1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH HỒ SƠ 10 bà ngợi

17 54 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 25,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thu hoạch diễn án môn Hành chính cơ bản Hồ sơ Hành chính số 10 bà Ngợi Ông Nguyễn Hữu Đặt và bà Nguyễn Thị Ngợi có 05 người con chung là Nguyễn Thị Đón 1963, Nguyễn Hứa Phong 1966, Nguyễn Thị Phú 1968, Nguyễn Thị Thao – 1973, Nguyễn Thị Thảo – 1976 đều trú tại thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, Tp. Hải Dương. Ông Đặt và bà Ngợi có Thửa đất số 195 và số 19 tờ bản đồ số 07 tại Xứ Đồng Thanh Liễu với diện tích 785m2 đất thổ và 150 m2 đất ao theo tờ bản đồ năm 1980, cập nhật thành thửa đất số 329 và 327 tờ bản đồ số 03 vào năm 1992.

Trang 1

HỒ SƠ LS.HC 10/B7 - DA:

KHIẾU KIỆN GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Người khởi kiện: Nguyễn Thị Ngợi Người bị kiện: Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố Hải Dương Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Hữu Phong , Nguyễn Thị Nghiệm,

Nguyễn Thị Đón, Nguyễn Thị Phú, Nguyễn Thị Thao, Nguyễn Thị Thảo

I TÓM TẮT HỒ SƠ VỤ VIỆC

Ông Nguyễn Hữu Đặt và bà Nguyễn Thị Ngợi có 05 người con chung là Nguyễn Thị Đón -1963, Nguyễn Hứa Phong - 1966, Nguyễn Thị Phú - 1968, Nguyễn Thị Thao –

1973, Nguyễn Thị Thảo – 1976 đều trú tại thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, Tp Hải Dương Ông Đặt và bà Ngợi có Thửa đất số 195 và số 19 tờ bản đồ số 07 tại Xứ Đồng-Thanh Liễu với diện tích 785m2

đất thổ và 150 m2

đất ao theo tờ bản đồ năm 1980, cập nhật thành thửa đất số 329 và 327 tờ bản đồ số 03 vào năm 1992

Năm 2001, ông Nguyễn Hữu Đặt mất không để lại di chúc hay giấy tờ gì khác Năm 2002 khi có chủ trương của nhà nước về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng loạt trên địa bàn, UBND xã Tân Hưng đã gửi thông báo về việc gia đình

tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ thì anh Nguyễn Hữu Phong và vợ là Nguyễn Thị Nghiệm đã tự làm thủ tục đứng tên xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên của ông Đặt và bà Ngợi Việc sang tên từ ông Đặt và bà Ngợi sang cho anh Phong và chị Nghiệm không có bất kỳ văn bản nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất giữa các bên

Ngày 30/12/2007, Uỷ ban Nhân dân huyện Gia Lộc đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508 tờ bản đồ số 03 thửa đất 334, diện tích 1.181 m2 cho anh Nguyễn Hữu Phong và vợ là Nguyễn Thị Nghiệm

Năm 2009 Xã Tân Hưng thuộc Huyện Gia Lộc được sáp nhập vào Thành Phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Việc cấp GCN nêu trên bà Ngợi cùng các anh chị em còn lại không biết cho đến ngày 15/01/2016, khi bà Ngợi lên xã để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho con gái là Nguyễn Thị Thao thì được biết giấy tờ chứng nhận mảnh đất

đã được đứng tên anh Phong và Chị Nghiệm Ngày 07/03/2016, UBND xã Tân Hưng

đã tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà Ngợi với anh Phong và Chị Ngiệm nhưng không thành

Ngày 23/05/2016, do nhận thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Phong và Chị Nghiệm mà chưa có sự đồng ý hay sang tên của mình, thủ tục tiến hành cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất là không

Trang 2

đúng theo quy định của pháp luật, Bà Ngợi đã khởi kiện UBND TP Hải Dương và đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Nguyễn Hữu Phong

và vợ là Nguyễn Thị Nghiệm

*Những người tham gia tố tụng trong vụ án gồm:

1 Người khởi kiện:

Bà NGUYỄN THỊ NGỢI - Sinh ngày 20/10/1935

Địa chỉ : Thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương

Người được ủy quyền hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Nhàn - Sinh năm 1991

Địa chỉ thường trú : xã Long Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

Địa chỉ liên hệ: số 234 Lê Thanh Nghị, phường Lê Thanh Nghị, Tp.Hải Dương,Hải Dương.

2 Người bị kiện: UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

Địa chỉ : P.Trần Hưng Đạo, Tp.Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Đại diện: Ông Vũ Tiến Phụng – Chủ tịch UBND TP.Hải Dương

Người được ủy quyền: Ông Trần Hồ Đăng – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP.Hải

Dương

3 Người có quyền lợi liên quan:

Ông Nguyễn Hữu Phong – Sinh năm: 1966

Bà Nguyễn Thị Nghiệm – Sinh năm: 1971

Bà Nguyễn Thị Đón – sinh năm 1963

Nguyễn Thị Phú – sinh năm 1968

Nguyễn Thị Thao – sinh năm 1973

Nguyễn Thị Thảo – sinh năm 1976

Cùng trú tại: thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, Tp Hải Dương, Hải Dương.

* Đối tượng khởi kiện:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508 do UBND huyện Gia Lộc cấp ngày 30/12/2007 cho ông Nguyễn Hữu Phong, bà Nguyễn Thị Nghịêm đối với thửa đất số

334 tờ bản đồ số 3 tại xã Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

*Yêu cầu của người khởi kiện:

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508 do UBND huyện Gia Lộc cấp ngày 30/12/2007 cho ông Nguyễn Hữu Phong, bà Nguyễn Thị Nghịêm đối với thửa đất số 334 tờ bản đồ số 3 tại xã Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Trang 3

II VĂN BẢN PHÁP LUẬT ÁP DỤNG:

- Luật tố tụng hành chính năm 2015

- Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 sửa đổi bổ sung 2009;

- Luật Khiếu nại năm 2011;

- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 hướng dẫn thi hành Luật đất đai;

- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định về bổ sung việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;

- Luật số: 11/2003/QH11 tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày

26 tháng 11 năm 2003;

- Nghị định số 4-HĐBT ngày 7/1/1988 của Hội Đồng Bộ Trưởng số 4-HĐBT ngày 7-1-1988 ban hành điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu;

- Thông tư 117/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền

sử dụng đất;

- Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ Luật tố tụng dân sự và nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính

- Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao

III PHẦN TRÌNH BÀY YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN:

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân,

Thưa vị Luật sư đồng nghiệp,

Thưa tất cả quý vị có mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay,

Tôi tên là …… , là luật sư - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Ngợi Sau đây tôi xin đại diện trình bày yêu cầu khởi kiện của bà Ngợi như sau:

Ông Nguyễn Hữu Đặt và bà Nguyễn Thị Ngợi có 05 người con chung là Nguyễn Thị Đón -1963, Nguyễn Hứa Phong - 1966, Nguyễn Thị Phú - 1968, Nguyễn Thị Thao –

1973, Nguyễn Thị Thảo – 1976 đều trú tại thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, Tp Hải Dương Ông Đặt và bà Ngợi có Thửa đất số 195 và số 19 tờ bản đồ số 07 tại Xứ

Trang 4

Đồng-Thanh Liễu với diện tích 785m2 đất thổ và 150 m2 đất ao theo tờ bản đồ năm 1980, cập nhật thành thửa đất số 329 và 327 tờ bản đồ số 03 vào năm 1992

Năm 2001, ông Nguyễn Hữu Đặt mất không để lại di chúc hay giấy tờ gì khác Năm 2002 anh Nguyễn Hữu Phong và vợ là Nguyễn Thị Nghiệm đã tự ý làm thủ tục đứng tên xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên của ông Đặt và bà Ngợi Việc sang tên từ ông Đặt và bà Ngợi sang cho anh Phong và chị Nghiệm không có bất kỳ văn bản nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất giữa các bên

Ngày 30/12/2007, Uỷ ban Nhân dân huyện Gia Lộc đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508 tờ bản đồ số 03 thửa đất 334, diện tích 1.181 m2 cho anh Nguyễn Hữu Phong và vợ là Nguyễn Thị Nghiệm

Đến ngày 15/01/2016, khi bà Ngợi lên xã để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho con gái là Nguyễn Thị Thao thì mới được biết giấy tờ chứng nhận mảnh đất đã được đứng tên anh Phong và Chị Nghiệm Ngày 07/03/2016, UBND xã Tân Hưng đã tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà Ngợi với anh Phong và Chị Ngiệm nhưng không thành

Nay nhận thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Phong và Chị Nghiệm mà chưa có sự đồng ý hay sang tên của mình, thủ tục tiến hành cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất là không đúng theo quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi của mình, Bà Ngợi đã khởi kiện UBND TP Hải Dương tại Tòa án nhân dân Thành Phố Hải Dương và đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508 tờ bản đồ số 03 thửa đất 334, diện tích 1.181

m2 cho anh Nguyễn Hữu Phong và vợ là Nguyễn Thị Nghiệm

*Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện:

- Đơn khởi kiện;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508 tờ bản đồ số 03 thửa đất 334, diện tích 1.181 m2 do UBND huyện Gia Lộc cấp cho anh Nguyễn Hữu Phong và chị Nguyễn Thị Nghiệm

- Giấy chứng tử của ông Nguyễn Hữu Đặt

- Giấy ủy quyền của bà Ngợi cho bà Nguyễn Thị Nhàn

- Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01/12/2002

- Thông báo về việc hộ gia đình tự kiểm tra thửa đất ngày 01/12/2002

- CMND, Sổ hộ khẩu bà Ngợi và bà Nhàn

IV KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM:

Đề cương hỏi của Luật sư – người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngợi.

Trang 5

A Kế hoạch hỏi Người bị kiện:

- Ông cho biết nguồn gốc đất của thửa đất 334 tờ bản đồ số 3 xã Tân Hưng?

- Hiện tại, ai là người được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của thửa đất 334 tờ bản đồ số 3?

- Ai là người đã có cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508 tờ bản đồ

số 03 thửa đất 334 cho anh Nguyễn Hữu Phong và chị Nguyễn Thị Nghiệm?

- Xin ông cho biết Trình tự thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa phương như thế nào?

- UBND huyện Gia Lộc căn cứ vào đâu để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

và quyền sở hữu nhà ở cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm ?

- UBND huyện Gia Lộc có tiến hành kiểm tra rõ nguồn gốc mảnh đất, xác định hiện trạng đất trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Phong và bà Nghiệm không?

- UBND huyện Gia Lộc có ban hành Quyết định về việc Cấp Giấy chứng nhận Quyền

sử dụng đất cho ông Phong và bà Nghiệm hay không?

- Các ông giải thích như thế nào về việc Phòng Tài Nguyên môi trường huyện Gia Lộc trả lời tại Công văn số 16/CV-TNMT rằng đã chuyển hồ sơ cấp đất cho ông Phong,

bà Nghiệm cho Thành phố Hải Dương, nhưng các ông lại lập luận không nhận được

hồ sơ lưu trữ?

- Trước khi có thông báo của UBND xã Tân Hưng về việc kiểm tra lại thửa đất để cấp giấy đồng loạt trên địa phương thì bà Ngợi vẫn đang là chủ sở hữu sử dụng thửa đất 334 tờ bản đồ 03 đúng không?

- Vậy ngày 01/12/2002 tại sao UBND xã Tân Hưng có Thông báo về việc gia đình tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ lại không gửi cho Bà Ngợi – người đang là chủ sử dụng của thửa đất mà lại ghi tên ông Nguyễn Hữu Phong ?

- Khi xét duyệt hồ sơ cấp giấy cho ông Phong và bà Nghiệm thì họ có bất kỳ giấy tờ nào liên quan đến với thửa đất theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai 2003 hay không?

- Ông Phong và bà Nghiệm có cung cấp được văn bản phân chia di sản thừa kế hay văn bản nhận chuyển nhượng thửa đất 334 hay không?

- Theo quy định tại Khoản 2 Điều 135 Nghị định 181/2004 Hướng dẫn luật đất đai có quy định trách nhiệm của UBND xã là “trường hợp người đang sử dụng đất không

có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thẩm tra, xác nhận về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất” đúng không?

- Vậy UBND xã Tân Hưng có thực hiện việc thẩm tra, xác minh về nguồn gôc đất,

hiện trạng đất đối với thửa đất mà ông Phong và bà Nghiệm được cấp hay không?

Trang 6

- Nếu đã có thực hiện việc kiểm tra vậy tại sao lúc nào bà Ngợi đang là người sử

dụng đất theo hồ sơ địa chính nhưng ông Phong bà Nghiệm không có bất kì giấy tờ hay thông tin nào liên quan đến thửa đất lại được xét và cấp giấy?

- Việc không có bất kì văn bản nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất từ ông

Đặt, bà Ngợi sang cho ông Phong và Bà Nghiệm nhưng UBND huyện đã cấp giấy cho ông Phong, bà Nghiệm có đúng thủ tục hay không?

- UBND Xã Tân Hưng đã ký đóng dấu vào đơn xin cấp đất vào ngày 01/12/ 2002 của

bà Nghiệm và lập hồ sơ cấp đất, công bố công khai danh sách người đủ điều kiện được cấp trong đó có hộ anh Phong bà Nghiệm tại UBND xã đúng không?

- Theo quy định tại Điều 135 Nghị định 181/2004 thì việc cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ đến khi được cấp không được quá 55 ngày đúng không?

- Vậy việc nhận hồ sơ từ năm 2002 nhưng mãi đến năm 2007 mới cấp giấy cho ông

Phong và bà Nghiệm có đúng thủ tục theo quy định không?

B Kế hoạch hỏi Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hữu Phong

và bà Nguyễn ThỊ Nghiệm (ông Phong cũng là đại diện ủy quyền của bà Ngiệm:

- Nguồn gốc đất thửa đất 334, tờ bản đồ 3 là của cha mẹ ông đúng không?

- Cha ông là ông Nguyễn Hữu Đặt mất năm 2001 có để lại di chúc hay không?

- Cha mẹ ông có bao nhiêu người con, gồm những ai?

- Sau khi cha ông mất, các anh chị em cùng mẹ của ông đã cùng phân chia di sản của ông Đặt để lại chưa?

- Cha mẹ ông có bất kỳ văn bản nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất của thửa

334 tờ bản đồ 03 cho ông và bà Nghiệm hay không?

- Có văn bản nào thể hiện chị em cùng mẹ của ông có thống nhất để cho ông và bà Nghiệm toàn quyền sử dụng thửa đất 334 tờ bản đồ 3 không?

- Ông có thông báo cho các chị em của ông biết việc bà Ngợi để cho ông đứng tên trên giấy chứng nhận hay không?

- Khi UBND tiến hành đo đạc, ra thông báo kiểm tra đất để cấp đất, ông không báo cho các chị em của ông biết đúng không?

- Sauk hi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đứng tên trên thửa đất ông

có thông báo cho mẹ cùng các chị em của ông biết hay không?

C Kế hoạch hỏi Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác gồm bà Thao, bà Thảo, bà Phú, bà Đón (hỏi từng người các câu hỏi sau đây):

- Khi cha bà mất, bà có từ chối nhận di sản hay có đồng ý tặng cho phần di sản được hưởng của mình cho ông Phong không?

- Khi bà Nghiệm và ông Phong thực hiện việc thủ tục xin cấp giấy chứng nhận bà có biết hay không? Có được thông báo hay không?

Trang 7

- Trước, trong và sau khi ông Phong được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 thì có thông báo cho bà biết việc bà Ngợi đồng ý để cho ông Phong đứng tên hay không?

- Bà có ý kiến như thế nào về việc vợ chồng ông Phong đứng tên và có toàn quyền sử dụng mảnh đất của cha mẹ?

- Việc bà Ngợi khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho

vợ chồng ông Phong bà có ý kiến như thế nào?

D Kế hoạch hỏi Người khởi kiện:

- Bà cho biết mảnh đất thuộc thửa 334 có nguồn gốc từ đâu? Giấy tờ chứng minh nguồn gốc đó?

- Bà là vợ của ông Đặt đúng không? Sauk hi ông Đặt mất gia đình bà vẫn chưa thực hiện kê khai di sản của ông Đặt đúng không?

- Bà cho biết thời điểm bà biết việc ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm đứng tên trên GCN số AK 734508 của thửa đất số 334?

- Bà có biết thông báo của UBND xã Tân Hưng về việc đo đạt để thành lập bản đồ địa chính phục vụ cho cấp mới, cấp đổi GCN quyền SDĐ hay không?

- Bà có từng nhận được thông tin niêm yết công khai về việc cấp GCN cho ông Nguyễn Hữu Phong không?

- Ông Phong có từng thông báo cho bà biết việc ông đang làm thủ tục đứng tên trên thửa đất hay không?

- Bà có đồng ý cho ông Phong được đứng tên và có quyền sử dụng đất đối với thửa đất hay không?

- Bà có ý kiến gì về việc UBND huyện Gia Lộc đã cấp Giấy chứng nhận cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Phong?

IV BÀI LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân,

Thưa vị Luật sư đồng nghiệp,

Thưa tất cả quý vị có mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay,

Tôi tên là ………., là Luật sư của Văn phòng Luật sư A, Đoàn Luật sư Thành phố

B Hôm nay tôi có mặt tại phiên tòa này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Ngợi, trong vụ án hành chính “Khiếu kiện Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với người bị kiện là Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố

Hải Dương

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và tham gia phần hỏi tại phiên tòa, tôi xin được trình bày một số ý kiến tranh luận bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho bà Tuyết như sau:

Trang 8

Trước tiên, về việc bà Nguyễn Thị Ngợi khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Gia Lộc đã cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm:

Theo Khoản 1 mục I Công văn giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, dân sự số 02/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 19/09/2016 có quy định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính Theo Khoản 2 Điều 3

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì “2 Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính “Cơ quan, tổ chức, cá nhân

có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó…” Bà Ngợi không đồng ý về việc UBND huyện Gia Lộc đã cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất cho ông Phong và Bà Nghiệm vào năm 2007, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà, do đó bà có quyền khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với thửa đất 334 tờ bản đồ 03

Tiếp theo về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508 đối với thửa đất 334, tờ bản đồ số 03 ngày 30/12/20107 của UBND huyện Gia Lộc cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm: Chúng tôi hoàn toàn không đồng ý do việc cấp giấy chứng nhận này không đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, không đáp ứng các điều kiện quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất, Nguồn gốc sử dụng đất thể hiện chủ sử dụng đất là ông Đặt và bà Ngợi, không phải ông Phong và bà Nghiệm:

Thửa đất 334 tờ bản đô 03 theo Giấy chứng nhận AK 734508 nguyên trước đây theo hồ sơ địa chính của xã Tân Hưng, sổ Đăng ký ruộng đất và bản đồ lập theo chỉ thị 229/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng chính phủ là thửa đất số 195 và 197 tờ bản

đồ 07 thuộc quyền sử dụng và đăng ký đứng tên của Ông Nguyễn Hữu Đặt và vợ là Nguyễn Thị Ngợi Đến năm 1992 tại khoảnh 1 bản đồ địa chính xã 1992 được cập nhật thành thửa đất số 329, 327 tờ bản đồ 03 cũng do vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đặt đứng tên Đến năm 2001 ông Đặt qua đời không để lại di chúc Vợ chồng ông Đặt bà Ngợi có năm người con chung vẫn chưa tiến hành phân chia di sản của ông Đặt sau khi ông mất Di sản của ông Nguyễn Hữu Đặt là ½ quyền sử dụng đất nêu trên, vì không có di chúc nên tài sản này sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật Theo quy định pháp lệnh thừa kế năm 1990 tại Điều 25 khoản 1 có quy định “1

Những người thừa kế theo pháp luật gồm có: a) Hàng thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ,

mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết” Tại thời điểm bà Nghiệm

làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vào ngày 01/12/2002 các đồng thừa kế là bà Ngợi, bà Đòn, bà Thao , ông Phong, Bà Thảo, bà Phú vẫn chưa tiến hành việc khai nhận và phân chia di sản của ông Đặt nên lúc này bà Ngợi vẫn đang là chủ sử dụng đứng tên thửa đất được thể hiện trong hồ sơ địa chính xã, cũng không

có bất kì văn bản nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất từ ông Đặt bà Ngợi sang cho vợ chồng ông Phong Do đó việc ông Phong, bà Nghiệm đã tự ý làm thủ tục

Trang 9

xin cấp Giấy chứng nhận trên toàn bộ mảnh đất là không đúng quy định của pháp luật

Thứ hai, về trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền

sử dụng đất không đúng trình tự thủ tục:

a) Về Điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Theo quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 50 Luật đất đai 2003:

“Điều 50 Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993

do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản

1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất”

Điều 48 NĐ 181/2004/NĐ-CP cũng quy định: “2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử

dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất không có giấy tờ khi có đủ các điều kiện sau:

a) Đất không có tranh chấp;

b) Đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt; trường hợp đất được sử dụng sau thời điểm quy hoạch, kế

Trang 10

hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt thì phải phù hợp với quy hoạch hoặc kế hoạch

đó Thời điểm sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận;

c) Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất”

Xét trường hợp cấp đất cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm cho thấy việc thủ tục để cấp giấy chứng nhận có rất nhiều sai sót, cụ thể là ông Phong, bà Nghiệm không có bất kì giấy tờ nào theo quy định nêu trên đối với quyền

sử dụng đất thửa đất số 334 tờ bản đồ 03 Trên đất tại thời điểm năm 2002 đến năm

2007 bà Ngợi cùng các anh chị em của ông Phong đều đang cư ngụ trên thửa đất này

và bà Ngợi đang là chủ sử dụng đứng tên thửa đất theo bản đồ địa chính của xã, các đồng thừa kế vẫn chưa tiến hành phân chia di sản của ông Đặt

Như vậy, có thể thấy rằng khi có chủ trương cấp đất đồng loạt trên địa bàn xã Tân Hưng thì Uỷ ban nhân dân xã Tân Hưng phải có trách nhiệm thông báo cho người đang sử dụng đất là bà Ngợi Thế nhưng tại Thông báo ngày 01/12/2002 UBND xã Tân Hưng lại tiến hành thông báo về việc hộ gia đình tự kiểm tra đất đang sử dụng để lập

hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại gửi cho ông Nguyễn Hữu Phong – người không phải là chủ sử dụng theo hồ sơ địa chính mà không phải là thông báo cho bà Ngợi

Đồng thời tại đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/12/2002 do ông Nguyễn Hữu Phong cùng bà Nghiệm đứng đơn thế nhưng chỉ có

bà Nghiệm ký đơn Hơn nữa ông Phong cho rằng bà Ngợi cho ông đứng tên và toàn quyền sử dụng thửa đất nhưng lại không cung cấp được chứng cứ chứng minh có việc cho phép này Các đồng thừa kế và bà Ngợi cũng không có bất kỳ văn bản nào ủy quyền cho ông Phong, bà Ngợi đứng tên trên giấy Và cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất từ ông Đặt, bà Ngợi sang cho ông Phong,

bà Ngiệm

Theo quy định tại Điểm a và d khoản 2 Điều 135 NĐ 181/2004/NĐ-CP quy

định: “Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:

a) ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thẩm tra, xác nhận vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất; trường hợp người đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thẩm tra, xác nhận về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất, sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt; công bố công khai danh sách các trường hợp đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại trụ sở ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong thời gian mười lăm (15) ngày; xem xét các ý kiến đóng góp đối với các trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường”

Ngày đăng: 09/09/2021, 14:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w