1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ 17 khiếu kiện quyết định hành chính

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ 17 Khiếu kiện quyết định hành chính
Trường học Học Viện Tư Pháp
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2014
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 50,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 1. Đương sự tham gia vụ án: Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh ngày 1982 Địa chỉ: số 241 Lê Lai, tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh GL. Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Mai Tuấn Anh, sinh năm 1977. Địa chỉ: số 33 Minh Khai, phường Bùi Thị Xuân, thành phố P, tỉnh GL. Người bị kiện: Ông Trần Ngọc Minh Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thế thao và du lịch tỉnh GL Địa chỉ: Số 06 Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh GL. Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Dương Văn Thành – Phó Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thế thao và du lịch tỉnh GL. Người làm chứng: 1. Ông Nguyễn Văn Thường, CMND số 95017163 Điạ chỉ: Trung đoàn X tỉnh G.L 2. Bà Nguyễn Thị Lành, CMND số 230547723 3. Ông Phan Văn, sinh năm 1984 Địa chỉ: 03 Trần Bình Trọng, Thị xã K 4. Bà Nguyễn Thị Thùy, sinh năm 1989 Điạ chỉ: Xã Vinh Quang, tỉnh K. 2. Tóm tắt nội dung: Vào lúc 21giờ 10 phút ngày 23122013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hoá, thế thao và du lịch tỉnh GL đã đến kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Nguyễn Thị Tuyết tại số 241 đường Lê Lai, thành phố P, tỉnh GL. Sau khi kiểm tra Đoàn đã lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá, thế thao và du lịch số 11BBVPHC có nội dung như sau: “Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn, đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục), phòng số 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang xem tivi. Vào thời điểm kiểm tra tại phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lợi”. Ngày 1032014 ông Trần Ngọc Minh (Phó giám đốc kiêm Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL) đã ban hành Quyết định số 23QĐXP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch đối với bà Tuyết, hình thức phạt tiền là 15.000.000 đồng với lý do vi phạm tại khoản 1, Điều 25, Nghị định 1672013NĐCP: “thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”. Ngày 1732014, Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch giao Quyết định số 23QĐXP cho bà Nguyễn thị Tuyết. Ngày 1832014, phía Thanh tra Sở cho rằng do sơ sót về mặt hình thức nên có công văn đính chính Quyết định số 23QĐXP. Ngày 2432014, bà Tuyết làm Đơn khiếu nại (lần đầu), vì không đồng ý với nội dung Quyết định số 23QĐCP do vi phạm thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, không ghi đầy đủ về mặt nội dung và trên thực tế bà Tuyết không vi phạm nội dung như quyết định đã nêu. Ngày 07042014, Sở Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL đã có Công văn số 167CVVHTTDL về việc trả lời đơn khiếu nại của bà Tuyết đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23. Ngày 2042014, Thanh tra Sở đã ban hành Quyết định số 01QĐTTr với nội dung “giữ nguyên mức phạt 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Nguyễn Thị Tuyết”. Nhận thấy việc ra Quyết định giữ nguyên nội dung như trên là không đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết nên ngày 0252014, bà Tuyết đã làm đơn khởi kiện Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ra Tòa án nhân dân tỉnh GL, yêu cầu Tòa hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch số 23QĐXP của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành ngày 1032014. 3. Đối tượng khởi kiện: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch số 23QĐXP của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành ngày 1032014. 4. Yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch số 23QĐXP của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành ngày 1032014. 5. Ý kiến phản đối của người bị kiện: Đề nghị Tòa xem xét và giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch số 23QĐXP của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành ngày 1032014. II. KẾ HOẠCH XÉT HỎI. 1. Nội dung hỏi Người bị kiện: ông Dương Văn Thành (đại diện theo ủy quyền của ông Minh) 1. Ông cho biết căn cứ vào đâu để ra Quyết định số 23 xử phạt vi phạm của bà Nguyễn Thị Tuyết? 2. Có phải Thanh tra Sở đã áp dụng Nghị định 1582013 để xác định hành vi vi phạm của bà Tuyết không? 3. Nghị định 1582013 có hiệu lực từ ngày 01012014 đúng không? 4. Vậy việc lập Biên bản số 11 là vào ngày 23122013, trước 07 ngày Nghị định 158 có hiệu lực đúng không? 5. Có phải đến ngày 1032014 ra Quyết định xử phạt đúng không? 6. Có phải Nghị định 1672013 có hiệu lực kể từ ngày 28122013 đúng không? 7. Biên bản số 11 lập trước 05 ngày Nghị định 1672013 có hiệu lực đúng không? 8. Quyết định số 23 áp dụng khoản 1 Điều 25 NĐ 1672013 để xử phạt bà Tuyết đúng không? 9. Hành vi vi phạm của bà Tuyết được xác định trong Quyết định số 23 là: “thiếu trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện để tổ chức hoạt động mại dâm” đúng không? 10. Tại sao trong Biên bản vi phạm hành chính do Đoàn kiểm tra của thanh tra sở lập ngày 23122013 khi kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan 23122013 áp dụng Nghị định số 1582013NĐCP ngày 12112013 và trong Quyết định số 23 lại áp dụng Nghị định số 167NĐCP? 11. Ông cho biết như thế nào gọi là hoạt động “mại dâm”? 12. Tại thời điểm kiểm tra, các ông có thấy việc giao nhận tiền bạc hoặc giá trị vật chất của các đối tượng trên không? 13. Trong các bản tường trình về sự việc ngày hôm đó các đối tượng trên có khai nhận về việc giao tiền, bạc hay không? 14. Các ông giao quyết định số 23 cho bà Tuyết vào ngày tháng năm nào? 15. Có phải Quyết định số 23QĐXP có quy định trong thời hạn 03 ngày Quyết định này được gửi cho bà Tuyết để chấp hành đúng không? 16. Có phải Quyết định 23 lại được lập vào ngày 1032014, tức là đã quá hơn 60 ngày kể từ ngày lập Biên bản vi phạm hành chính vào ngày 23122013 đúng không ? Ông giải thích sao về điều này? 17. Tại sao khi phát hiện ra có các thiếu sót nêu trên, Phía Thanh tra Sở không tiến hành thưc hiện thu hồi mà lại ban hành một công văn hành chính? 2. Nội dung hỏi Người khởi kiện: ông Mai Tuấn Anh (đại diện theo ủy quyền của bà Tuyết) 1. Ông cho biết tại sao phía người khởi kiện lại yêu cầu hủy QĐ số 23 ngày 1032014 của ông Chánh Thanh tra Sở VHTTDL? 2. Ông cho biết bà Tuyết nhận Quyết định số 23 vào ngày 1732014 đúng không? 3. Đoàn kiểm tra đến nhà trọ của bà Tuyết ngày tháng năm nào? Khi lập biên bản có đọc cho bà Tuyết nghe không? 4. Quyết định số 23 có ghi ngày tháng năm phải thực hiện không? 5. Bà nhận được Quyết định đính chính vào thời gian nào? 3. Nội dung hỏi Người làm chứng: 3.1. Hỏi ông Nguyễn Văn Thường: Ông có mối quan hệ như thế nào với bà Nguyễn Thị Lành? Ông có đưa hoặc nhận tiền hoặc tài sản khác để quan hệ vợ chồng với bà Nguyễn Thị Lành không? Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra thì họ có lấy hoặc giữ tiền hay tài sản khác của Ông để làm chứng cứ lập biên bản hoặc không? Ông có ý kiến gì về Nội dung tại Biên bản số 11BBVPHC ngày 23122013 do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch? 3.2. Hỏi bà Nguyễn Thị Lành: Bà và Ông Nguyễn Văn Thường có mối quan hệ như thế nào? Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra thì họ có lấy hoặc giữ tiền hay tài sản khác của bà để làm chứng cứ lập biên bản hoặc không? Bà có đưa hoặc nhận tiền hoặc tài sản khác để quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Văn Thường không? Bà có ý kiến gì về Nội dung tại Biên bản số 11BBVPHC ngày 23122013 do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch ? 3.3. Hỏi ông Phan Văn: Ông có mối quan hệ như thế nào với bà Nguyễn Thị Thuỳ? Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra phòng 9 thì Ông đang làm gì? Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra thì họ có lấy hoặc giữ tiền hay tài sản khác của ông để làm chứng cứ lập biên bản hoặc không? Ông có ý kiến gì về Nội dung tại Biên bản số 11BBVPHC ngày 23122013 do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch? 3.4. Hỏi bà Nguyễn Thị Thuỳ: Bà và ông Phan Văn có mối quan hệ như thế nào? Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra thì họ có lấy hoặc giữ tiền hay tài sản khác của bà để làm chứng cứ lập biên bản hoặc không? Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra phòng 9 thì bà đang làm gì? Bà có ý kiến gì về Nội dung tại Biên bản số 11BBVPHC ngày 23122013 do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch ? III. BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN LÀ BÀ NGUYỄN THỊ TUYẾT Kính thưa Hội đồng xét xử; Thưa vị đại diện Viện kiểm sát; Thưa Luật sư đồng nghiệp Tôi là Luật sư A thuộc Công ty TNHH A, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Hôm nay, được sự chấp thuận của Hội đồng xét xử và theo yêu cầu của người khởi kiện, tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng của tôi là bà Nguyễn Thị Tuyết cũng là người khởi kiện trong vụ án hành chính này. Qua phần trình bày của các đương sự và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay đã thể hiện rõ nội dung vụ án, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung vụ án này. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến của phiên tòa hôm nay, tôi xin nêu một số quan điểm để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ mình như sau: Về thẩm quyền thụ lý: Bà Tuyết yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định số 23QĐXP của Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL, đây là quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, quyết định này do Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL ban hành. Căn cứ tại khoản 1, Điều 30; khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng Hành chính 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh GL do đó Toà án nhân dân tỉnh GL thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Về đối tượng khởi kiện: Bà Tuyết cho rằng Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL ban hành Quyết định số 23QĐXP Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động Văn hoá, thể thao và du lịch làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết, do đó bà Tuyết có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 115 Luật tố tụng hành chính. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 0252014 bà Tuyết khởi kiện Quyết định Số 23QĐXP của Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL ban hành ngày 1032014. Theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính là 01 năm. Do đó vẫn còn thời hiệu khởi kiện nên Toà án thụ lý giải quyết là có căn cứ. Về tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán: Từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định theo Điều 38 Luật tố tụng hành chính, như thông báo cho đương sự biết về thụ lý vụ án hành chính, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 125, Điều 126 Luật tố tụng hành chính; tổ chức đối thoại giữa các đương sự được quy định tại Điều 20 Luật Tố tụng hành chính. Về yêu cầu khởi kiện: Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết (đại diện theo ủy quyền là ông Mai Tuấn Anh) yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định số 23QĐXP trên là có căn cứ và có cơ sở để chấp nhận vì những lý do sau đây: Thứ nhất: Biên bản số 11BBVPHC ngày 23122013 do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch lập không đúng quy định của pháp luật. Biên bản căn cứ Nghị định 1582013NĐCP làm căn cứ xử phạt nhưng Nghị định này có hiệu lực vào ngày 01012014 trước ngày xảy ra hành vi vi phạm của bà Tuyết là 07 ngày. Việc áp dụng Nghị định này làm căn cứ xử phạt là trái với điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 có quy định: “1. Văn bản quy phạm pháp luật áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó…” Như vậy qua sự phân tích trên đã chứng minh rằng Biên bản số 11 mà đoàn kiểm tra của Sở lập là không đúng theo quy định, trái nguyên tắc áp dụng pháp luật. Nên biên bản này hoàn toàn không có giá trị pháp lý do đó không thể làm căn cứ ra Quyết định xử phạt bà Tuyết. Thứ hai: Quyết định số 23QĐXP ngày 23122013 có nội dung không đầy đủ và không phù hợp theo quy định của pháp luật. Tại Điều 2 của Quyết định không ghi ngày tháng năm giao Quyết định xử phạt đồng thời tại Điều 3 cũng không ghi thời điểm có hiệu lực của Quyết định. Theo như phía người bị kiện trình bày tại phiên Tòa hôm nay do có những sai soát về mặt hình thức nên đã có Công văn số 022014 ngày 1832014 để đính chính. Nhưng theo lời trình bày của thân chủ tôi thì ngày nhận Quyết định đính chính là ngày 3132014 (Công văn số 167 ngày 0742014 phía người bị kiện cũng khẳng định là ngày 31 mới gởi Quyết định đính chính). Bên cạnh đó, Quyết định số 23QĐXP không xác định ngày có hiệu lực thi hành. Điều 3 của Quyết định ghi là “trong thời hạn 3 ngày” nhưng không rõ là 03 ngày kể từ ngày nào. Nếu cho là 03 ngày kể từ ngày ra quyết định thì quy định như vậy là trái với quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính: “Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành”. Thứ ba: Nội dung của Quyết định số 23QĐXP xác định rằng bà Tuyết “thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” là không đúng sự thật khách quan. Biên bản số 11BBVPHC ghi nhận hành vi vi phạm của bà Tuyết như sau: “Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang xem tivi. Tại thời điểm kiểm tra không có vào sổ bà Nguyễn Thị Lành”. Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch đã trả lời trong các công văn gửi cho Tòa án cũng như trình bày tại phiên Tòa hôm nay khẳng định hành vi quan hệ tình dục của ông Thường bà Lành là hoạt động mại dâm là khẳng định không có cơ sở. Bởi theo Pháp lệnh phòng chống mại dâm 2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XI: “1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với một người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác. 2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu. 3. Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm.” Nếu xác định đây là hành vi mại dâm thì đồng thời phải làm rõ họ có hành vi mua dâm, bán dâm phải chứng minh họ có hành vi giao cấu để trả tiền, nhận tiền hay cho, nhận lợi ích vật chất khác. Tại biên bản số 11 cũng như các bản tường trình của ông Thường và bà Lành hoàn toàn không có ghi nhận sự việc có trao đổi tiền hay cho nhận, lợi ích vật chất khác. Tại bản tường trình ngày 2952014 của Chánh thanh tra đã nhiều lần yêu cầu bà Tuyết chứng minh các đối tượng trên là vợ, chồng để làm căn cứ không xử phạt đối với hoạt động mại dâm. Theo quy định cũ tại Mục 8.5 Phần IV 022001TTBCA (đã hết hiệu lực vào ngày 20112010) thì tổ chức, cá nhân hoạt động ngành nghề cho thuê lưu trú (trong trường hợp này là kinh doanh nhà nghỉ) “phải bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng (trừ trường hợp là gia đình, vợ chồng”. Tuy nhiên, Thông tư 332010TTBCA thay thế Thông tư 022001TTBCA đã hủy bỏ quy định này. Do đó, bà Tuyết không có trách nhiệm yêu cầu các khách thuê phòng nêu trên chứng minh họ là vợ chồng hợp pháp. Bên cạnh đó, theo điểm đ, khoản 1, Điều 3 Luật xử ý vi phạm hành chính 2012 thì “Người có thẩm quyền XPVPHC có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện chứng minh mình không vi phạm hành chính”. Vì vậy việc Chánh thanh tra đã nhiều lần yêu cầu bà Tuyết chứng minh các đối tượng trên là vợ, chồng là trái với nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính, vì rõ ràng Luật không buộc bà Tuyết có nghĩa vụ là tự mình chứng minh mình không vi phạm mà nghĩa vụ chứng minh vi phạm thuộc về cơ quan xử lý vi phạm. Chính vì vậy Quyết định số 23QĐXP áp dụng nội dung trích dẫn như trên để xử phạt bà Tuyết là không có cơ sở, không đúng sự thật khách quan của vụ việc. Thứ tư: Việc Quyết định số 23QĐXP áp dụng Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 1672013NĐCP chưa có hiệu lực tại thời điểm vi phạm để xử phạt bà Tuyết là không đúng pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 72 Nghị định số 1672013NĐCP thì Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28122013, còn thời điểm mà đoàn kiểm tra lập biên bản xử phạt bà Tuyết là vào ngày 23122013, tức là trước 05 ngày Nghị định số 1672013NĐCP có hiệu lực. Căn cứ khoản 1, Điều 73 NĐ 1672013NĐCP quy định điều khoản chuyển tiếp quy như sau: “Đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội phòng chống tệ nạn xã hội xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm.” Tại khoản 1, điều 25 Nghị định sô 1672013NĐCP quy dịnh xử phạt đối với hành vi thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động mại dâm là phạt tiền từ 15.000.000 đồng 20.000.000 đồng, trong khi đó tại khoản 2 Điều 20 Nghị định 1782004NĐCP là nghị định cũng xử phạt hành vi này nhưng có hiệu lực trước Nghị định 1672013NĐCP thì quy định phạt tiền 10.000.000 đồng15.000.000 đồng. Việc áp dụng quy định xử phạt tại Nghị định 1672013NĐCP chưa có hiệu lực rõ ràng là không đúng quy định của pháp luật, vi phạm Khoản 1 Điều 83 Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 2008 mà tôi đã phân tích ở trên. Thứ năm: Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch không có thẩm quyền ban hành Quyết định số 23QĐXP. Vì căn cứ theo Điều 69 Nghị định 1672013NĐCP quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của Thanh tra, Quản lý thị trường: “Thanh tra Lao động Thương binh và Xã hội có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi quy định tại Mục 2 Chương II; Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi quy định tại Mục 4 Chương II; các lực lượng Thanh tra chuyên ngành, Quản lý thị trường có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi quy định tại Điều 20 Nghị định này theo chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi, lĩnh vực mình quản lý.” Mà quy định về “Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm” nằm ở Mục 2 Chương II thuộc thẩm quyền của Thanh tra Lao động Thương binh và Xã hội. Còn mục 4 Chương II của Nghị đỉnh 1672013NĐCP quy định về vi phạm hành chính về phòng chống bạo lực gia đình, không đề cập về hành vi trên. Do đó,Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch không có thẩm quyền xử phạt bà Tuyết về Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm. Thứ sáu: Quyết định số 23QĐXP ban hành trong khi đã hết thời hạn ra Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính. Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính: “1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản. Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”. Căn cứ vào quy định như trên thì thời hạn tối đa để ra quyết định xử phạt đối với bà Tuyết (kể cả thời gian xin gia hạn thêm) là 60 ngày. Trong khi, bà Tuyết bị lập biên bản vào ngày 23122013 đến ngày 1032014 mới ban hành Quyết định số 23 xử phạt vi phạm hành chính. Vậy tổng cộng thời gian ban hành quyết định xử phạt là 77 ngày vượt quá 17 ngày so với thời hạn luật định. Do đó, Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Từ những phân tích nêu trên có thể chứng minh Quyết định số 23QĐXP ngày 1032014 của Chánh thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành trái pháp luật. Do đó, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tuyết: Tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 23QĐXP ngày 1032014 của Chánh thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL. Cám ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

(Mã số: LS-HC 12/DA2 Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính)

Họ và tên : A

Số báo danh : A

Ngày diễn : A

Tp Hồ Chí Minh, ngày A tháng A năm A

Trang 2

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

1 Đương sự tham gia vụ án:

- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh ngày 1982

Địa chỉ: số 241 Lê Lai, tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh GL

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Mai Tuấn Anh, sinh năm 1977 Địa chỉ: số 33 Minh Khai, phường Bùi Thị Xuân, thành phố P, tỉnh GL

- Người bị kiện: Ông Trần Ngọc Minh - Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thế thao và du

lịch tỉnh GL

Địa chỉ: Số 06 Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh GL

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Dương Văn Thành – Phó Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thế thao và du lịch tỉnh GL

- Người làm chứng:

1 Ông Nguyễn Văn Thường, CMND số 95017163

Điạ chỉ: Trung đoàn X tỉnh G.L

2 Bà Nguyễn Thị Lành, CMND số 230547723

3 Ông Phan Văn, sinh năm 1984

Địa chỉ: 03 Trần Bình Trọng, Thị xã K

4 Bà Nguyễn Thị Thùy, sinh năm 1989

Điạ chỉ: Xã Vinh Quang, tỉnh K

Trang 3

2 Tóm tắt nội dung:

Vào lúc 21giờ 10 phút ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hoá, thế thao và du lịch tỉnh GL đã đến kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Nguyễn Thị Tuyết tại số

241 đường Lê Lai, thành phố P, tỉnh GL Sau khi kiểm tra Đoàn đã lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá, thế thao và du lịch số 11/BB-VPHC có nội dung như sau:

“Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường

và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn, đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục), phòng số 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang xem tivi Vào thời điểm kiểm tra tại phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lợi”.

Ngày 10/3/2014 ông Trần Ngọc Minh (Phó giám đốc kiêm Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL) đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-XP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch đối với bà Tuyết, hình thức phạt tiền

là 15.000.000 đồng với lý do vi phạm tại khoản 1, Điều 25, Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”.

Ngày 17/3/2014, Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch giao Quyết định số

23/QĐ-XP cho bà Nguyễn thị Tuyết Ngày 18/3/2014, phía Thanh tra Sở cho rằng do sơ sót về mặt hình thức nên có công văn đính chính Quyết định số 23/QĐ-XP

Ngày 24/3/2014, bà Tuyết làm Đơn khiếu nại (lần đầu), vì không đồng ý với nội dung Quyết định số 23/QĐ-CP do vi phạm thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, không ghi đầy đủ về mặt nội dung và trên thực tế bà Tuyết không vi phạm nội dung như quyết định đã nêu

Ngày 07/04/2014, Sở Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL đã có Công văn số 167/CV-VHTTDL về việc trả lời đơn khiếu nại của bà Tuyết đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23

Trang 4

Ngày 20/4/2014, Thanh tra Sở đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr với nội dung

“giữ nguyên mức phạt 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm của bà Nguyễn Thị Tuyết”.

Nhận thấy việc ra Quyết định giữ nguyên nội dung như trên là không đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết nên ngày 02/5/2014, bà Tuyết đã làm đơn khởi kiện Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ra Tòa án nhân dân tỉnh GL, yêu cầu Tòa hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và

du lịch số 23/QĐ-XP của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành ngày 10/3/2014

3 Đối tượng khởi kiện:

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành ngày 10/3/2014

4 Yêu cầu khởi kiện:

Yêu cầu Tòa hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành ngày 10/3/2014

5 Ý kiến phản đối của người bị kiện:

Đề nghị Tòa xem xét và giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Văn hoá, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch ban hành ngày 10/3/2014

II KẾ HOẠCH XÉT HỎI.

1 Nội dung hỏi Người bị kiện: ông Dương Văn Thành (đại diện theo ủy quyền của ông

Minh)

1 Ông cho biết căn cứ vào đâu để ra Quyết định số 23 xử phạt vi phạm của bà Nguyễn Thị Tuyết?

2 Có phải Thanh tra Sở đã áp dụng Nghị định 158/2013 để xác định hành vi vi phạm của bà Tuyết không?

3 Nghị định 158/2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 đúng không?

Trang 5

4 Vậy việc lập Biên bản số 11 là vào ngày 23/12/2013, trước 07 ngày Nghị định

158 có hiệu lực đúng không?

5 Có phải đến ngày 10/3/2014 ra Quyết định xử phạt đúng không?

6 Có phải Nghị định 167/2013 có hiệu lực kể từ ngày 28/12/2013 đúng không?

7 Biên bản số 11 lập trước 05 ngày Nghị định 167/2013 có hiệu lực đúng không?

8 Quyết định số 23 áp dụng khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013 để xử phạt bà Tuyết đúng không?

9 Hành vi vi phạm của bà Tuyết được xác định trong Quyết định số 23 là:

“thiếu trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện để tổ chức hoạt động mại dâm” đúng không?

10 Tại sao trong Biên bản vi phạm hành chính do Đoàn kiểm tra của thanh tra sở lập ngày 23/12/2013 khi kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan 23/12/2013 áp dụng Nghị định

số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 và trong Quyết định số 23 lại áp dụng Nghị định số 167/NĐ-CP?

11 Ông cho biết như thế nào gọi là hoạt động “mại dâm”?

12 Tại thời điểm kiểm tra, các ông có thấy việc giao nhận tiền bạc hoặc giá trị vật chất của các đối tượng trên không?

13 Trong các bản tường trình về sự việc ngày hôm đó các đối tượng trên có khai nhận về việc giao tiền, bạc hay không?

14 Các ông giao quyết định số 23 cho bà Tuyết vào ngày tháng năm nào?

15 Có phải Quyết định số 23/QĐ-XP có quy định trong thời hạn 03 ngày Quyết định này được gửi cho bà Tuyết để chấp hành đúng không?

16 Có phải Quyết định 23 lại được lập vào ngày 10/3/2014, tức là đã quá hơn 60 ngày kể từ ngày lập Biên bản vi phạm hành chính vào ngày 23/12/2013 đúng không ? Ông giải thích sao về điều này?

17 Tại sao khi phát hiện ra có các thiếu sót nêu trên, Phía Thanh tra Sở không tiến hành thưc hiện thu hồi mà lại ban hành một công văn hành chính?

2 Nội dung hỏi Người khởi kiện: ông Mai Tuấn Anh (đại diện theo ủy quyền của bà

Tuyết)

Trang 6

1 Ông cho biết tại sao phía người khởi kiện lại yêu cầu hủy QĐ số 23 ngày 10/3/2014 của ông Chánh Thanh tra Sở VH-TT-DL?

2 Ông cho biết bà Tuyết nhận Quyết định số 23 vào ngày 17/3/2014 đúng không?

3 Đoàn kiểm tra đến nhà trọ của bà Tuyết ngày tháng năm nào? Khi lập biên bản

có đọc cho bà Tuyết nghe không?

4 Quyết định số 23 có ghi ngày tháng năm phải thực hiện không?

5 Bà nhận được Quyết định đính chính vào thời gian nào?

3 Nội dung hỏi Người làm chứng:

3.1 Hỏi ông Nguyễn Văn Thường:

- Ông có mối quan hệ như thế nào với bà Nguyễn Thị Lành?

- Ông có đưa hoặc nhận tiền hoặc tài sản khác để quan hệ vợ chồng với bà Nguyễn Thị Lành không?

- Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra thì họ có lấy hoặc giữ tiền hay tài sản khác của Ông để làm chứng cứ lập biên bản hoặc không?

- Ông có ý kiến gì về Nội dung tại Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch?

3.2 Hỏi bà Nguyễn Thị Lành:

- Bà và Ông Nguyễn Văn Thường có mối quan hệ như thế nào?

- Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra thì họ có lấy hoặc giữ tiền hay tài sản khác của bà để làm chứng cứ lập biên bản hoặc không?

- Bà có đưa hoặc nhận tiền hoặc tài sản khác để quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Văn Thường không?

- Bà có ý kiến gì về Nội dung tại Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013

do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch ? 3.3 Hỏi ông Phan Văn:

- Ông có mối quan hệ như thế nào với bà Nguyễn Thị Thuỳ?

- Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra phòng 9 thì Ông đang làm gì?

- Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra thì họ có lấy hoặc giữ tiền hay tài sản khác của ông để làm chứng cứ lập biên bản hoặc không?

Trang 7

- Ông có ý kiến gì về Nội dung tại Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch?

3.4 Hỏi bà Nguyễn Thị Thuỳ:

- Bà và ông Phan Văn có mối quan hệ như thế nào?

- Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra thì họ có lấy hoặc giữ tiền hay tài sản khác của bà để làm chứng cứ lập biên bản hoặc không?

- Khi đoàn Thanh tra vào kiểm tra phòng 9 thì bà đang làm gì?

- Bà có ý kiến gì về Nội dung tại Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013

do đoàn kiểm tra của Sở văn hoá, thể thao và du lịch ?

III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN LÀ BÀ NGUYỄN THỊ TUYẾT

Kính thưa Hội đồng xét xử;

Thưa vị đại diện Viện kiểm sát;

Thưa Luật sư đồng nghiệp!

Tôi là Luật sư A thuộc Công ty TNHH A, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay, được sự chấp thuận của Hội đồng xét xử và theo yêu cầu của người khởi kiện, tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng của tôi

là bà Nguyễn Thị Tuyết cũng là người khởi kiện trong vụ án hành chính này

Qua phần trình bày của các đương sự và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay

đã thể hiện rõ nội dung vụ án, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung vụ án này

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến của phiên tòa hôm nay, tôi xin nêu một số quan điểm để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ mình như sau:

Về thẩm quyền thụ lý: Bà Tuyết yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định số 23/QĐ-XP của

Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL, đây là quan hệ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, quyết định này do Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL ban hành Căn cứ tại khoản 1, Điều 30; khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng Hành chính 2015 thì

Trang 8

vụ án này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh GL do đó Toà án nhân dân tỉnh GL thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền

Về đối tượng khởi kiện: Bà Tuyết cho rằng Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và

du lịch tỉnh GL ban hành Quyết định số 23/QĐ-XP Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động Văn hoá, thể thao và du lịch làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết, do đó bà Tuyết có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều

115 Luật tố tụng hành chính

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 02/5/2014 bà Tuyết khởi kiện Quyết định Số 23/QĐ-XP

của Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh GL ban hành ngày 10/3/2014 Theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính

là 01 năm Do đó vẫn còn thời hiệu khởi kiện nên Toà án thụ lý giải quyết là có căn cứ

Về tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán: Từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy

rằng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định theo Điều 38 Luật tố tụng hành chính, như thông báo cho đương sự biết về thụ lý vụ án hành chính, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 125, Điều 126 Luật tố tụng hành chính; tổ chức đối thoại giữa các đương sự được quy định tại Điều 20 Luật Tố tụng hành chính

Về yêu cầu khởi kiện: Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết (đại diện theo ủy

quyền là ông Mai Tuấn Anh) yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định số 23/QĐ-XP trên là có căn

cứ và có cơ sở để chấp nhận vì những lý do sau đây:

Thứ nhất: Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 do đoàn kiểm tra của Sở văn

hoá, thể thao và du lịch lập không đúng quy định của pháp luật Biên bản căn cứ Nghị định 158/2013/NĐ-CP làm căn cứ xử phạt nhưng Nghị định này có hiệu lực vào ngày 01/01/2014 trước ngày xảy ra hành vi vi phạm của bà Tuyết là 07 ngày Việc áp dụng Nghị định này làm căn cứ xử phạt là trái với điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 có quy định:

“1 Văn bản quy phạm pháp luật áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

Trang 9

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó…”

Như vậy qua sự phân tích trên đã chứng minh rằng Biên bản số 11 mà đoàn kiểm tra của Sở lập là không đúng theo quy định, trái nguyên tắc áp dụng pháp luật Nên biên bản này hoàn toàn không có giá trị pháp lý do đó không thể làm căn cứ ra Quyết định xử phạt bà Tuyết

Thứ hai: Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 23/12/2013 có nội dung không đầy đủ và

không phù hợp theo quy định của pháp luật

Tại Điều 2 của Quyết định không ghi ngày tháng năm giao Quyết định xử phạt đồng thời tại Điều 3 cũng không ghi thời điểm có hiệu lực của Quyết định Theo như phía người

bị kiện trình bày tại phiên Tòa hôm nay do có những sai soát về mặt hình thức nên đã có Công văn số 02/2014 ngày 18/3/2014 để đính chính Nhưng theo lời trình bày của thân chủ tôi thì ngày nhận Quyết định đính chính là ngày 31/3/2014 (Công văn số 167 ngày 07/4/2014 phía người bị kiện cũng khẳng định là ngày 31 mới gởi Quyết định đính chính) Bên cạnh đó, Quyết định số 23/QĐ-XP không xác định ngày có hiệu lực thi hành Điều

3 của Quyết định ghi là “trong thời hạn 3 ngày” nhưng không rõ là 03 ngày kể từ ngày nào Nếu cho là 03 ngày kể từ ngày ra quyết định thì quy định như vậy là trái với quy định tại Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính: “Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành”

Thứ ba: Nội dung của Quyết định số 23/QĐ-XP xác định rằng bà Tuyết “thiếu tinh

thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” là không đúng sự thật khách quan.

Biên bản số 11/BB-VPHC ghi nhận hành vi vi phạm của bà Tuyết như sau: “Tại thời

điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị

Trang 10

Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang xem tivi Tại thời điểm kiểm tra không có vào sổ bà Nguyễn Thị Lành” Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch đã trả

lời trong các công văn gửi cho Tòa án cũng như trình bày tại phiên Tòa hôm nay khẳng định hành vi quan hệ tình dục của ông Thường bà Lành là hoạt động mại dâm là khẳng định không có cơ sở Bởi theo Pháp lệnh phòng chống mại dâm 2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XI:

“1 Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với một người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

2 Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.

3 Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm.”

Nếu xác định đây là hành vi mại dâm thì đồng thời phải làm rõ họ có hành vi mua dâm, bán dâm phải chứng minh họ có hành vi giao cấu để trả tiền, nhận tiền hay cho, nhận lợi ích vật chất khác Tại biên bản số 11 cũng như các bản tường trình của ông Thường và bà Lành hoàn toàn không có ghi nhận sự việc có trao đổi tiền hay cho nhận, lợi ích vật chất khác Tại bản tường trình ngày 29/5/2014 của Chánh thanh tra đã nhiều lần yêu cầu bà Tuyết chứng minh các đối tượng trên là vợ, chồng để làm căn cứ không xử phạt đối với hoạt động mại dâm Theo quy định cũ tại Mục 8.5 Phần IV  02/2001/TT-BCA (đã hết hiệu lực vào ngày 20/11/2010) thì tổ chức, cá nhân hoạt động ngành nghề cho thuê lưu trú (trong trường

hợp này là kinh doanh nhà nghỉ) “phải bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng (trừ trường

hợp là gia đình, vợ chồng” Tuy nhiên, Thông tư 33/2010/TT-BCA thay thế Thông tư

02/2001/TT-BCA đã hủy bỏ quy định này Do đó, bà Tuyết không có trách nhiệm yêu cầu các khách thuê phòng nêu trên chứng minh họ là vợ chồng hợp pháp Bên cạnh đó, theo

điểm đ, khoản 1, Điều 3 Luật xử ý vi phạm hành chính 2012 thì “Người có thẩm quyền

XPVPHC có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện chứng minh mình không vi phạm hành chính”.

Vì vậy việc Chánh thanh tra đã nhiều lần yêu cầu bà Tuyết chứng minh các đối tượng trên là

Ngày đăng: 28/06/2023, 15:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w