1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THU HOẠCH DS07 TRANH CHẤP LY hôn, NUÔI CON, CHIA tài sản

17 269 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 170 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về tài sản chung: Anh Nguyệt trình bày chỉ có tài sản chung là nhà và công trình phụ trên đất, còn thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử d

Trang 1

HỒ SƠ TÌNH HUỐNG

Mã số: LS.DS 07/B3.TH2_DA1/HN-GĐ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN

I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP

Nội dung vụ việc như sau: Ngày 02/01/2016, chị Hoàng Thị Hảo nộp đơn

khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, yêu cầu tòa giải quyết ly

hôn, nuôi con chung và chia tài sản Bị đơn là anh Nguyễn Văn Nguyệt Chị

Nguyễn Thị Hảo và Anh Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/3/1999 tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay

là thành phố Hải Dương

* Theo nội dung đơn chị Hảo trình bày: Sau khi kết hôn, anh chị chung

sống với nhau hạnh phúc Tuy nhiên, được khoảng hơn 02 năm sau thì anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn theo chị Hảo trình bày

là do tính tình không hợp nhau, anh Nguyệt hay đi chơi về lại chửi đánh vợ, con

Từ đó hai vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm nay

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày

04/01/2000 Hiện cháu đang ở với chị Hảo Cháu thứ hai là Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007 hiện sống với anh Nguyệt

- Về tài sản chị cho rằng: Chị và chồng chị có tài sản chung là nhà đất tại

thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Phòng Đất thuộc thửa số

496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt từ năm 2005

+ Về nguồn gốc thửa đất là do gia đình anh Nguyệt mua của UBND xã Thượng Đạt từ những năm 1994 - 1995 Gia đình anh Nguyệt cho anh Nguyệt thửa đất này từ trước khi anh chị kết hôn Đầu năm 1999, chị và anh Nguyệt kết hôn thì giữa năm đó anh chị ra làm nhà và công trình phụ trên đất đó rồi dọn ra ở vào tháng 8 năm 1999 Thửa đất nàyban đầu là thùng vũng sâu, gia đình và anh Nguyệt thuê người san lấp được khoảng 1/3 thửa đất đủ để có được cái nền đất cho vợ chồng chị làm nhà Như vậy, chị đề nghị được chia ½ diện tích đất trên và

tự nguyện nhận phần đất không có tài sản Không yêu cầu anh Nguyệt trả chênh lệch về tài sản nếu có Theo chị thửa đất trên hiện nay có giá 3.000.000 đồng/1m2 Giá trị tài sản trên đất theo chị còn khoảng 3.000.000đ Cây cối trên đất chỉ là cây tạp, không có giá trị gì chị không yêu cầu đề nghị gì

- Nợ chung: Chị trình bày là không có nợ chung.

* Về phía anh Nguyệt trình bày: Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống

hạnh phúc được khoảng 03 tháng thì mâu thuẫn Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị Hảo hay ghen, vợ chồng cãi nhau là bỏ về nhà mẹ đẻ ở Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Hảo xin ly hôn anh Nguyệt đồng ý

Trang 2

- Về quan hệ con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày

04/01/2000 Hiện cháu đang ở với chị Hảo Cháu thứ hai là Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007 Cháu Anh hiện đang ở với anh Nguyệt Anh yêu cầu khi ly hôn anh xin được nuôi cháu Anh Giao cháu Nhi cho chị Hảo nuôi dưỡng Không yêu cầu chị Hảo thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Anh cho rằng anh làm nông nghiệp và chăn nuôi, có nhà ở ổn định, có bố mẹ đẻ giúp đỡ đưa đón cháu đi học Chị Hảo không thể đủ điều kiện chăm sóc cả hai con

- Về tài sản chung: Anh Nguyệt trình bày chỉ có tài sản chung là nhà và

công trình phụ trên đất, còn thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt từ năm 2005 là của mẹ đẻ anh là bà Nguyễn Thị Thoa và Nguyễn Văn Cang Mẹ anh chỉ cho vợ chồng ra làm nhà ở trên đất chứ không tuyên bố cho hẳn hai vợ chồng Giữa mẹ anh và vợ chồng anh không có hợp đồng tặng cho hay chuyển nhượng Đất đó có nguồn gốc là của mẹ anh mua của UBND

xã Thượng Đạt Mẹ anh là người mua và trực tiếp đi nộp tiền Gia đình anh cụ thể

là mẹ tôi đã thuê người san lấp thửa đất cao như hiện nay Đầu năm 1999, khi cưới chị Hảo thì giữa năm gia đình cho vợ chồng ra làm nhà trên đất ở riêng Anh không đồng ý chia theo yêu cầu của chị Nguyệt

- Về nợ chung: Anh và chị Hảo có nợ chung là khoản vay 30.000.000 đồng

tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh tại khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương Anh đã trả được 10.000.000đ tiền gốc và một phần tiền lãi, số tiền còn lại là 20.000.000 và lãi vay

II NỘI DUNG NGHIÊU CỨU HỒ SƠ

1 Quan hệ tranh chấp: Theo nội dung vụ án đây là quan hệ tranh chấp

ly hôn, nuôi con, chia tài sản, giải quyết nợ chung

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hảo, sinh năm 1978;

Địa chỉ (đăng ký thường trú): Khu dân cư số 1, Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Địa chỉ (trú tại): Thôn Nam Giàng,

xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu dân cư số

1, Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

2 Yêu cầu của các đương sự

- Về hôn nhân Chị Hoàng Thị Hảo (nguyên đơn) và anh Nguyễn Văn

Nguyệt (bị đơn) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đều có yêu cầu được ly hôn

- Về con chung Chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt có 2 con

chung: Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2001 và Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007 Cháu Nguyễn Thị Nhi hiện đang ở cùng với chị Hảo, cháu Nguyễn Đức Anh đang ở cùng với anh Nguyệt Chị Hảo và anh Nguyệt đều có yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cả 2 con chung, không yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng nuôi con

Trang 3

- Về tài sản: Chị Hảo xác định vợ chồng có tài sản chung là 01 thửa đất có

số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ Chị Hảo đề nghị được chia đôi diện tích đất, tài sản trên đất không yêu cầu chia Đất đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mang tên anh Nguyệt và chị Hảo Anh chị còn hợp đồng thầu khoán 1965m2 đất tại bãi Nam, khu dân cư số 2, Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Thời hạn thuê khoán đến hết tháng 12/2016, chị Hảo đề nghị được sử dụng một nửa diện tích ruộng khoán này để trồng rau và cây cối theo hợp đồng đã ký với UBND xã Thượng Đạt Anh Nguyệt thì không đồng ý theo yêu cầu của Chị Hảo, thửa đất số

496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 là đất của cha mẹ anh Nguyệt, đối với hợp đồng thầu khoán 1965m2 đất tại bãi Nam, khu dân cư số 2, Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, anh Nguyệt không đồng ý chia đôi vì anh Nguyệt là người trực tiếp ký hợp đồng với UBND xã Thượng Đạt, trực tiếp canh tác trên đất, khi ly hôn chỉ có anh Nguyệt mới có điều kiện sản xuất trên đất

- Về nợ chung: Vợ chồng có nợ chung là khoản vay 30.000.000đ tại ngân

hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh tại khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương Anh Nguyệt đã trả được 10.000.000đ tiền gốc và một phần tiền lãi, số tiền vay này anh Nguyệt nhận trả hết Nếu anh Nguyệt không trả thì chị Hảo nhận trả một nửa theo quy định của pháp luật

Anh Nguyệt xác định anh chị chỉ có tài sản chung là một ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng Anh Nguyệt đồng ý chia đôi các tài sản chung nêu trên Ngoài ra vợ chồng không có tài sản chung nào khác, thửa đất hiện anh đang sử dụng có GCNQSDĐ mang tên anh Nguyệt và chị Hảo là của bố mẹ gia đình anh, không phải của 2 vợ chồng Diện tích của thầu khoán của UBND xã do một mình anh đứng tên ký hợp đồng

và nộp tiền Vì vậy, anh không đồng ý với yêu cầu chia đất của chị Hảo

3 Về thời hiệu: Trong vụ án này không áp dụng thời hiệu, Tòa án nhân

dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền thụ lý và xét xử theo Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015

4 Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi

ly hôn, hai đương sự cùng có hộ khẩu thường trú tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Do vậy Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

5 Luật áp dụng để giải quyết

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Bộ luật dân sự năm 2015;

- Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và các văn bản có liên quan;

- Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản có liên quan

Trang 4

III PHẦN TRÌNH BÀY CHO BỊ ĐƠN

- Kính thưa: - Hội đồng xét xử;

- Đại diện Viện Kiểm sát;

- Quý Luật sư đồng nghiệp

Tôi là Luật sư Hồ Tấn Phát - Văn phòng Luật sư Tiến Phát, thuộc Đoàn

luật sư tỉnh Bến Tre, là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, tôi xin trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Nguyên đơn và bị đơn sau khi kết hôn cuộc sống vợ, chồng hạnh phúc, sau

đó thì xảy ra mâu thuẫn Bị đơn thống thống nhất xác định là tình cảm vợ chồng không còn, nguyên đơn chị Hảo xin ly hôn với anh Nguyệt đồng ý Còn về yêu cầu nuôi con, chia tài sản và giải quyết nợ chung anh không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày

04/01/2000 Hiện cháu đang ở với chị Hảo Cháu thứ hai là Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007 Cháu Anh hiện đang ở với anh Nguyệt, anh xin được quyền nuôi cháu Anh Không yêu cầu chị Hảo thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Cháu Nhi hiện đang ở với chị Hảo, tuy nhiên cháu đã 18 tuổi muốn sống với mẹ anh cũng đồng, nhưng muốn về ở với anh anh vẫn lo và nuôi dưỡng Anh làm nông nghiệp và chăn nuôi, có nhà ở ổn định, có bố mẹ đẻ giúp đỡ đưa đón cháu đi học Chị Hảo không thể đủ điều kiện chăm sóc cả hai con

- Về tài sản chung: Anh Nguyệt trình bày chỉ có tài sản chung là nhà và

công trình phụ trên đất, còn đất là của mẹ đẻ anh là bà Thoa

+ Thửa đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại

xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

có nguồn gốc từ cha mẹ của anh, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đây là tài sản riêng của anh Nguyệt nên giao cho anh Nguyệt

+ Trên thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 có 01 ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ Chị Hảo đề nghị được chia đôi diện tích đất vì đây là tài sản chung trong thời

kỳ hôn nhân, tôi đề nghị Hội đồng xét xử chia đôi tài sản này

- Về nợ chung: Vợ, chồng có nợ chung là khoản vay 30.000.000đ tại ngân

hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh tại khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương Anh đã trả được 10.000.000đ tiền gốc và một phần tiền lãi, số tiền còn lại là 20.000.000 và lãi vay, anh Nguyệt tự nguyện trả gốc và lãi số tiền vay này đề nghị Hội đồng xét xử xét xét

Trang 5

IV KẾ HOẠCH THAM GIA XÉT HỎI

1 Hỏi nguyên đơn chị Hoàng Thị Hảo:

- Chị và anh Nguyệt kết hôn vào ngày tháng năm nào? Anh chị có thực hiện việc đăng ký kết hôn không?

- Chị và anh Nguyệt có tất cả mấy người con chung?

- Các cháu sinh năm bao nhiêu?

- Hiện nay các cháu đang sống với ai?

- Thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương chị cho biết nguồn gốc thửa đất là của ai?

- Hiện nay ai đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

- Ai là người đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

- Hiện nay chị làm nghề gì?

- Thu nhập hàng tháng được bao nhiêu?

- Từ Công ty của Chị Hảo đang làm cách nhà bao nhiêu km?

- Chị nuôi cháu Nhi một tháng hết bao nhiêu tiền?

- Hiện nay chị có nhà riêng chưa?

- Nếu chưa thì hiện tại chị đang ở đâu?

- Hợp đồng thầu khoán sử dụng diện tích 1.965m2 nhận thầu để sử dụng thửa đất này một mình anh Nguyệt ký hợp đồng hay là cả hai vợ chồng?

- Chị Hảo có ý kiến gì về việc anh Nguyệt không yêu cầu chị thực hiện cấp dưỡng để nuôi con?

2 Hỏi bị đơn anh Nguyễn Văn Nguyệt

- Anh cho biết nguồn gốc thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương?

- Anh lý giải tại sao Chị Hảo cùng đứng tên với anh trên thửa đất này?

- Anh và vợ anh có đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất không?

- Phần đất trước khi anh đứng tên ai là người kê khai hay đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

- Anh có nộp phí hay lệ phí nào cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

- Hợp đồng thầu khoán sử dụng diện tích 1.965m2 nhận thầu để sử dụng thửa đất này một mình anh Nguyệt ký hợp đồng hay là hai vợ chồng?

- Ai là người trực tiếp canh tác trên đất?

Trang 6

- Anh đang là nghề gì, thu nhập bao nhiêu, công việc có ổn định không?

- Anh có thể mô tả công việc của anh hiện nay?

- Lý do tại sao anh nhận trả nợ ngân hàng?

- Sao anh không không chia đôi số nợ ngân hàng?

- Số tiền nợ ngân hàng là bao nhiêu?

- Hiện nay số nợ ngân hàng đã trả hết chưa?

- Nếu đã trả xong vậy trả khi nào?

- Có giấy tờ gì chứng minh việc trả nợ ngân hàng không?

- Ý kiến anh thế nào về phần nợ ngân hàng này?

- Cháu Nguyễn Đức Anh sinh năm mấy?

- Hiện nay cháu học lớp mấy rồi?

- Cháu Đức Anh sống với anh bao lâu rồi?

- Hàng ngày ai đưa đón cháu đi học?

- Về sinh hoạt và kết quả học tập của của cháu Đức Anh thế nào?

- Cháu Nhi hiện nay bao nhiêu tuổi?

- Cháu Nhi còn đi học không?

3 Hỏi mẹ ruột của anh Nguyễn Văn Nguyệt (người có quyền và nghĩa

vụ liên quan)

Xin bà cho biết nguồn gốc thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương là của ai?

- Bà có đồng ý cho anh Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo không?

- Ý kiến của chồng bà như thế nào về phần diện tích đất này?

- Bà và chồng bà có tặng cho đất anh Nguyệt không?

- Bà có biết anh Nguyệt và vợ đã đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không?

- Bà hoặc chồng bà có được thông báo về việc đi kê khai đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

- Bà có tặng cho người con nào phần diện tích đất khác không?

- Bà biết được anh Nguyệt và chị Hảo đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi nào?

- Bà yêu cầu thế nào về nội dung anh Nguyệt và chị Hảo đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Trang 7

V NỘI DUNG BẢN LUẬT CỨ BẢO VỆ CHO BỊ ĐƠN

- Kính thưa: - Hội đồng xét xử;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương;

- Quý Luật sư đồng nghiệp

Tôi là Luật sư A……, theo yêu cầu của anh Nguyễn Văn Nguyệt, được sự phân công của Trưởng Văn phòng Luật sư và được sự chấp thuận của Quý tòa Tôi tham gia phiên Tòa hôm nay để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn

Với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tôi xin phát biểu quan điểm của mình về vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định trong quá trình nghị án nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bị đơn theo đúng quy định pháp luật

Nội dung phát biểu của tôi bao gồm những vấn đề sau đây:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời

trình bày của nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa Nghe trình bày của Luật sư bảo vệ

cho nguyên đơn và lời trình bày của chị Hoàng Thị Hảo tôi nhận thấy chị yêu cầu

đối với anh Nguyễn Văn Nguyệt 03 (ba) nội dung:

Tuy nhiên có những nội dung mà anh Nguyệt không đồng ý, tôi xin phép trình bày từng nội dung và đưa ra ý kiến của anh Nguyệt, cũng như căn cứ pháp luật kèm theo để Hội đồng xét xử xem xét

- Nội dung thứ nhất về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hảo và Anh Nguyễn

Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/3/1999 tại

UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương Chị Hảo

và anh Nguyệt trình bày Đồng thời luật sư nhận thấy, anh Nguyệt và chị Hảo đã nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, mâu thuẫn đã kéo dài, nhiều lần đã hàng gắn nhưng không được, hơn một năm nay đã sống ly thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và hai bên cũng thuận tình ly hôn

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đồng ý cho 2 bên ly hôn

Theo điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn

Điều 56 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không

thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Anh Nguyệt xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Hảo xin ly hôn anh Nguyệt đồng ý ly hôn

- Nội dung thứ hai về con chung và cấp dưỡng:

Trang 8

+ Anh Nguyễn Văn Nguyệt đề nghị được nuôi con chung tên Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007, còn chị Hoàng Thị Hảo cũng đề nghị được nuôi 2 cháu

Nhi và Đức Anh Việc giai ai là người nuôi hai người con chung của anh Nguyệt

và chị Hảo, đề nghị phải nên hết sức cân nhắc, ai sẽ nuôi hai cháu tốt hơn, bảo đảm việc sinh sống, học tập, sinh hoạt của 2 cháu, để các cháu phát triển toàn diện Cháu Anh đang ở cùng với anh Nguyệt hàng ngày anh đưa đón cháu đi học,

lo cho cháu không thua kém bạn bè, đã có thời gian dài sống chung với anh Nguyệt, đã quen cách sống, sinh hoạt và môi trường tốt bên Bố, là con trai thì bố dạy cho con sự mạnh mẽ, sự cứng cáp để làm chỗ dựa vững chắc cho bố mẹ và chị gái sau này Giao cho chị Hảo nuôi sẽ thay đổi làm xáo trộn, ảnh hường cuộc sống của cháu Anh Thu nhập thực tết của anh Nguyệt cũng nhiều hơn Chị Hảo Thời gian làm việc của chị Hảo theo quy định của doanh nghiệp rất khó khăn trong việc chăm sóc đưa đón cháu Anh đi học, hơn nữa nguồn thu nhập của chị Hảo chỉ từ 5 triệu đến 6 triệu/tháng không đủ để nuôi hai chá và có chỗ ở ổn định Đối với cháu Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2001, tính đến nay 20/01/2019 cháu đã 18 tuổi, cháu là người thành niên, cháu học tốt khả năng vào học đại học

và cháu tự quyết định sẽ ở cha hay mẹ sẽ tùy thuộc vào cháu

Đề nghị Hội đồng xét xử đồng ý cho anh Nguyệt nuôi cháu Đức Anh Tuy nhiên, theo Điều 110 Luật hôn gia đình năm 2014 cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không

có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con Anh Nguyệt không yêu cầu chị Hảo thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị

+ Về quyền và nghĩa vụ của con là được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ

và đạo đức Con chưa thành niên, không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc Con đã

thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, … theo nguyện vọng và khả năng của mình Được hưởng quyền

về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình

+ Về nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên,

+ Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho

con học tập Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình

đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà

trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con Cha mẹ hướng dẫn con chọn

nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn

hóa, xã hội của con Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để

thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được

+ Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc

Trang 9

không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật

+ Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa

vụ thăm nom con mà không ai được cản trở Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó

+ Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định

- Nội dung thứ ba về yêu cầu chia tài sản chung

Tài sản 1: Thửa đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương các bên đều xác nhận có nguồn gốc từ cha, mẹ của anh Nguyệt, do sơ sót

ở quy trình làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyệt và cha, mẹ anh Nguyệt là hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp lại cho đúng chủ sử dụng)

Căn cứ đề nghị là việc đăng ký kê khai đuợc cấp sổ đất phải gửi đơn đăng

ký sử dụng đất của cá nhân; phải công khai hồ sơ và kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Do quá trình lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là không đúng đối tượng, không đúng thực tế người có quyền sử dụng đất Người đang bỏ tiền mua đất và người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là khác nhau Với bà Nguyễn Thị Thoa và Nguyễn Văn Cang không biết việc đăng ký kê khai đuợc cấp sổ đất để gửi đơn đăng ký sử dụng, không biết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyệt và chỉ Hảo

+ Từ thực tế có thể nhận thấy một điều chính sách quản lý về đất đai chưa chặt chẽ, trước khi có Luật đất đai năm 1993, sử dụng đất không có ý kiến gì và khi chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không quan tâm Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân không theo đúng trình tự, thời gian

+ Nếu chỉ dựa vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chính quyền địa phương cấp, không hoàn toàn đảm bảo quyền lợi cho đương sự Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương có nguồn gốc của cha, mẹ của anh Nguyệt và đã cấp cho anh Nguyệt, chị Hảo do cấp đất đại trà theo thống kê của địa chính xã, không đúng quy trình, là hoàn toàn hợp lý và có căn cứ

Tài sản 2: Trên thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 có 01 ngôi nhà cấp 4 và

công trình phụ Chị Hảo đề nghị được chia đôi diện tích đất vì đây là tài sản

Trang 10

chung trong thời kỳ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 59, 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chia đôi tài sản này

+ Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Do anh Nguyệt và chị Hảo đã thống nhất chia đôi phần tài sản này nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về tài sản

Tài sản 3: Anh Nguyệt ký hợp đồng thầu khoán 1965m2 đất tại bãi Nam, khu dân cư số 2, Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương với UBND

xã Thượng Đạt, thời hạn thuê khoán đến hết tháng 12/2016, anh Nguyệt muốn nhận hợp đồng này còn chị Hảo thì muốn chia đôi Hợp đồng thuê khoán này được anh Nguyệt trực tiếp một mình ký với UBND xã Thượng Đạt, anh Nguyệt là người trực tiếp canh tác trên đất lâu nay, chị Hảo chỉ đi làm công nhân, nếu giao hợp đồng thầu khoán này cho chị Hảo thì thể thực hiện được vì chị sẽ không có thời gian để canh tác, do đó tôi đề nghị Hội đồng xét xét xem xét giao hợp đồng thầu khoán này để anh Nguyệt canh tác kiếm nhu nhập nuôi con

Ngoài ra, anh Nguyệt, chị Hảo chỉ có tài sản chung (hai bên thừa nhận) là một ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng, đề nghị chia đôi vì đây là tài sản hình thành trong thời ký hôn nhân

- Thứ tư về nợ chung:

Anh Nguyệt, chị Hảo có nợ chung là khoản vay 30.000.000đ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh tại khu Tiền Trung, tp Hải Dương Anh Nguyệt đã trả được 10.000.000đ tiền gốc và một phần tiền lãi, số tiền còn lại là 20.000.000 và lãi vay, anh Nguyệt tự nguyện trả gốc và lãi số tiền vay này đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận

Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xét các quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự năm 2015, Luật đất đai năm

2013 giải quyết các yêu cầu của đương sự

Trên đây là phần trình bày của luật sư về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Tin tưởng rằng HĐXX sẽ có một bản án khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong phiên tòa

Xin cảm ơn Hội đồng xét xử và quý vị đã lắng nghe!

Luật sư bảo vệ cho bị đơn

……….

VI MỘT SỐ VĂN BẢN LUẬT, TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ĐỂ THAM GIA BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CHO NGUYÊN ĐƠN

Ngày đăng: 27/12/2020, 16:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w