Lý do chọn đề tài Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, cùng với việc đẩy mạnh “công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Hoàng Đình Cúc
HÀ NỘI – 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG
Chương 1: Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử 12
1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc đương thời 12
1.2 Tiền đề lý luận 22
1.3 Tư tưởng của Hàn Phi Tử về đường lối Pháp trị 30
1.4 Đánh giá về đường lối pháp trị 48
Chương 2: Ảnh hưởng của tư tưởng Pháp trị Hàn Phi Tử với sự phát triển tư tưởng về Nhà nước Pháp quyền Việt Nam 54
2.1 Quan niệm về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại 54
2.2 Ảnh hưởng của đường lối pháp trị Hàn Phi Tử đối với quá trình phát triển tư tưởng về Nhà nước pháp quyền Việt Nam 68
2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam .86
Cương 3: Những giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực trong tư tưởng Pháp trị Hàn Phi Tử đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay 104
3.1 Thực tiễn và một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam 104
3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị lịch sử của đường lối pháp trị với việc xây dựng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền Việt Nam 113
KẾT LUẬN 123
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo, cùng với việc đẩy mạnh “công nghiệp hóa, hiện đại
hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất –
kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh
nhân dân ta còn có một nhiệm vụ hết sức quan trọng là phải xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, làm nền tảng cho sự ổn định và phát triển đất
nước, bởi vì pháp luật và “nhà nước ta là cột trụ của hệ thống chính trị, là
Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã
xác định: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng
tiếp tục tiến hành cải cách bộ máy nhà nước và “xây dựng Nhà nước xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ
Về vai trò, tác dụng của Pháp luật trong việc thiết lập và ổn định chính trị xã hội, ngay từ thời cổ đại, các triết gia phương Đông đã nhận thức vấn đề này khá tinh tế và đưa ra những tư tưởng sâu sắc Đặc biệt ở Trung Quốc, thời Xuân thu – Chiến quốc, thời kỳ mà lịch sử xã hội Trung
Trang 4Quốc có sự chuyển biến sâu sắc từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến sơ kỳ, từ chế độ phong kiến phân quyền sang chế độ phong kiến trung ương tập quyền, những thể chế pháp luật và chuẩn mực đạo đức của xã hội mới đang manh nha Chính trong điều kiện lịch sử đặc biệt đó
đã đặt ra những vấn đề về tư tưởng, đạo đức luân lý, chính trị, pháp luật… làm xuất hiện hàng loạt các trường phái triết học, các nhà tư tưởng với lợi
ích và địa vị xã hội khác nhau, nhằm “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” đưa
xã hội Trung Quốc tới sự ổn định và phát triển Tuy nhiên, Nho gia và Đạo gia với những nội dung của mình, cho dù đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống nhân dân Trung Quốc, đã không đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử do đời sống xã hội đương thời đặt ra Chỉ với sự xuất hiện của trường phái Pháp gia với đại diện tiêu biểu là Hàn Phi Tử đã giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc sau một thời gian dài chiến tranh, phân quyền cát cứ, xây dựng nên chế độ phong kiến trung ương tập quyền
ở Trung Quốc cổ đại
Vì sao những tư tưởng của Hàn Phi Tử đã đáp ứng được phần lớn yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử do xã hội đương thời đặt ra? Bài học lịch sử tư tưởng pháp trị của Pháp gia đối với xã hội đương thời cũng như đối với thực tiễn xã hội ngày nay là gì? Đó là những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức thiết thực
Với lý do trên, việc nhiên cứu, tiếp thu có phê phán những tinh hoa tư tưởng pháp luật và Nhà nước trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đặc biệt là tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử, từ đó rút ra bài học lịch sử góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là một trong những việc làm có ý nghĩa hết sức cần thiết Do đó, tôi
đã chọn đề tài: “Tư tưởng Pháp trị Hàn Phi Tử với việc phát triển tư
nghiệp, chuyên ngành Triết học Mác – Lênin của mình
Trang 52 Tình hình nghiên cứu
Xung quanh nội dung về sự nghiệp, cuộc đời và tư tưởng của Hàn Phi Tử đã có những nhiều nghiên cứu dưới hình thức và mức độ khác nhau
ở trong và ngoài nước
Ở nước ta, giáo sư Phan Ngọc đã dịch và chú giải các tác phẩm Hàn
Tác giả Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi có Hàn Phi Tử (Nxb Văn hóa thông tin
Hà Nội, 1994), trong đó phần đầu là nghiên cứu, phần cuối là trích dịch Nhóm tác giả Hàn Thế Chân, Trần Kiết Hùng có cuốn “Hàn Phi Tử sự phát triển của tư tưởng Pháp gia” (Nxb Đồng Nai, 1995), trong đó vừa giới thiệu, vừa trích dịch tác phẩm của Hàn Phi
Cuốn “Đại cương triết học Trung Quốc” do Doãn Chính chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997) và cuốn “Đại cương triết học sử
Hữu Lan biên soạn Khi đề cập tới góc độ triết học, các tác giả này đều có những kết luận giống nhau, đều khẳng định tư tưởng triết học của Hàn Phi là duy vật Cái gốc của tư tưởng đó xuất phát từ đạo Lão, mặc dù như vậy nhưng ông đã gạt bỏ những tư tưởng huyền bí của Lão Tử để thể hiện quan điểm duy vật của mình khi lý giải về thế giới Đối với vấn đề nhận thức, họ cũng đều có kết luận chung rằng tư tưởng của Hàn Phi là duy vật Theo các
tác giả, tư tưởng “Tham nghiệm” của Hàn Phi có giá trị rất lớn Ngay từ thời
cổ đại, ông đã nhận thấy được vai trò của thực tế, xem đó là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức Ông phê phán những tư tưởng phục cổ, phê phán phép trị nước của Nho, Mặc và Lão Trong lý luận nhận thức của ông không có chỗ đứng của thần
Khi nghiên cứu về các tác phẩm gốc thì GS Phan Ngọc và nhóm tác giả Hàn Thế Chân, Trần Kiết Hùng tiếp cận ở góc độ văn học, mặc dù vậy các tác giả cũng đã khai thác các vấn đề như chính trị, pháp luật, triết học…
Trang 6Nhưng ở góc độ triết học thì chưa được nghiên cứu sâu GS Phan Ngọc nói tới tư tưởng pháp trị của Hàn Phi hồm 3 bộ phận là Pháp, Thuật, Thế; tuy nhiên chưa giải thích vì sao Pháp phải đi liền với Thuật và Thế Còn về tư tưởng triết học của Hàn Phi thì GS Phan Ngọc cho rằng đó là một sự tổng hợp của ba học thuyết Nho, Lão, Pháp; trong đó, Nho là tài liệu xây dựng, Pháp là bản thiết kế, nhưng Lão mới là kỹ thuật thi công của ngôi nhà độc đáo… song ông vẫn chưa nêu được thực chất tư tưởng triết học của Hàn Phi
Dưới góc độ chính trị và pháp luật, Lã Trấn Vũ với cuốn “Lịch sử tư
tưởng chính trị của Hàn Phi Ông nhấn mạnh chủ trương cai trị xã hội bằng pháp luật của Hàn Phi, thấy được tính tất yếu của pháp trị Đối với Thuật, tác giả bỏ ngỏ thuật trừ gian, thuật thưởng phạt, thuật vô vi Vấn đề thế, khác với các tác giả khác nghiên cứu ở góc độ triết học, Lã Trấn Vũ đi sâu vào khai thác tư tưởng Thế của Hàn Phi, xem thế là các quyền lực được đặt ra phù hợp với yêu cầu của pháp luật, quyền lực này không phát sinh một cách
tự nhiên, ông đã lý giải theo hướng chính trị Một tác phẩm khác là cuốn
“Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới” do tập thể các học giả Liên
Xô biên soạn (Người dịch Lưu Kiếm Thanh và Phạm Hồng Thái, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1993) Nhóm tác giả này chỉ chú trọng tới vấn đề pháp luật phải thay đổi để phù hợp với lịch sử, pháp luật không phụ thuộc vào ý chí con người và thượng đế Họ cho học thuyết của Hàn Phi mang nhiều giá trị thực tế
Việc đẩy mạnh nghiên cứu những vấn đề lý luận về Nhà nước pháp quyền và tổng kết kinh nghiệm xây dựng nó trong lịch sử nhân loại, cũng như việc phân tích cụ thể các điều kiện thuận lợi và khó khăn của đất nước khi xây dựng Nhà nước pháp quyền trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa là nhu cầu vô cùng bức thiết Xác định rõ nhu cầu ấy, Đảng ta đã định hướng nghiên cứu cho các khoa học xã hội là phải tập trung vào vấn đề vừa mang tính khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn chính trị này Cụ thể là, Quyết định
Trang 7của Thủ tướng Chính phủ số 716/TTG, ngày 30 tháng 9 năm 1996, phê duyệt phương hướng nghiên cứu và danh mục các chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về Khoa học xã hội – Nhân văn giai đoạn 5 năm
1996 – 2000, đã khẳng định rằng: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền cuả dân,
nghiên cứu trọng điểm
Nhận thức sâu sắc về vai trò cua Nhà nước pháp quyền như một công
cụ hữu hiệu trong việc quản lý xã hội bằng pháp luật Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật, ngày 12 tháng 11 năm 1996, trong
đó chỉ rõ mục đích của luật này là nhằm: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác xây dựng pháp luật, kịp thời thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước
tương thích giữa luật quốc gia và luật quốc tế (Điều 26, mục 7) [80]
Năm 1992, công tác xây dựng pháp luật đã hướng trọng tâm vào việc thông qua Hiến pháp và các Luật tổ chức bộ máy Nhà nước Kết quả này đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc đổi mới hệ thống chính trị nước nhà, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Chương trình cấp Nhà nước KX – 05 về hệ thống chính trị nước ta, bước đầu đã đưa các giải pháp nhằm tháo gỡ những vấn đề liên quan mối quan hệ giữa Đảng – Nhà nước – Các tổ chức xã hội Tạo tiền đề cho việc đưa ý tưởng Nhà nước pháp quyền vào hiện thực Việc làm rõ hơn đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta, cơ chế thực hiện quyền lực chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, các hình thức làm chủ về chính trị của nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội … đã góp phần đáng kể cho định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam
Trang 8Tổng quan các tài liệu trong và ngoài nước cho thấy việc xem xét nội dung khái niệm Nhà nước pháp quyền trong sự vận động cùng với những biến đổi lịch sử, để từ đó ý thức được rằng: Nội dung ấy là cái lịch sử chứ không phải như cái nhất thành bất biến – rất đa dạng và phức tạp Trong thời
kỳ toàn cầu hóa hiện nay vấn đề Nhà nước pháp quyền Việt Nam vẫn là nội dung cần được bổ sung để hoàn thiện Trong khi đó, đối với giới nghiên cứu ngoài nước, đây là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu, thu hút nhiều bộ óc lớn của thời đại Song đây đó kết quả ở từng quốc gia cũng ở những mức độ rất khác nhau Đối với bản thân các nước đang nếm trải những biến động về cấu trúc Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, trước áp lực của toàn cầu hóa – mà điển hình là các nước EU thì câu trả lời vẫn chưa thỏa mãn được thực tiễn tại châu Âu Việc thử nghiệm mô hình cai trị liên quốc gia vẫn còn trong tình trạng còn dò dẫm, vừa làm vừa điều chỉnh Đơn giản là vì một Nhà nước pháp quyền vượt ra khuôn khổ quốc gia – dân tộc là một điều chưa có tiền lệ trong lịch sử
Thêm nữa, việc nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây chỉ hầu như chú trọng vào các dấu hiệu của Nhà nước pháp quyền mà chưa thật quan tâm đến việc lý giải đâu là căn nguyên, cội nguồn quy định những dấu hiệu đó Một khi xã hội công dân – cái nền tảng từ trên đó mọc lên Nhà nước pháp quyền hiện vẫn còn là một vấn đề cần được nghiên cứu thêm khi đạt trong một Nhà nước xã hội chủ nghĩa thì những điểm hạn chế vẫn tồn tại là điều dễ hiểu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích của đề tài:
Làm sáng tỏ những tư tưởng của Hàn Phi Tử để từ đó tìm ra những giá trị tích cực đem lại sự trường tồn cho trường phái Pháp gia, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện tư tưởng về Nhà nước pháp quyền ở nước ta
Trang 9* Nhiệm vụ của đề tài:
Để đạt được những mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ các phạm trù cốt lõi của trường phái Pháp gia, đó là “Pháp”,
“Thuật”, “Thế”, quan điểm của Đảng ta về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền
- Chỉ ra những yếu tố tích cực cũng như hạn chế trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại nước ta
- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giảm thiểu những tồn tại, những khuyết thiếu, đồng thời hoàn thiện lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
+ Tư tưởng của trường phái Pháp gia về pháp trị với đại biểu là Hàn Phi
Tử
+ Lý luận, quan điểm về chuyên chính vô sản, xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng với nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát tư tưởng trị nước bằng pháp luật của trường phái Pháp gia thông qua quan điểm của Thương Ưởng, Thận Đáo, Thân Bất Hại và đỉnh cao là tư tưởng của Hàn Phi Bên cạnh đó, luận văn còn tìm hiểu sự ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam và quan điểm về nhà nước pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thống nhất đất nước cho đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về chuyên chính vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chủ
Trang 10trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp nghiên cứu chung
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
luận duy vật lịch sử, bên cạnh đó sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
như: phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp khái quát hóa - trừu
tượng hóa; phương pháp diễn dịch - quy nạp; phương pháp lịch sử - logic
* Các phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp thu thập và phân loại sơ bộ tài liệu; phương pháp đọc tài liệu và thu thập thông tin; phương pháp lược thuật, tổng thuật tài liệu
6 Đóng góp mới của luận văn
* Đóng góp về mặt khoa học
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ tư tưởng của Hàn Phi Tử cũng như trường phái Pháp gia trong việc sử dụng pháp luật như một phương cách hữu hiệu mang lại ổn định trong xã hội
- Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình xây dựng
lý luận về nhà nước pháp quyền ở nước ta
* Đóng góp về mặt thực tiễn
- Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy trong phần lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại, bộ môn lịch sử Triết học
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn một lần nữa khẳng định chân lý của trường phái Pháp trị với đại diện tiêu biểu là Hàn Phi Tử, ghi nhận đây là tư tưởng có giá trị trong việc quản lý xã hội cũng như mang giá trị triết học lớn
Trang 11Bên cạnh đó, luận văn cũng khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta
đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn Con đường đó được xây dựng bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dựa trên quan điểm về nhà nước vô sản, chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp tinh hoa trong lịch sử văn hóa nhân loại, trong đó có tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhân dân ta đang ngày càng đạt được nhiều thắng lợi, song bên cạnh đó là những hạn chế, làm chậm lại quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Để phát huy những giá trị tích cực cũng như rút kinh nghiệm để tránh những sai lầm, chúng ta cần xây dựng một lý luận hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu ngày một đổi mới của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội Với ý nghĩa đó, đề tài đã góp tiếng nói tham gia vào công tác lý luận của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu nội dung gồm 3 chương và 9 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ
1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc đương thời
Với tính cách là hình thái ý thức xã hội, quá trình phát sinh, phát triển mỗi trường phái triết học đều gắn liền với những đặc điểm, điều kiện
lịch sử xã hội nhất định đã nảy sinh nó Đúng như C Mác đã nói: “Các
triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, mà họ là sản phẩm của thời đại của mình, của dân tộc mình, là dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô
tưởng pháp trị của Pháp gia cũng vậy, nó hình thành mà không phải có tính chất ngẫu nhiên, hay xuất phát từ ý muốn chủ quan của nhà tư tưởng nào
đó, mà nó chính là sự phản ánh một cách sâu sắc những điều kiện lịch sử
xã hội Trung Hoa thời Xuân thu – Chiến quốc Vì vậy, muốn xem xét, đánh giá một cách đúng đắn nội dung, tính chất của các trào lưu tư tưởng triết học Trung Quốc nói chung và tư tưởng pháp trị của Pháp gia nói riêng, chúng ta không thể không nghiên cứu bối cảnh lịch sử, cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của Trung Quốc cô đại… đã quy định nội dung, tính chất và sự phát triển của nó như thế nào
Những mầm mống của tư tưởng triết học Trung Quốc xuất hiện từ rất sớm, nhưng phải đến thời Xuân thu – Chiến quốc nó mới thực sự trở thành hệ thống tư tưởng, quan điểm Thời Xuân thu - Chiến quốc là thời kỳ chuyển từ chế độ nửa quý tộc thị tộc, nửa chế độ chiếm hữu nô lệ (do đặc thù của phương thức sản xuất châu Á), hay từ chế độ phong kiến phân quyền sang chế độ phong kiến trung ương tập quyền Sau này, nhiều nhà
nghiên cứu đánh giá đây là “lần chuyển biến thứ nhất và mạnh nhất trong
Trang 13nhiều biến đổi toàn diện và sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa trong lịch sử Trung Quốc Và chắc mọi người đều đồng ý với nhận xét của
Phùng Hữu Lan về triết học trong thời kỳ này: “Kể tất cả các thời kỳ trong
lịch sử Trung Quốc thì không có thời kỳ nào có nhiều phái triết học, nhiều vấn đề được thảo luận đến và phạm vi nghiên cứu có hứng thú nồng hậu,
Thời Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Công cụ bằng sắt ngay càng thay thế cho công cụ lao động và binh khí bằng đồng Việc khái thác, chế tạo và sử dụng tốt công cụ lao động bằng sắt đã đem lại những thành công lớn trong sản xuất nông nghiệp Việc dùng bò kéo cũng trở thành phổ biến, những phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Nhờ đó đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các công trình thủy lợi ở khắp khu vực sông Trường Giang, diện tích đất canh tác được mở rộng, kỹ thuật canh tác được cải tiến làm tăng năng suất trong nông nghiệp Từ đó người ta thấy rằng không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất xấu hay đất tốt như trước nữa Giờ đây, công xã giao hẳn đất công cho từng hộ gia đình nông nô cày cấy trong thời gian lâu dài Vì vậy, nông dân
có thể dùng biện pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển mà thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tư Chế
độ “tỉnh điển” dần tan rã Sau đó, chế độ tư hữu về ruộng đất còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Trước kia theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã đều chia cho nông dân, nông dân phải nộp 1/10 sản lượng nông sản thu hoạch được cho thôn xã để nộp lên triều đình, nhưng điều này không còn tác dụng khi
Trang 14chế độ tư hữu phát triển, số lượng ruộng đất chiếm hữu không bằng nhau, cho nên nhà nước bỏ hình thức thu thuế cũ, thi hành chế độ thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng, tùy theo sản lượng ruộng đất nông dân sở hữu mà đánh thuế
Nước đầu tiên thi hành chế độ thuế mới là nước Lỗ (năm 594 trước Công nguyên) Cùng với chế độ thuế mới, các nước cũng thi hành chế độ quân sự mới Ở nước Lỗ, chế độ quân sự này gọi là “khâu giáp”, nước Trịnh gọi là “khâu phú”
Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở thành phổ biến cùng với việc
mở rộng trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công lao động trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đạt tới trình độ chuyên môn hóa cao hơn, thúc đẩy các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề đúc đồng, nghề mộc, nghề làm đồ gốm…
Cuối thời Xuân thu, nước Ngô đóng lò luyện sắt lớn đến 10 người thụt bễ, đổ than Nước Tấn trưng thu đồng để đúc đỉnh hình Trong sách
Thợ thuyền tuy nhiều nhưng trình độ còn thấp và họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội
Trên cơ sở phát triển tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước Tiền tệ đã xuất hiện Trong xã hội đã hình thành tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực như Huyền cao (nước Trịnh),
Tử Cống (vốn là học trò của Khổng Tử)… Thương nhân nhiều người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, do vậy mà có nhiều ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội và chính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang ở trong tình trạng rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn chư hầu, các nước đi lại rất khó khăn, nên
Trang 15việc kinh doanh đòi hỏi phải là những người có đầu óc tháo vát và lòng can đảm, đảm đương Hơn thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất, theo quan điểm “nông bản thương mạt”, nên nó cũng chưa thực sự phát triển Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới
Từ những thay đổi, biến động trên cho thấy rõ chế độ, thể chế chính trị của nhà Chu không còn đủ sức mạnh để thống trị và trấn áp các nước
chư hầu Chế độ tông pháp của nhà Chu trước kia có tác dụng tích cực,
làm cho trật tự lễ nghĩa và thể chế xã hội nhà Chu trước kia có tác dụng tích cực; làm cho trật tự lễ nghĩa và thể chế xã hội nhà Chu ổn định và hưng thịnh trong một thời gian dài Nhưng càng về sau, huyết thống ngày càng xa, mối liên hệ về kinh tế, chính trị ngày càng lỏng lẻo Bên cạnh đó,
sự cai trị tàn ác và sự bóc lột nhân dân vô cùng tàn khốc của giới quý tộc nhà Chu đã làm cho các cuộc nổi dậy của nông dân ngày càng nhiều, với tính chất ngày càng gay gắt hơn, các nước chư hầu không nghe theo lời Thiên tử Thiên tử nhà Chu không còn xét xử được các vụ tranh chấp giữa các nước chư hầu Các nước chư hầu luôn luôn động binh thanh toán lẫn nhau để giành quyền bá chủ thiên hạ, thậm chí họ còn đem cả binh lính vào tận kinh thành để uy hiếp nhà Chu
Thời Xuân thu chỉ có khoảng 242 năm nhưng đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ giữa các nước chư hầu Đầu thời kỳ Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân thu chỉ còn hơn một trăm nước Sau bao cuộc chinh chiến và thôn tính lẫn nhau thì còn lại bảy nước mạnh nhất là
Tề, Tần, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tấn Những quốc gia lớn này sẽ dành tất cả tài lực và vật lực cho chiến tranh, bóc lột nhân dân vốn đã cơ cực bần hàn ngày càng bần hàn cơ cực hơn Từ đó nhân dân mất hẳn niềm tin vào Thiên
tử nhà Chu Trật tự lễ, nghĩa và uy quyền của nhà Chu không còn được thi
Trang 16hành Nhà Chu chỉ còn tồn tại như một hư danh, các vua chư hầu mượn danh Thiên tử để trấn áp lẫn nhau
Việc các lãnh chúa thôn tính lẫn nhau cũng như các nước lớn bóc lột tàn khốc các nước nhỏ không chỉ dẫn đến sự diệt vong của các nước nhỏ,
mà còn làm cho trật tự lễ nghĩa nhà Chu bị băng hoại, mâu thuẫn giữa các giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tăng Những người thuộc tầng lớp nông nô, con buôn… nhờ buôn bán và mưu mẹo mà trở nên giàu có, có thế lực chính trị, đã góp phần làm cho nền chính trị quý tộc bị lung lay Tình trạng lễ nghĩa, cương thường bị đảo lộn, trên dưới lẫn lộn, không phân định, đạo đức suy đồi Chế độ triều cống cũng bị các chư hầu tự ý gạt bỏ, thậm chí các nước chư hầu bị còn mượn danh Thiên tử bắt các nước nhỏ cống nạp và phụ thuộc
vào mình Theo Tử Sản, mỗi lần nước Trịnh cống nạp cho nước Tần “phải
dùng một trăm xe chở lụa và da thú, mà một trăm xe cũng chở cả ngàn
chồng chia lìa thường xuyên xảy ra Sự rối loạn danh thực và băng hoại trật
tự lễ nghĩa, luân lý đạo đức xã hội thời kỳ này đã khiến Tề Cảnh Công
phải thốt lên rằng: “Nghĩ như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng
ra cha, con chẳng ra con, dẫu ta có lúa đầy kho chắc được ngồi yên mà
giết vua, còn những vụ con giết cha, anh hại em, vợ chồng sát hại nhau thì không biết bao nhiêu mà kể Tình trạng đó theo Khổng Tử không phải xảy
ra một sớm một chiều mà nó đã âm ỉ, mục ruỗng từ lâu Chế độ lễ nghĩa nhà Chu trở thành sáo rỗng Việc tang viếng, lễ nghĩa, chúc mừng trở thành thủ tục ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa của quan hệ gia tộc và trật tự
xã hội như trước nữa Trong thời Xuân thu, ngoài các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các nước, trong từng nước luôn xảy ra những cuộc tranh giành đất đai, địa vị, quyền thế giữa bọn quý tộc với nhau
Trang 17Như vậy, có thể nói, đặc điểm chủ yếu của thời Xuân thu là sự suy vong của các triều đại Tây Chu, thể hiện sự băng hoại của chế độ “tông pháp” và trật tự lễ nghĩa nhà Chu, đánh dấu sự suy tàn của chế độ nô lệ kiểu phương Đông ở Trung Quốc cổ đại, tạo nên sự phân hóa sâu sắc giữa các tầng lớp, giai cấp xã hội, hình thành thế cát cứ phân quyền thời Đông Chu Nguồn gốc sâu xa của sự biến động xã hội đó, thực chất là sự phản ánh tính chất quá độ của thời kỳ chế độ nô lệ kiểu phương Đông sang chế
độ phong kiến tập quyền Một thời kỳ cái cũ đã suy sụp và cái mới đang mạnh nha
Năm 403 trước Công nguyên, ở nước Tấn có 3 dòng họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy đã nổi lên phế bỏ vua Tấn, dựng lên ban nước Hàn, Triệu, Ngụy Khi đó Trung Quốc bước vào thời kỳ Chiến quốc Bây giờ chỉ còn bảy nước lớn là Tề, Sở, Yên, Tần, Hàn, Triệu, Ngụy tạo thành cục diện
“thất hùng”, thường xuyên gây chiến tranh quy mô lớn và tàn khốc thời Xuân thu để giành ngôi bá chủ thiên hạ Trong đó, nước Tần ở phía Tây hàm cốc quan, sáu nước kia ở phía đông ải quan đó, nên thường gọi là Sơn Đông lục quốc
Những mâu thuẫn trong xã hội Trung Quốc thời Xuân thu ngày càng diễn ra gay gắt ở thời kỳ Chiến quốc Thời Chiến quốc đã có bước phát triển về kinh tế Đồ sắt phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện hơn với các loại công cụ lao động như lưỡi cày, lưỡi quốc, liềm, rìu, dao được sử dụng phổ biến Ở các nước lớn như Hàn, Triệu, Tần, Tề… đã có những trung tâm luyện sắt lớn Kỹ thuật canh tác và hệ thống thủy lợi hoàn thiện hơn trước, kéo theo đó lầ sự phát triển nghề thủ công, như nghề làm đồ gốm, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, nghề trạm trổ vàng bạc… Tiền tệ bằng kim loại
ra đời Thương nghiệp và việc buôn bán trao đổi hàng hóa rất hưng thịnh, hình thành những khu trung tâm thương mại sầm uất Đô thành các nước
và một số thành ấp lập nên những trục lộ giao thông trọng yếu đã biến
Trang 18thành những thành đô sầm uất như Hàm Dương nước Tần, Thọ Xuân nước
sở, Lâm Truy nước Tề, Khai Phong nước Ngụy…
Ở thời Chiến quốc, quy mô và mức độ tàn khốc của các cuộc chiến tranh giữa các nước lớn ngày càng cao, “đánh nhau tranh thành, giết người thây chất đầy thành, đánh nhau giành đất, giết người thây phơi đầy đồng” (Mạnh Tử, Ly Lâu thượng) Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên làm cho công xã nông thôn tan rã Chế
độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần trở thành quan hệ sở hữu thống trị Thay thế cho chế độ thu thuế vào sản lượng thu hoạch trước kia thì nay thu thế vào số lượng ruộng đất Việc mua bán ruộng đất tự do và phổ biến của chế độ tư hữu đã mở đường cho sự tập trung ruộng đất và tay một số ít lãnh chúa, địa chủ giàu có Đa số nông dân nghèo mất hết ruộng đất phải đi cày thuê, cày mướn và trở thành tá điền cố nông Chế độ bóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện Trong lòng xã hội xuất hiện những yếu tố của quan
hệ sản xuất mới, đó là chế độ phong kiến quận, huyện Mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên sâu sắc hơn và đẩy xã hội đến nguy cơ nghiêm trọng Điều này chính giai cấp thống trị đã nhận thấy, nên chúng đã tiến hành một
số biện pháp cải cách nhằm ngăn chặn nguy cơ đảo lộn xã hội Đó là phong trào “biến pháp” ở một loạt các nước như Ngụy, Triệu, Hàn, Tề, Tần… suốt thời Chiến quốc Đó chính là cơ sở kinh tế cho một chế độ xã hội mới xuất hiện
Nhờ sử dụng các phương pháp của Thương Ưởng một cách hợp lí trong hoàn cảnh mới, nước Tần dần trở thành nước mạnh nhất Trung Hoa lúc đó Vua nước Tần thống nhất thống nhất được Trung Hoa lúc đó Vua nước Tần thống nhất được Trung Hoa, xác lập chế độ phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên vào năm 221 trước Công nguyên, kết thúc một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử cổ đại Trung Hoa Đó là chế độ nhà Tần Biến cố này là dấu ấn ghi lại sự thay đổi lớn nhất lịch sử chính trị
Trang 19Trung Quốc Nó gắn liền với một tư tưởng lịch sử triết học có ảnh hưởng lớn tới thời bấy giờ là Pháp gia mà đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử
Cùng với sự phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp
do các cuộc cải cách, biến pháp của một loạt nước thời bấy giờ, do sự cải tiến công cụ sản xuất, đặc biệt là do sự phát triển của đồ sắt và sự xuất hiện tiền tệ bằng kim loại cùng với chế độ mua bán ruộng đất phát triển Điều
đó đã tạo ra sự phân hóa xã hội sâu sắc Giai cấp địa chủ hình thành và phát triển với hình thức bóc lột mới, đó là hình thức phát canh thu tô của chủ đất đối với tá điền và cố nông
Về chính trị, điểm đặc biệt nhất trong thời kỳ Chiến quốc là sự xuất hiện chế độ trung ương tập quyền, với việc quy tụ quyền sở hữu ruộng đất
và tập trung luật pháp, binh lực về chính phủ trung ương Tuy nhiên, quá trình chuyển xã hội Trung Hoa từ phân quyền sang tính chất tập quyền diễn
ra hết sức quyết liệt, thể hiện bằng các cuộc chiến tranh giành bá chủ thiên
hạ giữa các nước chư hầu với các cục diện “ngũ bá”, “thất hùng” suốt thời
kỳ Xuân thu và Chiến quốc
Chính trong thời đại lịch sử đầy biến động và sâu sắc đó đã đặt ra hàng loạt những vấn đề triết học, kinh tế, văn hóa, xã hội, luân lý, pháp luật, quân sự, ngoại giao… cho nhiều giới lý giải Đó chính là thời đại giải phóng tư tưởng lần thứ nhất và tri thức được phổ cập ở Trung Quốc cố đại
Vì vậy, thời này đã nảy sinh nhiều thiên tài đặc biệt và nhiều nhà tư tưởng triết học lớn với nhiều môn phái, có ảnh hưởng ở Trung Quốc và nhiều nước phương Đông mãi cho đến ngày nây, và nó có một ý nghĩa nhất định đối với thế giới Cuốn Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc do Ngô Vinh Chính chủ biến đã viết:
“Mầm mống của tư tưởng triết học Trung Quốc có thể bắt
nguồn từ thần thoại thời tiền sử Tư tưởng triết học có hệ thống thì
Trang 20lại hình thành vào thời Xuân thu - Chiến quốc – một thời đại tư tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập Cuối Xuân thu, vương triều nhà Chu suy vi, lễ nhạc băng hoại, chế độ nô lệ bắt đầu tan giã, học thuật từ trong tay Nhà nước chuyển dịch xuống dân gian
Có phong trào mở trường tư dậy học, hình thành cục diện trăm nhà đua tiếng,… Trăm nhà thời tiên Tần là cội nguồn tư tưởng triết học
cổ đại Trung Quốc, đó là mầm mống ban đầu của các loại thế giới quan và phương pháp luận Hệ thống phạm trù được hình thành từ
tư tưởng triết học tiên Tần đã quy định tiến trình phát triển của tư
Các trường phái triết học lớn xuất hiện thời kỳ này gồm Nho gia, Mặc gia, Âm dương gia, Pháp gia, Danh gia, Đạo gia, Tung hoành gia, Nông gia và Tạp gia Mỗi phái đều cố lý giải và tìm cách giải đáp theo những yêu cầu của thực tiễn lịch sử xã hội Trung Quốc lúc đó đặt ra hòng
“cứu đời cứu người” theo cách của mình vì họ khác nhau về tính cách, về
cơ sở quan điểm triết lý và đặc biệt là khác nhau về lợi ích giai cấp, địa vị
xã hội, về những tư tưởng đã ảnh hưởng đến họ, về giai đoạn mà họ đang sống… Các nhà tư tưởng, các môn phái triết học là đại biểu cho lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức gay gắt, quyết liệt, tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại Nó thực sự trở thành đỉnh điểm của toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần xã hội Trung Hoa cổ đại, như một mốc son chói lọi trong lịch sử tư tưởng phương Đông
Sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học thời Xuân thu - Chiến quốc khiến người ta phải gọi là thời kỳ “Bách gia chư tử” (“Bách
gia” thiên Thiên hạ, sách Nam Hoa kinh, “Chư tử” thiên Giả nghị liệt
có hệ thống lý luận riêng cho việc trị nước, an dân, bình thiên hạ
Trang 21“Phái thì chủ trương nhân trị, phái thì lại bảo nếu người nào
cũng yêu người khác như người thân mình thì không cần ai tranh giành với ai mà xã hội sẽ yên Phái thì lại bảo phải trở về với thời thượng cổ, nhà cầm quyền sẽ không can thiệp vào công việc của
giành; kẻ thì lại bảo phải dùng pháp luật cho nghiêm, thưởng phạt
[20,tr.104]
Dù mỗi trường phái triết học kể trên là đại diện cho tiếng nói của mỗi tầng lớp, các giai cấp khác nhau nhưng tuy nhiên, các học thuyết đều được nhà cầm quyền trọng dụng, dù có thuyết bị chê là vu khoát không theo được Nhưng thực tiễn lịch sử cho thấy trong thế các nước chư hầu tranh giành, thôn tính lẫn nhau, nước nào muốn tồn tại tất phải giương cao ngọn cờ tư tưởng và dùng đến quân sự, ngoại giao, kinh tế và ông vua nào cũng chiêu hiền đãi sĩ, lắng nghe họ, theo được hay không theo được, cũng không quá độc tài cấm đoán như các triều đại tập quyền khác, cho nên thời Chiến quốc trở thành thời đại hoàng kim của triết học; ngôn luận được hoàn toàn tự do bàn cãi, tranh luận không chỉ diễn ra ở các trường phái triết học đối lập với nhau mà còn diễn ra giữa các triết gia trong cùng một trường phái Song trong thời Xuân thu - Chiến quốc, chỉ có một học thuyết được vua chúa áp dụng và đem lại kết quả nhanh chóng thống nhất Trung Quốc, đó là học thuyết Pháp gia Pháp gia chọn phương pháp pháp trị, điều
đó xuất phát từ ý muốn chủ quan của họ, hay xuất phát từ những yêu cầu đòi hỏi của thực tiễ lịch sử khách quan? Căn cứ lý luận và thực tiễn của tư tưởng pháp trị Pháp gia là gì? Đó là một trong những nội dung cần làm sáng tỏ
Trang 221.2 Tiền đề lý luận
Thời Xuân thu – Chiến quốc là thời kỳ xã hội Trung Hoa trải qua những biến động lịch sử lớn lao Thực chất của những biến động ấy là bước chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội nô lệ đang suy tàn sang hình thái kinh tế - xã hội phong kiến trung ương tập quyền ở Trung Quốc, làm trật tự cương thường xã hội đảo lộn, đạo đức luân lý suy đồi
Các trường phái triết học khi xem xét, đánh giá, giải thích hiện tượng biến đổi xã hội trên không thể không tìm cách lý giải khác nhau và đưa ra những biện pháp khác nhau đê cải biến xã hội ấy Nếu Nho gia chủ trương nhân trị hay đức trị lấy “nhân nghĩa làm gốc”; Mặc gia lấy “kiêm ái”,
“thượng đồng”, “thượng hiền”; Đạo gia chủ trương theo đạo tự nhiên “vô
vi nhi trị”…để trị nước thì Pháp gia với những căn cứ, thực tiễn lịch sử xã hội, và những tiền đề lý luận của mình đã chủ trương dùng pháp luật của Nhà nước làm công cụ quan trọng cho sự phát triển của đời sống xã hội và củng cố trật tự xã hội phong kiến ở Trung Quốc Sự hình thành tư tưởng pháp trị của trường phái Pháp gia đánh dấu một mốc son đậm nét trong thời
kỳ Xuân thu – Chiến Quốc, là sự kết tinh của những tiền đề lý luận và thực tiễn hết sức đặc sắc
1.2.1 Tư tưởng về “đạo” và “lý”, học thuyết “tính ác” – tiền đề lý luận cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia
Tư tưởng pháp trị của Pháp gia là sự kế thừa nhiều tư tưởng triết học của các bậc tiền bối đương thời Đặc biệt là sự kế thừa tư tưởng “tôn quân”,
“chính danh” của Khổng Tử, tư tưởng “thượng đồng”, “công lợi” của Mặc gia và kế thừa tư tưởng quan điểm về “đạo”, “đức”, “đạo vô vi” của Đạo gia, tư tưởng “tính ác” của Tuân Tử Chính vì thế khi giới thiệu về Hàn
Phi, Phan Ngọc đã viết: “Kết quả, ông là con người duy nhất của Trung
Quốc thực hiện được 1 sự tổng hợp ba học thuyết Nho, Lão, Pháp, ở đó Nho là tài liệu xây dựng, Pháp là bản thiết kế, nhưng lão mới là kỹ thuật
Trang 23thi công ngôi nhà độc đáo” [22,tr.17] Tư tưởng về “đạo” và “lý” của Pháp gia là sự kế thừa tư tưởng duy vật về thế giới của Lão Tử Trong học thuyết của Lão Tử, học thuyết về “đạo” có một vị trí cực kỳ quan trọng Nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong triết học của ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của người Trung Hoa cổ đại
Kế thừa tư tưởng về “đạo” và “đức” của Lão Tử khi giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật, Pháp gia cho rằng vạn vật đều tuân theo
“đạo” và “lý” của chúng, điều này được biểu hiện ở hai thiên Giải Lão và
Dụ Lão, trong sách của Hàn Phi Hàn Phi nói: “Đạo là cái khởi đầu của
được “đạo”, vô vi mà vẫn sai khiến được quần thần, cai trị được nước
“Đạo” là cái muôn vật thành ra như nó tồn tại hiện nay, là chỗ dựa của
muôn lý lẽ, “là cái lý của vạn vật” Nói chung cái thực chất của đạo không
bị hình thức hạn chế, mềm yếu theo thời, cùng tương ứng với lý Muôn vật được nó mà sống, mà bại, mà thành, phải biết cách dùng đạo cho đúng:
“Đạo cũng giống như nước, kẻ chết đuối uống nhiều nước mà chết, người
khát uống nó sống ngay Nó giống như thanh kiếm, mũi giáo, người ngu làm việc phẫn nộ mà cái họa sinh ra Bậc thánh nhân dùng nó để trừng trị
có thể biết được hình dáng “Con người ta ít khi thấy con voi sống nhưng
nếu có được xương của con voi chết thì dựa vào hình dáng của xương mà
đổi “Chỉ có cái gì cùng sanh ra cùng với lúc trời đất chia tách nhau, cho
đến khi trời đất tiêu tán cũng không chết, không suy giảm, thì mới gọi là
luật chung, theo đạo không phòng bị mà chắc chắn vô hại, đó là cái đạo của trời đất vậy
Trang 24Trong phép trị nước, theo Hàn Phi, nhà vua không có đạo đức thì bên trong bạo ngược đối với bề tôi, bên ngoài lo xâm lấn, khinh thường nước láng giềng Bên trong bạo ngược thì việc sản xuất của dân bị cắt đứt Bên ngoài xâm lấn và bị coi thường thì binh đao hay xảy ra Sản xuất của nhân dân mà bị đình trệ thì không có tích lũy và nếu binh đao xảy ra thì
binh sĩ chắc bị diệt vong, “cái đạo lớn là cái chính đạo Cái gọi là cái giả
dối đó là cái tà đạo Cái gọi là thiên lệch lớn đó là sự hoa mỹ Sự hoa mỹ
tr.195-195] Lý là cái văn vẻ làm thành vạn vật, là cái phân biệt vuông với tròn, ngắn với dài, thô với tinh, cứng với mềm Cho nên cái lý có xác định được thì rồi sau đó mới có được đạo Cho nên vật có cái lý xác định hoặc còn hoặc mất, hoặc chết hoặc sống, hoặc thịnh hoặc suy Vật có cái lý không thể bức bách nhau cho nên không thể không biến hóa Như vậy, cái
“lý” là cái quy tắc, quy luật riêng của vật trong hoàn cảnh, điều kiện riêng,
có biến đổi, sinh động, như ngắn – dài, lớn – nhỏ, vuông – tròn, cứng – mềm, nặng – nhẹ, trắng – đen tạo nên sự vật phong phú, đa dạng biến đổi khác nhau Và vì không thể không biến hóa cho nên không có quy tắc bất biến, muôn vật đều phế hưng, cho nên việc sống chết là bản tính của vạn vật
Như vậy, theo Hàn Phi, “đạo” vừa là nguồn gốc của vạn vật, vừa là quy luật phổ biến của chúng, vì vậy nó không thay đổi Còn “lý” là quy luật riêng, nên nó “bất thường” luôn biến hóa không ngừng Chính vì thế, để
nhận thức được sâu sắc các sự vật và hoạt động có kết quả, mọi hoạt động
của con người phải tuân theo quy luật, tuân theo “đạo” và tuân theo “lý” Vận dụng thuyết “đạo” và “lý” vào phép trị nước, Hàn Phi cho rằng, ngày nay cái “lý” (thời thế hoàn cảnh, điều kiện của xã hội) đã thay đổi, thì đạo
trị nước phải thay đổi Đó là cơ sở để ông cho rằng trị nước phù hợp với điều kiện phù hợp lịch sử lúc đó, nhà vua không thể dùng phương pháp
Trang 25“đạo đức”, “kiêm ái”, “vô vi” như Nho gia, Mặc gia và Đạo gia, mà phải chủ trương dùng phương pháp pháp trị “Phàm dựa theo đạo lý mà làm thì
không việc nào là không thành Không việc nào không thành thì lớn có thể thành cái thế cao quý của thiên tử, nhỏ dễ được hưởng cái lộc của vị khanh
[22,tr.182 – 183] Người trị vì thiên hạ phải nhận thức được "đạo" và "lý" của vạn vật Ông cho rằng, "đạo" tuy không thể nhìn thấy, nhưng thánh nhân nắm được chỗ công hiệu của nó mà thấy được hình dạng của nó Hàn Phi kịch liệt phê phán người trị vì thiên hạ mà lại mê tín, bói toán, tin vào quỷ thần
Lý thuyết về tính người vốn ác cũng là một căn cứ lý luận cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia Tư tưởng về tính người đã có từ trước, nhưng
lý thuyết về tính người chỉ mới được bàn tới từ thời Mạnh Tử trở đi mà thôi Có nhiều thuyết về tính người trong thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc,
đó là thuyết tính thiện của Mạnh tử , thuyết tính không thiện, không ác của Cáo tử, thuyết tính siêu thiện ác của Trang tử, thuyết tính vừa thiện vừa ác (không biết của ai), thuyết có tính thiện tính ác (không biết của ai), thuyết tính ác của Tuân tử tùy theo quan điểm về tính khác nhau mà các nhà tư tưởng, các trường phái triết học có phương pháp giáo hóa cá nhân, phương pháp trị dân khác nhau
Các nhà tư tưởng Pháp gia trước Hàn Phi không thấy bàn về tính người Là học trò xuất sắc của Tuân tử, ngoài việc kế thừa học vấn uyên bác của Tuân tử, của Nho gia, Hàn Phi đặc biệt kế thừa tư tưởng tính ác của Tuân tử nhưng ông khắt khe hơn, khi coi con người vốn “đại ác” Đó chính là tiền đề lý luận vô cùng quan trọng để xây dựng phương pháp trị dân, trị nước bằng pháp trị của Hàn Phi Hàn Phi viết:
Trang 26“Nói chung, thích điều lợi và tìm nó, ghét cái hại và tránh nó,
gieo mạ và cày ruộng cho mình thì ông chủ chịu mất tiền để cho họ
ăn ngon, đưa ra tiền và vải đổi lấy công Đó không là vì yêu người làm thuê, mà vì làm như thế thì người cày sẽ cày sâu, bừa kỹ Người làm công dốc sức mình lo việc cày bừa không phải vì yêu ông chủ
Đến ngay tình cha con:
“Con người khi còn nhỏ nếu cha mẹ nuối nấng qua loa, thì khi
lớn lên sẽ oán cha mẹ Đứa con lớn lên phụng dưỡng cha mẹ kém thì cha mẹ giận và mắng nhiếc con Cha với con là chỗ thân thiết nhất
mà còn oán trách nhau, đó là vì lo cho nhau không chu đáo như lo
chúc mừng nhau, nhưng sinh con gái thì giết đi Con trai con gái đều
từ lòng cha mẹ mà ra, nhưng con trai thì chúc mừng nhau còn con gái thì lại giết đi, đó là vì nghĩ đến cái thuận tiện về sau, tính đến cái lợi lâu dài Do đó, cha mẹ đối xử với con cái vẫn còn dùng lối tính toán mà đối xử với nhau, huống chi là những người không có cái ân
Trong triều đình thì kẻ gian nhan nhản có tới “bát gian”, quan hệ vua tôi thực chất chỉ có vụ lợi, mua bán: vua bán trách nhiệm và chức tước, còn
bề tôi bán tri thức và sức lực Trong thiên Dương quyền, Hàn Phi viết:
“Hoàng đế có câu: “Người trên kẻ dưới một ngày đánh nhau một trăm
trận” Người dưới che giấu cái riêng tư của mình, để thử bụng người trên
[22, tr 73]
Trang 27Như vậy, theo Hàn Phi, con người vốn đại ác và không thể sửa,
không thể dùng nhân, lễ, nghĩa, vô vi để trị Hàn Phi trong thiên Bát kính viết: “Muốn trị thiên hạ thì phải dựa theo tình cảm con người Tình cảm
con người có yêu ghét, cho nên sự thưởng phạt có thể dùng được Thưởng
và phạt có thể dùng được thì lệnh cấm có thể thi hành mà cái đạo trị nước
theo nhân nghĩa mà trị dân, để dân theo nhân nghĩa là một ảo tưởng của Nho gia, làm hại cho nước, vì tính con người ta ác do thời thế đổi khác:
“Vào thời thượng cổ, người ta đua nhau về mặt đạo đức, vào thời trung thế
người ta đua nhau về mặt mưu trí, nhưng ngày nay người đua nhau về mặt
Ông lý giải phải dùng hình pháp nghiêm khắc mới trị được dân một cách sinh động như sau:
“Nay có đứa con hư hỏng, cha mẹ giận nó, nhưng không thể
làm cho nó sửa đổi, những người trong làng chê bai nó nhưng không thể làm nó lay chuyển Thầy giáo dạy nó mãi, nhưng cũng không thể làm nó lay chuyển Lấy tình yêu của cha mẹ, lấy đức hạnh của người trong làng, lấy cái khôn ngoan của ông thầy học, cả ba cái tốt đẹp đều thi hành, nhưng rốt cục nó vẫn không lay chuyển, không thay đổi một sợi tơ sợi tóc Quan lại trong châu sai binh lính thi hành phép công tìm bắt kẻ gian Lúc đó nó mới hoảng sợ, thay đổi tính nết, thay đổi tính hạnh của mình Cho nên cha mẹ yêu con không đủ
để dạy con, thế nào cũng phải nhờ cậy hình phạt nghiêm khắc của châu quận mới được Dân chúng nếu được thương yêu thì sinh kiêu
Do đó, lấy chính trực mà dẫn dắt, lấy hình phạt mà làm, thiên hạ mới
có thể trị, trị nước dùng đông mà bỏ ít, cho nên không chuộng đức mà
chuộng pháp “Pháp luật của nước không thể bỏ mất và người cai trị không
Trang 28phải chỉ có một người Cho nên ông vua có thuật cai trị không tùy theo cái
Bởi vậy, kẻ thống trị, nhà nước phải căn cứ vào tâm lý luôn “tránh hại và cầu lợi” của con người mà đặt ra pháp luật; trọng thưởng, nghiêm
phạt để duy trì trật tự xã hội Hàn Phi viết: “Nếu bày thứ hàng rẻ ở nơi kín
đáo thì dù là Tăng Sâm, Sử Thu cũng có thể bị ngờ Nhưng nếu treo một
[22,tr.506 – 507], vì họ sợ phạm pháp và bị pháp luật trừng phạt Theo Hàn Phi, với pháp luật chặt chẽ và minh bạch, được chép vào đồ thư, bày nơi quan phủ, ban bố cho mọi thần dân biết mà thi hành, tưởng phạt nghiêm minh thì thiên hạ sẽ trị Sự thiếu công bằng sẽ là đầu mối loạn của thiên hạ
Hàn Phi viết: “Người trên tuân theo nhân nghĩa để cai trị dân là một ảo
Hơn nữa, nếu việc dùng nhân nghĩa để trị nước yên dân thì hạng người hiền trong thiên hạ, nhất là thời Chiến quốc, nếu có cũng rất ít Còn hạng người bất thiện thì rất nhiều Trị nước là trị dân khắp nước, chứ không phải chỉ trị số ít ngươi hiền bằng giáo hóa đạo đức Cho nên trị nước theo Hàn Phi không chăm chú vào điều nhân đức, mà phải coi trọng pháp luật, thưởng phạt là công cụ quan trọng nhất, dân dù đông bao nhiêu cũng trị được Đó là lợi thế của “pháp trị” so với “nhân trị” Hàn Phi viết:
“Thánh nhân trị nước không cậy ở chỗ người ta yêu mình mà
dùng cái thế để người ta không làm điêu sai Trông cậy người ta làm điều hay cho mình thì trong một nước không đến mười người, nhưng dùng cái thế khiến người ta không thể làm bậy thì có thể trị được cả một nước… Nếu cứ đợi mũi tên tự nó thẳng thì một trăm đời cũng không có tên, nếu đợi cây gỗ tự nó tròn thì một ngàn đời không có
Trang 29Hàn Phi dẫn chứng rằng Khổng Tử là một bậc thầy nhân nghĩa và chủ trương lấy nhân nghĩa để giáo hóa dân, trong nước Lỗ có mấy triệu người, vậy có bao nhiêu người theo học ông? Tất cả chỉ bảy mươi hai người là có đức và trong số bảy mươi hai người đó chỉ có hai mươi người được gọi là hiền nhân Vì vậy, nếu chỉ dựa vào nhân nghĩa để trị dân thì trong số trăm quan lại thì may lắm được mười người có lòng nhân, còn lại chín mươi người kia là bọn gian ác
1.2.2 Quan điểm lịch sử tiến hóa – cơ sở lý luận cho tư tưởng
“biến pháp” của Pháp gia
Quan điểm tiến hóa về lịch sử của Pháp gia là một thành tựu nổi bật trong việc nghiên cứu về lịch sử xã hội và là một tiền đề đặc sắc cho phương pháp pháp trị của Pháp gia “Thời biến, pháp biến” là tư tưởng cơ bản về biến pháp trong phép trị nước của Pháp gia Nội dung này phản ánh đậm nét quan điểm duy vật về lịch sử của Pháp gia và Hàn Phi
Hàn Phi là người phát triển quan điểm đó lên đỉnh cao mới và vận dụng triệt để vào thực tiễn xã hội, lấy quan điểm lịch sử tiến hóa làm căn
cứ cho lý luận pháp trị của mình Trong quan niệm về tiến hóa xã hội, Thương Ưởng đã chia xã hội ra làm tam thế: thượng thế, trung thế và hạ
thế Trong thiên Khai tắc ông viết: Trời đã bày ra mà dân sinh Trong lúc
ấy dân chỉ biết mẹ mà không biết cha, thân người thân mà yêu riêng Thân người thân thì biệt, yêu riêng thì hiểm (không biết đến ai) Dân đông mà chuộng biết và hiểu thời dân loạn Trong lúc ấy dân chuộng thắng mà lấy sức đánh nhau Chuộng thắng tất tranh, lấy sức đánh nhau tất kiện mà không được phân xử đúng đắn thì không vừa ý Cho nên người hiền đặt ra
vô tư, mà dân vui điều nhân, trong lúc ấy, chọn người thân mà bỏ người hiền Phàm người nhân lấy yếu làm chuộng, người hiền lấy hơn nhau làm đạo, dân đông mà không có lấy cấm chế lấy hơn nhau làm đạo, lâu ngày tất loạn
Trang 301.3 Tư tưởng của Hàn Phi Tử về đường lối Pháp trị
Là học thuyết tiêu biểu của Pháp gia, học thuyết Pháp trị của Hàn Phi tổng hợp, khái quát một cách có chọn lọc những thành tựu của cả 3 trường phái Pháp – Thuật – Thế trước đó
1.3.1 Tư tưởng về Pháp trong học thuyết của Hàn Phi
“Pháp” là một phạm trù rất thường thấy trong triết học Trung Quốc
cổ đại, “Pháp” nghĩa thông dụng nhất là cách thức Nhưng cũng có cách hiểu Pháp theo nghĩa rộng là để thể chế chính trị, chế độ xã hội của quốc gia (Tông pháp, biến pháp) Hàn Phi nhấn mạnh đến ý nghĩa “Pháp” là pháp luật: “Pháp luật là mệnh lệnh ban bố rõ ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với lòng dân”
Hàn Phi có một cái nhìn hết sức thực tiễn, ông thấy được vai trò của pháp luật trong việc cai trị đất nước bởi vì pháp luật xét đến cùng là quy chuẩn chung mà mọi người phải theo, là tiêu chuẩn chính xác nhất để phân định chính và tà, tốt và xấu “Kẻ thượng trí tuy làm việc đúng ngay nhưng
trước đó phải lấy phép tắc tiên vương làm chuẩn….Cho nên thuật trị quốc
xây dựng đất nước giàu mạnh là phải dựa vào pháp luật Có pháp luật thì mới ngăn cấm được bất ổn, xã hội mới ổn định, xã hội ổn định lại là tiền đề quan trọng để xây dựng đất nước giàu mạnh, vua được an vui Pháp luật có vai trò quan trọng như thế nên cần phải xây dựng pháp luật (Định pháp), đây chính là việc bậc vua sáng phải luôn chú ý trước hết
Về việc xây dựng pháp luật (Định pháp)
Trong tác phẩm “Hàn Phi tử”, Hàn Phi dành 1 thiên Định pháp trong quyển 17 để nói về vấn đề xây dựng và thiết lập hệ thống pháp luật Đây được đánh giá là một trong những thiên quan trọng nhất trong cả tác phẩm
Trang 31Một hệ thống pháp luật tốt không phải được xây dựng dựa trên chủ quan cá nhân mà cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc
Nguyên tắc thứ nhất: Pháp luật phải minh bạch, được ghi thành văn bản và phổ biển rộng rãi
Trước và trong thời đại của Hàn Phi, đại đa số các trào lưu triết học
và các vua chúa Trung Quốc đều cho rằng pháp luật cần giữ bí mật với dân chỉ cho riêng quan lại biết mà thôi Dân không được phổ biến pháp luật, pháp luật giữ ở nơi quan phủ, quan phủ chính là pháp luật Pháp luật không được phổ biến rộng rãi làm cho sự chuyên chế của giai cấp quý tộc càng đè nặng nhân dân, mâu thuẫn xã hội ngày một trầm trọng Trước nguy cơ mâu thuẫn giai cấp xã hội không còn kiểm soát được, trong tầng lớp quý tộc và địa chủ mới, chủ yếu là những người thuộc phái Pháp gia, đã xuất hiện nhiều tư tưởng đòi phải ban bố rộng rãi pháp luật: Quản Trọng cho rằng:
“Lập pháp là để cho dân biết việc nào nên làm, việc nào không nên làm
Lập pháp phải minh bạch tuỳ thời Nếu không dạy dân mà giết dân là bạo
Hàn Phi là người ủng hộ mạnh mẽ quan điểm phổ biến pháp luật cho dân Ông cho rằng Pháp không chỉ là dùng hình mà cần được thành văn, in
ấn cẩn thận để quan phủ công bố rộng rãi cho dân chúng mới biết mà thi
hành Hàn Phi nói: “Luật là cái được biên chép vào sổ sách, đặt nơi quan
quan phủ để ban khắp trăm họ Do luật pháp ấy mà trăm họ được báo cho
được phổ biến mà dân chúng “điều hay không biết là phải làm mà phạm phải điều cấm cũng không biết” Người dân được phổ biến pháp luật thì hiểu được những điều được làm và không dám làm điều nghịch, nhà vua nhờ thế không phải nhọc nhằn mà mọi việc vẫn ổn định Đây chính là nguyên tắc đầu tiên để xây dựng pháp luật
Trang 32Nguyên tắc thứ 2: Pháp luật tường tận, rõ ràng Hàn Phi cho rằng khi đã phổ biến pháp luật rộng rãi, muốn cho mọi người tuân theo thì bản thân pháp luật khi được soạn thảo mỗi điều ngăn cấm hoặc thăng thưởng cần phải có lý lẽ, dẫn chứng xác đáng, rõ ràng Pháp luật còn chỉ ra và ghi rõ bằng văn bản những tình huống liên quan, những nguyên tắc xét xử, phán quyết, các chứng cớ được trình vì vậy tránh được tình trạng lợi dụng kẽ hở của pháp luật hoặc trông chờ sự may mắn hay phán xử do tuỳ ý chủ quan cá nhân Pháp luật mới nghiêm minh, dân chúng mới chịu phục,quan lại có trật tự, triều đình và nhà vua không phải khó nhọc mà cai trị vẫn tốt Đó là nguyên tắc thứ 2 trong tư tưởng định pháp của Hàn Phi
Nguyên tắc thứ 3: Pháp luật phải hợp với thời thế Theo Hàn Phi tử, pháp luật ra đời xuất phát là công cụ của giai cấp thống trị để bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị Giai cấp thống trị muốn cai trị tốt cần dựa vào xu thế vận động của xã hội mà đặt ra pháp luật.Ông đã nhìn
ra được pháp luật là sự phản ánh điều kiện xã hội, điều kiện đời sống kinh
tế xã hội thay đổi thì pháp luật thay đổi theo Quan điểm của Hàn Phi nhìn nhận sự phát triển theo hướng duy vật: Pháp luật không phải là ý chí chủ quan của một ai đó đưa ra, pháp luật được định ra dựa trên những đòi hỏi khách quan từ thực tiễn cai trị Mọi vấn đề thực tiễn cần được nhìn thẳng
và giải quyết trong thực tiễn, thời thế khác nhau thì biện pháp cai trị cũng khác nhau
Hàn Phi phê phán gay gắt các quan điểm hoài cổ giữ nguyên một cách cai trị đất nước theo truyền thống, không chịu nắm bắt sự thay đổi của
lịch sử đặc biệt là Nho gia Hàn Phi nói: “Bọn nhà Nho đời nay nói với nhà
vua lại không nói đến cái làm cho đời nay được trị mà nói đến công lao trị
an ngày xưa, không hiểu rõ công việc phép quan, không xét kỹ cái tình hình
Trang 33của bọn gian tà, mà đều nói đến những chuyện truyền lại từ thời thượng
cổ, ca ngợi công lao của các tiên vương Bọn nhà Nho tô vẽ lời nói, bảo:
“Nghe lời nói của ta thì có thể làm bá vương” Loại người nói như vậy
Trong thiên “Tâm độ” (đo lòng người), Hàn Phi nói: “Thời thế thay
đổi mà cách cai trị không thay đổi thì sinh loạn Cho nên, bậc thánh nhân
Với quan điểm này ông đã bác bỏ quan niệm bảo thủ rằng luật lệ đã đặt ra là luôn đúng Quan điểm này vẫn còn những giá trị đối với hiện nay
Nguyên tắc thứ 4: Pháp luật phải thống nhất và có tính ổn định Pháp luật là công cụ đắc lực của nhà vua khi nó có tính thống nhất, chắc chắn Pháp luật không được lẫn lộn, chồng chéo, mập mờ mà phải thống nhất, một nước chỉ có một hệ thống luật pháp Hàn Phi phê phán Thân Bất Hại nước Hàn ban hành pháp luật không có sự thống nhất khiến bọn gian thần lợi dụng
Hàn Phi nêu ra mối quan hệ giữa 2 mặt thống nhất và ổn định của pháp luật Ông cho rằng pháp luật thống nhất chưa đủ mà cần phải ổn định mới đủ đảm bảo cho hiệu quả thực thi lâu dài Trong thiên “Giải lão và
“Dụ lão” một lần nữa Hàn Phi vận dụng tư tưởng của Lão tử để lý giải cho vấn đề này Một mặt khẳng định pháp luật phải tuỳ thời mà thay đổi, cũng như Lý là biểu hiện riêng của sự vật nên biến đổi khôn lường, nhưng không phải vì thế mà tuỳ tiện sửa đổi, vì Đạo là cái quy luật căn bản, bền vững biến chất cũng giống như pháp luật là chuẩn mực của xã hội để phân định
là ác – chính nghĩa, tốt – xấu, đúng – sai Pháp luật phải thống nhất và ổn định mới có sức mạnh răn đe kẻ ác và tạo lòng tin tưởng nơi dân chúng
Trang 34Nguyên tắc thứ 5: Pháp luật phải dễ hiểu, có khả năng thi hành, gắn với lợi ích con người
Trước Hàn Phi, Quản Trọng cho chính lệnh cần phải là “ Lời bàn luận không cao xa mà dễ thi hành” (luận ti nhi dị hành)
Theo quan điểm của Hàn Phi thì trong thiên hạ ngoài một số ít là thánh nhân còn đại đa số nhân dân đều khó có thể hiểu được những đạo lý
sâu xa, Hàn Phi viết: “Những điều mà kẻ sĩ sâu sắc mới hiểu được thì
(Bát thuyết)
Như vậy, Hàn Phi chỉ ra một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng của việc định pháp là làm sao cho pháp luật phải thật dễ hiểu, dễ thi
hành Việc này giúp pháp luật đi vào được cuộc sống, Hàn Phi nói: “Pháp
chế gọn thì việc kiện tụng của dân ít đi Thế cho nên sách của thánh nhân thế nào cũng diễn giải rõ ràng, pháp luật của minh quân bao giờ cũng xét
giữ nguyên giá trị với cuộc sống ngày nay
Về việc thực thi pháp luật
Nếu như trong “Định pháp” và nhiều thiên khác Hàn Phi đã nói về tầm quan trọng của vấn đề xây dựng hệ thống pháp luật thì vấn đề thi hành, thực thi pháp luật cũng là một trong những chủ đề đáng lưu ý trong tác phẩm “Hàn Phi tử”
Trong cả tác phẩm, tư tưởng về thi hành pháp luật được Hàn Phi thể hiện trong nhiều chương khác nhau Thực thi pháp luật theo Hàn Phi cần chú trọng 2 nguyên tắc: Nghiêm minh, công bằng, chú trọng đến thưởng phạt Trong đó công bằng, nghiêm minh là tính chất của việc thực thi pháp luật Thưởng phạt là phương thức tốt nhất để thực thi pháp luật
Trang 35Tính nghiêm minh ,công bằng
Trong thực thi pháp luật Hàn Phi chú trọng nhất đến tính nghiêm minh Theo Hàn Phi, thiên hạ tất thảy đều bất ổn vì con người vốn có tính
tư lợi khiến tranh giành không bao giờ dứt, ông không tin vào nhân nghĩa, không trông mong vào nhà vua nhân nghĩa chỉ cần thi hành pháp luật một cách công minh đã là rất tốt rồi Pháp luật lấy chỗ dư mà bù vào chỗ thiếu, làm chỗ cong được ngay thẳng, kiềm chế lòng tư lợi mà khuyến khích con người lo cho lợi ích chung Đây là quan điểm nổi bật tiến bộ của Hàn Phi, vượt trước thời đại ông rất xa Nếu như các nhà tư tưởng phương Tây thời Phục Hưng – Khai Sáng đề cập đến mọi người bình đẳng trước pháp luật thì trước đó Hàn Phi đã chủ trương rằng tất cả mọi người đều phải có quyền lợi ngang nhau trước pháp luật Trong hoàn cảnh lịch sử Hàn Phi sống, chế định pháp luật của tất cả nước chư hầu đề có sự phân biệt giữa nô
lệ, thứ dân và quý tộc “Lễ không xuống được hạng thứ dân, hình phạt
nhất của pháp là “Pháp bất a quý” – Luật pháp không phân biệt sang hèn Hàn Phi không trông chờ những kẻ cầm quyền có đạo đức, thậm chí nếu
dùng đức mà trị nước sẽ dẫn đến chủ quan và dẫn đến nước loạn “Dùng cái
khi một pháp luật công bằng thì kẻ trên không dám làm trái chức trách, kẻ dưới không dám làm điều ám muội, pháp luật không được bỏ sót một ai, không có người đứng ngoài và đứng trên pháp luật, ngay cả vua là bậc
quân chủ cũng phải nghiêm thủ pháp luật “Pháp luật không hùa theo người
sang như sợi dây dọi không uốn mình theo gỗ cong Trừng trị cái sai không
luật công bằng thì dân mới tin tưởng và tích cực tuân thủ, quan lại mới tích
cực trong chức trách không dám trễ nải “Lấy pháp luật mà giết, mà trị tội
thì dân chịu chết mà không oán Lấy pháp luật mà định công lao thì dân
Trang 36nhận thưởng mà không cho là ân đức” Có thể nói, phần nào Hàn Phi đã có
tư tưởng về công bằng xã hội, ông chủ động trao cho người dân công cụ để bảo vệ mình trước nhà cầm quyền là pháp luật dù rằng pháp luật đó vẫn do giai cấp quý tộc viết ra, nhưng Hàn Phi vẫn tiến bộ hơn hẳn các nhà triết học Trung Quốc lúc đó mong chờ sự ban ân có tính chất mị dân của vua chúa Một số nhà Nho sau này phê phán Hàn Phi tử không thương yêu dân chúng chỉ chuyên tâm dùng hình phạt nhưng thật ra Hàn Phi luôn quan tâm đến cái gốc của việc trị nước là vỗ yên dân chúng bởi ông cũng chiểu rằng dân yên chúng bởi ông cũng hiểu rằng dân yên thì nước mới mạnh, nhưng Hàn Phi cũng như các nhà tư tưởng Pháp gia trước đó đều cho rằng vỗ yên dân là làm cho dân chúng tự lực, tận tâm sản xuất, là cho dân quyền bình đẳng với các tầng lớp quý tộc trước pháp luật Họ lên án và tìm cách xoá
bỏ đặc quyền đặc lợi của giai cấp quý tộc, đây là điểm tiến bộ hơn hẳn Nho gia và các trường phái khác
Chú trọng đến thưởng phạt trong thi hành pháp luật
Hàn Phi cho rằng cần dựa vào bản tính ham lợi, sợ hãi của con người
mà thi hành pháp luật Nội dung chính của việc thực thi pháp luật chính là
thưởng phạt mà ông gọi là Nhị cán (2 cánh tay) của nhà vua: “Muốn trị
thiên hạ thì phải dựa theo tình cảm con người Tình cảm có yêu có ghét nên thưởng phạt có thể dùng Thưởng phạt có thể dùng thì lệnh cấm có thể
thưởng hậu để làm gương, có vậy nước mới mạnh “Phàm là người rơi lệ,
không dành lòng gia hình cho kẻ khác, là Nhân; nhưng buộc không thể không gia hình cho kẻ khác là Pháp Tiên vương sở dĩ đã thắng lợi thành
theo bản tính con người và tình hình thực tế mà định ra thưởng phạt Đối với Hàn Phi, việc phân định ranh giới giữa công và tư rất quan trọng, vì nó
Trang 37là cơ sở để thực hiện pháp luật nghiêm minh “Trừng trị cái sai không kiêng
Thưởng phạt dựa trên bản tính con người mà răn đe hay khuyến khích nên nếu nhà vua định công, phạt tội đúng sẽ cai trị được đất nước
“Thưởng hậu thì cái mình muốn sẽ có phanh Phạt nặng thì cái mình cấm
sẽ chóng được Trị nặng cái tội của 1 tên gian mà chặn được điều gian tà trong cõi Nếu phạt nhẹ, dân ham cái lợi coi thường tội, cho nên việc gian
nhà vua không căn cứ vào điều kiện khách quan, không căn cứ vào bản tính của con người và sự vận động của xã hội, để cho ý chí chủ quán lấn át mà không dựa vào phép tắc sẽ làm hỏng luật thưởng phạt, việc thực thi pháp luật không thể nghiêm minh được Hàn Phi coi trọng thưởng phạt, ghét nhân nghĩa mà ông cho là giả tạo, đòi hỏi mọi người đều phải theo phép công mà hạn chế tư lợi nhưng lại không thể gạt bỏ tư lợi do vậy pháp luật chỉ cốt dựa vào 2 chữ “Lợi” & “Cấm” mà thôi Pháp luật răn đe mọi hành động bị ngăn cấm, thậm chí cả trong ý nghĩ: Vua có lòng thiên vị, thưởng phạt tuỳ tiện, ban ân huệ không theo pháp chế thì tất bề tôi có những ham
muốn vượt quá bất hợp pháp Trong thiên “Ngụy sử” Hàn Phi viết: “Cho
nên những người hiền ở không mà được nổi danh, kẻ gian nhờ ban thưởng
Quản Trọng ở nước Tề, đặc biệt là Thương Ưởng ở nước Tần đều thi hành luật pháp rất nghiêm minh làm cho những nước này trở nên hùng mạnh Lịch sử đã chứng minh sự suy vong không thể tránh khỏi của nhà Chu, tất cả các nước chư hầu không sửa đổi pháp chế, dựa vào trật tự cũ của nhà Chu đều dần bị tiêu diệt, những nước mang tư tưởng pháp trị áp dụng vào thực tiễn, thi hành pháp luật nghiêm minh đều mạnh lên như Tề
và Tần
Trang 38Vấn đề giáo dục pháp luật
Hàn Phi cho rằng giáo dục dân tuân theo pháp luật cũng quan trọng không kém thi hành pháp luật Ông cho rằng trong xã hội trừ một số ít thánh nhân còn lại đều là những người ham danh lợi nên dễ làm điều xằng bậy, nếu lo chú trọng đến dạy đạo đức lễ nghĩa thì dẫn đến tình trạng người người chăm váo cái trí tuệ cá nhân, không lo sản xuất, dùng mánh khoé để trục lợi nên chỉ có pháp luật mới thật sự có vai trò cải tạo dân chúng Hàn Phi không phủ nhận giáo dục đạo đức nhân nghĩa, nhưng ông cho rằng dân phải tuỳ hạng mà giáo dục khác nhau, với những người hiền lành, nhu mì thì dùng đạo đức nhân nghĩa, với người hung hãn tham lam thì dùng pháp luật
Hàn Phi muốn xã hội phải có kinh tế phát triển, mọi người đều đồng lòng vì lợi ích chung, như thế càng không thể theo quy củ cũ của nhà Chu, theo thuyết Vô vi của Lão Tử mà cần tăng cường sản xuất Giáo dục cho dân sử dụng pháp luật là tối ưu, pháp luật khuyến khích sản xuất, ngăn cấm
tư lợi quá đáng “Ngày học văn hoá, tập đàm luận thì không có cái mệt mỏi
của việc cày ruộng mà vẫn giàu có, không có cái nguy hiểm của việc chiến đấu mà vẫn được sang trọng thì người ta ai lại không làm Do vậy trăm người làm việc trí óc thì xã hội rối loạn, người làm việc bằng sức lực ít thì nước nghèo, nay loạn lạc chính là vì thế Bởi vậy, vị vua sáng không cần sách vở, lấy pháp luật để dạy, không cần lời nói của các vị vua đời trước,
1.3.2 Tư tưởng về Thuật của Hàn Phi
Tư tưởng về Thuật được Thân Bất Hại nêu lên, là một trong ba nhánh chính của tư tưởng Pháp gia Hàn Phi cũng đã kế thừa điều đó để tạo dựng quan điểm về Thuật học cho học thuyết của mình Hàn Phi chủ trương trị nước bằng pháp luật kết hợp với thuật, thuật là sự bổ trợ quan trọng cho pháp được thực thi Thuật theo Hàn Phi là cách thức, phương
Trang 39pháp, mưu lược, thủ đoạn trong việc tuyển người, dùng người, xét đoán sự việc, nhờ đó pháp luật được thực hiện, thưởng phạt được thi hành Nhiệm
vụ của thuật cai trị là phân biệt người tài giỏi với kẻ gian trá, giữa tôi trung
và bọn xu nịnh Việc phát hiện và trừ gian càng cần đến mưu cao, kế sâu:
“Nếu vua quả thực hiểu rõ thuật trị nước thì trên soi sáng pháp luật nhà vua, dưới làm bọn gian thần nguy khốn để vua được quý, nước được yên Pháp luật và cái thuật trị nước cao nhất đã rõ ràng như thế, nhưng bọn
Hàn Phi đã phát triển quan điểm về thuật của Thân Bất Hại Thân Bất Hại coi thuật là phương pháp và thủ đoạn trị nước của nhà vua, là cái thần bí nhà vua không để cho bề tôi biết, Thân Bất Hại cũng đề cập đến Thuật mang nghĩa là Hình – Danh: Bề tôi ở chức vụ, phải hoàn thành nhiệm vụ, ngoài ra biết cái gì không được nói Hàn Phi trên cơ sở kế thừa
tư tưởng về Thuật của Thân Bất Hại đã làm cho tư tưởng về Thuật trở nên sâu sắc và cụ thể hơn Ông cho rằng Thuật của nhà vua gồm có 4 Thuật: Thuật trị quan lại, thuật trừ gian, thuật dùng người và thuật thưởng phạt
Theo Hàn Phi dân chúng là hạng người chỉ biết phục tùng, nhà vua định ra pháp chế mà trị dân , nhưng nhà vua không cai trị trực tiếp mà giao cho quan lại trị dân Quan lại là những người có quyền lực được nhà vua
giao, lại ở gần vua, dễ lợi dụng vua “Bầy tôi đối với nhà vua không phải có
nhà vua trị bề tôi tốt thì bề tôi mới trị dân tốt được Nhà vua trị quan chứ không trị dân nhà vua không có thuật trị nước thì ở trên bị che đậy; bầy tôi
mà không có pháp luật thì cái loạn sinh ra ở dưới Hai cái không thể thiếu cái nào, đó đều là những công cụ của bậc đế vương Hàn Phi đã giành nhiều công sức để nói về vấn đề này, trong tác phẩm “Hàn Phi tử” có hơn
10 thiên nói về thuật
Trang 40Thuật trừ gian
Gian chính là những kẻ gian thần ở cạnh vua, quyền lợi của vua và
bề tôi khác nhau nhau nên họ, mong muốn của bề tôi là không có khả năng
mà được làm quan, không có công lao mà được giàu sang, cho nên họ tìm mọi cách lừa vua để cầu lợi Họ dùng mọi lý lẽ để lung lay, mê hoặc vua làm vua không phân định được phải trái Trong “Bát gian”, Hàn Phi chỉ ra tám loại người có thể trở thành gian thần:
Thứ 1: Bọn chung giường với vua, dùng lời thủ thỉ là vua xiêu lòng Thứ 2: Bọn tả hữu thân cận với vua, khéo dùng lời nói, dò đoán ý vua để tác động vào quyết định của vua
Thứ 3: Vương tộc, những người ruột thịt với vua, dùng mối quan hệ này ép vua phải nghe ý họ
Thứ 4: Bọn chiều chộng vua ăn chơi, làm vua quên việc nước
Thứ 5: Là những kẻ giỏi lấy lòng trăm họ, chuyên lấy tài sản của vua phát mãi cho dân chúng Vua quan, dân chúng đều khen nhưng thực chất là nuôi mầm hoạ
Thứ 6: Là bọn thuyết khách, dùng sự thông minh của mình, lời nói tô
vẽ để làm vua quên mất con đường đúng đắn là Dĩ pháp trị quốc, từ đó mưu hại vua
Thứ 7: Là bọn quần thần thu nuôi bọn hiệp sĩ đeo gươm, gây áp lực với vua Hàn Phi đã nêu ví dụ cụ thể về “4 công tử thời Chiến Quốc”
Thứ 8: Là kẻ thờ nước lớn, uy hiếp vua của mình
Tám loại gian thần này đều là mối nguy cho đất nước, vua không thể không phán xét diệt trừ Nhưng diệt trừ thế nào? Trước hết nhà vua không được để lộ ưu nhược bản thân mình cho bề tôi biết “Nhà vua chớ để lộ cho