1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận 3_Luật Dân sự 2

35 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thảo luận 3_Luật Dân sự 2
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 587,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2 THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2 THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2 THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2 THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2 THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2 THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2 THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2 THẢO LUẬN 3 LUẬT DÂN SỰ 2

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 5

PHẦN NỘI DUNG 8

*Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức 8

Tóm tắt quyết định số 171/2020/DS-GĐT: 8

Câu 1: Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực? 8

Câu 2: Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực? 9

Câu 3: Việc Toà án áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao? 10

Tóm tắt Quyết định số 93: 12

Câu 4 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực? 12

Câu 5 Theo Bộ luật Dân sự 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức 12

Câu 6 Đoạn nào trong quyết định số 93 cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực? 14

Câu 7 Trong quyết định số 93, việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao? 14

*Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng 16

Câu 1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm 16

Tóm tắt Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long 18

Câu 2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?19 Câu 3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng) 19

Trang 2

Câu 4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao? 21 Câu 5 Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long 22 Câu 6 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy

bỏ hợp đồng do có vi phạm 23 Câu 7 Các điều kiện để huỷ bỏ hợp đồng trong một hệ thống pháp luật nước ngoài 25 Câu 8 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không?

Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ 26

*Vấn đề 3: Đứng tên giùm mua bất động sản 27 Tóm tắt Quyết định số 19/2015/DS-GĐT 27 Câu 1 Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao? 28 Câu 2 Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao? 28 Câu 3 Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam không? 29 Câu 4 Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? 30 Câu 5 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ

ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào? 31 Câu 6 Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có Án lệ chưa? Nếu có, nêu Án lệ đó 31 Câu 7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao 32

*Vấn đề 4: Tìm kiếm tài liệu 34 Câu 1 Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật hợp đồng được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2018 đến nay (ít nhất 20 bài viết) Khi liệt kê, yêu cầu viết theo trật tự theo tên tác giả và việc liệt kê phải thỏa mãn những thông tin theo trật tự sau: 1) Họ và tên tác giả, 2) Tên bài viết trong ngoặc kép, 3) Tên

Trang 3

Tạp chí in nghiêng, 4) Số và năm của Tạp chí, 5) Số trang của bài viết (ví dụ: từ tr 41-51) 34 Câu 2 Cho biết làm thế nào để biết được những bài viết trên 38

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

*Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức

Tóm tắt quyết định số 171/2020/DS-GĐT:

“Vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa: nguyên đơn là ông Phan Quý và bà

Lê Thị Bích Thủy, bị đơn là ông Lê Văn Dư, ông Lê Sĩ Thắng, ông Khâu Văn Sĩ

Nội dung vụ việc như sau: ông Quý và bà Thủy có ký hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Khâu Văn Sĩ, ông Lê Sĩ Thắng, ông Lê Văn Dư Sau khi chuyển nhượng, ông Quý và bà Thủy thông báo cho ông Sĩ, ông Dư và ông Thắng là giao dịch chuyển nhượng bằng giấy viết tay nên bên nhận chuyển nhượng chỉ được phép xây dựng công trình sau khi ký hợp đồng công chứng, đăng bộ và chuyển mục đích sử dụng đất Tuy nhiên, sau đó ông Sĩ, ông Dư, ông Thắng không liên hệ với ông Quý, bà Thủy để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng mà ông Sĩ, ông Thắng tự ý chuyển nhượng đất cho ông Dư; ông Dư xây dựng nhà trái phép bị xử phạt hành chính Vì vậy, ông Quý và

bà Thủy khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông

Sĩ, ông Dư, ông Thắng chưa có hiệu lực và đình chỉ hợp đồng chuyển nhượng; đồng thời buộc ông Sĩ, ông Dư, ông Thắng trả lại toàn bộ diện tích đất Tòa án chấp nhận Quyết định kháng nghị và yêu cầu hủy bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm, yêu cầu xét xử sơ thẩm lại

Câu 1: Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?

Đầu tiên phải xét đến thời điểm có hiệu lực của Bộ luật Dân sự 2015 là từ ngày 1/1/2017

Trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng,

chứng thực tại mục 2 phần Nhận định của Tòa án, cụ thể là đoạn sau: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Quý, bà Thủy với ông Sĩ được ký kết tại thời điểm ông Quý, bà Thủy chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vi phạm về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất theo Khoản 1 Điều 693 Bộ luật Dân sự năm 1995; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Quý, bà Thủy với ông Dư, ông Thắng không đủ diện tích đất tối thiểu để tách thửa là vi phạm điều kiện tách thửa theo Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 25/02/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều là giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền”

Trang 5

Và: “Ngày 03/02/2002, ông Quý, bà Thủy lập hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng cho ông Khâu Văn Sĩ 500m2 đất, thuộc một phần thửa số 504 nêu trên với giá

500 triệu đồng.”

Qua hai đoạn trên, thấy được, thứ nhất, thời điểm tiến hành xác lập giao dịch hợp đồng là ngày 03/02/2002, tức là trước giai đoạn Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực, đồng thời, từ quan điểm áp dụng luật của Tòa án, cũng là sử dụng Bộ luật Dân sự 1995 để cho thấy về sự vi phạm của hợp đồng về mặt hình thức

Câu 2: Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày

Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực?

Trong Quyết định số 171 cho thấy Tòa án đã áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự

2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự

2015 tại mục 2, phần Nhận định của Tòa án, cụ thể như sau:

“Xét, năm 2008, ông Quý và bà Thủy đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định tại Điểm b.2 tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên không được coi là vô hiệu

do vi phạm điều kiện (a.4) chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp và (a.6) hợp đồng chuyển nhượng không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền Mặt khác, toàn

bộ 674m2 đất đã được các bên thống nhất chuyển nhượng cho ông Dư nên không vi phạm điều kiện tách thửa theo Quyết định số 19/2009/QĐ-UB ngày 25/02/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định

về điều Khoản chuyển tiếp: “Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này.” Sau khi chuyển nhượng, ông Quý, bà Thủy được cấp quyền sử dụng đất nên điều kiện về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được khắc phục Tuy nhiên, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất này đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm bắt buộc về công chứng, chứng thực

Thực tế cho thấy, bên nhận chuyển nhượng là ông Sĩ, ông Dư, ông Thắng đã nhận đất và thanh toán đủ tiền cho ông Quý và bà Thủy, các bên chưa thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ

Trang 6

trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”

Câu 3: Việc Toà án áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 trong trường hợp như trên

có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 trong trường hợp trên là

thuyết phục Vì:

Thứ nhất, điều này phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về việc thi

hành Bộ luật tố tụng Dân sự Bởi dù trong pháp luật Dân sự không có quy định hiệu lực

hồi tố, tuy nhiên, theo Điều 1 Nghị Quyết 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc

hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định với những vụ việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 1/7/2016 mà kể từ ngày đó mới giải quyết thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 để giải quyết

Dựa vào nội dung trong Quyết định số 171/2020/DS-GĐT thì vụ án được giải

quyết theo thủ tục sơ thẩm ngày 7/11/2019, theo đó có thể áp dụng Bộ luật Dân sự 2015

để xử lý theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 103/2015/QH13

Thứ hai, xét bản chất hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đất giữa ông Quý và bà

Thủy với các ông Sĩ, Thắng, Dư diễn ra trước ngày Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực song

nó lại chưa được công chứng chứng thực Bản chất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là loại hợp đồng có yêu cầu đặc thù về hình thức là phải được công chứng, chứng

thực hợp đồng theo Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013:

“Điều 167 Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

3 Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền

sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại Điểm b Khoản này;”

Điều này cũng được quy định tại cụ thể tại Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP:

“Điều 64 Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

1 Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về Dân sự ký tên

Trang 7

2 Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất

cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư.”

Do đó, tuy về bản chất, điều kiện về hình thức không phải luôn dẫn đến hệ quả làm hợp đồng vô hiệu, song trong trường hợp đặc thù với các vấn đề được luật chuyên ngành quy định, điều kiện về hình thức trở thành điều kiện mang tính bắt buộc Cụ thể ở trường hợp này, do điều kiện về hình thức chưa được đáp ứng: việc chuyển nhượng được thực hiện dưới hình thức hợp đồng giấy viết tay và bên nhận chuyển nhượng chưa hoàn tất các thủ tục bắt buộc về ký hợp đồng công chứng, đăng bộ và chuyển mục đích sử dụng đất cho

nên, chưa được xem là đã giao kết hợp đồng, trong thực tiễn pháp lý, Khoản 4 Điều 400

Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm

bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản”

Qua đó ta có thể thấy sự phụ thuộc của thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản

có hiệu lực phụ thuộc vào hình thức của hợp đồng, như tác giả Lê Minh Hùng khẳng

định:“Cho đến khi hợp đồng chưa đạt được sự hoàn chỉnh về mặt hình thức thì hợp đồng chưa được coi là giao kết.”1 Vậy ở đây, có thể được xem như giao dịch dân sự đang được

thực hiện Xét thấy, đây là một giao dịch dân sự đang được thực hiện, lại có nội dung và

hình thức phù hợp với quy định Bộ luật Dân sự 2015, do đó, chiếu theo Điểm b Khoản 1 Điều 688 vẫn áp dụng quy định của Bộ luật này:

“Điều 688 Điều Khoản chuyển tiếp

1 Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:

b) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này;”

Thứ ba, quy phạm pháp luật được Tòa viện dẫn áp dụng phù hợp với tranh chấp

được giải quyết Cụ thể, Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trường hợp vô hiệu

của giao dịch dân sự khi không đáp ứng yếu tố hình thức Xét thấy, trong vấn đề Tòa án giải quyết, bản chất giao dịch là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chưa được

công chứng, chứng thực, thể hiện ở đoạn trích: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

1 Lê Minh Hùng, "Ảnh hưởng của yếu tố hình thức đối với hợp đồng", Tạp chí Khoa học pháp lý, 01(50)/2009, Tr.12-22

Trang 8

đất đều là giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền”,

chính vì thế, hoàn toàn phù hợp với nội dung mà quy định điều chỉnh

Như vậy, từ những lập luận đã đưa ra và cơ sở pháp lý được trích dẫn, cho thấy,

việc Tòa án sử dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 dù hợp đồng được xác lập trước

ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực là có căn cứ, xác đáng và thuyết phục

Tóm tắt Quyết định số 93:

“Ngày 10/8/2009 vợ chồng ông Cưu, bà Lắm cùng thống nhất chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm một lô đất Sau khi chuyển nhượng, hai bên thực hiện nghĩa vụ cho nhau như đã thỏa thuận: ông Mến, bà Nhiễm trao trả đủ số tiền cần thanh toán, ông Cưu, bà Lắm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mến, bà Nhiễm Ngày 18/4/2017 vợ chồng ông Cưu, bà Lắm có đơn yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì lý do tại thời điểm chuyển nhượng chưa có đất và hợp đồng chưa được công chứng chứng thực Xét thấy hợp đồng không vi phạm về nội dung, hình thức của hợp đồng tuy không được công chứng chứng thực nhưng trong thời hạn 02 năm

kể từ ngày giao dịch được xác lập thì vợ chồng ông Cưu, bà Lắm không yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng này vô hiệu nên giao dịch này có hiệu lực theo Khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 Do đó hướng giải quyết của Tòa án là công nhận hiệu lực giao dịch này mặc dù hợp đồng chưa được công chứng chứng thực.”

Câu 4 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực: “Về hình thức của hợp đồng: đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2017, thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điểm d Khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/8/2009 giữa

vợ chồng ông Cựu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bả Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức.”

Câu 5 Theo Bộ luật Dân sự 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa

án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức

Giải thích từ ngữ ”thời hiệu khởi kiện”:

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015: “Thời hiệu khởi kiện

là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”

Trang 9

Như vậy, khi thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu kết thúc thì các chủ thể liên quan sẽ mất quyền khởi kiện, không còn quyền yêu cầu Tòa án tuyên

bố giao dịch dân sự vô hiệu và giao dịch dân sự đó có hiệu lực, căn cứ theo Khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao

dịch dân sự vô hiệu

Căn cứ theo Khoản 1 điều 407 và Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015:

"Điều 407 Hợp đồng vô hiệu

1 Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”

“Điều 132 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều

125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi Dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành

vi Dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức

2 Hết thời hiệu quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực

3 Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.”

Như vậy chiếu theo Khoản 1 Điều 407 Bộ luật Dân sự về hợp đồng vô hiệu thì

sẽ được áp dụng như giao dịch dân sự vô hiệu Theo đó, tại Điều 132 Bộ luật Dân sự

2015 về vấn đề thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức nếu từ

thời điểm các bên tham gia trong hợp đồng biết hoặc phải biết hợp đồng đó vô hiệu về mặt hình thức mà không yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại

Khoản 1 Điều 132 thì xử lý theo Khoản 2 tức coi như hợp đồng đó có hiệu lực trừ trường hợp hợp đồng được quy định tại Điều 123 và Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 10

Câu 6 Đoạn nào trong quyết định số 93 cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/08/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong quyết định số 93 cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại

Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

ngày 10/08/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực: “Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 1/1/2017, thời hiệu được áp dụng theo qui định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điểm d Khoản 1 Điều 688 bộ luật Dân sự năm 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm hình thức Tuy nhiên từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/4/2017, đã quá thời hạn 2 năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo qui định tại Khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo Khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.”

Câu 7 Trong quyết định số 93, việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009

dù chưa được công chứng, chứng thực là thuyết phục

Trước nhất, phải làm rõ sự vi phạm của hợp đồng trong vụ việc trên mặt hình thức

Từ dữ liệu bản án, thấy rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên chưa được công chứng, chứng thực, điều này là vi phạm điều kiện về hình thức giao dịch Căn cứ tại

Khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 thì trường hợp luật quy định giao dịch dân sự

phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo

quy định đó, và căn cứ tại Điểm b Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 thì hợp đồng

chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực

Bên cạnh đó, Quyết định trên thỏa điều kiện về xem xét thời điểm bắt đầu thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu, từ đó cho thấy hợp đồng trên đã hết thời hiệu yêu cầu

Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức Quy định này được thể hiện tại Điểm đ Khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 trong đó quy định thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên

bố giao dịch dân sự vô hiệu là 2 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập trong trường

hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức và căn cứ tại Khoản 2 Điều

132 Bộ luật Dân sự 2015 thì khi hết thời hiệu mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch

dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự đó có hiệu lực Đối chiếu với hai căn cứ vừa được nêu trên thì trong tình huống này hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009

Trang 11

có hiệu lực vì sau khi giao kết hợp đồng, mãi đến ngày 18/4/2017 vợ chồng ông Cưu, bà Lắm mới khởi kiện thì lúc này đã quá thời hạn 2 năm yêu cầu Tòa tuyên hợp đồng vô hiệu

do vi phạm về hình thức Do đó, giao dịch này có hiệu lực dù có căn cứ cho thấy sự vi phạm về điều kiện hình thức Đây cũng là điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể về hệ quả của việc hết thời hiệu khởi kiện với giao dịch vi phạm về hình thức so với

Bộ luật Dân sự 20052 Mặt khác, giao dịch trong quyết định số 93 này không thuộc trường

hợp quy định tại Điều 123 và Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 thuộc các trường hợp không

bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, như Tòa nhận

định: “Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm phù hợp với quy định của pháp luật về nội dung, không vi phạm điều cấm của pháp luật như Tòa án cấp phúc thẩm nhận định”

Ngoài ra, quyết định trên của Tòa còn cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa thời hiệu

và điều kiện có hiệu lực về hình thức, đây cũng là sự khác biệt về tính chất với mối liên hệ giữa thời hiệu và các vi phạm nội dung Việc vi phạm điều kiện về hình thức không luôn

dẫn đến hệ quả vô hiệu của hợp đồng, điều này được chỉ rõ tại Điều 129 Bộ luật Dân sự

2015 trong đó quy định về các ngoại lệ đối với hệ quả pháp lý vô hiệu của hợp đồng vi

phạm về hình thức nhưng có sự đáp ứng nhất định các yêu cầu được đặt ra theo quy định pháp luật Trên thực tế, khi hết thời hiệu khởi kiện, chủ thể khởi kiện không có quyền yêu cầu khởi kiện nữa, điều này dẫn đến hệ quả: Tòa án từ chối yêu cầu tuyên giao dịch dân sự

vô hiệu khi chủ thể có yêu cầu Tuy rằng, thực tế pháp lý không có hướng dẫn đối với trường hợp vi phạm về hình thức, nhưng thực chất, Tòa đều theo hướng giao dịch dân sự

có hiệu lực, buộc các bên phải thực hiện Nguyên nhân dẫn đến việc này xuất phát từ quan điểm nhà làm luật với pháp luật hợp đồng, xét theo tính chất hợp đồng: “Hợp đồng sinh ra không để bị tuyên bố vô hiệu mà là để được thực hiện nhằm đem lại cho các bên lợi ích

mà các bên mong muốn3” Xét theo ý chí này, trong việc xét xử, Tòa án cũng đa phần theo hướng hạn chế việc vô hiệu của hợp đồng, nhất là khi hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức4

Từ những căn cứ trên, nhóm chúng tôi cho rằng quan Điểm của Tòa án về việc xác nhận hiệu lực của hợp đồng dù có sự vi phạm về hình thức là hợp lý, đúng đắn

2 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.198

3 Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án tập 2, NXB ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh,

tr 919-926

4 Xem thêm Bản án số 281/2017/DS-PT ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội; Bản án số

622/2017/DS-ST ngày 19/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh; Bản án số

11/2019/DS-PT ngày 23/01/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Trang 12

*Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng

Câu 1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do

có vi phạm

Giống nhau: Về hậu quả pháp lí: các bên quay trở lại hiện trạng ban đầu, phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường

Cơ sở pháp lý Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015 Điều 122 đến Điều 129; Điều

407, Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015

Điều kiện

- Vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;

- Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ

hợp đồng: Khoản 2 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015

- Trường hợp khác do pháp luật

quy định: Điều 424 đến Điều 426; Điều 444; Điều 445; Điều 454; Điều 476 Bộ luật Dân sự

2015

- Theo các trường hợp pháp luật quy định về giao dịch vô hiệu:

• - Không có một trong các điều kiện

được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015;

• - Do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội;

• - Do giả tạo;

• - Do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;

• - Do nhầm lẫn;

• - Do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

• - Do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình;

• - Do không tuân thủ quy định về hình thức;

• - Do có đối tượng không thể thực hiện được

Trang 13

Tính chất

- Hợp đồng này có hiệu lực tại thời điểm giao kết nhưng sau một thời gian thực hiện vì phát sinh yếu tố dẫn đến hủy hợp đồng

- Ngay từ thời điểm xác lập, bản thân hợp đồng đã không phát sinh hiệu lực

Hậu quả pháp

- Điều khoản của hợp đồng đều có hiệu lực, thỏa thuận giữa các bên vẫn có giá trị ràng buộc

- Các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp

- Có quyền đòi lại phần lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ theo hợp đồng

- Trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ quy định tại

các Điều 423, 424, 425 và 426 Bộ luật Dân sự 2015 thì bên hủy bỏ

hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan

- Các điều khoản không có giá trị, không ràng buộc các bên

- Không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên

kể từ thời điểm giao dịch được xác lập

- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả hoa lợi lợi tức đó Bảo vệ quyền lợi của người thứ

ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô

hiệu (Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015)

- Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

- Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính

Thời hiệu khởi

kiện

- 3 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm

- Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại từ

Điều 125 đến Điều 129 Bộ luật Dân

sự 2015 là 2 năm kể từ ngày:

• Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn

Trang 14

trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

• Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

• Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

• Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

• Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức

- Đối với giao dịch dân sự quy định tại

Điều 123 và Điều 124 Bộ luật Dân sự

2015 thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên

bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế

Ngày 26/5/2017, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử phúc thẩm

vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán” giữa nguyên đơn ông Ngô Hồng Thủy (người đại diện theo ủy quyền của ông Tơ, ông Tơ là người kế thừa và nghĩa vụ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Phong Cần Thơ “đã giải thể”) và bị đơn là bà Nguyễn Thị Dệt và ông Trương Văn Liêm Vấn đề tranh chấp là về hợp đồng mua bán xe ô tô biển số 64C-008 ngày 26/5/2012 giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Phong

Trang 15

Cần Thơ và bà Dệt Hướng giải quyết của Tòa là tuyên bố hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 là vô hiệu do về chủ thể: Bên mua trong hợp đồng là công ty TNHH-SX-TM Thanh Thảo nhưng thực tế lại là bà Dệt – người không có quyền đại diện cho công ty TNHH-SX-TM Mặt khác, hợp đồng ghi đại diện là bà Dệt nhưng người ký kết lại là ông Liêm Từ đó Tòa nhận định rằng khi xét về lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu do các bên giao dịch là ngang nhau, nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

Câu 2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?

Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng bị vô hiệu Thể hiện ở phần quyết

định của bản án: “Vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012 giao kết giữa công

ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ với ông Trương Văn Liêm.”

Câu 3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng)

Hướng giải quyết trên của tòa án là không hợp lí bởi vì những lẽ sau đây:

Thứ nhất, có sự sai lệch trong xác định điều kiện bị vi phạm dẫn đến vô hiệu hợp đồng Ở đây, lí do tòa đưa ra để tuyên hợp đồng vô hiệu là do hợp đồng vi phạm về điều

kiện chủ thể được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 Cụ thể,

trong hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo” nhưng người đại diện lại là bà Nguyễn Thị Dệt trong khi bà Dệt không đại diện cho “Trang trí nội thất Thanh Thảo” mà thực chất ông Trương Hoàng Thành giám đốc công ty TNHH-SX-TM Thành Thảo mới là người đại diện Hơn nữa, trong hợp đồng có nêu đại diện bên mua là bà Nguyễn Thị Dệt nhưng đứng ra ký kết lại là ông Trương Văn Liêm Xét trong phần nhận định của Tòa, tuy không nói rõ nguyên nhân Tòa khẳng định giao dịch vô hiệu

là vi phạm về yếu tố năng lực chủ thể, nhưng qua việc liệt kê các bên chủ thể tham gia, cho thấy, Tòa theo hướng cho rằng có sự vi phạm về năng lực chủ thể dẫn đến vô hiệu hợp đồng, nhưng xem xét các quy định cụ thể về vô hiệu hợp đồng do vi phạm điều kiện về

năng lực chủ thể, mà cụ thể ở khía cạnh năng lực hành vi, ở Khoản 1 Điều 125 và Điều

128 Bộ luật Dân sự 2015 thì có thể nhận thấy: bà Dệt, ông Liêm lại không thuộc những

trường hợp nêu trên

Thứ hai, hợp đồng giữa các bên không vi phạm điều kiện dẫn đến vô hiệu hợp đồng

Theo Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự không có một trong các

điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác” Như vậy, tức là, nếu không có sự vi phạm về các yếu tố theo Điều

177 Bộ luật Dân sự 2015 cũng như các điều luật khác trong Bộ luật này quy định thì không thể xác định sự vô hiệu của hợp đồng Mà ta có thể thấy hợp đồng này cũng không vi phạm một trong các điều kiện khác về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, sự tự

Trang 16

nguyện, mục đích – nội dung và hình thức như quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự

2015, đồng thời chiếc xe mà hai bên chủ thể giao dịch cũng không phải là đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015

Theo những phân tích trên, không thể tuyên hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012

là hợp đồng vô hiệu

Thực chất, qua những căn cứ nêu trên ta có thể xem đây là một giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện Ở đây, do bản án không đầy đủ nên nhóm đã chia thành hai trường hợp để xác định hậu quả pháp lí của giao dịch này mang lại:

Trường hợp thứ nhất: do lỗi của bà Dệt và ông Liêm khiến bên công ty TNHH MTV Đông Phong không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch

dân sự với mình không có quyền đại diện (Điểm c Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015) Khi đó, theo Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015, người không có quyền đại

diện (cụ thể là bà Dệt, ông Liêm) vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình Thêm nữa, người đã giao dịch (công ty TNHH MTV Đông Phong) với người không có quyền đại diện (bà Dệt, ông Liêm) có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện

hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Khoản 3 Điều

142 Bộ luật Dân sự 2015) Hậu quả pháp lí này càng củng cố thêm sự vững chắc về việc

yêu cầu hủy hợp đồng mua bán xe 26/5/2012, chứ không phải bị vô hiệu như tuyên bố của tòa án

Trường hợp thứ hai: bên công ty TNHH MTV Đông Phong biết hoặc phải biết thì giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh

quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện (Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015) Bên cạnh đó, theo quy định tại Khoản 4 Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015, nếu người không

có quyền đại diện (bà Dệt, ông Liêm) và người đã giao dịch (công ty TNHH MTV Đông Phong) cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì cả hai phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại Như vậy, cũng không có căn

cứ để xác định đây là hợp đồng vô hiệu

Trong trường hợp này, sự nhầm lẫn, lúng túng trong xác định loại vi phạm hợp đồng, xét thấy rằng có thể dẫn đến các hệ quả pháp lý khác nhau, mà những hệ quả này có sự tác động không nhỏ đến quyền lợi, lợi ích của các bên liên quan, do đó, thấy rằng cần phải có

sự phân định rạch ròi các định nghĩa, mà cụ thể là giữa vô hiệu hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng Sự khác biệt ở đây có thể phân tích trên khía cạnh chính là căn cứ xác lập và hệ quả của vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng

Trang 17

Xét về căn cứ xác lập Trước nhất, với vô hiệu hợp đồng, là do sự vi phạm các điều

kiện luật định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015, trong khi đó, với việc hủy bỏ hợp đồng

là xuất phát từ những thỏa thuận được thành lập trước đó từ các bên, do sự vi phạm nghiêm

trọng nghĩa vụ từ một bên hay theo quy định của luật, thể hiện tại Khoản 1 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015

Xét về hệ quả pháp lý đối với chủ thể Thông qua việc tuyên một hợp đồng vô hiệu,

Khoản 3 Điều 425 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các bên hoàn trả cho nhau những gì đã

nhận, song, nếu không thể thực hiện việc hoàn trả bằng hiện vật thì thay thế bằng tiền Xét

hệ quả hủy bỏ hợp đồng ở Điều 427, có thể thấy, có sự tương đồng nhất định giữa hai quy

định này, song, điểm khác biệt ở đây chính là về vấn đề phạt vi phạm Nếu như ở quy định

về hợp đồng vô hiệu, phạt vi phạm không được thực hiện thì việc hủy bỏ hợp đồng vẫn đồng thời thừa nhận điều khoản này trong hợp đồng Lí giải về điều này, ta có thể nhận thấy rằng, khi một hợp đồng bị tuyên vô hiệu, thực chất hợp đồng không phát sinh hiệu lực ngay từ lúc xác lập, chính vì đó, không dẫn đến khả năng phát sinh vi phạm hợp đồng, do

đó, việc sử dụng điều khoản vi phạm trở nên không còn ý nghĩa, trong khi đó, ở khía cạnh hủy bỏ hợp đồng, như đã nêu từ trước ở căn cứ xác lập, có thể xuất phát từ những thỏa thuận trước đó giữa các bên, hay do sự vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ cũng tức nghĩa hợp đồng đã phát sinh hiệu lực bình thường cho đến khi nó bị hủy bỏ, do đó, có thể dẫn đến vi phạm, vì vậy, điều khoản quy định về việc phạt vi phạm phát sinh hiệu lực là có căn cứ, từ

đó, bảo vệ lợi ích các bên liên quan

Tóm lại, từ những phân tích trên, theo quan điểm của nhóm, việc Tòa án tuyên vô hiệu với trường hợp này là thiếu căn cứ, không phù hợp quy định pháp luật, đồng thời qua đây, nhóm cũng cho rằng, việc xác định hợp đồng trên vô hiệu sẽ ảnh hưởng đến lợi ích các bên liên quan, từ đó đặt ra vấn đề cần có sự xác định rõ ràng của Tòa án với tình trạng hợp đồng

Câu 4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?

Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng Nguyên nhân dẫn đến là vì:

Thứ nhất, xét về định nghĩa phạt vi phạm, căn cứ theo Khoản 1 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, việc phạt vi phạm xuất phát từ ý chí của các bên, là “sự thỏa thuận giữa các

bên trong hợp đồng”, như vậy, thấy được nó chịu sự tác động bởi yếu tố hiệu lực của hợp đồng, khi hợp đồng có hiệu lực mới dẫn đến việc phát sinh hiệu lực các điều khoản bên trong hợp đồng nói chung, điều khoản về phạt vi phạm nói riêng: “Hợp đồng không có hiệu lực thì không phải thực hiện và khi hợp đồng không phải thực hiện thì phạt vi phạm

Ngày đăng: 30/11/2021, 11:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

• - Do không tuân thủ quy định về hình thức;  - Thảo luận 3_Luật Dân sự 2
o không tuân thủ quy định về hình thức; (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w