Chương 2: Ảnh hưởng của tư tưởng Pháp trị Hàn Phi Tử với sự phát triển tư tưởng về Nhà nước Pháp quyền Việt Nam
2.2. Ảnh hưởng của đường lối pháp trị Hàn Phi Tử đối với quá trình phát triển tư tưởng về Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Chủ trương dùng pháp luật để trị nước của trường phái Pháp trị thể hiện ý chí của giai cấp thống trị cũng là yêu cầu của lịch sử, của việc quản lý xã hội. Vì vậy nó có ý nghĩa phổ biến trong lịch sử. Lịch sử dựng, giữ và xây dựng đất nước của Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó.
Theo các sách biên niên sử và một số sách thông sử đều ghi Nhà nước ta bắt đầu từ triều đại Hùng Vương trị vì nước Văn Lang. Thời gian tồn tại của nước Văn Lang vào khoảng thiên niên kỷ thứ II TCN. Vào thời kỳ này, Nhà nước Văn Lang đã có luật nhưng rất tiếc những tài liệu nói về luật của nước ta TCN hầu như không còn tìm thấy. Căn cứ vào lời tâu của
Mã Viện với vua Hán Quang Vũ có nói đến: “Luật Việt khác với luật Hán hơn mười điều”. Có lẽ, luật ở thời Hùng Vương chỉ là luật tục hay tập quán pháp, nhưng chắc chắn đó không phải là luật riêng của từng vùng mà là luật chung của người Lạc Việt. Tài liệu dân tộc học cho biết, ở xã hội các cư dân Tây Nguyên cũng như các xã hội sơ khai khác, mỗi cộng đồng tộc người đều có luật tục (hoặc thành văn, hoặc truyền miệng). Luật thời đó mang tinh thần bình đẳng dân chủ thời xưa, cộng với những phép tăc tín ngưỡng cổ truyền, nhưng nó cũng thể hiện tính nghiêm minh của sinh hoạt cộng đồng. Trong “Lĩnh nam chích quái” ghi lại chế độ hôn nhân một vợ một chồng, đây là sự tiến bộ. Xung quanh vấn đề này hình thành một số tập tục thể hiện tính luật pháp của thời Hùng Vương như không cho người nghèo lấy người giàu (chuyện Công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử), như hình phạt nghiêm khắc đối với kẻ phản bội lợi ích của giống nòi (như chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy). Các tục thách cưới, lễ dạm, lễ hỏi (chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh). Nếu ai làm trái điều quy định thì sẽ bị dư luận lên án và có thể bị đuổi khỏi công xã (truyện Mai An Tiêm).
Mặc dù vậy, thời đại Hùng Vương với sự phát triển của nền văn minh sông Hồng và sự xuất hiện của một số hình thái Nhà nước sơ khai đã chứng tỏ sự dựng nước sớm của dân tộc ta và tương ứng với nhà nước đó là những luật lệ giản đơn được thực hiện trong cộng đồng.
Năm 179 TCN, Triệu Đà vua nước Nam Việt, một chính quyền cát cứ ở Trung Hoa đã xâm lược và chinh phục người Âu Lạc. Từ đó đến năm 938 các triều đại phong kiến Trung Hoa thay nhau đô hộ nước ta và thi hành chính sách đồng hóa toàn diện trên các lĩnh vực. Ở lĩnh vực pháp luật, với những tài liệu ít ỏi và tản mạn chúng ta không thể biết một cách đầy đủ, chi tiết về tình hình pháp luật của nước ta trong 10 thế kỷ Bắc thuộc.
Nhưng chắc chắc pháp luật hiện hành của nước ta lúc đó là pháp luật Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Từ 179 TCN đến năm 23, nhà Triệu và nhà
Tây Hán đều dùng tục cũ để cai trị. Việc áp dụng và thi hành luật pháp của các đế chế phong kiến Trung Quốc ở Âu Lạc qua từng thời kỳ có khác nhau, nhưng nhìn chung, cùng với sự mở rộng, củng cố và hoàn thiện của chính quyền đô hộ, pháp luật phong kiến Trung Hoa ngày càng được áp dụng phổ biến và có hiệu lực hơn. Các ngành luật, như luật Hình sự, luật Dân sự, Hôn nhân gia đình thời Đường được áp dụng trên lãnh thổ nước ta.
Nói như vậy không có nghĩa là trong lĩnh vực pháp luật, dân tộc ta hoàn toàn theo pháp luật của các triều đại Trung Quốc. Nhân dân ta vẫn tự điều chỉnh các quan hệ nội bộ trong làng xã bằng các tập quan cổ truyền của mình.
Thời đại phong kiến Việt Nam bắt đầu và kết thúc từ khi nào, hiện nay còn là vấn đề gây tranh cãi của nhiều học giả. Nhưng phần đa ý kiến cho rằng thời đại phong kiến Việt Nam bắt đầu từ triều đại Ngô đến hết triều Nguyễn. Trên cơ sở ý kiến đó, tác giả tập trung nghiên cứu tư tưởng pháp luật Việt Nam từ thời Ngô đến trước khi nước ta trở thành thuộc địa Pháp (938 – 1884)
Sau khi giành được độc lập dân tộc, Nhà nước phong kiến Việt Nam vừa được xây dựng lên, phải đối mặt với nhiều vấn đề mới nảy sinh. Đó là sự nhòm ngó vào địa vị của các ông vua đang trị vì của các tập đoàn xã hội khác. Địa vị và quyền lợi mà nó thâu tóm thì nhiều và do đó nguy cơ đối với nó không phải là ít. Khi chinh phục được thiên hạ, triều đại nào cũng phải lo đến việc củng cố và duy trì địa vị của mình . Công cụ để thực hiện mục đích này là hệ thống quan lại, binh lính, là tư tưởng “thiên mệnh”.
Nhưng như thế vẫn chưa đủ, cần phải có các điều luật để ngăn ngừa những việc xảy ra và nếu xảy ra thì có điều kiện để trừng trị. Mặt khác, trong dân gian, do có nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều tham vọng khác nhau mà luôn có các cuộc tranh chấp và các vụ kiện tụng. Để giải quyết vấn đề này không thể không cần đến các điều luật của triều đình để làm căn cứ xét xử.
Rồi việc xét xử để đề phòng sự tùy tiện, sự lộng quyền của các quan lại, triều đình thấy sự cần thiết phải chế định ra các điều luật làm chỗ dựa cho người thi hành án và người thụ án. Tóm lại, bản thân sự cai trị xã hội cân đến pháp luật và mỗi triều đại đều cần có bộ luật của riêng mình.
Yêu cầu trên xuất hiện ngay từ triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê, song lúc bấy giờ công việc còn bề bộn, ngôi vua chưa vững vàng, triều đại lại ngắn ngủi nên chưa kịp xây dựng những điều luật hoàn chỉnh của triều đại mình. Công việc đó chỉ ra đời ở các triều đại sau. Nhà Lý sau một thời gian cai trị, đến đời Lý Thái Tông thì đưa ra được bộ “Hình thư”, nhà Trần cũng phải sau môt thời gian, Trần Thái Tông mới ban bố được cuốn “Hình luật”.
Các bộ luật có quy mô đầy đủ thì phải đến triều Lê và triều Nguyễn.
Xây dựng nên bộ luật của quốc gia, một triều đại không phải là vấn đề dễ dàng, cũng không phải là công việc của một người, mà đó là công việc phức tạp đòi hỏi công sức của cả triều đình và phải xây dựng trên nhiều cơ sở.
Cơ sở đầu tiên, đó là quyền lợi của vua và dòng họ vua phải được xem là bất khả xâm phạm, phải được bảo vệ bằng các điều luật, quy định.
Câu nói, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, không phải chỉ được chứng tỏ ở xã hội hiện đại mà còn được chứng tỏ ở xã hội phong kiến Việt Nam giai đoạn đầu. Bộ “Hình thư” của triều Lý quy định rằng tội giết vua, phản nghịch… là phạm vào “thập ác” phải giết cả ba họ. Cơ sở này đã quy định tính chất của các điều luật khác.
Cơ sở thứ hai là kinh nghiệm làm luật của các quốc gia khác, mà ở đây là kinh nghiệm của các triều đại phong kiến Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng, cho nên nhiều điều luật phong kiến Trung Quốc có lợi cho việc xây dựng luật phong kiến Việt Nam. Các Nhà nước phong kiến Việt
Nam đều đặt cho mình nhiệm vụ tham khảo các điều luật của phong kiến Trung Quốc để vận dụng vào Việt Nam.
Các bộ luật của phong kiến Trung Quốc dù là triều Đường, triều Tống, triều Nguyên, triều Minh hay triều Thanh đều với danh nghĩa là thể theo “mệnh trời” của nhà Nho, nhưng thực chất bên trong lại thể hiện tư tưởng của phái Pháp gia. Các học thuyết của một quốc gia, dù là triết học hay chính trị - xã hội, tuy có lúc mâu thuẫn nhau, đối nghịch nhau, song quá trình phát triển về sau lại có sự học tập bổ sung cho cái mình còn thiếu sót. Tư tưởng “chính danh” do người sáng lập ra đạo Nho là Khổng Tử nêu ra ở thế kỷ thứ VI TCN, lại được Hàn Phi là người tập đại thành của Pháp gia đề cao ở thế kỷ thứ III TCN. Ngược lại, nhiều nội dung và tính chất các điều luật của các triều đại phong kiến Trung Quốc lấy Nho gia làm tư tưởng cơ bản đều có nguồn gốc từ tư tưởng Pháp trị của Pháp gia. Nhưng hiện tượng này, không có nhà Nho nào thừa nhận. Điều đó là vụ án Tần Thủy Hoàng đốt sách Nho, chôn sống các nhà Nho ở kinh đô Hàm Dương, gây nên sự thâm thù Pháp gia trong các thế hệ nhà Nho sau này. Phần khác là do các triều đại phong kiến Trung Quốc, dù thực chất bên trong như thế nào, nhưng bên ngoài họ vẫn tự thừa nhận là theo đường lối chính trị Đức trị, đường lối nhân nghĩa của nhà Nho, nếu công khai thừa nhận vai trò cần thiết của tư tưởng Pháp gia thì đó là điều khó xử. Dù là Nho hay Pháp cũng là các học phái có mục đích xây dựng chế độ phong kiến trung ương tập quyền, giữa chúng có nhiều điểm giống nhau nên đã học tập lẫn nhau. Ở đây chỉ có điều Nho gia học tập Pháp gia nhưng không dám công khai thừa nhận.
Các học thuyết của Trung Quốc truyền sang Việt Nam trong lịch sử chỉ thấy sử chép là Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, không thấy chép tư tưởng của Pháp gia. Không những thế, một số nhà Nho Việt Nam vì muốn đề cao Nho giáo, do học được từ các nhà Nho Trung Quốc nên đã phê phán
Pháp gia. Nhưng nói đến lĩnh vực pháp luật thì không thể giấu được ảnh hưởng của tư tưởng Pháp gia. Công bằng mà nói đó là ảnh hưởng gián tiếp, chứ không phải là ảnh hưởng trực tiếp, ảnh hưởng qua các bộ luật của các triều đình phong kiến Trung Quốc sau này. Dù trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng là chịu ảnh hưởng và không có gì ngăn cản sự phát triển tư tưởng đó trong lịch sử của Việt Nam.
Cơ sở thứ ba là những tập tục có tính chất luật tồn tại trước khi xuất hiện các triều đình phong kiến Việt Nam mà khi làm luật các triều đình phải tính tới. Đó là tục phân chia ruộng đất, tục kế thừa tài sản, tục ghi nhận quyền lợi của người phụ nữ, vv… Nếu bộ luật nào bảo lưu được nhiều tập tục đó thì hạn chế được phần nào tính khác nghiệt, tính chất bất bình đẳng của luật phong kiến. Ngược lại, nếu bộ luật nào gạt bỏ nó thì sự nghiệt ngã ngày càng rõ.
Thời Ngô – Đinh – tiền Lê: Thời kì này, khi đất nước mới thoát khỏi hơn 1000 năm Bắc thuộc những nhà nước mở đầu cho thời kì quốc gia độc lập thống nhất. Vì vậy, nhà nước mang đậm màu sắc tù trưởng quân sự.
Những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến luật pháp. Từ những tư liệu ít ỏi, chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét đối với pháp luật thời kì này như sau: Triều đình chủ yếu dùng uy lực để răn dạy và chế ngự nhân dân, nhằm củng cố quyền lực trung ương. Các biện pháp rất cụ thể như vua Đinh cho đặt vạc dầu sôi lớn ở sân, kẻ nào phạm tội thì bỏ vào đó, vua còn nuôi hổ cũng nhằm răn đe những kẻ phạm tội. Phần nhiều ý kiến hiện nay cho rằng luật pháp thời kì này chưa thành văn mà chỉ dừng lại ở những biện pháp trên. Phổ biến vẫn là những phong tục tập quán của nhân dân. Những phong tục này vẫn được bảo tồn và phát triển trải qua quá trình lịch sử lâu dài. Nó ảnh hưởng sâu sắc và lớn lao đối với nhân dân. Những hạn chế của pháp luật thế kỉ X tập trung ở những điểm như có nhiều tuỳ tiện trong qui định, xét xử. Do đó dẫn đến sự không công bằng của luật pháp, không hiệu
quả. Ngoài ra, các biện pháp hình phạt của Lê Long Đĩnh rất bất nhân tuỳ tiện, lấy hành động giết người làm thú vui: bắt người có tội trèo lên cây cao rồi chặt gốc để ngã chết, hay bắt người nhốt trong cũi, thả ven biển chờ nước triều lên ngập cũi làm sặc nước mà chết… Những hạn chế này được chấp nhận, nó phù hợp với hoàn cảnh lúc đó là nhà nước mới thoát nạn Bắc thuộc, trong thế kỉ bản lề của dân tộc.
Thời Lý năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi lập ra nhà Lý, đặt nền móng cho một trong những triều đại thịnh trị của lịch sử phong kiến dân tộc. Song song với quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước là sự tiến bộ từng bước của pháp luật nhà Lý. Những đóng góp tích cực thể hiện qua các điểm sau: Pháp luật thành văn đầu tiên. Năm 1042, Lý Thái Tông ban hành bộ luật “Hình thư”. Với sự kiện này, chứng tỏ nhà nước trung ương tập quyền đã tương đối ổn định, thiết chế tương đối hoàn chỉnh; khắc phục sự tản mạn, tuỳ tiện, bất thống nhất, không công bằng từ triều đại trước. Pháp luật triều Lý có phạm vi điều chỉnh rộng, không chỉ ở hình sự mà còn qui định về qui phạm pháp luật, giải quyết kiện cáo, khiếu nại thủ tục xét xử…
tức luật tố tụng hình sự. Pháp luật xác định quyền sở hữu tài sản trâu bò, ruộng đất, việc cầm cố đoạt mại, việc tranh chấp ruộng ao… tức luật dân sự. Pháp luật còn qui định việc lấy vợ chồng, nuôi con nuôi, nghĩa vụ vợ chồng tức luật hôn nhân và gia đình. Nó còn qui định nguyên tắc tổng quát về hoạt động tổ chức nhà nước, như qui chế tuyển dụng quan lại, y phục của quan văn võ, qui chế bảo vệ cung cấm, khen thưởng, kỉ luật qui định nghĩa vụ của nhân dân nó có giá trị như luật hành chính. Hình thư còn qui định thuế má và cách thức thu thuế, tức luật hành chính. Hình thư qui định những tội và trị tội đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm bảo vệ tài sản, địa vị chính trị của giai cấp thống trị, tương đương luật hình sự.
Pháp luật triều Lý còn được dùng để đòi đất: Nhà Tống vẫn giữ lại đất Vật Dương và Vật Hoá tức hai châu Quy Hoá và Thiên An với lí do hai châu
đó là được tù trưởng thiểu số địa phương đem nộp cho nhà Tống. Chuyến đi đòi đất đó, vua Lý giao cho Lê Văn Thịnh làm sứ giả. Lê Văn Thịnh dùng pháp lý để đòi đất bằng lập luận: “Đất thì có chủ. Các viên coi giữ mang nộp và trốn đi, thì đất ấy thành ra vật ăn cắp của chủ. Sự chủ giao cho mà tự lấy trộm đã không tha thứ được mà trộm của hay tàng trữ thì pháp luật không cho phép. Huống chi nay chúng lại mang đất trộm dâng để làm nhơ bẩn sổ sách của nhà vua” . Nhà Tống đã chịu giao trả đất cho nhà Lý trước sự sắc sảo và chặt chẽ về pháp luật của sứ thần Đại Việt. Đây là thắng lợi ngoại giao lớn của Đại Việt nhờ sự góp sức của luật pháp.
Triều Lý đã đặt nền móng cho các triều đại sau về kĩ thuật làm luật. Kĩ thuật lập pháp thời Lý đã đạt đến trình độ tiên tiến, thể hiện qua nhận thức và những qui định:
- Một người nếu đã nhận thức được hành vi sai trái mà vẫn làm gây hậu quả nghiêm trọng mới được coi là kẻ tội phạm
- Phân biệt tội cố ý và tội vô ý
- Xác định người có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý về độ tuổi, sức khoẻ nhận thức…
Hình thư đã xác định được những nguyên tắc tố tụng nhất định. Án đã xử xong thì không xử lại. Xác định thời gian còn được thưa kiện và thời gian kết án; xác định thẩm quyền của tài phán; cưỡng chế và miễn hình phạt đối với người phạm tội. Song song với công tác xét xử, làm luật là biện pháp mà nhà Lý pháp luật vào cuộc sống. Chia dân theo các bảo (mỗi bảo có 3 hộ gia đình) để kiểm soát, tố cáo và cùng chịu trách nhiệm, từ đó tạo được mạng lưới an ninh nhân dân. Hay nhà Lý cho đặt chuông kêu oan ở cửa công đình, dân có oan thì đến đánh chuông kêu oan. Ngoài ra, pháp luật nhà Lý có qui định khen thưởng đối với những người tích cực tố giác tội phạm.Hạn chế thấy rõ nhất của luật pháp nhà Lý là cho người phạm tội