Ngày 12/07/2016 Tòa án TP Hải Dướng tiến hành Phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã được lập thành Biên bản thì Bà Hảo có yêu cầu như sau: - Y
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP LỚP LUẬT SƯ KHÓA 23
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN DÂN SỰ
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
(Hồ sơ LS.DS07/B3.TH2-DA1/HNGĐ tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản giữa nguyên đơn bà Hoàng Thị Hảo và bị đơn ông Nguyễn Văn Nguyệt)
Họ và tên:
Ngày sinh:
Số báo danh:
Lớp:
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 07 tháng 8 năm 2021
Trang 2I TÓM TẮT VỤ ÁN VÀ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA VỤ ÁN:
1 Tóm tắt vụ án:
Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương vào ngày 26/03/1999 Bà Hảo và ông Nguyệt có với nhau hai người con chung
là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2001) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/06/2007)
Ngày 31/12/2005 UBND huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Dương có cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích là 216 m2
tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách cho vợ chồng Bà Hảo và Ông Nguyệt
Về tài sản thì cả Bà Hảo và Ông Nguyệt xác nhận có tài sản chung gồm: 01 ngôi nhà 18 m2, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10 m2, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1.6 m3
Ngày 1/1/2008: Nhà nước giao cho hộ gia đình Ông Nguyệt, Bà Hảo 1965 m2 đất ruộng, ao khoán có thời hạn thuê từ (2008-2013) và sau đó được gia hạn thời gian thuê tháng 01/2013 đến tháng 12/2016 với giá 1.637.000 đồng/năm
Tháng 2/2011 Ông Nguyệt và Bà Hảo dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01 thế chấp Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn để vay khoản tiền là 30.000.000 đồng
Sau khi cưới ông bà chung sống được khoảng thời gian là hai năm thì thường hay phát sinh mâu thuẫn Theo cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cho rằng nguyên nhân cảu mâu thuẫn là do anh Nguyệt chơi bời UBND xã đã chuyển đơn về cơ sở hoà giải tuy nhiên anh Nguyệt không đến nên hoà giải không thành Chính vì vậy bà Hảo và ông Nguyệt đã sống ly thân được một thời gian từ này 14/12/2014 đến nay
Nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hoà giải, cuộc sống chung của
vợ chồng không thể kéo dài nên ngày 02/01/2016 bà Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương với các yêu cầu sau:
- Ly hôn với ông Nguyệt;
- Được nuôi 02 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng;
- Yêu cầu chia tài sản chung bao gồm: nhà đất tại thửa đất số 496, tờ bản đồ số
01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt thành phố Hải Dương và tài sản trên đất;
1965 m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt,
xã Thượng Đạt, TP Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Trang 3Ngày 10/01/2016 Tòa án TP Hải Dương ra thông báo thụ lý vụ án số 02/TB-TLVA ngày 10/1/2016
Ngày 19/5/2016 Tòa án TP Hải Dương tiến hành hòa giải lần thứ 1
Ngày 17/6/2016 Tòa án TP Hải Dương tiến hành hòa giải lần thứ 2
Ngày 12/07/2016 Tòa án TP Hải Dướng tiến hành Phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã được lập thành Biên bản thì Bà Hảo có yêu cầu như sau:
- Yêu cầu ly hôn đối với Ông Nguyệt
- Yêu cầu được nuôi 2 con chung là Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh
- Yêu cầu chia một nửa diện tích đất tại thửa số 496 tờ bản đồ số 1, phần không
có tài sản gắn liền với đất, không yêu cầu chia tài sản
Ngày 03/08/2017 Tòa án TP Hải Dương ra Quyết định Đưa vụ án ra xét xử
2 Các đương sự trong vụ án:
2.1 Nguyên đơn:
Bà Hoàng Thị Hảo
Địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương
2.2 Bị đơn:
Ông Nguyễn Văn Nguyệt
Địa chỉ: Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương
2.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- UBND thành phố Hải dương, đại diện: Hoàng Thị Thu Hà
- Bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang
Cùng địa chỉ tại: Khu dân cư số 2, Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương
3 Quan hệ pháp luật tranh chấp:
Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là quan hệ pháp luật Hôn nhân và
Gia đình Cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015.
4 Các vấn đề về tố tụng
4.1 Thẩm quyền giải quyết:
Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
4.2 Thời hiệu khởi kiện:
Trang 4Quan hệ pháp luật Hôn nhân và gia đình thì không áp dụng thời hiệu.
5 Các nội dung đã được thống nhất, chưa thống nhất:
5.1 Nội dung đã được thống nhất:
- Hai bên đã thống nhất được ly hôn do không còn tình cảm
- Không cần phải cấp dưỡng nuôi con
- Đồng ý để anh Nguyệt trả hết nợ chung
5.2 Nội dung chưa được thống nhất:
- Về nuôi con sau ly hôn:
+ Nguyên đơn: Đề nghị được nuôi cả hai cháu là Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh, không yêu cầu cấp dưỡng
+ Bị đơn: Đề nghị nuôi cháu Nguyễn Đức Anh, còn Nguyên đơn nuôi cháu Nguyễn Thị Nhi, không yêu cầu cấp dưỡng
- Về tài sản chung của hai vợ chồng:
+ Nguyên đơn: Xác nhận diện tích đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2và tài sản trên đất là tài sản chung của hai vợ chồng Đề nghị chia một nửa diện tích đất trên, không lấy tài sản trên đất
+ Bị đơn: Xác nhận diện tích đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2và tài sản trên đất không phải là tài sản chung của hai vợ chồng Yêu cầu Toà huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên
II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA ĐƯƠNG SỰ (NGUYÊN ĐƠN)
1 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn yêu cầu TAND thành phố Hải Dương giải quyết các vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân : Yêu cầu tòa án giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn
với ông Nguyễn Văn Nguyệt
- Về con chung : Yêu cầu tòa án cho nguyên đơn được nuôi 02 con chung là
Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh, không yêu cầu cấp dưỡng
- Về tài sản chung : Yêu cầu chia một nửa diện tích đất tại thửa số 496 tờ bản đồ
số 1, phần không có tài sản gắn liền với đất, không yêu cầu chia tài sản
2 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp: 2.1 Chứng cứ chứng minh về yêu cầu ly hôn:
- Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn
Trang 5- Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 của Thẩm phán và Ông Đỗ Văn Tự – Cán
bộ tư pháp xã Thượng Đạt – TP Hải Dương
2.2 Chứng cứ chứng minh về yêu cầu nuôi con:
- Bản sao Giấy khai sinh của cháu Anh
- Bản sao Giấy khai sinh của cháu Nhi
- Đơn đề nghị của cháu Nhi
- Đơn đề nghị của cháu Anh
- Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 của Thẩm phán và Ông Đỗ Văn Tự – Cán
bộ tư pháp xã Thượng Đạt – TP Hải Dương
2.3 Chứng cứ chứng minh về yêu cầu chia tài chung:
- Sổ hộ khẩu
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn Nguyệt và Hoàng Thị Hảo
- Biên bản xác minh ngày 06/5/2016 của Thẩm phán và Anh Nguyễn Văn Bích – Cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt – TP Hải Dương
- Công văn của Phòng tài nguyên & môi trường,UBND tỉnh Hải Dương
- Biên bản Xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn Nguyệt và
bà Nguyễn Thị Hảo ngày 08/6/2021
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ CỦA NGUYÊN ĐƠN
1 Câu hỏi chuẩn bị để hỏi bị đơn
1/ Ông và bà Hảo kết hôn với nhau vào năm bao nhiêu?
2/ Sau khi ông bà kết hôn, thì hai ông bà sống tại đâu?
2/ Vợ chồng ông bắt đầu sinh sống tại thửa đất 496 tờ bản đồ số 01 vào thời điểm nào?
4/ Hiện ông và bà Hảo có còn sống chung với nhau không?
5/ Xin ông cho biết ai là người đã làm đơn đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa đất 496 tờ bản đồ số 01?
6/ Ai là người đóng tiền thuế sử dụng đất hàng năm đối với thửa đất trên?
7/ Ông cho rằng UBND thành phố Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông và bà Hảo là sai, vậy tại sao thời điểm nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không khiếu nại hay yêu cầu cấp lại?
8/ Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà Hảo thì
Trang 6gia đình cảu ông có ai phản đối về việc này không?
9/ Công việc hiện nay của ông là gì? Thu nhập bình quân hàng tháng của ông là bao nhiêu? Làm bao nhiêu giờ 1 ngày? 1 tháng làm bao nhiêu ngày ?
10/ Theo lời khai của chị Hảo và cháu Đức Anh thì ông không cho cháu Đức Anh gặp mẹ, điều này có đúng sự thật hay không?
2 Câu hỏi chuẩn bị hỏi nguyên đơn
1/ Hiện bà và ông Nguyệt đang sống ly thân đúng hay không?
2/ Tại sao ông bà lại sống ly thân?
3/ Trong thời gian hai vợ chống sống ly thân, thì cháu Anh ở với ông Nguyệt đúng hay không?
4/ Ông Nguyệt có gây cản trở gì cho việc bà gặp cháu Anh hay không?
5/ Bà cho biết hiện tại bà làm nghề gì? Thời gian làm việc của bà như thế nào? Thu nhập như thế nào?
6/ Ông Nguyệt có giúp bà chăm sóc, nuôi dạy con cái không?
7/ Ông Nguyệt có khi nào đánh đập con cái không?
8/ Bà có thực hiện việc kê khai và nộp thuế quyền sử dụng đất đối với thửa đất
496, tờ bản đồ số 01 hay không?
9/ Khi vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên gia đình chồng bà có biết hay không? Có ai có ý kiến phản đối hay gì không?
3 Câu hỏi để hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà có biết thời điểm đo đạc, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyệt bà Hảo không?
2/ Bà cho biết vào thời điểm ông Nguyệt bà Hảo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình bà có biết việc này không?
3/ Tại sao về sau bà biết được ông Nguyệt, bà Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này bà không có ý kiến gì mà tới nay bà mới phản đối?
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà!
Thưa Quý luật sư đồng nghiệp!
Trang 7Tôi là Luật sư thuộc Công ty TNHH luật, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Tại phiên toà hôm nay, với sự yêu cầu của Nguyên đơn và sự đồng ý của quý Toà, tôi tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Hoàng Thị Hảo trong vụ án “tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản” với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ cùng các lời khai của các đương sự cũng như người làm chứng, căn cứ vào việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn như sau:
Thứ nhất, về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Hoàng Thị Hảo là hoàn toàn có căn cứ bởi:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ 2014 quy định về quyền yêu cầu
ly hôn của một bên như sau: “1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa
án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Thì việc ông Nguyệt không lo làm ăn, hay đi
chơi về rồi lại hay chửi bới, đánh đập vợ con, điều này được thể hiện qua các lời khai của bà Hảo và trong Biên bản xác minh ngày 09/03/2016 của cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt Không chỉ thể hiện xu hướng bạo lực, mất kiểm soát xâm hại nghiêm trọng đến thân thể, sức khoẻ của Nguyên đơn mà còn vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể chung sống kéo dài
Bên cạnh đó, hành vi thường xuyên nhậu nhẹt và chửi bới thân bà Hảo của ông Nguyệt được chứng kiến bởi cháu Nhi, cháu Anh và hàng xóm làng giềng Có thể nói, việc để cho con trẻ thường xuyên phải nhìn thấy cảnh cha say xỉn về chửi bới, bạo lực
mẹ mình đã để lại một ký ức tồi tệ trong tâm hồn non nớt và ngây thơ của hai cháu, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của cháu Nhi và cháu Anh
Bên cạnh đó, Căn cứ các biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Nguyệt vào các ngày 18/01/2016 (Bút lục số 18); bản tự khai 20/01/2016 (Bút lục 24) cùng việc xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay đều thể hiện ý chí của ông Nguyệt đồng ý ly hôn với bà Hảo
Trang 8Từ những căn cứ trên có thể thấy cuộc sống hôn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo
đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Do đó tôi kính đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho thân chủ tôi được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt
Thứ hai, về yêu cầu được nuôi cả hai con của bà Hảo:
Xét về thu nhập, hiện tại bà Hảo là công nhân tại Công ty Trấn An, đường Ngô Quyền, Thành phố Hải Dương Chị Hảo đã làm việc tại đây nhiều năm, công việc ổn định với mức thu nhập bình quân hàng tháng là 4- 6 triệu đồng/ tháng Với mức thu nhập này hiện nay tại địa phương nơi bà Hảo đang sinh sống, là phù hợp so với chi tiêu bình quân hàng tháng Tuy rằng ông Nguyệt có thu nhập tương đương với bà Hảo nhưng mà ông Nguyệt chỉ là lao động tự do, công việc không thể ổn định lâu dài như chị Hảo Bên cạnh đó, bà Hảo đang ở chung nhà với mẹ đẻ nên mẹ của bà Hảo hoàn toàn có thể tự mình bỏ ra thu nhập của mình để chăm sóc hoặc hổ trợ phần kinh tế không hề nhỏ cho bà Hảo Do đó, Bà Hảo có đủ điều kiện về tài chính để nuôi con mà không cần cấp dưỡng
Xét về chỗ ở ổn định và khả năng chăm sóc, bà Hảo tuy chưa có nhà riêng nhưng hiện tại bà đang sống tại nhà mẹ đẻ - nơi ở ổn định và lâu dài Bà ngoại của các cháu hiện sức khỏe hoàn toàn tốt, vẫn còn minh mẫn, thực hiện các công việc nhà cửa hàng ngày mà không gặp khó khăn gì Do đó, bà có thế hỗ trợ chăm sóc và đưa đón các cháu đến trường nếu giờ học của hai cháu trùng nhau hoặc khi bà Hảo bận công việc Ngoài ra, chị Hảo không cần phải hỗ trợ gì cho mẹ mình mà toàn bộ thu nhập kiếm được sẽ dùng để chăm sóc cho các con và còn nhận được sự hỗ trợ kinh tế từ gia đình của chị Hảo
Đối với, Cháu Nhi (20 tuổi) là thiếu nữ đã bước vào tuổi 20, đang ở giai đoạn mới trưởng thành nên sẽ còn rất nhiều điều còn bỡ ngỡ khi sắp phải tự mình bước chân trên con đường tự lập, mà cháu Nhi là phụ nữ nên việc cùng là phụ nữ với nhau thì bà Hảo rất phù hợp kề bên để cháu Nhi có thể nhận sự quan tâm chăm sóc và sẽ chia đúng cách từ mẹ hơn Còn cháu Anh (17 tuổi) hiện đang học cấp ba, đang trong tuổi mới lớn
và có nhiều suy nghĩ bồng bột, nóng giận nên cần có sự quan tâm chăm sóc ân cần, quan tâm kỹ càng của người mẹ Đồng thời đối với công việc trên bà Hảo làm 8 tiếng/ ngày, làm giờ hành chính Chính vì vậy bà Hảo sẽ có thời gian chăm sóc cho con tốt hơn nhất là khi các cháu đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh lý thì việc quan tâm, chia sẻ của người mẹ với con là một trong tác nhân giúp các cháu có thể phát triển một
Trang 9cách toàn diện Trên thực tế cho thấy thì người mẹ luôn là người gần gũi, tâm sự, sẻ chia với các con hơn người cha
Do đó, để thân chủ tôi nhận nuôi cả hai cháu là hoàn toàn hợp lý hợp tình, chị em không bị chia cắt, các cháu luôn có bà ngoại chăm sóc bên cạnh
Xét về nguyện vọng, Bà Hảo và ông Nguyệt có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức Anh Khi ly hôn bà Hảo yêu cầu được nuôi cả hai con
mà không yêu cầu ông Nguyệt thực hiện cấp dưỡng nuôi con Hiện cả cháu Nhi và cháu Anh đều trên 07 tuổi Do đó căn cứ theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét được nguyện vọng của các con
Căn cứ theo nguyện vọng của cháu Nhi trong đơn đề nghị ngày 20/01/2016 thì nguyện vọng của cháu là được ở cùng với mẹ là bà Hoàng Thị Hảo nếu bà Hảo và ông Nguyệt không sống chung với nhau nữa và nguyện vọng của cháu Anh trong đơn đề nghị ngày 22/01/2016 và biên bản lấy lời khai ngày 05/07/2016 thì nguyện vọng của cháu Anh là được ở với mẹ là bà Hoàng Thị Hảo nếu bố mẹ cháu ly hôn
Đầu tiên, đối chiếu với quy định trên, cháu Nguyễn Đức Anh (13/06/2007) tính đến nay đã hơn 07 tuổi nên cần xem xét đến ý kiến của cháu Nguyễn Đức Anh về việc
sẽ ở chung với cha hoặc mẹ sau khi cha mẹ ly hôn Dựa trên hồ sơ, ý kiến của cháu Anh nhiều lần thay đổi mâu thuẫn nhau, nhưng với bản tính hay đánh đập vợ con của mình, nhiều khả năng Ông Nguyệt đã đe dọa hoặc tác động về mặt ý chí khiến cháu Anh không dám đưa ra ý kiến thật sự của mình Để chứng minh cho khả năng uy hiếp cháu Anh của Ông Nguyệt thì tại Bản tự khai của Bà Hảo, Bản tự khai của những người làm chứng – ông Đỗ Văn Tư tại bút lục 73, 74 thì Ông Nguyệt cấm đoán không cho chị Hảo gặp con và đánh các cháu nếu như chị Hảo gặp con
Tiếp đến, về phần cháu Nguyễn Thị Nhi (04/01/2000) hiện đang sống cùng mẹ tức Bà Hảo và cũng bày tỏ mong muốn sống cùng mẹ, nên cần phải tôn trọng ý kiến của cháu Nhi trong trường hợp này
Chính vì những lẽ trên tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc chấp nhận yêu cầu của bà Hảo được trực tiếp nuôi dạy 2 con phù hợp với nguyện vọng của con và vì lợi ích của các cháu
Thứ ba, về yêu cầu chia tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bà Hảo và ông Nguyệt:
Trang 10Căn cứ vào Biên bản Xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo ngày 5/6/2016 và lời khai của các bên thì Quyền sử dụng đất thửa đất số 496 tờ bản đồ số 1 có nguồn gốc là do Bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang nhận từ UBND xã Thượng Đạt với hình thức giao đất vào năm
1991 Năm 1999, bà Hảo và ông Nguyệt lấy nhau nên bắt đầu trực tiếp sinh sống và sử dụng thửa đất số 496 Tại thời điểm đó, Bà Thoa đã thỏa thuận cho quyền sử dụng đất này để Ông Nguyệt và Bà Hảo xây dựng nhà ở, nhưng không lập thành văn bản có công chứng Vì quyền sử dụng thửa đất số 496 tờ bản đồ số 1 thuộc diện giao đất trái thẩm quyền, nên ngày 21/7/2001 UBND xã Thượng Đạt đã tổ chức lập biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất và ký giáp ranh mảnh đất này 10/7/2001, hội đồng đã duyệt hợp thức hoá cho 30 hộ, trong đó có hộ ông Nguyệt và bà Hảo Ngày 25/10/ 2001, các
hộ dân đã có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ngày 22/7/2002, quyết định số 536/2002/QĐ-UB về việc xử lý giao đất trài thẩm quyền cho 30 hộ dân được ban hành trong đó có hộ ông Nguyệt và bà Hảo Căn cứ vào Quyết định trên nên
hộ ông Nguyệt và bà Hảo đã được cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất vào ngày 31 tháng 12 năm 2005
Bên cạnh đó, sau khi nhận mảnh đất từ năm 1999, thì vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo đã cùng nhau cải tạo vùng đất trũng bằng việc xây nhà vào năm 1999, phun cát vào thửa đất vào năm 2002, đắp thêm nền vào năm 2004 và xây dựng các công trình phụ cũng như trồng trọt quanh nhà Bà Thoa, ông Cang và các anh em trong gia đình anh Nguyệt đều biết việc xây dựng trên của vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo, nhưng không ai có tranh chấp hay ý kiến phản đối gì Thêm vào đó, bà Hảo và ông Nguyệt được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên vào ngày 31/12/2005 và tất cả mọi người đều biết và không có bất kỳ ai có ý kiến gì hay phản đối gì về việc ông Nguyệt, bà Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng bà Hảo, ông Nguyệt xây dựng nhà và sinh sống ổng định từ đó đến nay, không xảy ra bất kỳ tranh chấp cũng như không có bất kỳ ai khiếu kiện, khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với thửa đất 496 tờ bản đồ số 01 Việc này đã được ông ông Nguyễn Văn Bích – cán bộ địa chính xá Thượng Đạt xác nhận tại Biên bản xác minh ngày 09/03/2016 và biên bản xác minh ngày 06/05/2016 Điều đó thể hiện ý chí của cả gia đình bà Thoa là đã thừa nhận việc cho anh Nguyệt và chị Hảo phần đất tại thửa đất trên Do đó, việc bà Thoa và anh Nguyệt khai rằng anh Nguyệt không hề đăng ký kê khai giấy tờ đất mà lại được UBND cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất và bà