉ có 1 là nữ Số phụ nữ trong các cơ quan quan trọng nhất của Đảng như Bộ Chính chị, Ban chấp hành trung ương và Ban bí thư còn rất thấp (chỉ có 2 nữ trong số 16 ủy viên Bộ Chính trị) Về phía chính quyền, tuy tỉ lệ nữ công chức lớn, nhưng tỉ lệ lãnh đạo nữ lại khá thấp và ở cấp thấp: tỉ lệ lãnh đạo nữ cấp phòng là 11%, cấp sở là 5% và cấp bộ là 3% (UNDP, 2012)

Câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có nên coi vấn đề có thêm nhiều phụ nữ vào cương vị lãnh đạo là quan trọng không? Cần làm như vậy cho “phải phép” hay liệu việc nhiều phụ nữ tham gia lãnh đạo doanh nghiệp, chính quyền và đời sống chính trị thực sự mang lại lợi ích cho quá trình phát triển của đất nước?

Lãnh đạo nữ có vai trò quan trọng vì muốn thành công cần phải có lãnh đạo giỏi Lãnh đạo cần được lựa chọn từ tất cả các người tài trong nước - cả nam và

nữ Khoảng một nửa dân số Việt Nam là nữ, vì vậy nếu chỉ giới hạn dành các vị trí lãnh đạo cho nam giới thì Việt Nam đang hạn chế nguồn lãnh đạo tiềm năng của chính mình Mở rộng cơ hội cho phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo sẽ tăng cường được năng lực lãnh đạo phục vụ sự phát triển của đất nước

(Nguồn:

http://blogs.worldbank.org/eastasiapacific/vi/does-women-leadership-vietnam-matter-vietnamese)

Trang 8

Hình ảnh người phụ nữ VN in đậm trong các cuộc chống giặc ngoại xâm bảo

vệ đất nước điển hình là Hai Bà TRưng và họ cũng là những người phụ nữ đầu tiên tham gia lãnh đạo đất nước Bên cạnh những nữ tướng tài ba ấy sau này còn có Nguyên Phi Ỷ Lan, Thái hậu Dương Văn Nga Thế hệ sau còn có Nguyễn Thị Minh Khai lãnh tụ đầu tiên của phong trào phụ nữ sau khi ĐCSVN được thành lập

Có thể nói rằng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc cũng như hiện nay phụ

nữ VN luôn có những đại diện xứng đáng cho giới của mình trong công cuộc bảo

vệ đất nước Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ phụ nữ luôn có những cống hiến hy sinh to lớn góp phần làm nên thắng lợi của cả dân tộc, trong công cuộc xây dựng đất nước trên con đường CNH-HĐH hiện nay chị em vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội

(Nguồn:

http://doc.edu.vn/tai-lieu/de-tai-phu-nu-tham-gia-lanh-dao-va-quan-ly-o-viet-nam-hien-nay-57521/)

Trang 9

2 Nguyên nhân phụ nữ Việt Nam còn ít tham gia quản lý và lãnh đạo ở Việt Nam

Phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của đất nước Tuy nhiên, vai trò và vị trí của họ vẫn chưa xứng đáng với năng lực

và đóng góp ấy, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và chính sách nhằm xóa bỏ khoảng cách giữa nam giới và nữ giới trong nhiều lĩnh vực Những phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo quản lý đã không ngừng phấn đấu nỗ lực để vươn lên trên con đường sự nghiệp nhưng khoảng cách giới vẫn còn khá xa, bởi họ gặp không ít những khó khăn hơn so với nam giới một trong những khó khăn mà

họ mắc phải khi tham gia công tác lãnh đạo quản lý là định kiến giới bao trùm như: năng lực, định kiến giới trong gia đình, những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, những nét văn hóa truyền thống, những tập quán phong kiến nặng nề,… kéo theo hàng loạt những khó khăn là sự thiếu thốn về : thời gian, thiếu đào tạo và thiếu thông tin, thiếu tiền bạc, thiếu sự ủng hộ, thiếu động cơ tinh thần, thiếu mạng lưới phụ nữ và tinh thần đoàn kết giữa phụ nữ

Định kiến giới về năng lực

Hiện nay vẫn tồn tại nhiều mô hình tập thể lãnh đạo đọc quyền là nam giới

Đó là những mô hình bất bình đẳng trong hệ thống chính trị Hiện nay, ở nhiều bộ, nhiều ngành Trung Ương, tập thể chủ chốt vẫn là nam Những định kiến về giới cho rằng, phụ nữ yếu đuối, tự ti, thụ động, thứ yếu, phụ thuộc và là người không có tính ra quyết định; ngược lại định kiến về nam giới cho rằng, nam giới luôn mạnh

mẽ, độc đoán, là người ra quyết định, … Thật ra đó là do xã hội đã gán cho nam

và nữ những đặc điểm trên và làm cho họ thiệt thồi về khía cạnh nào đó.Thế nên định kiến giới về năng lực của hai giới đã ăn sâu vào tiềm thức của cả hai giới rằng: Phụ nữ không đủ mạnh mẽ để làm lãnh đạo, nam giới không có khả năng chăm sóc gia đình, con cái,…

Từ định kiến trên khiến cho cả hai giới đều mắc phải những hạn chế, bất lwoij khác nhau mà chủ yếu vẫn thiên về nữ giới nhiều hơn Vì thế, khi đề bạt hay

bổ nhiệm một chức vụ lãnh đạo nào đó phụ nữ thường ít có cơ hội hơn nam giới, bởi định kiến giới cho rằng nam giới có năng lực quyết định tốt hơn

Sự phân biệt khá lớn giữa hai giới, có 7 phẩm chất được xác định là cần thiết đối với nhà lãnh đạo: mạnh mẽ, kiên định, thận trọng, tự tin, quết đoán, chủ động, sáng tạo Những phẩm chất được ít cho là cần thiết đối với nhà lãnh đạo là: yếu đuối, tự ti, tuân thủ, tế nhị - ý tứ, khiêm tốn, tình cảm, tính kiềm chế Điều đáng nói là những phẩm chất được số đông cho là đúng với nam lãnh đạo lại trùng với

7 phẩm chất được cho là cần thiết đối với nhà lãnh đạo; ngược lại, những phẩm chất được cho là đúng với nữ lãnh đạo lại thuộc vào nhóm những phẩm chất được

Trang 10

ít người cho là cần thiết đối với nhà lãnh đạo Điều này có nghĩa là trong tâm niệm của phần lớn mọi người, nữ giới được đánh giá là không phù hợp với vai trò lãnh đạo bằng nam giới do họ không có những đặc điểm, phẩm chất phù hợp để làm lãnh đạo chính những định kiến này là trở ngại mà phụ nữ phải vượt qua nếu muốn tiếp cân tới các vị trí lãnh đạo, quản lý

Gánh nặng gia đình

Mâu thuẫn hạnh phúc gia đình và công danh sự nghiệp luôn là vấn đề nan giải đối với nữ cán bộ Theo báo cáo kết quả khảo sát định tính Bộ, ngành Trung Ương 2004: cán bộ nữ tham gia tọa đàm ghi nhận 3 mô hình xử lý vẫn đề : hạnh phúc gia đình hoặc thăng tiến công danh chính trị Có hai mô hình cực đoan : một

là, vì hạnh phúc gia đình từ bỏ con đường sự nghiệp công danh chính trị, hai là thăng tiến công danh chính trị nhưng không có hạnh phúc gia đình

Mô hình phổ biến trong nữ giới hiện nay, còn mô hình thứ 2 không phổ biến

Có mô hình thứ 3 là hợp lý hợp tình đó là vẹn cả đôi đường, nhưng giá mà nữ cán

bộ phải trả là khá đắt phải vẹn cả đôi đường, tăng gấp bội phần so với nam cán bộ đồng nghiệp

Tuy nhiên cũng không ít cán bộ nữ ngày nay thành đạt trong hệ thống chính trị nhờ sự hỗ trợ, giúp đỡ, chia sẻ từ phía chồng và gia đình chồng trong sự nghiệp cũng như trong việc chăm lo gia đình Đây là mô hình gia đình công bằng giới phù hợp với mục tiêu công bằng và tiến bộ xã họi, cần được nhân rộng toàn xã hội Định kiến giới đã làm hạn chế tỷ lệ nữ cán bộ lãnh đạo quản lý Những tàn

dư phong kiến về phân biệt, đối xử phụ nữ ( nhất là ở vũng sâu, vùng xa) còn có những hiện tượng công khai hiên ngang

Chính sách xã hội

Một điều đáng quan tâm hiện nay là những cản trở về cơ chế, chính sách đối với sự thăng tiến của phụ nữ Một số chính sách đối với cán bộ nữ hiên nay đã không còn phù hợp với tình hính quốc tế và trong nước về bình đẳng giới và yêu cầu thực tiễn đặt ra, vẫn chậm được nghiên cứu sửa đổi làm ảnh hưởng tiêu cực tới

sự phát triển và hạn chế đóng góp của đội ngũ cán bộ nữ nước ta

Đồng thời, trong quy định tại điều 145 của bộ luật lao động quy định tuổi nghỉ hưu của nam là 60, nữ là 55,… vì thế cãn bộ nữ đã thấp lại bị hạn chế bởi tuổi nghỉ hưu nên càng thiệt thòi hơn

Văn hóa truyền thống, tập tục phong kiến

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w