Thời Xuân thu – Chiến quốc là thời kỳ xã hội Trung Hoa trải qua những biến động lịch sử lớn lao. Thực chất của những biến động ấy là bước chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội nô lệ đang suy tàn sang hình thái kinh tế - xã hội phong kiến trung ương tập quyền ở Trung Quốc, làm trật tự cương thường xã hội đảo lộn, đạo đức luân lý suy đồi.
Các trường phái triết học khi xem xét, đánh giá, giải thích hiện tượng biến đổi xã hội trên không thể không tìm cách lý giải khác nhau và đưa ra những biện pháp khác nhau đê cải biến xã hội ấy. Nếu Nho gia chủ trương nhân trị hay đức trị lấy “nhân nghĩa làm gốc”; Mặc gia lấy “kiêm ái”,
“thượng đồng”, “thượng hiền”; Đạo gia chủ trương theo đạo tự nhiên “vô vi nhi trị”…để trị nước thì Pháp gia với những căn cứ, thực tiễn lịch sử xã hội, và những tiền đề lý luận của mình đã chủ trương dùng pháp luật của Nhà nước làm công cụ quan trọng cho sự phát triển của đời sống xã hội và củng cố trật tự xã hội phong kiến ở Trung Quốc. Sự hình thành tư tưởng pháp trị của trường phái Pháp gia đánh dấu một mốc son đậm nét trong thời kỳ Xuân thu – Chiến Quốc, là sự kết tinh của những tiền đề lý luận và thực tiễn hết sức đặc sắc.
1.2.1. Tư tưởng về “đạo” và “lý”, học thuyết “tính ác” – tiền đề lý luận cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia
Tư tưởng pháp trị của Pháp gia là sự kế thừa nhiều tư tưởng triết học của các bậc tiền bối đương thời. Đặc biệt là sự kế thừa tư tưởng “tôn quân”,
“chính danh” của Khổng Tử, tư tưởng “thượng đồng”, “công lợi” của Mặc gia và kế thừa tư tưởng quan điểm về “đạo”, “đức”, “đạo vô vi” của Đạo gia, tư tưởng “tính ác” của Tuân Tử. Chính vì thế khi giới thiệu về Hàn Phi, Phan Ngọc đã viết: “Kết quả, ông là con người duy nhất của Trung Quốc thực hiện được 1 sự tổng hợp ba học thuyết Nho, Lão, Pháp, ở đó Nho là tài liệu xây dựng, Pháp là bản thiết kế, nhưng lão mới là kỹ thuật
thi công ngôi nhà độc đáo” [22,tr.17]. Tư tưởng về “đạo” và “lý” của Pháp gia là sự kế thừa tư tưởng duy vật về thế giới của Lão Tử. Trong học thuyết của Lão Tử, học thuyết về “đạo” có một vị trí cực kỳ quan trọng. Nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong triết học của ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của người Trung Hoa cổ đại.
Kế thừa tư tưởng về “đạo” và “đức” của Lão Tử khi giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật, Pháp gia cho rằng vạn vật đều tuân theo
“đạo” và “lý” của chúng, điều này được biểu hiện ở hai thiên Giải Lão và Dụ Lão, trong sách của Hàn Phi. Hàn Phi nói: “Đạo là cái khởi đầu của vạn vật”, “biết then chốt của việc đúng sai”. Cho nên nhà vua chỉ cần nắm được “đạo”, vô vi mà vẫn sai khiến được quần thần, cai trị được nước.
“Đạo” là cái muôn vật thành ra như nó tồn tại hiện nay, là chỗ dựa của muôn lý lẽ, “là cái lý của vạn vật”. Nói chung cái thực chất của đạo không bị hình thức hạn chế, mềm yếu theo thời, cùng tương ứng với lý. Muôn vật được nó mà sống, mà bại, mà thành, phải biết cách dùng đạo cho đúng:
“Đạo cũng giống như nước, kẻ chết đuối uống nhiều nước mà chết, người khát uống nó sống ngay. Nó giống như thanh kiếm, mũi giáo, người ngu làm việc phẫn nộ mà cái họa sinh ra. Bậc thánh nhân dùng nó để trừng trị kẻ bạo ngược mà cái phúc được thực hiện” [22,tr.188]. Đạo ít thấy nhưng có thể biết được hình dáng. “Con người ta ít khi thấy con voi sống nhưng nếu có được xương của con voi chết thì dựa vào hình dáng của xương mà tưởng tượng được con voi sống” [22,tr.188]. Đạo là vĩnh viễn không thay đổi. “Chỉ có cái gì cùng sanh ra cùng với lúc trời đất chia tách nhau, cho đến khi trời đất tiêu tán cũng không chết, không suy giảm, thì mới gọi là vĩnh viễn. Những cái vĩnh viễn thì không thay đổi ” [22,tr.189]. Đạo là quy luật chung, theo đạo không phòng bị mà chắc chắn vô hại, đó là cái đạo của trời đất vậy.
Trong phép trị nước, theo Hàn Phi, nhà vua không có đạo đức thì bên trong bạo ngược đối với bề tôi, bên ngoài lo xâm lấn, khinh thường nước láng giềng. Bên trong bạo ngược thì việc sản xuất của dân bị cắt đứt.
Bên ngoài xâm lấn và bị coi thường thì binh đao hay xảy ra. Sản xuất của nhân dân mà bị đình trệ thì không có tích lũy và nếu binh đao xảy ra thì binh sĩ chắc bị diệt vong, “cái đạo lớn là cái chính đạo. Cái gọi là cái giả dối đó là cái tà đạo. Cái gọi là thiên lệch lớn đó là sự hoa mỹ. Sự hoa mỹ là một phần của tà đạo. Cung thất đẹp đẽ thì việc ngục tụng nhiều” [22, tr.195-195]. Lý là cái văn vẻ làm thành vạn vật, là cái phân biệt vuông với tròn, ngắn với dài, thô với tinh, cứng với mềm. Cho nên cái lý có xác định được thì rồi sau đó mới có được đạo. Cho nên vật có cái lý xác định hoặc còn hoặc mất, hoặc chết hoặc sống, hoặc thịnh hoặc suy. Vật có cái lý không thể bức bách nhau cho nên không thể không biến hóa. Như vậy, cái
“lý” là cái quy tắc, quy luật riêng của vật trong hoàn cảnh, điều kiện riêng, có biến đổi, sinh động, như ngắn – dài, lớn – nhỏ, vuông – tròn, cứng – mềm, nặng – nhẹ, trắng – đen tạo nên sự vật phong phú, đa dạng biến đổi khác nhau. Và vì không thể không biến hóa cho nên không có quy tắc bất biến, muôn vật đều phế hưng, cho nên việc sống chết là bản tính của vạn vật.
Như vậy, theo Hàn Phi, “đạo” vừa là nguồn gốc của vạn vật, vừa là quy luật phổ biến của chúng, vì vậy nó không thay đổi. Còn “lý” là quy luật riêng, nên nó “bất thường” luôn biến hóa không ngừng. Chính vì thế, để nhận thức được sâu sắc các sự vật và hoạt động có kết quả, mọi hoạt động của con người phải tuân theo quy luật, tuân theo “đạo” và tuân theo “lý”.
Vận dụng thuyết “đạo” và “lý” vào phép trị nước, Hàn Phi cho rằng, ngày nay cái “lý” (thời thế hoàn cảnh, điều kiện của xã hội) đã thay đổi, thì đạo trị nước phải thay đổi. Đó là cơ sở để ông cho rằng trị nước phù hợp với điều kiện phù hợp lịch sử lúc đó, nhà vua không thể dùng phương pháp
“đạo đức”, “kiêm ái”, “vô vi” như Nho gia, Mặc gia và Đạo gia, mà phải chủ trương dùng phương pháp pháp trị. “Phàm dựa theo đạo lý mà làm thì không việc nào là không thành. Không việc nào không thành thì lớn có thể thành cái thế cao quý của thiên tử, nhỏ dễ được hưởng cái lộc của vị khanh tướng, tướng quân” [22,tr.175], “lấy đạo mà cai trị thiên hạ thì quỷ không thiêng…mà là cái thiêng của nó không làm thiệt hại đến người ta ” [22,tr.182 – 183]. Người trị vì thiên hạ phải nhận thức được "đạo" và "lý"
của vạn vật. Ông cho rằng, "đạo" tuy không thể nhìn thấy, nhưng thánh nhân nắm được chỗ công hiệu của nó mà thấy được hình dạng của nó. Hàn Phi kịch liệt phê phán người trị vì thiên hạ mà lại mê tín, bói toán, tin vào quỷ thần.
Lý thuyết về tính người vốn ác cũng là một căn cứ lý luận cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia. Tư tưởng về tính người đã có từ trước, nhưng lý thuyết về tính người chỉ mới được bàn tới từ thời Mạnh Tử trở đi mà thôi. Có nhiều thuyết về tính người trong thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, đó là thuyết tính thiện của Mạnh tử , thuyết tính không thiện, không ác của Cáo tử, thuyết tính siêu thiện ác của Trang tử, thuyết tính vừa thiện vừa ác (không biết của ai), thuyết có tính thiện tính ác (không biết của ai), thuyết tính ác của Tuân tử. tùy theo quan điểm về tính khác nhau mà các nhà tư tưởng, các trường phái triết học có phương pháp giáo hóa cá nhân, phương pháp trị dân khác nhau.
Các nhà tư tưởng Pháp gia trước Hàn Phi không thấy bàn về tính người. Là học trò xuất sắc của Tuân tử, ngoài việc kế thừa học vấn uyên bác của Tuân tử, của Nho gia, Hàn Phi đặc biệt kế thừa tư tưởng tính ác của Tuân tử nhưng ông khắt khe hơn, khi coi con người vốn “đại ác”. Đó chính là tiền đề lý luận vô cùng quan trọng để xây dựng phương pháp trị dân, trị nước bằng pháp trị của Hàn Phi. Hàn Phi viết:
“Nói chung, thích điều lợi và tìm nó, ghét cái hại và tránh nó, đó là tình cảm của con người” [22,tr.124]. “Mượn người làm thuê gieo mạ và cày ruộng cho mình thì ông chủ chịu mất tiền để cho họ ăn ngon, đưa ra tiền và vải đổi lấy công. Đó không là vì yêu người làm thuê, mà vì làm như thế thì người cày sẽ cày sâu, bừa kỹ. Người làm công dốc sức mình lo việc cày bừa không phải vì yêu ông chủ mà vì canh sẽ ngon, tiền và vải sẽ dễ lấy hơn” [22,tr.328].
Đến ngay tình cha con:
“Con người khi còn nhỏ nếu cha mẹ nuối nấng qua loa, thì khi lớn lên sẽ oán cha mẹ. Đứa con lớn lên phụng dưỡng cha mẹ kém thì cha mẹ giận và mắng nhiếc con. Cha với con là chỗ thân thiết nhất mà còn oán trách nhau, đó là vì lo cho nhau không chu đáo như lo cho chính mình” [22,tr.328]. “Cha mẹ đối với con, sinh con trai thì chúc mừng nhau, nhưng sinh con gái thì giết đi. Con trai con gái đều từ lòng cha mẹ mà ra, nhưng con trai thì chúc mừng nhau còn con gái thì lại giết đi, đó là vì nghĩ đến cái thuận tiện về sau, tính đến cái lợi lâu dài. Do đó, cha mẹ đối xử với con cái vẫn còn dùng lối tính toán mà đối xử với nhau, huống chi là những người không có cái ân huệ của cha mẹ đối với con cái?” [22,tr.505].
Trong triều đình thì kẻ gian nhan nhản có tới “bát gian”, quan hệ vua tôi thực chất chỉ có vụ lợi, mua bán: vua bán trách nhiệm và chức tước, còn bề tôi bán tri thức và sức lực. Trong thiên Dương quyền, Hàn Phi viết:
“Hoàng đế có câu: “Người trên kẻ dưới một ngày đánh nhau một trăm trận”. Người dưới che giấu cái riêng tư của mình, để thử bụng người trên.
Người trên nắm lấy quyền cân nhắc xem xét để tước bớt quyền lực kẻ dưới”
[22, tr 73].
Như vậy, theo Hàn Phi, con người vốn đại ác và không thể sửa, không thể dùng nhân, lễ, nghĩa, vô vi để trị. Hàn Phi trong thiên Bát kính viết: “Muốn trị thiên hạ thì phải dựa theo tình cảm con người. Tình cảm con người có yêu ghét, cho nên sự thưởng phạt có thể dùng được. Thưởng và phạt có thể dùng được thì lệnh cấm có thể thi hành mà cái đạo trị nước có đủ vậy” [22,tr.524]. Trong thiên Lục phản ông đánh giá: Người tuân theo nhân nghĩa mà trị dân, để dân theo nhân nghĩa là một ảo tưởng của Nho gia, làm hại cho nước, vì tính con người ta ác do thời thế đổi khác:
“Vào thời thượng cổ, người ta đua nhau về mặt đạo đức, vào thời trung thế người ta đua nhau về mặt mưu trí, nhưng ngày nay người đua nhau về mặt sức mạnh” [22,tr.543].
Ông lý giải phải dùng hình pháp nghiêm khắc mới trị được dân một cách sinh động như sau:
“Nay có đứa con hư hỏng, cha mẹ giận nó, nhưng không thể làm cho nó sửa đổi, những người trong làng chê bai nó nhưng không thể làm nó lay chuyển. Thầy giáo dạy nó mãi, nhưng cũng không thể làm nó lay chuyển. Lấy tình yêu của cha mẹ, lấy đức hạnh của người trong làng, lấy cái khôn ngoan của ông thầy học, cả ba cái tốt đẹp đều thi hành, nhưng rốt cục nó vẫn không lay chuyển, không thay đổi một sợi tơ sợi tóc. Quan lại trong châu sai binh lính thi hành phép công tìm bắt kẻ gian. Lúc đó nó mới hoảng sợ, thay đổi tính nết, thay đổi tính hạnh của mình. Cho nên cha mẹ yêu con không đủ để dạy con, thế nào cũng phải nhờ cậy hình phạt nghiêm khắc của châu quận mới được. Dân chúng nếu được thương yêu thì sinh kiêu căng, nhưng nghe theo uy lực ” [22,tr.546 - 547].
Do đó, lấy chính trực mà dẫn dắt, lấy hình phạt mà làm, thiên hạ mới có thể trị, trị nước dùng đông mà bỏ ít, cho nên không chuộng đức mà chuộng pháp. “Pháp luật của nước không thể bỏ mất và người cai trị không
phải chỉ có một người. Cho nên ông vua có thuật cai trị không tùy theo cái tốt ngẫu nhiên mà có được, mà thi hành cái đạo tất nhiên” [22,tr.569].
Bởi vậy, kẻ thống trị, nhà nước phải căn cứ vào tâm lý luôn “tránh hại và cầu lợi” của con người mà đặt ra pháp luật; trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội. Hàn Phi viết: “Nếu bày thứ hàng rẻ ở nơi kín đáo thì dù là Tăng Sâm, Sử Thu cũng có thể bị ngờ. Nhưng nếu treo một trăm cân vàng ở ngoài chợ thì dù có bọn ăn trộm lớn cũng không dám lấy”
[22,tr.506 – 507], vì họ sợ phạm pháp và bị pháp luật trừng phạt. Theo Hàn Phi, với pháp luật chặt chẽ và minh bạch, được chép vào đồ thư, bày nơi quan phủ, ban bố cho mọi thần dân biết mà thi hành, tưởng phạt nghiêm minh thì thiên hạ sẽ trị. Sự thiếu công bằng sẽ là đầu mối loạn của thiên hạ.
Hàn Phi viết: “Người trên tuân theo nhân nghĩa để cai trị dân là một ảo tưởng của Nho gia, làm hại cho nước, vì tính con người ta vốn ác”.
Hơn nữa, nếu việc dùng nhân nghĩa để trị nước yên dân thì hạng người hiền trong thiên hạ, nhất là thời Chiến quốc, nếu có cũng rất ít. Còn hạng người bất thiện thì rất nhiều. Trị nước là trị dân khắp nước, chứ không phải chỉ trị số ít ngươi hiền bằng giáo hóa đạo đức. Cho nên trị nước theo Hàn Phi không chăm chú vào điều nhân đức, mà phải coi trọng pháp luật, thưởng phạt là công cụ quan trọng nhất, dân dù đông bao nhiêu cũng trị được. Đó là lợi thế của “pháp trị” so với “nhân trị”. Hàn Phi viết:
“Thánh nhân trị nước không cậy ở chỗ người ta yêu mình mà dùng cái thế để người ta không làm điêu sai. Trông cậy người ta làm điều hay cho mình thì trong một nước không đến mười người, nhưng dùng cái thế khiến người ta không thể làm bậy thì có thể trị được cả một nước… Nếu cứ đợi mũi tên tự nó thẳng thì một trăm đời cũng không có tên, nếu đợi cây gỗ tự nó tròn thì một ngàn đời không có bánh xe.” [22,tr.568].
Hàn Phi dẫn chứng rằng Khổng Tử là một bậc thầy nhân nghĩa và chủ trương lấy nhân nghĩa để giáo hóa dân, trong nước Lỗ có mấy triệu người, vậy có bao nhiêu người theo học ông? Tất cả chỉ bảy mươi hai người là có đức và trong số bảy mươi hai người đó chỉ có hai mươi người được gọi là hiền nhân. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào nhân nghĩa để trị dân thì trong số trăm quan lại thì may lắm được mười người có lòng nhân, còn lại chín mươi người kia là bọn gian ác.
1.2.2. Quan điểm lịch sử tiến hóa – cơ sở lý luận cho tư tưởng
“biến pháp” của Pháp gia
Quan điểm tiến hóa về lịch sử của Pháp gia là một thành tựu nổi bật trong việc nghiên cứu về lịch sử xã hội và là một tiền đề đặc sắc cho phương pháp pháp trị của Pháp gia. “Thời biến, pháp biến” là tư tưởng cơ bản về biến pháp trong phép trị nước của Pháp gia. Nội dung này phản ánh đậm nét quan điểm duy vật về lịch sử của Pháp gia và Hàn Phi.
Hàn Phi là người phát triển quan điểm đó lên đỉnh cao mới và vận dụng triệt để vào thực tiễn xã hội, lấy quan điểm lịch sử tiến hóa làm căn cứ cho lý luận pháp trị của mình. Trong quan niệm về tiến hóa xã hội, Thương Ưởng đã chia xã hội ra làm tam thế: thượng thế, trung thế và hạ thế. Trong thiên Khai tắc ông viết: Trời đã bày ra mà dân sinh. Trong lúc ấy dân chỉ biết mẹ mà không biết cha, thân người thân mà yêu riêng. Thân người thân thì biệt, yêu riêng thì hiểm (không biết đến ai). Dân đông mà chuộng biết và hiểu thời dân loạn. Trong lúc ấy dân chuộng thắng mà lấy sức đánh nhau. Chuộng thắng tất tranh, lấy sức đánh nhau tất kiện mà không được phân xử đúng đắn thì không vừa ý. Cho nên người hiền đặt ra vô tư, mà dân vui điều nhân, trong lúc ấy, chọn người thân mà bỏ người hiền. Phàm người nhân lấy yếu làm chuộng, người hiền lấy hơn nhau làm đạo, dân đông mà không có lấy cấm chế lấy hơn nhau làm đạo, lâu ngày tất loạn.