Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học cũngnhư đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 10, với cương vị là người giáo viên tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Sử d
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài :
Với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuậthiện đại, giáo dục đứng trước những thách thức không nhỏ nhằm bắt kịp và đónđầu những bước tiến mới của xã hội Để đáp ứng yêu cầu cấp bách của thời đại,đòi hỏi chúng ta phải “xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch,nội dung, phương pháp giáo dục đào tạo” Đổi mới giáo dục còn được ghi rõ
trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực cá nhân” Trong bối cảnh chung đó thì môn Địa lí cũng cần phải có sự thay đổi căn
bản về phương pháp dạy học Điều đó không có nghĩa là phủ định sạch trơn cácphương pháp truyền thống đã có và xây dựng các phương pháp hoàn toàn mới
Mà quan trọng là phải nhìn ra tính ưu việt của từng phương pháp và áp dụngmột cách linh hoạt trong từng bài học
Phương pháp thảo luận là một phương pháp thích hợp với học sinh lớntuổi Tuy nhiên trong nhà trường, phương pháp này còn ít được sử dụng Cónhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: do thời gian eo hẹp, sơ sở vật chấtthiếu thốn, học sinh lười làm việc…Nhưng nguyên nhân chính là do phươngpháp này chưa được chú trọng đúng mức, chưa được coi như phương pháp dạyhọc chính thức
Thảo luận là một hoạt động không chỉ diễn ra ở trong lớp mà còn cả ngoàilớp, ở đó học sinh có thể đưa ra những ý kiến khác nhau hoặc cân nhắc những ýkiến đã trình bày Các em có thể chấp nhận hay phản bác các ý kiến người khácđưa ra Kết quả của bất kì một cuộc thảo luận nào cũng phải dẫn đến một kếtluận hay một giải pháp hoặc một sự khái quát trên cơ sở các ý kiến đã trình bày
Vì vậy thảo luận có một tác dụng rất lớn trong dạy học
Hơn nữa với học sinh lớp 10, các em vừa tiếp xúc với môi trường học tậphoàn toàn mới - thầy cô mới, bạn bè mới nên đây là lúc tốt nhất làm cho các emphải thay đổi phương pháp học tập theo hướng mới đặc biệt là đẩy mạnh xuhướng hợp tác lành mạnh trên cơ sở chia sẻ thông tin
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học cũngnhư đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 10, với cương vị là người giáo viên tôi
mạnh dạn thực hiện đề tài: “Sử dụng hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm theo hướng phát huy năng lực học sinh trong dạy học Địa lí 10 - chương trình cơ bản”
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu
1.2.1 Nắm vững cơ sở lí luận của phương pháp thảo luận để vận dụngvào bài học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh và gópphần nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí 10
1.2.2 Qua thực nghiệm tìm ra các giải pháp nhằm phát huy những ưuđiểm, hạn chế khi vận dụng vào thực tiễn dạy học Địa lí 10
1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 10 trung tâm GDTX Cẩm Thủy
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động học tập môn Địa lí ở khối 10 Trung tâmGDTX Cẩm Thủy (chọn 1 lớp thực nghiệm - 10A, 1 lớp đối chứng - 10B)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp lí thuyết: Áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp,phân loại,…để nghiên cứu nội dung sách giáo khoa 10 - cơ bản, nghiên cứu cáctài liệu cần thiết về tâm lí học, giáo dục học, lí luận dạy học, phương pháp dạyhọc Địa lí theo hướng tích cực
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra: qua tiếp xúc, trao đổi trực tiếp, lấy ý kiến củagiáo viên và học sinh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: chọn 2 lớp khối 10-Trung tâmGDTX Cẩm Thủy là: 10A (lớp thực nghiệm) và lớp 10B(lớp đối chứng) Thiết
kế giáo án vận dụng hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học Địa lí
10 - chương trình cơ bản Sau đó kiểm tra kết quả thông qua 2 đến 3 bài kiểmtra
- Phương pháp xử lí số liệu: Xử lí sang dạng mới những tài liệu có được
để phù hợp với yêu cầu của đề tài
- Phương pháp quan sát: quan sát đối tượng để thu thập thông tin
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Khái niệm
Phương pháp thảo luận nhóm (hay còn được gọi với các tên khác như dạyhọc hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ) là phương pháp chia lớp thành nhiều nhómnhỏ, trong khoảng thời gian nhất định các thành viên trong nhóm suy nghĩ, traođổi các kiến thức với nhau từ đó đưa ra ý kiến chung của cả nhóm về vấn đềđược giao
2.1.2 Ưu điểm của thảo luận nhóm
Thảo luận giúp học sinh có điều kiện mở rộng, đào sâu thêm những vấn
đề trong học tập Với phương pháp này giúp học sinh được bộc lộ những khả
Trang 3năng của bản thân, hình thành kỹ năng tư duy, hợp tác trao đổi, chia sẻ và họchỏi lẫn nhau Thảo luận nhóm tạo không khí sôi nổi, thoải mái trong học tập.Học sinh luôn có được cảm giác tự do, không bị áp đặt qua đó phát huy đượctính tích cực, chủ động sáng tạo của mình trong quá trình khám phá và chiếmlĩnh tri thức Chính vì vậy, thảo luận là con đường ngắn nhất để làm giàu kiếnthức cho mỗi học sinh.
Đặc biệt thảo luận nhóm còn bồi dưỡng cho học sinh lòng ham học và ýthức tự học Bởi lẽ để sự hợp tác trong nhóm có hiệu quả thì vai trò của mỗi cánhân là phải tự tìm hiểu nhiệm vụ được giao, chủ động trong tiếp nhận tri thức
Từ đó, tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học
Hơn nữa thảo luận giúp rèn luyện kĩ năng giao tiếp trong suốt quá trình tranhluận cũng như báo cáo kết quả Thảo luận giúp học sinh biết cách lắng nghe ý kiếncủa người khác một cách kiên nhẫn, lịch sự trên cơ sở tôn trọng ý tưởng của bạn vàcũng tạo nên sự cởi mở, dễ thấu hiểu người khác Đó là những đức tính không thểthiếu để đem đến thành công trong học tập và nhiều lĩnh vực của cuộc sống
Thông qua phương pháp này thì giáo viên sẽ tạo ra mối quan hệ hai chiềumột cách cởi mở trong sự hòa đồng, gần gũi khác với lối suy nghĩ cứng nhắctrước đây Qua đó giáo viên đánh giá được hiệu quả giáo dục cả về nhận thức,thái độ và hành vi của học sinh
Trong thời kì hội nhập thì tính cộng đồng càng được đề cao Vì vậy phươngpháp thảo luận sẽ là cách thức có hiệu quả để các thành viên trong lớp có cơ hộigần gũi nhau, biết học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn Điều nàygiúp các em có khả năng làm việc theo nhóm một cách hiệu quả Đây cũng là điềucác nhà tuyển dụng lao động đang cần đối với nguồn nhân lực của nước ta
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi sử dụng SKKN
Đa số giáo viên đều áp dụng phương pháp này trong các giờ thanh, kiểmtra hoặc các đợt cao điểm thi đua tuy nhiên kết quả không như mong đợi Phầnlớn học sinh học tập tại Trung tâm GDTX không qua con đường thi tuyển màchủ yếu là xét tuyển đối tượng có bằng tốt nghiệp và có nhu cầu học tập tạitrung tâm, nên nhìn chung trình độ nhận thức của các em có phần hạn chế, các
em không có thói quen học tập, lười học, học không tập trung, tư tưởng dễ bịphân tán… Vì thế hiệu quả giờ học chưa cao
Mặt khác công tác giảng dạy của giáo viên còn chịu sự chi phối của nộidung chương trình và quĩ thời gian Do đó, giáo viên cần lựa chọn phương phápdạy học phù hợp nhất và có hiệu quả cao nhất Để làm tốt được điều này đòi hỏingười giáo viên phải biết chọn lọc những kiến thức trọng tâm để lôi cuốn sự chú
Trang 4ý của tất cả học sinh trong lớp, chỉ khi có điều kiện thuận lợi mới nên áp dụngphương pháp này.
Cũng cần nói thêm rằng phương pháp thảo luận chỉ thành công khi có sựkết hợp với các phương pháp khác như đàm thoại gợi mở, khai thác tri thức từbản đồ, tranh ảnh hoặc các bảng số liệu, các biểu đồ liên quan,…Từ đó, cácphương tiện trực quan được sử dụng với chức năng là nguồn tri thức hơn là đểminh họa Và thảo luận sẽ phát huy tác dụng hơn ở những nơi có cơ sở vật chấttrong phòng học hiện đại, được trang bị máy tính, máy chiếu, máy hắt vật thể,…
Thực tế ở khu vực miền núi, do sự thiếu thốn về cơ sở vật chất khiến hiện
tượng “dạy chay” với các phương pháp truyền thống đọc - chép còn khá phổ
biến Giáo viên luôn chủ động truyền đạt nội dung kiến thức còn học sinh thụđộng tiếp thu, ghi nhớ máy móc nguồn tri thức đó Còn đối với các bài học đánhgiá có sử dụng phương pháp này thì nhiều khi lại áp dụng rất gượng ép
Qua các cuộc điều tra cho thấy nếu biết tổ chức tốt các tiết học theo hìnhthức thảo luận nhóm thì học sinh tham gia khá tích cực, không khí rất thoải mái,sôi nổi Tuy nhiên trong một số giờ học mức độ chiếm lĩnh tri thức chưa cao dokhả năng nhận thức còn hạn chế Mặt khác một số học sinh chưa có động cơ họctập rõ ràng thì hầu hết sẽ có thái độ ỷ lại các thành viên khác trong nhóm màkhông tự giác làm việc cá nhân Có khi số ít đó lại tranh thủ các giờ thảo luận đểnói chuyện riêng hoặc làm việc riêng Lúc đó người giáo viên phải biết cáchhướng dẫn, dìu dắt, khơi dậy những tiềm năng sẵn có của học sinh
Một thực tế là các giáo viên thường đánh giá giờ dạy căn cứ vào số họcsinh phát biểu xây dựng bài và mức độ tham gia tích cực của học sinh trongtrình bày, trao đổi và thảo luận về các nhiệm vụ học tập Với quan niệm này dẫntới thực trạng ở các trường là mỗi khi có người dự giờ chắc chắn thảo luận nhóm
sẽ được sử dụng
2.3 Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện để giải quyết vấn đề
2.3.1 Vai trò của giáo viên khi tổ chức thảo luận
Trong phương pháp thảo luận, học sinh đóng vai trò trung tâm còn vai tròcủa người giáo viên tưởng chừng rất mờ nhạt Nhưng thực tế ở những phươngpháp dạy học tích cực như thảo luận đòi hỏi người giáo viên phải uyên thâm vềkiến thức và phải khéo léo trong việc tổ chức học sinh nhận thức, là người tổchức, hướng dẫn, điều khiển để học sinh tự lĩnh hội tri thức Với xu thế dạy họcnày vai trò của giáo viên không bị lu mờ mà còn ở một tầm cao hơn cả về trình
độ chuyên môn lẫn phương pháp tổ chức
Trang 5Giáo viên là người thiết kế các hoạt động dạy học phải xác định hoạt độngnào có thể tổ chức hoạt động theo nhóm Giáo viên nên chọn các vấn đề đang cónhiều ý kiến tranh luận, có nhiều cách hiểu khác nhau, đặc biệt thu hút được sự
tò mò ham học của học sinh Chọn chủ đề thảo luận có nhiều tình huống, cần sựchia sẻ, hợp tác giải quyết vấn đề Để có được kết quả cao, giáo viên nên thiết kếcác phiếu giao nhiệm vụ thật cụ thể, rõ ràng với những câu hỏi gợi mở
Giáo viên phải là người chuẩn bị tài liệu, phương tiện học tập (bao gồmcác tài liệu tham khảo, các bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, các bảng số liệu thống kê,cùng băng hình, máy chiếu, ) hoặc cung cấp trước địa chỉ các trang web liênquan để học sinh thảo luận có hiệu quả Giáo viên cũng là người sắp xếp lạiphòng học và bố trí địa điểm làm việc cho các nhóm
Giáo viên là người quyết định việc thành lập nhóm, số lượng nhóm, cácthành viên trong nhóm có thể thay đổi một cách linh hoạt Để làm được điều đó,giáo viên cần thu thập thông tin về người học: trình độ nhận thức, nhu cầu tìmhiểu tri thức, ước muốn của bản thân,…
Trong quá trình thảo luận, giáo viên đóng vai trò là người quan sát, theodõi và hướng dẫn, hỗ trợ các nhóm hoàn thành nhiệm vụ Giáo viên nên tôntrọng ý kiến của học sinh bằng cách không cắt nganh lời của học sinh Trongquá trình quan sát, giáo viên nên khuyến khích sự tham gia của mỗi cá nhân, cóthể giúp đỡ các nhóm gặp khó khăn bằng những câu hỏi gợi mở Hơn nữa, giáoviên cũng phải là người đưa buổi thảo luận đi đúng hướng, tránh trường hợp một
số học sinh đưa ra các thông tin ngoài lề
Ngoài ra giáo viên đóng vai trò là trọng tài kết luận những nội dung cầnthảo luận để giúp học sinh có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về vấn đề thảo luận
Như vậy, giáo viên là người cung cấp những chiếc chìa khóa cho phéphọc sinh mở cửa vào kho tàng tri thức của nhân loại Đó là cách dẫn dắt học sinh
đi theo con đường phát triển và sáng tạo của chính họ
2.3.2 Các bước tổ chức thảo luận
- Bước 1: Giáo viên chia nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm
Sau khi giáo viên thông báo chủ đề thảo luận cần phải chủ động phân chialớp học thành các nhóm theo vị trí chỗ ngồi, theo tổ, theo sở thích, theo vần A,
B, C Để thay đổi không khí của lớp học có thể chia nhóm theo nhiều cáchkhác nhau trong 1 tiết học Giáo viên nên chia nhóm một cách rõ ràng (số lượngthành viên, tên nhóm trưởng, tên của thư kí và vị trí chỗ làm việc…) Số lượngthành viên trong các nhóm lớn cũng chỉ nên có từ 7 đến 8 thành viên.Trong đó
Trang 6nhóm trưởng phải là người có kiến thức vững chắc về môn học, có tầm ảnhhưởng lớn trong nhóm Vai trò của nhóm trưởng là phân chia nhiệm vụ cho cácthành viên trong nhóm của mình phụ trách, khuyến khích mọi thành viên trongnhóm tham gia thảo luận Ngoài ra nhóm trưởng phải có cái nhìn bao quát trongmắt học sinh đi theo con đường phát triển và sáng tạo của chính họ Suốt quátrình tranh luận của nhóm để hướng các thành viên đi đúng vào vấn đề trọng tâmbằng cách bám sát vào các câu hỏi gợi ý của giáo viên Còn thư kí với vai trò ghichép lại ý kiến của các thành viên và chốt lại các vấn đề chính dưới sự chỉ đạocủa nhóm trưởng.
Để nhóm làm việc có hiệu quả nên chú ý sắp xếp lại bàn ghế trong lớphọc để học sinh ngồi đối diện nhau nhằm tạo ra sự tương tác trong quá trình thảoluận Đồng thời cần căn cứ vào mục tiêu của bài và thời gian của tiết học để giớihạn thời gian phù hợp cho các nhóm, tránh thảo luận hình thức với việc giaonhiệm vụ trong một thời gian quá ngắn, hoặc thúc giục học sinh quá nhiều làmcho các em căng thẳng và khó hoàn thành được nhiệm vụ được giao
- Bước 2: Làm việc nhóm
* Nguyên tắc làm việc trong nhóm:
+ Nhóm được thành lập ra phải có nguyên tắc hoạt động rõ ràng Cácthành viên trong nhóm phải tuân theo sự chỉ đạo của nhóm trưởng
+ Các thành viên trong nhóm phải tham gia tích cực vào việc đóng góp ýkiến Các ý kiến đưa ra có thể khác nhau nhưng trước hết cần tôn trọng suy nghĩmỗi cá nhân, cần làm cho các em thấy vai trò quan trọng của mỗi người
+ Các nhóm cần hoạt động trên cơ sở đoàn kết, cần có sự giúp đỡ lẫnnhau Để làm được điều đó trong quá trình làm việc nên sắp xếp xen kẽ các họcsinh khá, giỏi và học sinh trung bình Từ đó, các em sẽ học hỏi cả kiến thức vàcách làm việc của các bạn khác Chính sự hợp tác sẽ giúp nhóm thống nhất được
ý kiến chung về vấn đề được giao
+ Các nhóm cũng cần có sự phân chia thành quả một cách rõ ràng Thànhviên tích cực hơn sẽ được đánh giá cao hơn Làm tốt điều này sẽ khuyến khích mọithành viên đều cố gắng, tránh việc một số thành viên chỉ biết ỷ lại vào các bạn khác
* Quá trình làm việc nhóm:
Dưới tác động định hướng của giáo viên, học sinh nhận biết và phát hiệnvấn đề Sau đó học sinh sẽ làm việc cá nhân - từ các tài liệu giáo viên cung cấpthêm hoặc bản thân sưu tầm được, học sinh phân tích, xử lí các thông tin, tái
Trang 7hiện kiến thức, kinh nghiệm, công thức,… để xây dựng giải pháp giải quyết vấn
đề Đây sẽ là kết quả nghiên cứu tạo ra sản phẩm ban đầu của mỗi cá nhân
Để kết quả có tính khách quan cần có sự hợp tác với các thành viên trongnhóm bằng cách so sánh, đối chiếu, đánh giá, phân tích, sàng lọc,…Quá trình đócần sự lắng nghe, chia sẻ vừa biết bảo vệ sản phẩm của mình vừa phân tích ýkiến của bạn từ đó có thể bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp Sau khi đưa ra được
ý kiến thống nhất của nhóm thì thư kí ghi lại kết quả chung này
Khi các nhóm đã có kết quả hoàn thiện trên phiếu học tập giáo viên cần chohọc sinh tự kiểm tra chéo giữa các nhóm Việc làm này không cần nhiều thời giannhưng lại có ý nghĩa rất lớn Nó cho phép học sinh tự đánh giá lẫn nhau, tìm ranhững điểm đã làm được, chưa làm được theo đánh giá chủ quan của từng nhóm
Trong suốt quá trình thảo luận của học sinh giáo viên làm nhiệm vụ quansát, bao quát chung và có thể giúp đỡ những học sinh yếu hoặc những nhóm còngặp khó khăn bằng cách động viên, khuyến khích và có những câu hỏi gợi mở
- Bước 3: Báo cáo kết quả
Để báo cáo kết quả nên lựa chọn những thành viên có khả năng diễn đạttốt, có kĩ năng trình bày một cách thuyết phục và biết bảo vệ ý kiến chung củanhóm Nhưng cũng cần có sự luân phiên báo cáo để đảm bảo quyền lợi của cácthành viên, từ đó rèn luyện kĩ năng thuyết trình, kĩ năng giao tiếp của từng họcsinh
Giáo viên chủ động mời đại diện của 1 nhóm lên trình bày những kết quả
đã thống nhất của nhóm, kết hợp phiếu học tập với các bảng số liệu, các biểu đồkèm theo các bản đồ, Sau đó người báo cáo sẽ trao đổi với các nhóm khác bằngcách trả lời các câu hỏi liên quan của các nhóm còn lại Giáo viên cũng có thểcho các nhóm đặt ra câu hỏi thách đố nhau để không khí buổi học thêm sôi nổihơn và lôi cuốn được nhiều học sinh cùng chú ý vào nội dung bài học Nếukhông có ý kiến chất vấn thì nhóm báo cáo có thể đặt các câu hỏi ngược lại.Giáo viên khuyến khích học sinh tự nhận xét, đánh giá kết quả của nhau và chú
ý tới câu hỏi và câu trả lời của các nhóm
- Bước 4: Giáo viên tổng hợp và rút ra kết luận về vấn đề thảo luận.
Giáo viên tổng kết lại một cách xúc tích, có hệ thống những ý kiến thốngnhất và chưa thống nhất Giáo viên phải tham gia ý kiến về những điều chưathống nhất và dẫn dắt học sinh tìm ra những kiến thức còn thiếu ở các nhóm
Giáo viên đưa thông tin phản hồi, từ đó nhận xét kết quả làm được củatừng nhóm và nhận xét về tinh thần, ý thức làm việc chung của nhóm và của
Trang 8từng cá nhân Để động viên, khuyến khích các em tích cực làm việc giáo viênnên thu lại kết quả của từng cá nhân sau đó chấm điểm Học sinh vẫn chủ độngthực hiện thêm các bước: ghi lại những nhận xét, kết luận của giáo viên qua sảnphẩm ban đầu và sản phẩm đã hợp tác với bạn.
2.3.3 Nội dung thực nghiệm
Tiến hành dạy ở 2 lớp thực nghiệm và đối chứng
- Lớp thực nghiệm giảng dạy với giáo án vận dụng phương pháp thảoluận nhóm là chủ yếu Lớp đối chứng giảng dạy sử dụng các phương pháp khác(chủ yếu là phương pháp truyền thống)
- Kiểm tra thực nghiệm: Dưới hình thức các bài kiểm tra trắc nghiệm, cácphiếu câu hỏi, phiếu bài tập, các kết quả đánh giá được xây dựng theo thangđiểm 10 và được tổng hợp lại qua bảng thống kê
Trong quá trình giảng dạy môn Địa lí lớp 10, bản thân khi vận dụngphương pháp thảo luận nhóm đã kết hợp với các phương pháp dạy học tích cựcnhư: phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ, phương phápđàm thoại ( vấn đáp ) trong các tiết dạy Cụ thể ở một số bài sau:
Bài 11: Khí quyển Sự phân bố nhiệt
độ không khí trên Trái Đất
Phương pháp đàm thoại, phươngpháp thảo luận, phương pháp hướngdẫn học sinh khai thác tri thức từ bản
đồ, tranh ảnh,bảng số liệu
Bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển
Phương pháp thảo luận, phươngpháp đàm thoại gợi mở, phương phápthuyết trình
Bài 18: Sinh quyển Các nhân tố ảnh
hưởng tới sự phát triển và phân bố của
pháp đàm thoại, Bài 36: Vai trò, đặc điểm và các nhân
tố ảnh hưởng đến phát triển, phân bố
ngành giao thông vận tải
Phương pháp đàm thoại gợi mở, thảoluận nhóm, phương pháp khai thác trithức từ bản đồ
Bài 37: Địa lí các ngành giao thông
Trang 9Tiết 41 - Bài 36 : VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
PHÁT TRIỂN, PHÂN BỐ NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI
4 Về năng lực phát triển của học sinh:
+ Năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, thuyết trình
+ Năng lực sử dụng tranh ảnh, bản đồ, tư duy tổng hợp theo lãnh thổ
II Chuẩn bị
1 Giáo viên
- Bản đồ giao thông vận tải Việt Nam
- Bản đồ sông ngòi Việt Nam
- Một số tranh ảnh liên quan đến ngành giao thông vận tải
- Máy tính
- Máy chiếu
2 Học sinh
- Atlat Địa lí Việt Nam
- Tự sưu tầm các hình ảnh về ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên và nhân tốkinh tế - xã hội đến ngành giao thông vận tải
III Phương pháp dạy học
- Thảo luận nhóm
- Đàm thoại gợi mở
- Phương pháp khai thác tri thức từ bản đồ
IV Tiến trình bài dạy
1 Ổn định lớp
2 Kiểm tra bài cũ
a Trình bày cơ cấu các ngành dịch vụ?
b Dựa và bản đồ giao thông vận tải Việt Nam và hiểu biết của bản thân
kể tên các loại hình giao thông vận tải ở nước ta? Theo em có những nhân tố nàoảnh hưởng đến ngành giao thông vận tải?
Trang 103 Bài mới
Ngành giao thông vận tải là một ngành dịch vụ quan trọng, được ví nhưmạch máu trong cơ thể Vậy cụ thể ngành này có vai trò như thế nào? Nhân tốnào sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của ngành giao thông vận tải?
Hoạt động 1: Tìm hiểu vai trò và đặc
điểm ngành giao thông vận tải
- Bước 1: Giáo viên cung cấp một số
hình ảnh về vai trò của ngành giao
thông vận tải sau đó đặt câu hỏi:
? Dựa vào nội dung mục I.1/SGK kết
hợp với hiểu biết của bản thân và các
hình ảnh sau trình bày vai trò của
ngành giao thông vận tải ?
- Bước 2: Giáo viên đặt tiếp câu hỏi:
Chứng minh rằng những tiến bộ của
ngành GTVT đã tác động to lớn làm
thay đổi sự phân bố sản xuất và phân
bố dân cư trên thế giới?
Nhờ tiến bộ của ngành GTVT làm
tăng tốc độ vận chuyển, rút ngắn thời
gian, giảm chi phí vận tải trong khi đó
mức độ tiện nghi và an toàn tăng lên
Nếu trước đây các cơ sở sản xuất
thường phân bố gần nguồn nguyên liệu
và thị trường tiêu thụ thì hiện nay xu
hướng mới trong phân bố công nghiệp
là các trung tâm công nghiệp gắn liền
với các đầu mối giao thông Cụ thể
trong vận tải đường ô tô khối lượng
I Vai trò và đặc điểm ngành giaothông vận tải
- Thúc đẩy các hoạt động kinh tế, vănhóa ở vùng núi xa xôi, củng cố tínhthống nhất của nền kinh tế
- Tăng cường sức mạnh quốc phòng
- Tạo mối giao lưu giữa các nước trênthế giới
Trang 11vận tải đã tăng từ 15 – 20 lần.
Đối với phân bố dân cư: Dân cư
không cần tập trung gần nơi họ làm
việc mà có thể sống cách đó hàng chục
km mà vẫn đi về hàng ngày Ví dụ như
đường sắt, nhờ các tàu siêu tốc có tốc
độ lên tới 300km/h thậm chí là 500km/
h (gấp 6 - 10 lần tốc độ tàu trước đây)
-Bước 3: GTVT ảnh hưởng như thế nào
tới xu hướng toàn cầu hóa hiện nay ?
Nhờ tiến bộ của ngành GTVT mà xóa
bỏ dần khoảng cách về mặt địa lí, vì vậy
thế giới ngày càng xích lại gần nhau hơn
- Bước 4: Tại sao nói để phát triển kinh
tế - xã hội ở miền núi GTVT cần đi
trước 1 bước ?
Thúc đẩy giao lưu giữa các địa
phương ở miền núi, giữa đồng bằng và
miền núi, từ đó phá thế cô lập về kinh
tế ở miền núi do trở ngại của địa hình
Khai thác các thế mạnh ở miền núi,
hình thành cơ cấu kinh tế đa dạng
Thu hút dân cư từ nơi khác đến, thu
hút thêm vốn đầu tư
Củng cố an ninh quốc phòng
Chuyển ý: Như vậy GTVT có vai trò
không thể thiếu trong mọi hoạt động
sản xuất và đời sống Vậy ngành này
có đặc điểm gì nổi bật?
- Bước 5: Giáo viên đưa ra 2 ví dụ về
việc vận chuyển hàng hóa và hành
khách sau đó yêu cầu HS:
+ Xác định: khối lượng vận chuyển,
quãng đường di chuyển (cự li) và khối
lượng luân chuyển ?
+ Vậy ngành GTVT có đặc điểm gì nổi
bật? (Sản phẩm, tiêu chí đánh giá số
2 Đặc điểm
- Sản phẩm của ngành là sự chuyênchở người và hàng hóa
- Tiêu chí để đánh giá khối lượng dịch
vụ của ngành:
+ Khối lượng vận chuyển+ Cự li vận chuyển + Khối lượng luân chuyển
- Tiêu chí đánh giá chất lượng củangành:
+ Tốc độ vận chuyển+ Sự tiện nghi