Điều này thể hiện rõ qua Khoản 2 công văn 141/TANDTC: “các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
MÔN HỌC: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN, THỪA KẾ
BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA (TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN) GIẢNG VIÊN: LÊ THANH HÀ
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Trang 2Bài tập 1: Khái niệm tài sản.
Tóm tắt bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long
Hồ tỉnh Vĩnh Long
Nguyên đơn: ông Võ Văn B, sinh năm 1954 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1954
Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1979
Quan hệ tranh chấp: đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Năm 2012 ông B dọn nhà và phát hiện mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có làm đơn cớ mất Việc ông B bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là có thật nên Ủy ban nhân dân huyện Long Hồ đã ban hành quyết định số 3643/QĐ/UBND hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông B bị mất và đã cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông B mang số hiệu BM904331 Sau đó bà T tranh chấp và đưa
ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AM090902 nên Ủy ban nhân dân huyện Long Hồ ra quyết định số 681/ QĐ.UBND hủy bỏ quyết định số 3643/QĐ UBND và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 904331
Quyết định của tòa: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H Buộc bà Nguyễn Thị Thủy T giao trả cho ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H giấy chứng nhân quyền sử dụng đất số AM 090902, số vào sổ H55802, số thửa
1595 diện tích 489,1m2 , đất tọa ấp Thanh Hưng, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do Ủy ban nhân dân huyện Long Hồ cấp ngày 29/02/2018 cho
hộ ông Võ Văn B
Câu 1: Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh
họa về giấy tờ có giá
Cũng như tiền, pháp luật Việt Nam xem giấy tờ có giá là dạng đặc biệt của tài sản Giấy tờ có giá là giấy tờ chứng nhận một quyền tài sản, có giá trị trao đổi, thực hiện việc thanh toán trực tiếp hoặc có thể xuất trình để thực hiện quyền tài sản ghi nhận trên đó Giấy tờ có giá có thể được phát hành bởi Nhà nước, ngân hàng, tổ chức có chức năng kinh doanh tiền tệ ,…1
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy
tờ có giá và quyền tài sản.” Và Khoản 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.”
1 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 54.
Trang 3 Ví dụ: hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, cổ phiếu, trái phiếu,…
Câu 2: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng
nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không?
Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận
sở hữu nhà” không là giấy tờ có giá Điều này thể hiện rõ qua Khoản 2 công văn 141/TANDTC: “các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô
tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ô tô…) không phải là “giấy tờ có giá” quy định tại Điều 163 của Bộ luật dân sự năm 2005;”
Trong Quyết định số 06: “Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá.”
Trong Bản án số 39: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.”
Câu 3: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng
nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao?
Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận
sở hữu nhà” không là tài sản
Trong Quyết định số 06: “Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá.”
Trong Bản án số 39: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự.”
Vì nó chỉ là văn bản chứng quyền của các cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm bảo vệ quyền về tài sản của chủ thể Trường hợp nếu chủ thể bị mất giấy
Trang 4chứng nhận thì có thể yêu cầu cấp lại do không làm ảnh hưởng gì đến quyền của chủ sở hữu.2
Câu 4: Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan
đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài)
Theo tôi, hướng giải quyết như vậy chưa hợp lý Vì:
Nhìn từ khái niệm tài sản thì “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận
sở hữu nhà” có hình dáng cụ thể (tờ giấy), nằm trong khả năng chiếm hữu của con người, có giá trị sử dụng (dùng để chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất) Tuy không phải là tài sản cũng như là giấy tờ có giá nhưng nó lại là loại giấy tờ có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự công nhận của nhà nước đối với người sử dụng đất, sở hữu nhà hợp pháp gắn liền với quyền sử dụng đất, quyền tài sản
Câu 5: Nếu áp dụng BLDS 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng
nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?
Nếu áp dụng BLDS 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không là tài sản vì nó chỉ là tờ công chứng của các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền lợi về tài sản của chủ thể Nếu bị mất giấy thì có thể yêu cầu cấp lại, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể
Câu 6: Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến
“giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”
Theo tôi hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý Vì:
Thật ra Bộ luật tố tụng dân sự không quy định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp này nhưng Tòa án vẫn giải quyết Và Tòa án giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn
và bị đơn xoay quanh việc trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thôi mà không liên quan đến tài sản hoặc giấy tờ có giá nào Phía bị đơn bị buộc trả lại vì việc chiếm giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái pháp luật
Câu 7: Bitcoin là gì?
Bitcoin là một dạng tiền kỹ thuật số, được tạo ra và nắm giữ dưới dạng điện tử Không giống như các loại tiền tệ vật chất truyền thống, như đô la hoặc euro, Bitcoin không được in ra Thay vào đó, Bitcoin được sản xuất bởi những người
2 Trương Khoa, “Thảo luận dân sự 1 lần 3”, https://123doc.net/document/5077384-thao-luan-dan-su-1-lan-3.htm , ngày 30/03/2021.
Trang 5sử dụng máy tính trên khắp thế giới, sử dụng phần mềm để giải quyết các vấn đề toán học.3
Bitcoin được phát hành năm 2009 bởi một nhân vật bí ẩn có biệt danh Satoshi Nakamoto Đồng tiền ảo này có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào Với những đặc tính quan trọng như ẩn danh, giao dịch không cần lệ phí, càng ngày,
nó càng được nhiều người tin tưởng và chấp nhận.4
Câu 8: Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?
Theo Tòa án, Bitcoin không là tài sản theo pháp luật Việt Nam Theo Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 và theo điều 16, 17 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 quy định về đơn vị tiền, bitcoin không được xem là đơn vị tiền của nhà nước Việt Nam
Câu 9: Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống
pháp luật mà anh/ chị biết
Tại Hoa Kỳ, Bitcoin được coi là hợp pháp Năm 2013, Bộ Tài chính Hoa Kỳ phân loại Bitcoin như là một loại tiền ảo phi tập trung có thể chuyển đổi Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai, CFTC, đã phân loại bitcoin là một loại hàng hóa vào tháng 9 năm 2015 Theo IRS, Bitcoin bị đánh thuế như một tài sản
Bitcoin là hợp pháp ở Mexico kể từ năm 2017 Luật FinTech quy định bitcoin là tài sản ảo.5
Câu 10: Suy nghĩ của anh/ chị về quan điểm Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan
hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam
Tôi đồng ý với quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin vì đồng tiền ảo này có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào nên việc Tòa án kiểm soát, quản lý, ảnh hướng đến hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, tạo điều kiện để chuyển tiền bất hợp pháp, thanh toán, tài trợ cho các giao dịch bất hợp pháp
Câu 11: Quyền tài sản là gì?
3 “Tìm hiểu về Bitcoin và tiền điện tử (tiền ảo)”, https://www.xtb.com/vn/learn-to-trade/tim-hieu-ve-bitcoin-va-tien-dien-tu-tien-ao , ngày 30/03/2021
4 Ngọc Xuân, “Đồng tiền ảo Bitcoin là gì? Được sử dụng ở đâu và làm cách nào để có”,
5 “Tình trạng pháp lý của bitcoin theo quốc gia hoặc vùng lãnh thổ”, https://vi.wikipedia.org/wiki/T
%C3%ACnh_tr%E1%BA%A1ng_ph%C3%A1p_l%C3%BD_c%E1%BB%A7a_bitcoin_theo_qu%E1%BB
Trang 6Tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”
Quyền tài sản là một dạng tài sản đặc thù, không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, là một loại quyền dân sự có nội dung kinh tế, có thể trị giá được bằng tiền, do chủ thể có quyền tự mình thưc hiện hoặc yêu cầu người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của người có quyền.6
Câu 12: Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là
quyền tài sản không?
Theo BLDS 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Do dó bất cứ quyền nào mang lại giá trị kinh tế cho con người (quyền thuê, quyền mua tài sản…) đều được coi là quyền tài sản
Câu 13: Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo
hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản?
Theo quy định tại Điều 188 và Điều 634 Bộ luật dân sự năm 1995, quyền thuê, mua hóa giá nhà của cụ T là quyền tài ản (trị giá bằng tiền) và được chuyển giao cho các thừa kế của cụ T
Câu 14: Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao
trong quyết định số 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với khái niệm tài sản)?
Theo Điều 115 BLDS 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.” Nên quyền thuê, quyền mua là quyền tài sản vì là quyền trị giá bằng tiền
→ Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Quyết định số 05 về quyền mua, quyền thuê là hợp lý
Bài tập 2: Căn cứ xác lập quyền sở hữu.
6 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.40
Trang 7Câu 1: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Toà án khẳng định gia đình chị Vân
đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Toà án?
“Gia đình chị Nhữ Thị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế hệ, tuy chị Vân
có lời khai thừa nhận gia đình chị thuê nhà của cụ Hảo và nộp tiền thuê nhà cho ông Chính (con cụ Hảo), nhưng cụ Hảo vào miền Nam sinh sống từ năm 1954, ông Chính cũng không xuất trình được tài liệu cụ Hảo ủy quyền cho ông Chính quản lý căn nhà.” “nguyên đơn khai có đòi nhà đối với gia đình chị Vân từ sau năm 1975 nhưng không có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường Hàng Bồ năm 2001); đến năm 2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảo không còn là chủ sở hữu nhà đất nêu trên Gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai…”
Căn cứ Khoản 1 Điều 179 BLDS năm 2015 vì gia đình chị Vân đã ở nhà số 2 Hàng Bút nhiều thế hệ cộng với khoản thời gian bắt đầu ở từ năm 1954 đến khi
cụ Hảo kiện ra toà năm 2004 là tầm 50 năm, chị Vân bán tầng 1 nhà số 2 hàng Bút cho vợ chồng anh Sơn chị Lan => chị Vân nắm giữ và chi phối trực tiếp đối với tài sản nhà đất đang tranh chấp => Khẳng định của Toà án hoàn toàn hợp lý
Câu 2: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Toà án khẳng định gia đình chị Vân
đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Toà án?
“nguyên đơn khai có đòi nhà đối với gia đình chị Vân từ sau năm 1975 nhưng không có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường Hàng Bồ năm 2001); đến năm 2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảo không còn
là chủ sở hữu nhà đất nêu trên Gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai…”
Khẳng định của Tòa án không hợp lý vì theo Điều 180 BLDS 2015 muốn chiếm hữu ngay tình thì người chiếm hữu phải có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu tuy nhiên trong bản án có đoạn “Nhà số 2 Hàng Bút, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có bằng khoán điền thổ số 25, tập 2, tờ số 55, đăng ký trước bạ Hà Nội ngày 4/11/1946, là tài sản riêng của cụ Dư Thị Hảo” nên chưa phải là chiếm hữu ngay tình Và theo Điều 181 BLDS 2015: “Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.” Trong trường hợp này, việc chị
Trang 8Vân nhận thức rằng căn nhà số 2 Hàng Bút là do ông nội chị thuê từ ông Chính,
có trả tiền thuê nhà nên chị hoàn toàn có thể biết và phải biết rằng mình không
có quyền đối với tài sản đó
Câu 3: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Toà án khẳng định gia đình chị Vân
đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Toà án?
“nguyên đơn khai có đòi nhà đối với gia đình chị Vân từ sau năm 1975 nhưng không có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường Hàng Bồ năm 2001); đến năm 2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảo không còn
là chủ sở hữu nhà đất nêu trên Gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai…”
Khẳng định của Tòa án hợp lý vì theo Điều 182 BLDS 2015 thì việc chị Vân ở nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế hệ và việc tranh chấp xảy ra khi gia đình chị ở trên 30 năm nên chị Vân hoàn toàn chiếm hữu liên tục đối với nhà đất có tranh chấp
Câu 4: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Toà án khẳng định gia đình chị Vân
đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Toà án?
“Năm 1997, bố chị chết thì chị tiếp tục ở tại nhà số 2 Hàng Bút (tầng 1), chị không trả tiền thuê nhà cho ai, quá trình ở thì bố chị nâng cao nền nhà,…”
“nguyên đơn khai có đòi nhà đối với gia đình chị Vân từ sau năm 1975 nhưng không có tài liệu chứng minh (chỉ có biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường Hàng Bồ năm 2001); đến năm 2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảo không còn
là chủ sở hữu nhà đất nêu trên Gia đình chị Vân đã ở tại căn nhà này trên 30 năm là chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai…”
Khẳng định của Tòa án hợp lý vì theo Điều 183 BLDS 2015: “Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.” Ở đây chị Vân đã sử dụng ngôi nhà làm nơi sinh sống và sinh hoạt đồng thời còn sửa chữa, giữ gìn
Trang 9Câu 5: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Toà án khẳng định cụ Hảo không
còn là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Toà án?
“đến năm 2004 cụ Hảo mới có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị Vân trả nhà
là không có căn cứ vì thực tế cụ Hảo không còn là chủ sở hữu nhà đất nêu trên.”
Khẳng định của Tòa án không hợp lý vì trong bản án có đoạn “Nhà số 2 Hàng Bút, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có bằng khoán điền thổ số 25, tập 2, tờ số 55, đăng ký trước bạ Hà Nội ngày 4/11/1946, là tài sản riêng của cụ Dư Thị Hảo” nghĩa là cụ Hảo đã xác lập quyền sở hữu từ năm 1946 Dù cụ có vào Nam thì vẫn chưa từ bỏ quyền sở hữu đối với căn nhà đó
Câu 6: Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối với nhà
đất có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vì sao? Theo tôi, gia đình chị Vân không được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền Vì theo Điều 236 BLDS 2015: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu” thì gia đình chị Vân đã chiếm hữu không ngay tình như câu 2 bài tập này đã giải thích
Bài tập 3: Chuyển rủi ro đối với tài sản
Câu 1: Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời
Theo Điều 162 BLDS 2015:
“1 Chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
2 Chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với chủ sở hữu tài sản hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Câu 2: Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp lý khi trả
lời
Tại thời điểm cháy chợ bà Dung là chủ sở hữu số xoài Vì bà Dung đã nhận hàng trước khi chợ cháy làm ghe xoài hư
Trang 10Câu 3: Bà Dung có phải thanh toán tiền mua ghe xoài trên không? Vì sao? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời
Theo Khoản 1 Điều 441 BLDS 2015: “Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” tức việc xác định người chịu rủi ro về tài sản căn cứ vào thời điểm trước hay sau khi người mua giao cho người bán Cụ thể trong tình huống này thì thời điểm vụ cháy (rủi ro) xảy ra là sau khi bà Dung (người mua) đã nhận ghe xoài từ bà Thủy (người mua) nên người phải chịu rủi ro đối với ghe xoài ở đây là bà Dung Do vậy bà Dung phải thanh toán tiền mua ghe xoài cho bà Thủy khớp với phần nhận xét ở Tạp chí Khoa học pháp lý số /2015 rằng “Tuy nhiên, sau khi viện dẫn điều luật vừa nêu, Tòa
án đã xét rằng “phía bên mua là bà Dung đã nhận hàng (đây là 1 trong 4 ghe mà bà Thanh, bà Dung mua lại của bà Thủy) nên bên mua phải chịu sự rủi ro này,…”7
7 Đỗ Văn Đại và Nguyễn Nhật Thanh, “Rủi ro đối với tài sản trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 6/2015