Theo quy định tại điều 574, BLDS 2015: "Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích
Trang 1Buổi thảo luận thứ nhất
Nghĩa Vụ
Bộ môn: Hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Giảng viên: ThS Đặng Lê Phương Uyên
Nhóm : 04
Thành viên:
Trang 21.2 Vì sao thực hiện công việc không có uỷ quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 4 1.3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” 4 1.4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không
có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện 5 1.5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ thầu A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ
sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 6 VẤN ĐỀ 2:THỰC HIỆN NGHĨA VỤ(THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN) 7 Tóm tắt Quyết định Số: 15/2018/DS-GĐT 7 2.1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì? 8 2.2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà
Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 9 2.3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao? 9 2.4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm
đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao? 10 2.5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền
lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)? 10 VẤN ĐỀ 3 :CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN 11 Tóm tắt Bản án số 148/2007/DSST ngày 26/9/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang: 11
Trang 3toán cho bà Tú? 12 3.3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh? 12 3.4 Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Toà án? 13 3.5 Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý? 13 Câu 3.6: Nhìn từ góc độ quan điểm của các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao, trừ trường hợp
có thoả thuận khác 14 3.7 Đoạn nào của bản án cho thấy Toà án theo hướng người có nghĩa
vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền? 14 3.8 Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền 14 Câu 3.9 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 15 Câu 3.10 Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú
có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 16
Trang 4VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN.
1.1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Theo quy định tại điều 574, BLDS 2015: "Thực hiện công việc không có uỷ quyền là
việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối."
1.2 Vì sao thực hiện công việc không có uỷ quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
-Căn cứ làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự là những sự kiện xảy ra trong thực tế, được pháp luật dân sự dự trước, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự
- Do đó, thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ làm phát sinh Nghĩa vụ dân
sự là vì trong thực tế có các trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền, xuất phát từ sự tương trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, nên BLDS 2015 đã dự trước điều
này tại: Khoản 8, Điều 8: “ Thực hiện công việc không có ủy quyền”,hơn nữa theo khoản 3, điều 275, BLDS 2015 quy định về căn cứ phát sinh nghĩa vụ là "Thực hiện công việc không có uỷ quyền".
Việc quy định chế định này tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện và nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của người thực hiện công việc cũng như đối với người có công việc được thực hiện
1.3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”.
Thực hiện công việc không có ủy quyền là
việc một người không có nghĩa vụ thực
hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực
hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của
người có công việc được thực hiện khi
người này không biết hoặc biết mà không
phản đối
Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối
Trang 5BLDS 2005 BLDS 2015 Chủ thể Người có công việc được
thực hiện chỉ là cá nhân
Người có công việc được thực hiện là cá nhân hoặc pháp nhân.(khoản 4 Điều
575 BLDS)
>> Mở rộng phạm vi chủ thể
Mục đích thực hiện Hoàn toàn vì lợi ích của
người có công việc được thực hiện (chỉ vì lợi ích của người có công việc được thực hiện mà không vì lợi ích nào khác)
Thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện (không chỉ vì lợi ích của chủ thể có công việc cần thực hiện mà còn có thể vì lợi ích khác)
Bộ luật dân sự 2005 quy định thực hiện công việc không có ủy quyền phải “hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc” Chúng ta có thể hiểu là khi thực hiện công
việc không có ủy quyền phải hoàn toàn mang lại lợi ích cho người có công việc mà người thực hiện công việc không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào Nhưng trong thực tế, có rất nhiều tình huống người thực hiện công việc không có ủy quyền cũng được lợi ích khi thực hiện công việc đó Như vậy sẽ gây ra mâu thuẫn khi xét xử Nên bộ Luật dân sự 2015 sửa đổi theo hướng bỏ hai chữ “hoàn toàn” để phù hợp với hoàn cảnh thực tế hơn Thiết nghĩ sự thay đổi này là hoàn toàn hợp lý
1.4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.
Điều 574 Thực hiện công việc không có ủy quyền:“Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
- Có 4 điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015:
+ Người thực hiện là người không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó
Người thực hiện công việc trên tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ, hỗ trợ người khác Vì người này không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nên rõ ràng không
Trang 6có sự ràng buộc pháp lí nào giữa người thực hiện và người có công việc được thực hiện
về công việc được thực hiện trước đó
+ Thực hiện công việc một cách tự nguyện
Dù không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhưng người thực hiện công việc vẫn
có ý chí hết mình thực hiện công việc của người khác, xem nó như là bổn phận của mình, không hề suy tính lợi ích cá nhân Người thực hiện nhận thức được hành vi thực hiện của mình trong điều kiện, khả năng thực hiện công việc một cách độc lập nhằm đem lại lợi ích cho người có công việc cần được thực hiện
+ Thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc được thực hiện
Với Điều 574 BLDS 2015 đã mở rộng phạm vi đối tượng nhận được lợi ích từ việc thực hiện công việc không có ủy quyền Ở đây, không hạn chế lợi ích (nếu có) của người thực hiện công việc hay cộng đồng Chỉ cần đảm bảo là thực hiện công việc chủ yếu vì lợi ích của người có công việc cần thực hiện thì đó được xem là thực hiện công việc không có ủy quyền Căn cứ xác định yếu tố lợi ích ở đây là người thực hiện công việc xuất phát từ sự tự nguyện, nhằm đem lại lợi ích cho người có công việc cần được thực hiện và đảm bảo các quy định về nghĩa vụ thực hiện công việc (Điều 575 BLDS 2015)
+ Người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối
Công việc này do người có công việc không biết, người có công việc không nghĩ nó sẽ phát sinh và diễn ra bằng việc một người nào đó thực hiện với tư cách không được ủy quyền, hoặc cũng có thể người có công việc đã biết mình phải làm công việc này nhưng vì một số lí do nào đó mà đã không làm và biết được người khác sẽ làm công việc này nhưng không hề phản đối mà vẫn để cho nó diễn ra
1.5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ thầu A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015? Vì sao? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
- Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ thầu A thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 cụ thể ở đây là nghĩa vụ thanh toán theo Điều 576 BLDS 2015
- Cơ sở pháp lý: Điều 574, 575, 576 BLDS 2015
+ Về phía nhà thầu C: Khi triển khai, B đã ký hợp đồng với C mà không nêu rõ B là đại diện của A trong hợp đồng cũng không có ủy quyền của A Vì vậy, kể cả khi B và
C thiết lập một hợp đồng xây dựng thì chỉ phát sinh nghĩa vụ giữa B (bên thứ 3) và C
Trang 7Điều này thỏa mãn điều kiện “thực hiện công việc không có nghĩa vụ thực hiện” Đồng thời, C cũng thực hiện công việc mà không có sự cưỡng ép hay bắt buộc từ phía A nên
rõ ràng đảm bảo được điều kiện “thực hiện công việc một cách tự nguyện”
+Về phía chủ đầu tư A: A thành lập ra B để tiến hành xây dựng công trình công cộng, nhưng A lại không ủy quyền cho B để ký kết hợp đồng xây dựng với C Như vậy, A chưa từng yêu cầu C phải xây dựng công trình này Nếu A không biết về vụ việc này cho đến khi xây dựng xong thì nghiễm nhiên A được xem là “không biết”, giả sử như
A biết được thì rõ ràng sẽ thuộc trường hợp “biết nhưng không phản đối” bởi lẽ công trình này đã được xây xong Trong trường hợp có bất kì sự phản đối nào thì công trình này đã gặp phải gián đoạn buộc phải dừng lại (Điều 578 BLDS 2015)
> Đây là công việc đem lại lợi ích cho A Chính vì điểm mới ở Điều 574 BLDS 2015 (bỏ đi chữ hoàn toàn) nên dù cho C thực hiện công việc này vì một phần lợi ích của mình đi nữa thì vẫn được công nhận là “thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc cần được thực hiện” bởi lẽ với việc xây dựng xong công trình thì vẫn đảm bảo được lợi ích lớn nhất vẫn thuộc về A
>> Vậy C hoàn thành xong công việc theo đúng nghĩa vụ của mình ghi nhận tại điều
575 BLDS 2015, C đương nhiên có quyền yêu cầu A thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 576 BLDS 2015 Hơn nữa, A còn phải thanh toán một khoảng chi phí hợp lí mà C đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo mong muốn của A Ngoài ra, A còn phải trả một khoản thù lao nếu C thực hiện công việc một cách chu đáo và có lợi cho A
VẤN ĐỀ 2:THỰC HIỆN NGHĨA VỤ(THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN) Tóm tắt Quyết định Số: 15/2018/DS-GĐT
Tên vụ việc: Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền
sử dụng đất
Nguyên đơn: Cụ Ngô Thanh Bằng
Bị đơn: Bà Mai Hương
Nội dung vụ việc: Cụ Ngô Quang Phúc (bố của ông Ngô Quang Phục) được cấp “giấy chứng nhận quyền sở hữu” Sau khi cụ Phúc chết, ông Ngô Quang Phục được hưởng thừa kế diện tích đất trên Sau này, ông Phục chuyển nhượng đất cho vợ chồng cụ Ngô Quang Bảng Tiếp đó, Cụ Bảng chuyển nhượng, đất cho Vợ chồng bà Mai Hương, nhưng bà Hương chưa thanh toán hết tiền nhà (tức là mới thanh toán 4/5 số tiền) cho cụ Bảng mà đã chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất cho vợ chồng ông Hoàng Văn Chinh và
bà Phạm Thị Sáu
Trang 8Quyết định của toà án: Huỷ bản án dân sự phúc thẩm và bản án sơ thẩm Giao hồ sơ vụ
án cho Toà án nhân dân thị xa Quảng Yên, tình Quảng Ninh để xeta xử lại thủ tục sơ thẩm
2.1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là các khoản tiền, vàng
1- Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:
Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 01/7/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử
sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó
Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 01/7/1996 hoặc tuy xảy
ra trước ngày 01/7/1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
2- Đối với các khoản tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí thì khi xét xử toà án chỉ quyết định mức tiền cụ thể mà không áp dụng cách tính đã hướng dẫn tại khoản 1 nói trên 3- Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp toà án đều không phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định
Trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là hiện vật
Trang 91- Trong các trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là hiện vật, thì khi giải quyết
vụ án cần phải xem xét và xác định người có nghĩa vụ có thể thực hiện được nghĩa vụ giao vật hay không, người có quyền có chấp nhận tiếp nhận hiện vật hay không, để tuỳ từng trường hợp cụ thể mà giải quyết theo các hướng sau đây:
Nếu có đủ điều kiện buộc người có nghĩa vụ về tài sản thực hiện nghĩa vụ giao vật, thì toà án ra quyết định buộc người đó phải giao hiện vật theo quy định tại Điều 294 Bộ luật dân sự và trong bản án, quyết định phải ghi rõ tình trạng, số lượng, chất lượng, chủng loại của hiện vật phải giao để việc thi hành án được rõ ràng, thuận lợi Tuy nhiên, toà án vẫn phải xác định giá trị của hiện vật đó theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để tính án phí
Nếu bên có nghĩa vụ không thể có hiện vật để thực hiện nghĩa vụ giao vật, thì toà án quyết định buộc họ phải thanh toán giá trị của hiện vật theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm và bồi thường thiệt hại
2- Theo quy định tại khoản 2 Điều 310, Điều 311 và khoản 1 Điều 313 Bộ luật dân sự thì người chậm thực hiện nghĩa vụ giao vật, không thực hiện nghĩa vụ giao vật phải bồi thường thiệt hại cho người có quyền Thiệt hại trong trường hợp không giao hiện vật, chậm thực hiện nghĩa vụ giao vật, là thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút Để tính thiệt hại cụ thể, có thể tính theo mức thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút cụ thể do bên bị thiệt hại chứng minh, nếu không xác định được thiệt hại cụ thể, thì tính bằng mức thu nhập bình quân (sau khi đã trừ các khoản chi phí) của 5 tháng liền kề (nếu chưa đủ 5 tháng thì tính bằng mức thu nhập bình quân của các tháng đó), trước thời điểm phát sinh nghĩa vụ giao vật
2.2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Cở sở pháp lí: Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản và các quy định liên quan khác
Thực tế ông Quới sẽ phải cho bà Cô khoản tiền cụ thể là: 5474452.55474 đồng
Vì việc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên (giá gạo thời điểm năm 1973 là 137 đồng/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính TP.HCM là 15000 đồng/kg) Nên giá gạo vào năm 1973 là
137 đồng/kg,thì số lượng gạo quy đổi là 364.96350365kg
Giá gạo tại thời điểm hiện tại là 15.000 đồng/kg, ông Qưới phải trả cho bà Cô số tiền là 5474452.55474 đồng (364,96350365kg x 15000 đồng/ kg = 5474452.55474 đồng)
Trang 102.3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?
- Thông tư 01/TTLT không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT
- CSPL: Mục 1 Chương I của thông tư trên có nói:
“1 Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau: ”
- Như vậy, nó chỉ áp dụng cho các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính và nghĩa vụ tài sản là hiện vật chứ không phải là quyền sử dụng đất, và cũng không đề cập đến việc điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT
2.4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng
cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
- Trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có nêu rõ:
“Bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền còn nợ tương ứng với 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng với hướng dẫn tại điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”
- Nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho
cụ Bảng cụ thể là:
1/5 x 1.697.760.000đ = 339.552.000đ
=> Bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng số tiền cụ thể là 339.552.000 cùng với lãi suất theo quy định của pháp luật
2.5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?
- Hướng như trên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ
- Ví dụ: Quyết định 741/2011/DS-GĐT ngày 26/9/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao Ông Hoanh và ông An có ký hợp đồng chuyển nhượng 1.230m2 đất với