1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch hồ sơ hình sự 01 về tội chứa dâm Tạ Văn Trường

8 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thu Hoạch Hồ Sơ Hình Sự 01 Về Tội Chứa Dâm Tạ Văn Trường
Tác giả Nguyễn Quảng An – LS
Người hướng dẫn Nguyễn Quảng An – LS
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 44,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: KỸ NĂNG THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Hồ sơ số: A Diễn lần: A Ngày diễn: A Giảng viên hướng dẫn: A Họ và tên: A Sinh ngày: A MSHV: A Lớp: A Tp. Hồ Chí Minh, ngày A tháng A năm A I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ 1. Tóm tắt nội dung vụ án: Cuối tháng 62018, bị can Tạ Văn Trường (Sinh năm 1988; Thường trú: Ấp Phú Đa, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) đã đến cơ sở kinh doanh Tẩm quất thư giãn Ha Na (Địa chỉ: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đông Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) do ông Ngô Văn Thành (Sinh năm 1984; cư trú: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đông Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) làm chủ để xin việc. Hai bên thỏa thuận, bị can Tạ Văn Trường có trách nhiệm quản lý quán và điều hành nhân viên, thu tiền của khách, không được buôn bán, sử dụng ma túy và hoạt động mại dâm. Ông Ngô Văn Thành hứa trả lương cho bị can Tạ Văn Trường 4.000.000 đồngtháng. Ngày 05072018, Thành không có mặt tại quán, Nguyễn Văn Thọ (sinh năm 1986), Nguyễn Trần Trung (sinh năm 1987) và Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1990) đều ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh, bắt taxi của ông Nguyễn Văn Huy (sinh năm 1983) đến quán tẩm quất Hana. Khi đến nơi, Thọ họ hỏi Trường “có tàu nhanh không?”, Trường trả lời “có”. Thọ hỏi 3 vé bao nhiêu thì Trường nói nhóm của Thọ lên phòng chờ và đưa tiền cho nhân viên giá thấp nhất là 300.000 đồng, Trường chỉ thu tiền phòng 150.000 đồngngười, 3 người giá 450.000 đồng. Thọ đưa Trường 500.000 đồng, Trường cầm tiền và trả lại 50.000 đồng. Sau đó bảo nhóm của Thọ lên phòng đợi nhân viên đến bán dâm (Tuấn phòng 201, Thọ phòng 202, Trung phòng 203). Trường gọi Phùng Thị Kim Liên (sinh năm 1990), là nhân viên của quán lên phòng 203 bán dâm, tại phong Trung đưa cho Liên 500.000 đồng. Trường tiếp tục gọi người tên Bắc (số điện thoại 0974.061.663) cho 2 nhân viên đến Ha Na. Một lúc sau Lê Thị Tâm, sinh 1995, HKTT: ĐỘI 6, Ninh Thắng, Hoa Lư, Ninh Bình đến Trường bảo lên phòng 202, Thọ đưa cho Tâm 500.000 đồng. Còn Tuấn vẫn còn đợi ở phòng 201. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi giao cấu tại phòng 202 và 203 thì bị bắt quả tang, tại thời điểm có Nguyễn Văn Huy là tài xế taxi đã chứng kiến sự việc. Vật chứng thu giữ gồm: Tiền Viêt Nam 1.500.000 đồng, 02 bao cao su, 01 điện thoại di động Samsung màu đen, 01 điện thoại di động iphone 6 plus màu hồng. Qua quá trình điều tra, tất cả người liên quan đến vụ án đều không biết Bắc là ai, còn số điện thoại liên lạc với Bắc là của chị Nguyễn Thị Nguyên, chị khai mất điện thoại kèm sim và cũng không biết Bắc là ai. Đối với Liên và Tâm vì đã có hành vi bán dâm nên Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định xử phạt hành chính. Đối với Thọ, Trung và Tuấn có hành vi mua dâm bị đưa về trụ sở CQCSĐT CA tỉnh Bắc Ninh xét hỏi, lợi dụng sơ hở, 3 đối tượng đã bỏ trốn. Qua điều tra xác minh thì ở địa phương không có đối tượng như trên, vì vậy không có căn cứ để xử lý. Đối với Ngô Văn Thành không biết việc Trường tự ý thỏa thuận với khách và gọi nhân viên bán dâm nên không đủ căn cứ để kết luận Thành vi phạm pháp luật hình sự mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị can Tạ Văn Trường cũng đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Kết thúc điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận hành hành vị phạm tội của bị can Trường phạm tội chứa mại dâm (04 người) quy định tại khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự Tại bản cáo trạng số: 118CT – VKS – P1 ngày 18102018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị can Tạ Văn Trường về tội “Chứa mại dâm” theo tại điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngày 28122018 Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. 2. Người tham gia tố tụng: Bị cáo: Tạ Văn Trường , sinh năm: 1988 Địa chỉ thường trú: Thôn Phú Đa – Xã Công Lý – Huyện Lý Nhân – Tỉnh Hà Nam Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: + Ngô Văn Thành, sinh năm 1984 Trú quán: Phường Đồng Nguyên Thị xã Từ Sơn Tỉnh Bắc Ninh + Ngô Thị Yến, sinh năm 1985. Trú quán: Khu phố Nguyễn Giáo, Đồng Nguyên, Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh. + Phùng thị Kim Liên, sinh năm 1990 Trú quán: Khu 1, xã Hương Xạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ + Lê Thị Thanh Tâm, sinh năm 1995 Trú quán: Đội 6, xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, Ninh Bình + Ba đối tượng mua dâm Nguyễn Văn Thọ (sinh năm 1986), Nguyễn Trần Trung (sinh năm 1987) và Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1990). (Hiện đang bỏ trốn) Người làm chứng: + Nguyễn Văn Huy, sinh năm 1983 Trú quán: Việt Thống, Quế Võ, Bắc Ninh 3. Nhân thân bị cáo Tạ Văn Trường: Sinh năm 1988 Dân tộc kinh Quốc tịch Việt Nam Học vấn 1212 Tiền án, tiền sự: chưa có (Trích lục tiền án, tiền sự số 537682018PV27 ngày 1772018). 4. Tình tiết giảm nhẹ: Tình tiết giảm nhẹ: + Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tại điểm i khoản 1 điều 51 BLHS 2015. + Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015. 5. Việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: Ngày 672018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh BẮc Ninh ra Quyết định tạm giữ đối tượng Tạ Văn Trường số 156CSĐT. Ngày 0872018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh BẮc Ninh ra Quyết định gia hạn tạm giữ lần thừ nhất đối với Tạ Văn Trường số 71CSĐT và Đề nghị phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ số 1173CSĐT. Cùng ngày, Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định Phê Chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ số 100QĐVKSP1. Ngày 1172018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh ban hành Lệnh tạm giam thời hạn 3 tháng 24 ngày đối với Tạ Văn Trường (Lệnh tạm giam số 52CSĐT ngày 1172018). Viện trưởng viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra Quyết đĩnh phê chuẩn lệnh tạm giam số 79QĐVKSP1 (ngày 0872018) II. BẢN DỰ KIẾN KẾ HOẠCH XÉT HỎI: 1. Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan Ngô Văn Thành: 1.1. Bị cáo Trường là người như thế nào xin anh nhận xét về mặt đạo đức, học thức 1.2. Bị cáo Trường có khai rằng anh là người đã hướng dẫn bị cáo về việc bán dâm tại Ha na? 1.3. Có phải anh đã giới thiệu cho bị cáo liên hệ với Bắc khi có khách muốn mua dâm? 1.4. Vào ngày 0572018, anh làm gì, ở đâu? 1.5. Anh có biết rằng Liên đã nhiều lần bán dâm tại cơ sở của anh không? 1.6. Quán Ha na của anh có tổng cộng bao nhiêu nhân viên ? Mỗi nhân viên của anh làm bao nhiêu giờ 1 ngày? lương tính như thế nào? 1.7. Quán Ha na của anh mở cửa từ mấy giờ đến mấy giờ ? có nhiều khách không và ba người mua dâm Nguyễn Văn Thọ (sinh năm 1986), Nguyễn Trần Trung (sinh năm 1987) và Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1990) có phài khách quen không ? 2. Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan Phùng thị Kim Liên: 2.1. Chị Liên cho biết đã từng bán dâm bao nhiêu lần tại Ha na? 2.2. Chị Liên cho biết bắt đầu làm việc tại Ha na khi nào? có phải chị bắt đầu bán dâm từ khi mới vào làm không? 2.3. Anh Thành chủ quán hoặc vợ anh Thành có biết chị bán dâm không ? 2.4. Chị làm việc cho quán Ha Na từ mấy tiếng 1 ngày, từ mấy giờ đến mấy giờ? 2.5. Chị có ăn chia tiền bán dâm với anh Thành hay vợ anh Thành không ? 2.6. Những đồng nghiệp tại quán Ha na có biết chị bán dâm không ? Nếu có thì họ có ý kiến gì không ? 2.7. Các đồng nghiệp tại quán Ha na có bán dâm không ? 3. Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan Lê Thị Thanh Tâm: 3.1. Chị Tâm cho biết về Bắc như thế nào? Nếu không biết thì tại sao chị lại đồng ý đến Ha na bán dâm khi không biết người gọi mình là ai? 3.2. Chị biết chị Nguyên từ khi nào? hai người có thân thiết với nhau không? 3.3. Chị có ăn chia tiền bán dâm với chủ quán Ha na hay với bất kỳ ai không? 3.4. Quán Ha Na chị đã đến lần nào chưa? 3.5. Bắc là ai? Và là người như thế nào? 4. Hỏi bị cáo Trường: 4.1. Bị cáo Trường có ý thức được hành vi phạm tội của mình khi anh Thọ hỏi có tàu nhanh hay không? 4.2. Tại sao bị cáo trả lời là có? 4.3. Bị cáo có nhận thức được hành vi mình là vi phạm pháp luật không? 4.4. Bị cáo có khai báo toàn bộ sự thật cho cơ quan điều tra không? 4.5. Bị cáo hãy trình bày lại những gì đã khai tại cơ quan điều tra? 4.6. Bị cáo có ăn năng hối cãi với hành vi trên hay không? 4.7. Bị cáo có lợi ích gì khi gọi Liên bán dâm? 4.8. Tại sao bị cáo đồng ý cho chị Tâm vào bán dâm? Bị cáo có quen biết trước đó không? 4.9. Bị cáo đã thu tiền gì đối với nhóm của Thọ, Trung, Tuấn? 4.10. Bị cáo có thu tiền gì khác không? 4.11. Nếu ngày 0572018, không phải chị Liên mà là nhân viên khác thì bị cáo có gọi nhân viên đó bán dâm không? 4.12. Việc bán dâm đã xảy ra trước khi bi cáo vào xin việc phải không? 4.13. Bị cáo có từng suy nghĩ việc báo công an về tình trạng bán dâm tại Ha na không? tại sao? 4.14. Bị cáo biết gì về Bắc ? 4.15. Bị cáo sao có được số điện thoại của Bắc ? 4.16. Khi nào thì Bị cáo cần gọi cho Bắc ? 4.17. Anh Thành có biết về việc mua bán dâm tại Ha na không ? 4.18. Bắc đã dẫn dụ bị cáo đúng không? 4.19. Gia cảnh bị cáo như thế nào? 4.20. Bị cáo đã từng có tiền án hình sự không? 4.21. Tại phiên tòa, bị cáo có xin giảm nhẹ hình phạt không? 4.22. Bị cáo có ăn năn hối cãi vì hành vi của mình không? III. BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA Kính thưa Hội đồng xét xử Kính thưa quý đại diện Viện kiểm sát và tất cả mọi người trong phiên tòa ngày hôm nay. Tôi luật sư A, thuộc công ty TNHH Luật A, là thành viên Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh, theo yêu cầu của gia đình bị cáo, tôi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Trường. Sau khi trực tiếp xét hỏi và nghe ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, các lời khai của bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ có trong vụ án Tôi xin có đại diện cho bị cáo có ý kiến như sau: Thứ nhất, việc truy tố bị cáo Tạ Văn Trường theo điểm d Khoản 2 Điều 327 là không đúng theo quy định pháp luật, bởi: Căn cứ mục 2 chương I công văn số 64TANDTCPC ngày 0342019 có giải thích về tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” như sau: “Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là “mua” và “chứa mại dâm” là “chứa bán dâm”. Như vậy, tình tiết định khung tăng nặng “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đối với người bán dâm. Cách hiểu này là phù hợp với các tình tiết định khung tăng nặng khác quy định tại tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật Hình sự, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa mại dâm mà có 01 người bán dâm với 03 người mua dâm trong cùng một khoảng thời gian thì bị xử lý theo quy định tại khoản 1 của điều luật này nếu không có tình tiết định khung tăng nặng.” Vậy theo điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” có nghĩa là chứa 4 người bán dâm trở lên. Và thực tế vào ngày 0572018 tại quán Tẩm quất thư giãn Ha Na của ông Ngô Văn Thành, thì chỉ có chị Lê Thị Thanh Tâm và chị Phùng Thị Kim Liên là hai người bán dâm còn Nguyễn Văn Thọ và Nguyễn Trần Trung là hai người mua dâm. Do đó, trong vụ án này chỉ có hai người thực hiện hành vi bán dâm cho khách là Lê Thị Thanh Tâm và Phùng Thị Kim Liên. Như vậy với tình tiết tại điểm d Khoản 2 Điều 327 là “Chứa mại dâm 4 người trở lên” là đối với người bán dâm nên chưa đủ cơ sở để cấu thành theo khoản 2 điều 327 mà chỉ cấu thành theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, với những nhận định trên đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo Tạ Văn Trường về tội “Chứa mại dâm” theo Khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự 2015. Thứ hai, Khoản 1 Điều 327 BLHS 2015 quy định “Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”, đây là tội có khung hình phạt cao nhất là 5 năm thuộc nhóm tội nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã áp dụng biện pháp tạm giam 03 tháng 24 ngày (Lệnh tạm giam số 52CSĐT ngày 1172018) đối với bị cáo là không đúng theo khoản 1 điều 173 BLHS 2015 quy định “1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Việc áp dụng sai quy định pháp luật như vậy đã gây ảnh hưởng nghiệm trọng đến quyền và lợi ích cho bị cáo kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và đảm bảo quyền lợi cho bị cáo như xem xét cấn trừ vào thời gian phạt cho bị cáo. Thứ ba, về việc quyết định hình phạt đối với bị cáo. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay thân chủ của tôi đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cãi, điều này đã góp phần giúp cho vụ án được xét xử thuận lợi. Bên cạnh đó, thân chủ tôi thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, nhân thân tốt. Ngoài phạm tội lần này thì luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân. Đây cũng có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ tôi. Do đó, thân chủ tôi phù hợp với 2 tình tiết giảm nhẹ là: + Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tại điểm i khoản 1 điều 51 BLHS 2015. + Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015 Đồng thời, hành vi của thân chủ tôi không gây thiệt hại về vật chất và việc gây thiệt hại, để lại hậu quả ảnh hưởng là không gây thiệt hại và không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ cho thân chủ tôi quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS “h) Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”. Vì vậy, Kính mong HĐXX xem xét cho thân chủ tôi được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Từ những phân tích trên, tôi kính đề nghị HĐXX xem xét để áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS 2015 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng khoản 1 Điều 327 chỉ có một khung hình phạt là phạt tù từ 1 năm đến 5 năm, nên kính mong HĐXX có thể xem xét chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn cụ thể là phạt cải tạo không giam giữ bởi mức độ phạm tội của bị cáo không quá nghiêm trọng, không nhất thiết phải cách ly khởi xã hội và bị cáo có nơi cư trú ổn định phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 36 BLHS 2015. Cảm ơn Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát đã chú ý lắng nghe. Tôi xin chân thành cảm ơn. IV. NHẬN XÉT VAI DIỄN

Trang 1

KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: KỸ NĂNG THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH

SỰ

Hồ sơ số: A

Diễn lần: A

Ngày diễn: A

Giảng viên hướng dẫn: A

Sinh ngày: A

Lớp: A

Tp Hồ Chí Minh, ngày A tháng A năm A

Trang 2

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

1 Tóm tắt nội dung vụ án:

Cuối tháng 6/2018, bị can Tạ Văn Trường (Sinh năm 1988; Thường trú: Ấp Phú

Đa, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) đã đến cơ sở kinh doanh Tẩm quất thư giãn Ha Na (Địa chỉ: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đông Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) do ông Ngô Văn Thành (Sinh năm 1984; cư trú: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đông Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) làm chủ để xin việc Hai bên thỏa thuận, bị can Tạ Văn Trường có trách nhiệm quản lý quán và điều hành nhân viên, thu tiền của khách, không được buôn bán, sử dụng ma túy và hoạt động mại dâm Ông Ngô Văn Thành hứa trả lương cho bị can Tạ Văn Trường 4.000.000 đồng/tháng

Ngày 05/07/2018, Thành không có mặt tại quán, Nguyễn Văn Thọ (sinh năm 1986), Nguyễn Trần Trung (sinh năm 1987) và Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1990) đều ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh, bắt taxi của ông Nguyễn Văn Huy (sinh năm 1983) đến quán tẩm quất Hana Khi đến nơi, Thọ họ hỏi Trường “có tàu nhanh không?”, Trường trả lời “có” Thọ hỏi 3 vé bao nhiêu thì Trường nói nhóm của Thọ lên phòng chờ và đưa tiền cho nhân viên giá thấp nhất là 300.000 đồng, Trường chỉ thu tiền phòng 150.000 đồng/người, 3 người giá 450.000 đồng Thọ đưa Trường 500.000 đồng, Trường cầm tiền và trả lại 50.000 đồng Sau đó bảo nhóm của Thọ lên phòng đợi nhân viên đến bán dâm (Tuấn phòng 201, Thọ phòng 202, Trung phòng 203) Trường gọi Phùng Thị Kim Liên (sinh năm 1990), là nhân viên của quán lên phòng 203 bán dâm, tại phong Trung đưa cho Liên 500.000 đồng Trường tiếp tục gọi người tên Bắc (số điện thoại 0974.061.663) cho 2 nhân viên đến Ha Na Một lúc sau

Lê Thị Tâm, sinh 1995, HKTT: ĐỘI 6, Ninh Thắng, Hoa Lư, Ninh Bình đến Trường bảo lên phòng 202, Thọ đưa cho Tâm 500.000 đồng Còn Tuấn vẫn còn đợi ở phòng

201 Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi giao cấu tại phòng 202 và 203 thì bị bắt quả tang, tại thời điểm có Nguyễn Văn Huy là tài xế taxi đã chứng kiến sự việc Vật chứng thu giữ gồm: Tiền Viêt Nam 1.500.000 đồng, 02 bao cao su, 01 điện thoại

di động Samsung màu đen, 01 điện thoại di động iphone 6 plus màu hồng

Qua quá trình điều tra, tất cả người liên quan đến vụ án đều không biết Bắc là ai, còn số điện thoại liên lạc với Bắc là của chị Nguyễn Thị Nguyên, chị khai mất điện thoại kèm sim và cũng không biết Bắc là ai Đối với Liên và Tâm vì đã có hành vi bán dâm nên Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định xử phạt hành chính Đối với Thọ, Trung và Tuấn có hành vi mua dâm bị đưa về trụ sở CQCSĐT CA tỉnh Bắc Ninh xét hỏi, lợi dụng sơ hở, 3 đối tượng đã bỏ trốn Qua điều tra xác minh thì ở địa phương không có đối tượng như trên, vì vậy không có căn cứ

để xử lý Đối với Ngô Văn Thành không biết việc Trường tự ý thỏa thuận với khách

Trang 3

và gọi nhân viên bán dâm nên không đủ căn cứ để kết luận Thành vi phạm pháp luật hình sự mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính Bị can Tạ Văn Trường cũng đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên Kết thúc điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận hành hành vị phạm tội của bị can Trường phạm tội chứa mại dâm (04 người) quy định tại khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự

Tại bản cáo trạng số: 118/CT – VKS – P1 ngày 18/10/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị can Tạ Văn Trường về tội “Chứa mại dâm” theo tại điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Ngày 28/12/2018 Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm

2 Người tham gia tố tụng:

- Bị cáo: Tạ Văn Trường , sinh năm: 1988

Địa chỉ thường trú: Thôn Phú Đa – Xã Công Lý – Huyện Lý Nhân – Tỉnh Hà Nam -Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

+ Ngô Văn Thành, sinh năm 1984

Trú quán: Phường Đồng Nguyên - Thị xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh

+ Ngô Thị Yến, sinh năm 1985

Trú quán: Khu phố Nguyễn Giáo, Đồng Nguyên, Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh + Phùng thị Kim Liên, sinh năm 1990

Trú quán: Khu 1, xã Hương Xạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

+ Lê Thị Thanh Tâm, sinh năm 1995

Trú quán: Đội 6, xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, Ninh Bình

+ Ba đối tượng mua dâm Nguyễn Văn Thọ (sinh năm 1986), Nguyễn Trần Trung (sinh năm 1987) và Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1990) (Hiện đang bỏ trốn)

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Văn Huy, sinh năm 1983

Trú quán: Việt Thống, Quế Võ, Bắc Ninh

3 Nhân thân bị cáo Tạ Văn Trường:

- Sinh năm 1988

- Dân tộc kinh

- Quốc tịch Việt Nam

Trang 4

- Học vấn 12/12

- Tiền án, tiền sự: chưa có (Trích lục tiền án, tiền sự số 53768/2018/PV27 ngày 17/7/2018)

4 Tình tiết giảm nhẹ:

- Tình tiết giảm nhẹ:

+ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tại điểm i khoản 1 điều 51 BLHS 2015

+ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015

5 Việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế:

Ngày 6/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh BẮc Ninh ra Quyết định tạm giữ đối tượng Tạ Văn Trường số 156/CSĐT

Ngày 08/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh BẮc Ninh ra Quyết định gia hạn tạm giữ lần thừ nhất đối với Tạ Văn Trường số 71/CSĐT và Đề nghị phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ số 1173/CSĐT Cùng ngày, Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định Phê Chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ số 100/QĐ-VKS-P1

Ngày 11/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh ban hành Lệnh tạm giam thời hạn 3 tháng 24 ngày đối với Tạ Văn Trường (Lệnh tạm giam số 52/CSĐT ngày 11/7/2018) Viện trưởng viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra Quyết đĩnh phê chuẩn lệnh tạm giam số 79/QĐ-VKS-P1 (ngày 08/7/2018)

II BẢN DỰ KIẾN KẾ HOẠCH XÉT HỎI:

1 Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan Ngô Văn Thành:

1.1.Bị cáo Trường là người như thế nào xin anh nhận xét về mặt đạo đức, học thức 1.2.Bị cáo Trường có khai rằng anh là người đã hướng dẫn bị cáo về việc bán dâm tại Ha na?

1.3.Có phải anh đã giới thiệu cho bị cáo liên hệ với Bắc khi có khách muốn mua dâm?

1.4.Vào ngày 05/7/2018, anh làm gì, ở đâu?

1.5.Anh có biết rằng Liên đã nhiều lần bán dâm tại cơ sở của anh không?

1.6.Quán Ha na của anh có tổng cộng bao nhiêu nhân viên ? Mỗi nhân viên của anh làm bao nhiêu giờ 1 ngày? lương tính như thế nào?

1.7.Quán Ha na của anh mở cửa từ mấy giờ đến mấy giờ ? có nhiều khách không

và ba người mua dâm Nguyễn Văn Thọ (sinh năm 1986), Nguyễn Trần Trung (sinh năm 1987) và Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1990) có phài khách quen không ?

Trang 5

2.1.Chị Liên cho biết đã từng bán dâm bao nhiêu lần tại Ha na?

2.2.Chị Liên cho biết bắt đầu làm việc tại Ha na khi nào? có phải chị bắt đầu bán dâm từ khi mới vào làm không?

2.3.Anh Thành chủ quán hoặc vợ anh Thành có biết chị bán dâm không ?

2.4.Chị làm việc cho quán Ha Na từ mấy tiếng 1 ngày, từ mấy giờ đến mấy giờ? 2.5.Chị có ăn chia tiền bán dâm với anh Thành hay vợ anh Thành không ?

2.6.Những đồng nghiệp tại quán Ha na có biết chị bán dâm không ? Nếu có thì họ

có ý kiến gì không ?

2.7.Các đồng nghiệp tại quán Ha na có bán dâm không ?

3 Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan Lê Thị Thanh Tâm:

3.1.Chị Tâm cho biết về Bắc như thế nào? Nếu không biết thì tại sao chị lại đồng ý đến Ha na bán dâm khi không biết người gọi mình là ai?

3.2.Chị biết chị Nguyên từ khi nào? hai người có thân thiết với nhau không?

3.3.Chị có ăn chia tiền bán dâm với chủ quán Ha na hay với bất kỳ ai không?

3.4.Quán Ha Na chị đã đến lần nào chưa?

3.5.Bắc là ai? Và là người như thế nào?

4 Hỏi bị cáo Trường:

4.1.Bị cáo Trường có ý thức được hành vi phạm tội của mình khi anh Thọ hỏi có tàu nhanh hay không?

4.2.Tại sao bị cáo trả lời là có?

4.3.Bị cáo có nhận thức được hành vi mình là vi phạm pháp luật không?

4.4.Bị cáo có khai báo toàn bộ sự thật cho cơ quan điều tra không?

4.5.Bị cáo hãy trình bày lại những gì đã khai tại cơ quan điều tra?

4.6.Bị cáo có ăn năng hối cãi với hành vi trên hay không?

4.7.Bị cáo có lợi ích gì khi gọi Liên bán dâm?

4.8.Tại sao bị cáo đồng ý cho chị Tâm vào bán dâm? Bị cáo có quen biết trước đó không?

4.9.Bị cáo đã thu tiền gì đối với nhóm của Thọ, Trung, Tuấn?

4.10 Bị cáo có thu tiền gì khác không?

4.11 Nếu ngày 05/7/2018, không phải chị Liên mà là nhân viên khác thì bị cáo có gọi nhân viên đó bán dâm không?

4.12 Việc bán dâm đã xảy ra trước khi bi cáo vào xin việc phải không?

4.13 Bị cáo có từng suy nghĩ việc báo công an về tình trạng bán dâm tại Ha

na không? tại sao?

4.14 Bị cáo biết gì về Bắc ?

4.15 Bị cáo sao có được số điện thoại của Bắc ?

4.16 Khi nào thì Bị cáo cần gọi cho Bắc ?

4.17 Anh Thành có biết về việc mua bán dâm tại Ha na không ?

Trang 6

4.18 Bắc đã dẫn dụ bị cáo đúng không?

4.19 Gia cảnh bị cáo như thế nào?

4.20 Bị cáo đã từng có tiền án hình sự không?

4.21 Tại phiên tòa, bị cáo có xin giảm nhẹ hình phạt không?

4.22 Bị cáo có ăn năn hối cãi vì hành vi của mình không?

III BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA

Kính thưa Hội đồng xét xử

Kính thưa quý đại diện Viện kiểm sát và tất cả mọi người trong phiên tòa ngày hôm nay

Tôi luật sư A, thuộc công ty TNHH Luật A, là thành viên Đoàn luật sư TP Hồ Chí Minh, theo yêu cầu của gia đình bị cáo, tôi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Trường

Sau khi trực tiếp xét hỏi và nghe ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, các lời khai của bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ có trong vụ

án Tôi xin có đại diện cho bị cáo có ý kiến như sau:

Thứ nhất, việc truy tố bị cáo Tạ Văn Trường theo điểm d Khoản 2 Điều 327 là

không đúng theo quy định pháp luật, bởi:

Căn cứ mục 2 chương I công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 có giải thích

về tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” như sau:

“Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là “mua” và “chứa mại dâm” là “chứa bán dâm” Như vậy, tình tiết định khung tăng nặng “chứa mại dâm

04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đối với người bán dâm Cách hiểu này là phù hợp với các tình tiết định khung tăng nặng khác quy định tại tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật Hình sự, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa mại dâm mà có 01 người bán dâm với 03 người mua dâm trong cùng một khoảng thời gian thì bị xử lý theo quy định tại khoản

1 của điều luật này nếu không có tình tiết định khung tăng nặng.”

Vậy theo điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” có nghĩa là chứa 4 người bán dâm trở lên Và thực tế vào ngày 05/7/2018 tại quán Tẩm quất thư giãn Ha Na của ông Ngô Văn Thành, thì chỉ

có chị Lê Thị Thanh Tâm và chị Phùng Thị Kim Liên là hai người bán dâm còn Nguyễn Văn Thọ và Nguyễn Trần Trung là hai người mua dâm Do đó, trong vụ án này chỉ có hai người thực hiện hành vi bán dâm cho khách là Lê Thị Thanh Tâm và Phùng Thị Kim Liên

Trang 7

Như vậy với tình tiết tại điểm d Khoản 2 Điều 327 là “Chứa mại dâm 4 người trở lên” là đối với người bán dâm nên chưa đủ cơ sở để cấu thành theo khoản 2 điều 327

mà chỉ cấu thành theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự 2015

Do đó, với những nhận định trên đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo Tạ Văn Trường

về tội “Chứa mại dâm” theo Khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự 2015

Thứ hai, Khoản 1 Điều 327 BLHS 2015 quy định “Người nào chứa mại dâm, thì

bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”, đây là tội có khung hình phạt cao nhất là 5 năm

thuộc nhóm tội nghiêm trọng Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã

áp dụng biện pháp tạm giam 03 tháng 24 ngày (Lệnh tạm giam số 52/CSĐT ngày 11/7/2018) đối với bị cáo là không đúng theo khoản 1 điều 173 BLHS 2015 quy định

“1 Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Việc áp

dụng sai quy định pháp luật như vậy đã gây ảnh hưởng nghiệm trọng đến quyền và lợi ích cho bị cáo kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và đảm bảo quyền lợi cho bị cáo như xem xét cấn trừ vào thời gian phạt cho bị cáo

Thứ ba, về việc quyết định hình phạt đối với bị cáo Trong suốt quá trình giải

quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay thân chủ của tôi đã thành khẩn khai báo

và có thái độ ăn năn hối cãi, điều này đã góp phần giúp cho vụ án được xét xử thuận lợi Bên cạnh đó, thân chủ tôi thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, nhân thân tốt Ngoài phạm tội lần này thì luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân Đây cũng có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ tôi Do đó, thân chủ tôi phù hợp với 2 tình tiết giảm nhẹ là:

+ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tại điểm i khoản 1 điều 51 BLHS 2015

+ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015

Đồng thời, hành vi của thân chủ tôi không gây thiệt hại về vật chất và việc gây thiệt hại, để lại hậu quả ảnh hưởng là không gây thiệt hại và không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ cho thân chủ

tôi quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS “h) Phạm tội nhưng gây thiệt hại

không lớn” Vì vậy, Kính mong HĐXX xem xét cho thân chủ tôi được hưởng tình

tiết giảm nhẹ này

Từ những phân tích trên, tôi kính đề nghị HĐXX xem xét để áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS 2015 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại

Trang 8

khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng khoản 1 Điều 327 chỉ có một khung hình phạt là phạt tù từ 1 năm đến 5 năm, nên kính mong HĐXX có thể xem xét chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn cụ thể là phạt cải tạo không giam giữ bởi mức độ phạm tội của bị cáo không quá nghiêm trọng, không nhất thiết phải cách ly khởi xã hội và bị cáo có nơi cư trú ổn định phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 36 BLHS 2015

Cảm ơn Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát đã chú ý lắng nghe

Tôi xin chân thành cảm ơn

IV NHẬN XÉT VAI DIỄN

Ngày đăng: 28/06/2023, 14:56

w