Ngày 26031999, bà Nguyễn Thị Hảo (hay Hoàng Thị Hảo, chưa có sự thống nhất trong hồ sơ về tên này) và ông Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được hơn 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai người sống ly thân hơn 01 năm kể từ thời điểm khởi kiện trở về trước. Ngày 02012016 Nguyễn Thị Hảo có đơn khởi kiện đến thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xin ly hôn, nuôi 02 con và chia tài sản chung.
Trang 1BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN: LS.DS07/B3.TH2- DA1/HNGD
HỒ SƠ DÂN SỰ 07 LY HÔN NGUYỆT, HẢO
Vụ án: “tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản”
(luật sư bảo vệ cho bị đơn)
Người tham gia tố tụng
Nguyên Đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo, sinh năm 1978
Địa chỉ: Thôn Nam giảng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Bị Đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn Thượng Trệt , xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1./Bà Nguyễn Thị Thoa, sinh năm 1944
Địa chỉ: Khu dân cư số 2,Thôn Thượng Trệt , xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
2./ Ông Nguyễn Văn Hiếu
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Địa chỉ: Số 18, Trần Hữu Dực, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội
3./ Ông Vũ Kim Quang và bà Hoàng Thị Thu Hà
Đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố Hải Dương
Địa chỉ: Số 106, Trần Hưng đạo, tp Hải Dương
I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP
Ngày 26/03/1999, bà Nguyễn Thị Hảo (hay Hoàng Thị Hảo, chưa có sự thống nhất trong hồ sơ về tên này) và ông Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Sau khi kết
Trang 2hôn và chung sống hạnh phúc được hơn 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai người sống ly thân hơn 01 năm kể từ thời điểm khởi kiện trở về trước Ngày 02/01/2016 Nguyễn Thị Hảo có đơn khởi kiện đến thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xin ly hôn, nuôi 02 con và chia tài sản chung
Về con chung:
Có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04/01/2000) và Nguyễn Đức Anh (sinh 13/06/2007) Hiện cháu Nhi đang ở cùng bà Nguyễn Thị Hảo, cháu Nguyễn Đức Anh ở cùng ông Nguyễn Văn Nguyệt
*Bà Hảo xác định*:
1) Nhà đất thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m 2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyệt và Hảo Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 ngôi nhà 18m 2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch
xi măng khoảng 1,6m3
2) 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu 02 Thượng Triệt,
xã Thượng Đạt, Tp Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng Phần này không nằm trong nội dung yêu cầu của đơn khởi kiện, nên Tòa án không giải quyết về tài sản này
-Yêu cầu của bà Hảo
1- Ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt;
2- Được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04/01/2000) và Nguyễn Đức Anh (sinh 13/06/2007) và không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng
3- Chia đôi tài sản chung là thửa đất 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216m vuông
* Anh Nguyệt xác định*: (Sau buổi hòa giải tại tòa án)
1) Không có tài sản chung là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m 2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương vì nguồn gốc đất do bố mẹ và anh em
Trang 3mua của UBND xã Thượng Đạt vào năm 1994 Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi,
1 bể xây gạch xi măng khoẳng 1,6m3
2/ Thuận tình ly hôn
3/Không chấp nhận đểChị Hảo nuôi 02 con
Về nợ chung:
Vợ chồng có khoản nợ chung là khoản vay: 30.000.000 tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Agribank Anh Nguyệt đã trả được 10.000.000đ và tiền lãi Còn 20.000.000đ nợ gốc và nợ lãi phát sinh, ông Nguyệt nhận trả số tiền này
II PHÁP LUẬT ÁP DỤNG
1./-Luật Hôn nhân và gia đình 2014
2./ Bộ luật tố tụng dân sự 2015
3./Bộ luật dân sự 2015
4./ Luật đất đai 2003
5./Nghị định 181/2004/NĐ-CP
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA
Mục đích: Làm sáng tỏ vụ việc để chứng minh yêu cầu chia tài sản chung
và nhận nuôi 02 con của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hảo là không có căn cứ
và không hợp pháp
1./ Hỏi Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Hảo
- Bà nói cho HĐXX biết thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m vuông tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương là thuộc quyền sử dụng của ai trước khi chị kết hôn với ông Nguyệt?
- Bà và ông Nguyệt cất nhà trên thửa đất 496 là gia đình ông Nguyệt cho mượn cất hay cho luôn quyền sử dụng đất cho ông, bà?
Trang 4- Năm 2005 ông Nguyệt và bà có làm giấy yêu cầu cấp giấy CNQSDĐ thửa đất số 496 mang tên bà và ông Nguyệt không?
2.Hỏi bị đơn – ông Nguyễn Văn Nguyệt
-Ông nguyệt nói cho HĐXX biết cha mẹ anh cho cất nhà trên thửa đất
số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m vuông tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương là cho luôn quyền sử dụng đất hay chỉ cho mượn?
- Năm 2005 ông Nguyệt có làm giấy yêu cầu cấp giấy CNQSDĐ thửa đất số 496 mang tên ông Nguyệt và bà Hảo không?
3 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-Hỏi bà Thoa
-Bà Thoa nói cho HĐXX biết bà có biết việc ông Nguyệt và bà Hảo cất nhà trên thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m vuông tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương không?
-Bà cho biết bà cho luôn quyền sử dụng đất thửa 496 cho vợ chồng ông Nguyệt hay là chỉ cho mượn?
-Từ lúc vợ chồng ông, bà Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ đến trước khi ly thân bà có biết không?
- Hỏi Ông Vũ Kim Quang và bà Hoàng Thị Thu Hà
- Ông Quang, bà Hà có thể nói cho HĐXX biết anh Nguyệt và 30 hộ kèm theo có viết đơn đề nghị cấp giấy CNQSDĐ thời điểm năm nào?
- Ông bà cho biết đơn đề nghị đó còn hay đã mất?
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO BỊ ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử, kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát ,kính thưa toàn thể mọi người có mặt tại phiên tòa hôm nay Tôi là: Luật sư Trần Thiện Nhân, thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Thy – Đoàn luật sư tỉnh Hậu Giang, với tư cách là Luật sư bảo vệ cho thân chủ của tôi là bị đơnanh Nguyễn Văn Nguyệt trong vụ án ly hôn được đưa ra xét xử ngày hôm nay Vụ án:
Trang 5“tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản” giữa Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trao đổi với các đương sự và theo dõi diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin đưa ra quan điểm để bảo vệ cho thân chủ của tôi ông Nguyễn Văn Nguyệt, tôi xin được trình bày một số ý kiến như sau:
1./ Về yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn
Ngày 26/03/1999 bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt có đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau trên cơ sở tự nguyện theo nội dung Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Nhưng sau 02 năm, đời sống hôn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn và đã ly thân 01 năm trước ngày bà Hảo có đơn khởi kiện ra Tòa án xin ly hôn Theo như lời trình bày của
cả hai bên thì quan hệ hôn nhân của vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo đã mâu thuẫn đến mức không thể hòa giải được, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa Vì vậy, bà Hảo xin ly hôn với ông Nguyệt, ông Nguyệt cũng xác nhận không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý yêu cầu ly hôn của bà Hảo
Do vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 (Luật HNGĐ 2014) và các chứng cứ tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa hôm nay, chấp nhận yêu cầu ly hôn của của Nguyên đơn là bà Hảo
2./ Về yêu cầu được nuôi 02 con chung của Nguyên đơn
Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007 là con chung của ông Nguyệt và bà Hảo trong thời kỳ hôn nhân Hiện tại cháu Nhi đang ở cùng bà Nguyễn Thị Hảo, cháu Nguyễn Đức Anh ở cùng ông Nguyễn Văn Nguyệt Tuy nhiên, nguyên đơn Nguyễn Thị Hảo yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
Bà Hảo dựa trên cơ sở cháu Nhi cũng có đề nghị được ở với mẹ thông qua Đơn đề nghị (BL 30).Cháu Đức Anh theo đơn đề nghị (BL 31-32) và Biên bản
Trang 6lấy lời khai của Tòa án ngày 05/07/2016 (BL 167-168) có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu
Tuy nhiên, hiện nay chị Hảo đang sống ở nhờ nhà cha, mẹ đẻ và đi làm công nhân với mức lương hàng tháng là 5-6 triệu/tháng thì không thể đủ để trang trãi cuộc sống nuôi con, cho con ăn học Mặt khác cũng không có đủ thời gian để chăm sóc, dạy dỗ con vì làm công nhân phải tăng ca liên tục, có lúc phải làm đến tận 21 giờ mới về Sự thật là cháu Nhi không được mẹ cho đi học cấp 3 vì bà Hảo không có đủ tiền Khả năng của bà Hảo không thể nuôi, dạy cháu Nhi trong hoàn cảnh tốt nhất vì không có khả năng về kinh tế, thì không thể yêu cầu tòa án chấp thuận cho nuôi cả cháu Đức Anh được Do đó, ông Nguyệt yêu cầu tòa án bát yêu cầu của bà Hảo về nuôi hai con chung Đồng thời chấp thuận để ông Nguyệt được nuôi cả hai con, cháu Nhi và Cháu Đức Anh
3./ Về yêu cầu chia tài sản chung của Nguyên đơn
Theo khẳng định tài sản chung của vợ chồng giữa nguyên đơn- bà Hảo
và bị đơn là ông Nguyệt thì bà Hảo cho rằng thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m vuông tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyệt và Hảo Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 ngôi nhà 18m 2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3 Chứng cứ
bà Hảo chứng minh thửa đất số 496 là tài sản chung dựa trên Biên bản lấy lời khai của ông Ông Đỗ Văn Tỏ (BL 69-70), là anh em trong họ với ông Nguyệt xác nhận và Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới (BL 67-68) và một số thợ khác đã xây nhà và công trình phụ cho hai vợ chồng năm 1999 Mặt khác, trong thời gian sống trên thửa đất số 496, chị Hảo góp công tôn tạo cho thửa đất cùng anh Nguyệt, lúc ban đầu thửa đất này là đất thùng vũng sâu (đất
Trang 7ao) hàng năm đã bỏ công sức và tiền ra tôn tạo mảnh đất mới được như hiện nay
Bên cạnh đó, UBND huyện Nam Sách ban hành Quyết định số 563/2002 QĐ-UB của về việc xử lý giao đất trái thẩm quyền (BL 158) và cấp giấy QSĐ cho Nguyệt, Hảo trên cơ sở này Tuy nhiên, bà Hảo cũng thừa nhận rằng đất thửa số 496 là tài sản riêng của gia đình ông Nguyệt mua của UBND
xã Thượng Đạt với giá 1.500.000đ từ trước khi bà đăng ký kết hôn với ông Nguyệt nhưng được ông Cang – bà Thoa (cha mẹ ông Nguyệt) cho thửa đất số
496 để xây nhà và sinh sống đến nay không có tranh chấp
Đối với gia đình ông Nguyệt sau nhiều lần lấy lời khai của các đơn sự trong gia đình như:ông Cang – bà Thoa và anh, em của ông Nguyệt thì không thừa nhận việc cho luôn làm tài sản chung thửa đất số 496 mà chỉ để cho mượn đất cất nhà ổn định cuộc sống Ông Nguyệt cũng có đơn kiến nghị tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 496 mang tên Nguyệt và Hảo vì cấp sai trình tự, thủ tục Sau khi ông Nguyệt có đơn kiến nghị hủy giấy QSDĐ, phòng Tài nguyên và môi trường thuộc UBND thành phố Hải Dương đã trả lời phúc đáp tòa án với nội dung sau:
Giấy CNQSDĐ của ông Nguyệt, bà Hảo được cấp ngày 31/12/2005thửa
số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m vuông; trong đó có 200m vuông là đất
ở và 16m vuông là đất cây lâu năm Căn cứ điều 135 Nghị Định
181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật đất đai 2003 là cấp đúng trình tự, thủ tục theo luật định của trường hợp này Tuy nhiên, phòng Tài nguyên và môi trường thuộc UBND thành phố Hải Dương đã thừa nhận việc làm mất (thất lạc) đơn
đề nghị cấp giấy CNQSDĐ của 30 hộ, trong đó có hộ của ông Nguyệt là đồng nghĩa với việc ông Nguyệt và 30 hộ trên không hề có viết giấy đề nghị cấp cấp giấy CNQSDĐ mà chỉ là việc bịa đặt ra nhằm không thừa nhận việc cấp giấy CNQSDĐ sai trình tự, thủ tục của mình Do đó, việc ông Nguyệt đề nghị hủy
Trang 8giấy CNQSDĐ mang tên Nguyệt và Hảo là hoàn toàn có cơ sở Do đó, việc bà Hảo yêu cầu chia tài sản chungthửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m vuông là hoàn toàn không có căn cứ
Từ những phân tích nêu trên, tôi xin thay mặt thân chủ tôi bị đơn Nguyễn Văn Nguyệt trình bày một số đề nghị để HĐXX xem xét:
1./ Chấp thuận cho ly hôn giữa ông Nguyệt và bà Hảo
2./ Chấp thuận cho ông Nguyệt nuôi 02 con là cháuNguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức Anh
3- Không chấp thuận chia đôi tài sản chung là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 Chấp thuận chia đôi căn nhà trên thửa đất số 496 và một phần công sức đóng góp vào thửa đất
Vì vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết và chấp nhận toàn bộ lời đề nghị của thân chủ tôi bị đơn- Ông Nguyễn Văn Nguyệt
Trên đây là phần trình bày quan điểm của tôi đối với vụ án, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
Tôi xin cảm ơn Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa đã chú ý lắng nghe ý kiến của tôi
V NHẬN XÉT VỀ BUỔI DIỄN ÁN
Nhận xét chung về buổi diễn án:
………
………
………
………
………
………
………
Trang 9………
………
………
………
………
………
………
………
………
1 Thư ký phiên tòa: ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
2 Thẩm phán phiên tòa: ………
………
Trang 10………
………
………
………
………
………
………
………
………
3 Hội thẩm nhân dân 1: ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
4 Hội thẩm nhân dân 2: ………
………
………
………
………
Trang 11………
………
………
………
5 Đại diện Viện kiểm sát: ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
6 Luật sư nguyên đơn 1: ………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 12………
………
………
………
7 Luật sư nguyên đơn 2: ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
8.Nguyên đơn: ………
………
………
………
Trang 13………
………
………
………
………
………
………
9 Luật sư bị đơn 1: ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
10 Luật sư bị đơn 2: ………
………
………
Trang 14………
………
………
………
………
………
………
………
………
11 Bị đơn: ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………