Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Một phần của tài liệu Tư tưởng pháp trị của hàn phi tử với việc phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền việt nam hiện nay (Trang 90 - 104)

Chương 2: Ảnh hưởng của tư tưởng Pháp trị Hàn Phi Tử với sự phát triển tư tưởng về Nhà nước Pháp quyền Việt Nam

2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.2.1. Tư tưởng H Chí Minh v xây dng Nhà nước pháp quyn xã hi ch nghĩa Vit Nam.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là quan điểm tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kim chỉ nam định

hướng cho toàn bộ quá trình tổ chức, xây dựng và hoạt động của Nhà nước ta. Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo Hồ Chí Minh là Nhà nước thực hiện quyền lực của nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Nhân dân theo quan niệm của Hồ Chí Minh là toàn dân, là tất cả đàn ông, đàn bà, người già người trẻ , không phân biệt giai cấp, dân tộc, đảng phái, tôn giáo.

Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (1946) do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, ngay từ Điều 1 đã khẳng định: "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp". Xuất phát từ lòng tin sâu sắc vào truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, cho dù trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn sau khi cách mạng mới thành công - giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm đang hoành hành; Người đề nghị Chính phủ lâm thời “tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…”,

“Tổng tuyển cử là dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc Nước nhà . Trong cuộc tổng tuyển cử hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử...Do bầu cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ, Chính phủ đó thật là chính phủ của toàn dân”. Tức là Người đã thực hiện ngay dân chủ trực tiếp, điều mà nền dân chủ tư sản phải trải qua mấy trăm năm mới đạt được, mà không đợi đến lúc có đủ những điều kiện về kinh tế - xã hội cho phép. Sự thành lập bộ máy nhà nước do dân cử bằng phổ thông đầu phiếu là sự kiện đầu tiên trong lịch sử nhà nước của Việt Nam. Một Chính phủ như vậy nhất định thể hiện được truyền thống đoàn kết dân tộc, thể hiện ý chí thống nhất cao của toàn dân; Người nói: “Tôi có thể tuyên bố trước Quốc hội rằng, Chính phủ này tỏ rõ tinh thần quốc dân liên hiệp, là một Chính phủ chú trọng thực tế và sẽ nỗ lực làm việc, để tranh thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ, cùng

xây dựng một nước Việt Nam mới. Chính phủ này là chính phủ toàn quốc có đủ tài Trung, Nam, Bắc tham gia”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngay từ khi ra đời là Nhà nước dân chủ kiểu mới - Nhà nước của dân, do dân vì dân. Cơ sở xã hội của Nhà nước đó là toàn thể dân tộc Việt Nam, dựa nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đó là Nhà nước thực hiện chức năng chuyên chính vô sản nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nhà nước vì dân, theo Hồ Chí Minh có nghĩa là mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát và vì lợi ích của nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được ; việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.

Người chỉ rõ: chế độ ta là chế độ dân chủ, nhân dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ.

Chính phủ thì việc to, việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Xây dựng một Nhà nước vì dân là một nhà nước không đặc quyền, đặc lợi, phục vụ nhân dân tận tụy, một nhà nước trong sạch, chí công vô tư.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về một nhà nước của dân và vì dân còn phải là nhà nước công bộc của dân, gánh vác công việc chung của dân chứ không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như thời Pháp, Nhật. Người chỉ rõ: bất kỳ ở địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta đều là đầy tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền đáp xứng đáng cho nhân dân.

Nhà nước của dân, do dân phải là một nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý chí

và nguyện vọng của nhân dân. Ngay từ những năm 1922, trong bài “Việt Nam yêu cầu ca” có 8 điều thì có một điều (Điều 7) Người viết:

Bảy xin hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền"

Theo Người thì pháp luật là phép của dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương đề cao việc quản lý nhà nước bằng công cụ pháp luật. Trước khi có Hiến pháp, Người cho rằng, một xã hội không thể sống một ngày không có pháp luật, cho nên Người đã ký Sắc lệnh giữ lại mọi luật lệ của chế độ cũ, chỉ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do. Đồng thời, Người ký một loạt Sắc lệnh cấp bách:

Sắc lệnh bảo đảm tự do cá nhân, Sắc lệnh bãi bỏ thuế thân, Sắc lệnh tổ chức Tòa án độc lập với hành chính... Đó là nền tảng trước mắt và lâu dài cho một nhà nước pháp quyền. Tư tưởng pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong hoạt động của Chính phủ, của các cấp chính quyền, của các tổ chức, Người đòi hỏi tất cả mọi tổ chức và cá nhân phải chấp hành pháp luật, không ai được đứng trên, đứng ngoài pháp luật.

Nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là khẳng định cội nguồn quyền lực nhà nước là ở nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân chứ không phải nhân dân là của nhà nước; Nhà nước pháp quyền đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép, còn nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm. Một mặt, pháp luật bảo đảm cho sự phát triển tự do tối đa của nhân dân, mặt khác pháp luật xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, trong đó không chỉ mỗi công dân, mỗi cá nhân, mà bản thân nhà nước và những người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật . Hai mặt dân chủ và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền

gắn bó hữu cơ, làm tiền đề tồn tại cho nhau và tạo nên bản chất của Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại; Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng nhà nước bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ để để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân

Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng những tư tưởng của Người về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân vẫn còn nguyên giá trị. Giá trị trường tồn của những luận điểm đó không chỉ soi sáng mà còn là sự tiếp sức quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính khả thi của các qui định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra giám sát tính hợp hiến hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” - một trong những điều kiện và môi trường tiên quyết ở nước ta, bảo đảm phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

2.2.2. Nhng quan đim cơ bn ca Đảng Cng sn Vit Nam v xây dng Nhà nước pháp quyn xã hi ch nghĩa Vit Nam.

Vấn đề nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng đã được đề cập tới một cách sâu sắc tại Đại hội Đảng XI.

Quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là kết quả của một quá trình đổi mới, phát

triển tư duy lý luận của Đảng. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện để đưa sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đến thắng lợi.

Trong quá trình nhận thức Đảng ta về vấn đề dân chủ và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vấn đề dân chủ và phát huy dân chủ được Đảng ta nhận thức và thực hiện ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn .

Trước đổi mới, Đảng ta đã dày công nghiên cứu lý luận và đến Đại hội IV xác lập quan điểm về chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa. Song sự biến đổi của thực tiễn đã và đặt ra nhiều vấn đề mới cần bổ sung, phát triển. Chính vì vậy, trong quá trình đổi mới, đến nay Đảng ta xác định:

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” [13,tr.84-85].

Nội dung cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa là: “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Đảng ta đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa: Dân chủ gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân; dân là gốc, dân là chủ và dân làm chủ. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một mục tiêu lớn, một nội dung quan trọng của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Qua 25 năm đổi mới, Đảng ta đã có những phát triển mới, quan trọng trong nhận thức về dân chủ . Quan niệm về dân chủ được mở rộng . Dân chủ được xem xét nhiều khía cạnh: Dân chủ là chế độ chính trị; dân chủ là giá trị; dân chủ là phương thức và nguyên tắc tổ chức xã hội; dân chủ chung đối với xã hội và dân chủ với mỗi cá nhân; dân chủ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Với việc đưa “dân chủ” - một mục tiêu của xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc và hoàn thiện hơn hệ mục tiêu xã hội chủ nghĩa: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [13,tr.70] theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt dân

chủ không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực phát triển nhanh và bền vững của đất nước, vì nó phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, giải phóng năng lực sáng tạo của con người.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa phải tiếp thu và phát triển các giá trị nhân loại về dân chủ , trong đó có dân chủ tư sản. Đây là một vấn đề rất quan trọng, vì con đường phát triển của nước ta là quá độ lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cũng tức bỏ qua chế độ dân chủ tư sản.

Song cần phải tham khảo thành quả dân chủ của nhân loại, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Đó là những thành tựu của các nước phát triển về quản lý nhà nước, về thiết kế bộ máy tổ chức chính trị, bộ máy quản lý nhà nước, về hành chính công, về trách nhiệm xã hội của cá nhân…Tuy nhiên, cũng không áp dụng máy móc các hình thức dân chủ nước ngoài vào nước ta.

Quan niệm về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa: Thực chất của phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là phát huy vai trò chủ thể của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội và nhân dân, nhằm huy động mọi nguồn lực để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là phát huy vai trò tích cực, tự giác, sáng tạo của con người.

Mục tiêu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là củng cố và tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh; giữ ổn định chính trị, tạo tiền đề đẩy mạnh sự phát triển toàn diện đất nước; tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ mới.

Đảng ta đã đi sâu làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến dân chủ và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta:

Một là, nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của Đảng và Nhà nước. Tập trung dân chủ là một nội dung thống nhất, không phải là sự kết hợp hai mặt tập trung và dân chủ. Tập trung và dân chủ là tập trung trên cơ sở dân chủ - đối lập với tập trung độc đoán, quan liêu, mất dân chủ.

Hai là, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam . Đó là chế độ hiệp thương dân chủ (khác căn bản với dân chủ trong Đảng) đặc biệt quan trọng trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức rộng rãi của tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội, với mục tiêu đoàn kết phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội - một thể chế dân chủ thực chất mà không cần nhiều đảng chính trị.

Ba là, các điều kiện để xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để phát huy dân chủ về kinh tế phải thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Để phát huy dân chủ về chính trị phải nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Nhà nước các cấp, bảo đảm nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân, phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều kiện quyết định nhất để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là Đảng nêu gương về dân chủ và lãnh đạo tốt quá trình đổi mới hoạt động của nhà nước.

Quan niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là kết quả một quá trình nhận thức và khảo nghiệm trong thực tiễn đổi mới của Đảng ta.

Nhận thức mới về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một trong hai đóng góp lớn về lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là một kết quả của quá trình đấu tranh giữa nhận thức mới và nhận thức cũ. Trước đổi mới, Đảng ta chưa

dùng khái niệm nhà nước pháp quyền, mà dùng khái niệm kiểu nhà nước, nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tư tưởng về nhà nước pháp quyền vẫn được thể hiện. Đó là , nhà nước - công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đến Hội nghị giữa nhiệm kỳ, khóa VII (Tháng 1 năm 1994) Đảng ta chính thức dùng khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Qua các kỳ đại hội, đến Đại hội XI Đảng ta tiếp tục khẳng định các quan điểm về xây dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo” [13,tr.70]. Đây là một bước tiến dài trên con đường nhận thức về nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là tất yếu, do yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, giao lưu, hội nhập kinh tế. Tư tưởng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng ta có cơ sở từ tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử. Đảng ta tiếp thu có chọn lọc thành quả của nền văn minh nhân loại.

Nhà nước pháp quyền trở thành một giá trị văn minh của nhân loại.

Tuy nhiên, cần lưu ý: Như đã nói ở trên, Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước. (Vì trong lịch sử có bốn kiểu nhà nước: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa). Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước, một trình độ phát triển của nhà nước về phương diện tổ chức, thiết kế, hoạt động - cách thức, hình thức kỹ thuật tổ chức bộ máy nhà nước để bảo đảm cho hiến pháp và pháp luật giữ vị trí tối thượng. Do vậy, nhà nước pháp quyền không xoá nhòa bản chất dân chủ của nhà nước. Nhà nước pháp quyền tư sản có sự mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn. Hạn chế của nhà nước pháp quyền tư sản là quá đề cao pháp luật; các nghị sỹ không quan tâm lợi ích của dân mà chủ yếu quan tâm đến lợi ích kinh tế và chính trị của đảng phái do mình đại diện. Không có một mô hình kiểu mẫu, tối ưu duy nhất của

Một phần của tài liệu Tư tưởng pháp trị của hàn phi tử với việc phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền việt nam hiện nay (Trang 90 - 104)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(131 trang)