Cương 3: Những giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực trong tư tưởng Pháp trị Hàn Phi Tử đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị lịch sử của đường lối pháp trị với việc xây dựng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền Việt Nam
3.2.1. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân – những thành tố cơ bản của hệ thống chính trị - là những mối quan hệ cơ bản nhất bao trùm và có ý nghĩa cốt tử, quy định bản chất của chế độ chính trị và thực chất, mục đích của việc sử dụng quyền lực ở nước
ta. Quyền lực của nhân dân được thực hiện như thế nào, chế độ chính trị có được ổn định, xã hội có được phát triển hay không, tất cả tùy thuộc vào việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ trên. Trong lịch sử của nhân loại đã có không ít những bài học cho việc nhận thức chưa đúng và xử lý không tốt mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền, Nhà nước và Nhân dân.
Từ khi có chính quyền và trở thành đảng cầm quyền duy nhất, là hạt nhân chính trị lãnh đạo đất nước, Đảng ta rất coi trọng và chăm lo củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, nhờ đó mà cách mạng nước ta đã giành được những thắng lợi hết sức vẻ vang.
Đất nước đang trong quá trình hội nhập, đẩy mạnh tham gia vào quá trình Toàn cầu hóa trên thế giới. Trước tình hình đó, hệ thống chính trị nước ta đã bộc lộc nhiều điểm bất cập, hoạt động chưa hiệu quả, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân chưa được giải quyết tốt.
Để đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị, xây dựng và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, vấn đề mấu chốt là phân định rõ chức năng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Cần làm rõ quan niệm như thế nào về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII) đã chỉ rõ:
“Chưa có quy chế rõ ràng đảm bảo cho việc kiện toàn và phát huy hiệu lực của bộ máy Nhà nước… Tình trạng tố chức Đảng bao biện, làm thay, can thiệp sâu vào những công việc thuộc chức năng điều hành của nhà nước vẫn tồn tại. Mặt khác, có những nơi lại xem nhẹ sự lãnh đạo của Đảng, của tập thể cấp ủy” [14,tr.22].
Thực tế cho thấy: Trước yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước mà trọng tâm là đổi mới về kinh tế, hệ thống chính trị đã bộc lộ nhiều khuyết điểm và nhược điểm, trong đó nhược điểm lớn nhất là bộ máy Đảng, Nhà
nước và các đoàn thể nhân dân chưa thể hiện và thực hiện đẩy đủ quyền làm chủ của nhân dân, chế độ trách nhiệm không rõ ràng, tổ chức rất cồng kềnh, cách làm việc thủ công, thiếu trật tự, kỷ cương và kém hiệu lực.
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, song trước hết là nguyên nhân thuộc về nhận thức. Từ nhận thức dẫn đến việc chậm thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Hậu quả là. Có không ít trường hợp các cơ quan Nhà nước đã trở nên bị phụ thuộc và tê liệt, không thể đảm bảo việc tuân thủ pháp luật khi phải đương đầu với các chỉ thị của Đảng bộ các cấp.
Một khi bị can thiệtp trực tiếp và hoạt động chuyên môn – nghiệp vụ, cho dù sự can thiệp ấy là từ một chính Đảng thể hiện lợi ích cuả đại đa số nhân dân, thì Nhà nước cũng không thể thực hiện tốt chức năng công quản của nó, và trên danh nghĩa, cũng không còn là đại diện cho ý chí chung của toàn xã hội. Đó là chưa kể trong tình hình hiện nay: “Tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo dức và lối sống của một bộ phận không nhỏ đảng viên, đang trở thành một trong bốn nguy cơ mà hiện nay đât nước đang phải đối mặt” [15,tr.15,67]. Trong một bối cảnh như vậy, liệu có thể đảm bảo rằng 100% những chỉ thị từ cấp ủy đối với nhà nước là họp lý và hiệu quả không? Không một ai dám quả quyết điều ấy. Vậy thì, “cần phải thoát khỏi cách làm và cách nghĩ thiển cận rằng cơ quan Nhà nước làm thì Đảng mất quyền, do đó cố duy trì hoạt động của các cấp ủy theo hướng như cơ quan Nhà nước, ra lệnh, quyết định, chỉ huy trực tiếp tất cả”[34, tr. 62] để trả lại vị thế đích thực của nhà nước trong quản lý xã hội. Điều đó đồng nghĩa với việc trả lại vị thế tối cao cho pháp luật: tất thảy các công dân, các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội đều phải tuân thủ pháp luật, và trong quan hệ với pháp luật không thể có bất kỳ ngoại lệ nào, kể cả Đảng.
Sự chậm trễ trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, sự chưa rõ ràng và nhất quán trong nhận thức về mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước trong điều kiện mới, là những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng kỷ luật Đảng chưa nghiêm; pháp luật của Nhà nước bị buông lỏng, nhân dân mất lòng tin. Để giải quyết tốt sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, mà vẫn không can thiệp vào hoạt động – nghiệp vụ của Nhà nước, thì về phía mình, Đảng phải thay đổi phương thức lãnh đạo của mình đối với Nhà nước, mà cụ thể là:
1. Là một đảng duy nhất nắm quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo hệ thống chính trị, Đảng cần đề phòng nguy cơ phạm phải các sai lầm như quna liêu, độc đoán, chuyên quyền, lạm quyền, đặc quyền dặc lợi, thoái hóa, biến chất... Một đảng duy nhất cầm quyền sẽ xuất hiện nguy cơ lớn là cầm quyền bị quan liêu hóa, từ việc để ra chủ trương chính sách không hợp quy luật, không hợp lòng dân, phương pháp công tác rời xa quần chúng đến tình trạng tha hóa trong lối sống của một bộ phận cán bộ.
2. Đảng nên chủ động phân định rõ chức năng giữa Đảng và Nhà nước, từng bước xác định rõ nội dung, phạm vi, mức độ quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Trên cơ sở đó cụ thể hóa nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị nói chung, cũng như đối với Nhà nước nói riêng.
3. Vì gần như toàn bộ các vị trí chủ chốt của bộ máy hành chính nói riêng và bộ phận Hành pháp nói chung, cũng như bộ phân Tư pháp, và đa số thành viên Quốc hội – đều là Đảng viên, nên Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cách tăng cường quản lý đảng viên trong bộ máy Nhà nước trên tinh thần kỷ luật và đạo đức Cộng sản.
4. Đảng lãnh đạo bằng đường lối định hướng chính trị. Phương thức này thể hiện ở việc Đảng hoạch định cương lĩnh xây dựng đất nước, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đường lối và những định hướng về
chính sách. Hình thức cơ bản nhát của phương thức này là các nghị quyết của Đảng. Vì vậy nâng cao chất lượng của nghị quyết là rất cần thiết. Tiếp tục đổi mới cách ra nghị quyết và chỉ thị của Đảng là, Đảng chỉ ra nghị quyết, chỉ thị khi thật cần thiết. Nghị quyết phải ngắn gọn, rõ ràng, các cấp ủy và tổ chức đảng từng ngành có thể thực hiện được ngay, giảm bớt thời gian chờ đợi hướng dẫn, cụ thể hóa ở các cấp, trên cơ sở nghị quyết Trung ương, xây dựng nghị quyết của cấp mình bằng các chương trình hành động cụ thể, phù hợp
5. Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát. Muốn làm được chức năng này, Đảng cần tự chấn chỉnh mình bằng cách tự xây dựng cho mình một đội ngũ đảng viên thật sự là những người có lương tri, có khả năng tập hợp quần chúng để giúp Đảng có lực lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới của cách mạng. Có như vậy, tiếng nói của người Đảng viên mới có trọng lượng đối với tập thể nơi anh ta sống và công tác. Cần phải quán triệt quan điểm: sự phê phán đối với đảng viên biến chất tuyệt nhiên không đồng nghĩa với việc nói xấu Đảng, chống Đảng.
6. Vì là một đảng lãnh đạo duy nhất, Đảng cần thường xuyên thực hiện phản biện xã hội. Nhờ có hệ thống thông tin phản hồi như vậy, Đảng mới kịp thời nắm bắt nguyện vọng, phục vụ nhân dân được tốt hơn. Do đó, khuyến khích dân chủ, đồng nghĩa với việc Đảng tạo ra chiếc gương để soi mình trong đó. Điều này sẽ không bao giờ có nếu chỉ tồn tại cơ chế thông tin một chiều.
Thực hiện tốt được các nhiệm vụ như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước (và không chỉ đối với Nhà nước mà với toàn xã hội), sẽ ngày càng được củng cố và phát triển. Đồng thời Nhà nước có được tính độc lập cần thiết – để xử lý kịp thời những vấn đề quốc kế dân sinh, và để chuyển dịch cơ cấu sao cho hoạt động của mình đạt được hiệu quả tối ưu.
3.2.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là công tác lập pháp
Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, bảo đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp.
Một là, đổi mới công tác kế hoạch lập pháp: Kế hoạch làm luật nếu chỉ được tiến hành trên cơ sở đề xuất của các cơ quan hữu quan để tập hợp, cân đối và thông qua sẽ không thể khắc phục được tình trạng không hoàn thành kế hoạch, vì không ít dự án luật được đăng ký theo kiểu "giữ chỗ" và trên thực tế, rất khó xây dựng do chưa xác định được đầy đủ tính chất, mục tiêu, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Sự đăng ký văn bản theo kiểu "ghi danh" đã không ràng buộc một cách chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đề xuất dự luật. Để khắc phục tình trạng này, nên chăng, thay vì xây dựng và thông qua kế hoạch làm luật hằng năm và 5 năm thường lệ, Quốc hội chỉ cần thông qua các sáng kiến pháp luật. Cá nhân, cơ quan (theo quy định của pháp luật) nêu sáng kiến pháp luật có trách nhiệm lập luận các căn cứ về sự cần thiết của mục tiêu, đối tượng cần điều chỉnh và tính khả thi của công tác xây dựng văn bản; trên cơ sở đó, Quốc hội thảo luận, thông qua và giao trách nhiệm xây dựng dự thảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân phù hợp.
Hai là, thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật: Thực tiễn làm luật ở nước ta thời gian qua cho thấy, các đạo luật được xây dựng và thông qua phần nhiều đều có dung lượng khá lớn các quy phạm và đối tượng điều chỉnh; phạm vi điều chỉnh cũng khá lớn. Chính sự đầu tư "nhân, tài, vật, lực" cho các đạo luật có quy mô lớn đã làm cho công việc soạn thảo các dự thảo văn bản bị kéo dài, tính chất đồng bộ và thống nhất của dự thảo trong mối quan hệ với các đạo luật khác nhiều khi không được bảo đảm. Đặc biệt, các đạo luật lớn vì phức tạp nên thường phải tranh luận, thảo luận nhiều thời gian mới mong đạt được sự thống nhất các quan điểm và cách
thức thể hiện. Do vậy, việc chuẩn bị xây dựng dự thảo tại các ban soạn thảo, thẩm định, thảo luận, chỉnh lý và thông qua tại Quốc hội thường kéo dài. Khoảng cách giữa nhu cầu cấp bách phải điều chỉnh và khả năng điều chỉnh của đạo luật ngày càng xa đã dẫn đến tình trạng, đợi được luật ra đời, cuộc sống đã biến chuyển sang một mức độ phát triển khác. Để khắc phục tình trạng này, thay vì xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô lớn, nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít các điều khoản sẽ được nhanh chóng xây dựng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích với các không gian pháp lý quốc tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm soát tính đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế.
Ba là, đổi mới cách thức và quy trình thông qua luật: Phong cách làm luật lâu nay của cơ quan lập pháp thể hiện ở các hoạt động thảo luận của các đại biểu Quốc hội, thẩm định của các ủy ban của Quốc hội, giải trình tiếp thu của cơ quan soạn thảo, đã rất khó nâng cao được chất lượng và hiệu quả của đạo luật. Sự thảo luận chủ yếu ở dạng câu chữ đã chiếm khá nhiều thời gian, trong khi nội dung dự thảo lại ít được chú ý. Do vậy, ý kiến thảo luận của đại biểu Quốc hội đối với các dự thảo chất lượng chưa cao.
Bốn là, tăng cường lắng nghe ý kiến nhân dân đóng góp xây dựng các dự thảo luật: Các dự thảo luật một khi được xây dựng ngắn gọn, ít điều khoản sẽ rất dễ dàng cho nhân dân tiếp cận. Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều kiện quan trọng để pháp luật phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật thật sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần quy định, việc lấy ý kiến của nhân dân (chứ không chỉ là lấy ý kiến của các
cơ quan, tổ chức hay của một số cán bộ) đối với các dự án luật là điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng dự thảo. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân vào các dự thảo (tiếp thu ý kiến nào, không tiếp thu ý kiến nào, vì sao) phải được thông báo công khai và minh bạch. Có như vậy, nhân dân mới cảm thấy ý kiến của mình được tôn trọng và mặt khác, mới củng cố niềm tin của họ vào luật pháp.
3.2.3. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật
Để hệ thống pháp luật trở thành hiện thực và đi vào cuộc sống thì mọi đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước cũng như từng địa phương và các ngành phải được xây dựng trên cơ sở dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và giám sát mọi hoạt động lãnh đạo, quản lý của các cấp, các ngành trong bộ máy Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, công tác kiểm tra, giám sát toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm vật chất của xã hội là điều có ý nghĩa quyết định thúc đẩy nền sản xuất phát triển. Chỉ có như vậy mới góp phần đẩy lùi tiêu cực, suy thoái tham nhũng, làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt là phải thanh tra, kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát đảm bảo tính minh bạch trong việc sử dụng ngân sách Nhà nước, tài sản công, tài chính Đảng, đoàn thể, tài chính của các doanh nghiệp, Nhà nước, các quỹ do nhân dân đóng góp và do nước ngoài tài trợ. Vì vậy, để quản lý chặt chẽ nền kinh tế Đảng và Nhà nước phải lo quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô; phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với mọi hoạt động, quản lý kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong những năm qua, phần lớn các vụ tham nhũng lớn, nhỏ phần lớn là do nhân dân phát hiện. Bởi vậy, nhất thiết các tổ chức Đảng và Nhà nước phải biết tổ chức, thu hút quần chúng vào công tác kiểm tra, giám sát chứ không chỉ là “khoán” công tác kiểm tra, giám sát cho các tổ chức quân chúng, hoặc tổ chức kiểm tra, giám sát của nhân dân. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát do các cơ quan Nhà nước thực
hiện theo thẩm quyền là việc làm cấp bách và cần thiết, nhưng cần phải phối hợp với thanh tra, kiểm tra, giám sát bằng lực lượng đông đảo nhân dân có mặt ở khắp nơi, với trăm ngàn tai mắt, nhìn thấu mọi việc, biết được mọi nhẽ, tường tận mọi điều thì mới ngăn chặn, đẩy lùi được mọi biểu hiện tiêu cực trong các cơ quan và nhân viên Nhà nước, do đó mới chấn hưng được đất nước và bảo vệ vẽng chắc chế độ xã hội chủ nghĩa.
3.2.4. Đổi mới phương thức tuyển chọn cán bộ, công chức
Đổi mới cơ chế, chính sách tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp đội ngũ cán bộ là vấn đề mang tính cốt lõi đảm bảo cho việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay. Nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng, đi đúng hướng, thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của mình trong từng giai đoạn cách mạng mà trước hết là đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập toàn cầu hóa hiện nay. Công tác đào tạo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong bộ máy của Đảng và Nhà nước phải làm theo quy hoạch, kế hoạch cụ thể, gắn với tiêu chuẩn của từng chức danh và yêu cầu sử dụng, đồng thời gắn với công việc tạo nguồn. Phải lấy đào tạo cơ bản làm chính, nhưng không được xem nhẹ bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và bổ trợ; coi trọng kinh nghiệm năng lực thực hành. Đây là nhiệm vụ của các cấp, các ngành mà trước hết là cơ quan pháp luật. Trong quá trình đào tạo và bồi dưỡng phải kiên quyết đoạn tuyệt với những tư tưởng, quan điểm dàn đều, tràn lan… có như vậy mới nhanh chóng khắc phục những hẫng hụt về kiến thức và chênh lệch nhau về trình độ của đội ngũ cán bộ trong bộ máy của Đảng và Nhà nước. Đào tạo đội ngũ cán bộ công chức phải kết hợp nhuần nhuyễn với việc sử dụng, kể cả trước mắt cũng như lâu dài.
Đánh giá, sắp xếp sử dụng cán bộ phải trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của đảng viên, nhân dân làm thước đo