Thực tiễn và một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

Một phần của tài liệu Tư tưởng pháp trị của hàn phi tử với việc phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền việt nam hiện nay (Trang 104 - 113)

Cương 3: Những giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực trong tư tưởng Pháp trị Hàn Phi Tử đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt

3.1. Thực tiễn và một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

3.1.1. Thc tin quá trình xây dng Nhà nước pháp quyn xã hi ch nghĩa ti Vit Nam

Thành tựu nổi bật nhất của nước ta trong 60 năm qua là sự khẳng định trên thực tế “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”, là sự lãnh đạo và uy tín về tinh thần và chính trị của Đảng được nhân dân tự nguyện thừa nhận, là một cơ cấu xã hội sâu rộng của chính quyền và nhà nước, là khối đại đoàn kết toàn dân được hun đúc từ nhiều thời kỳ cách mạng và đã trở thành một hệ thống chính trị vững chắc.

Đảng ta đã từng bước hoàn thiện và phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Hiến pháp năm 1992 và sự sửa đổi các bộ luật trong suốt thời gian qua đã tạo khuôn khổ pháp lý để nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Thành tựu này đánh dấu bước phát triển mới về nhận thức của Đảng đối với nhà nước trong điều kiện mới. Nhà nước tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền hành chính được cải cách một bước…Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được phát huy; một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, trước hết là cơ sở, bước đầu thực hiện.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đã xác định tình hình hiện nay đòi hỏi cho phép chúng ta tiến hành đổi mới hệ thống chính trị một bước căn bản hơn, có hệ thống hơn, làm sâu sắc thêm quá trình đổi mới, đồng bộ và toàn diện…, làm cho kiến trúc thượng tầng

phát huy tốt vai trò thúc đẩy, mở đường cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thực hiện chủ trương ấy, Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đưa ra nghị quyết: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính. Công cuộc cải cách nền hành chính trong những năm qua đã được Đảng ta đặt ra trọng tâm là lãnh đạo việc đổi mới hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước; đổi mới hệ thống pháp luật hành chính nhà nước, các quy phạm pháp luật hành chính; cũng như đổi mới và đơn giản hơn mọi thủ tục quản lý hành chính nhà nước…

Công tác tổ chức bộ máy đã có một bước sắp xếp lại, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan nhà nước, trước hết là cơ quan hành chính nhà nước theo yêu cầu chuyển đổi từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang quản lý nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là đã có bước phát triển quan trọng trong việc tách chức năng quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước về kinh tế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức được chú trọng, tạo bước đột phá nhằm nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động của nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân.

Kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức pháp luật của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước chủ yếu được tích lũy qua học tập ở các trường chuyên nghiệp, trường chính trị, trường hành chính… và qua kinh nghiệm thực tiễn công tác. Hiện nay, ở nước ta, trong bộ máy quản lý Nhà nước, pháp luật có khoảng 8000 người có trình độ trung cấp trở lên. Trong đó cớ khoảng 4000 người trong cơ quan kiểm soát, tòa án.

Với vai trò là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chăm lo lãnh đạo, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do

dân, vì dân. Từng bước củng cố hoàn thiện hệ thống cương lĩnh, đường lối phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Lãnh đạo các cơ quan Nhà nước kịp thời để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành Pháp luật, nhất là về chủ trương thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, về đổi mới thể chế kinh tế, về xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa, củng cố, nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước; đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, phát triển nền kinh tế tư nhân.

Thường xuyên tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên trong bộ máy Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch, vững mạnh, thực sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, nhà nước ta cũng từng bước đổi mới……

Nhìn chung, hệ thống pháp luật của hơn 20 năm đổi mới đã có những bước tiến quan trọng và nổi lên những đặc điểm cơ bản đó là mối quan hệ giữa các văn bản có hiệu lực cao, thấp khác nhau (luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm) đã dược xử lý đúng mức. Tăng cường số lượng các luật, giảm đến mức có thể được các pháp lệnh. Không ngừng tăng cường sự kiểm tra, phối hợp trong việc xây dựng và ban hành các văn bản dưới luật, giữa các trường hợp vi phạm Hiến pháp và Pháp luật, giảm sự trùng lặp và thiếu đồng bộ. Đó là các thành tựu nổi bật đáng được ghi nhận trong sự nghiệp trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra. Trước hết là vấn đề lý luận, để xây dựng và phát triển xã hội hiện đại, tất yếu chúng ta phải xây dựng Nhà nước pháp quyền, mọi hình thức Nhà nước khác như lối cai trị theo huyết thống hay việc tổ chức, quản lý xã hội bằng mệnh lệnh hành chính đều không phù hợp với điều

kiện phát triển của xã hội hiện nay mà nó chỉ mang tính chất quá độ gắn với những giai đoạn và điều kiện lịch sử nhất định. Chúng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền nghĩa là chúng ta phải xây dựng một Nhà nước trong đó việc tổ chức, quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật. Làm sao chúng ta có thể xây dựng được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra.

Để giải đáp vấn đề lý luận đặt ra, Đảng ta đã khẳng định phải xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong đó có sự phối hợp, phân công không rành mạch giữa ba quyền mà không có sự mâu thuẫn và đối chọi nhau, bởi quyền lực Nhà nước là thống nhất và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước đại biểu lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Chính vì thế, Hiến pháp 1992 sửa đổi đã khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nên tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp và đội ngũ trí thức”.

Về vấn đề thực tiễn, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền nước ta hiện nay, chúng ta còn nhiều thiếu sót, trước hết là việc quán triệt một số chủ trương của Đảng về kiện toàn Nhà nước chưa thực sâu sắc, thiếu tính thống nhất trong tất cả các ngành, các cơ quan Nhà nước. Công tác chỉ đạo, điều hành đổi mới còn nhiều bất cập, thiếu kiểm tra đôn đốc, xử lý các hiện tượng vi phạm pháp luật còn có tư tưởng trì trệ, chờ đợi, ỷ lại. Tổ chức bộ máy Nhà nước vẫn còn nhiều cồng kềnh, có quá nhiều đầu mối, với nhiều tầng lớp trung gian, trách nhiệm của tập thể và cá nhân không rõ ràng, chất lượng và hiệu quả lao động thấp. Chức năng, nhiệm vụ và việc phân cấp quản lý trong bộ máy Nhà nước có mặt chưa rõ ràng, kỷ cương phép nước chưa nghiêm. Hệ thống chính trị, pháp luật chưa

đồng bộ, còn nhiều quy định chồng chéo và mâu thuẫn với nhau, còn không ít văn bản trái với hiến pháp và pháp luật, ý thức pháp luật còn thấp, trình độ nhiều mặt của đội ngũ cán bộ chưa ngang tầm với giai đoạn hội nhập toàn cầu hóa. Hiện tượng quan liêu, tham nhũng, vi phạm dân chủ còn khá phổ biến; có mặt, có nơi mang tính chất nghiêm trọng làm tha hóa một bộ phận cán bộ Nhà nước ma chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời và có hiệu quả.

Cơ chế vẫn hành giữa các cơ quan Nhà nước ở các cấp còn nhiều bất cập. Sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; giữa trung ương và địa phương còn nhiều hạn chế, thiếu tính cụ thể. Công tác cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp. Thủ tục hành chính rườm rà, mang nặng tính quan liêu. Điều đáng nói nhất là việc thi hành pháp luật chưa nghiêm, nhiều vụ việc tham nhũng có quy mô lớn chưa được giải quyết triệt để. Một số bộ phận cán bộ đảng viên thoái hóa biến chất, móc nối với gian thương gây ra những vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới chính trị, kinh tế - xã hội, làm giảm niềm tin đối với xã hội, đối với Nhà nước, làm lu mờ bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước chưa cao. Việc tổng kết thực tiễn và giải thích, hướng dẫn, áp dụng pháp luật của các cấp tòa án thiếu kịp thời, mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp không chặt chẽ. Ý thức tôn trọng pháp luật của một số cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội chưa cao, nhận thức và ý thức pháp luật của một bộ phận nhân dân còn thấp. Mặt khác, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, từ đó gây không ít khó khăn cho việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân.

Tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm chấp hành các nghị quyết chỉ thị của Đảng, của cơ quan Nhà nước cấp trên, vi phạm pháp luật, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ làm cho một số chủ trương về đổi mới, hoàn thiện Nhà nước không thực hiện được, tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ. Chính sách, pháp luật và hệ thống pháp luật của nước ta chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu luật, luật thiếu cụ thể, rõ ràng, chồng chéo. Một văn bản luật ra đời phải có quá nhiều văn bản hướng dẫn. Do vậy, đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng luật, ban hành và thực thi pháp luật, trong đó chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật một cách nghiêm minh là nhiệm vụ đặt ra vừa cấp bách, vừa lâu dài đối với Đảng và Nhà nước ta.

Sự tác động của những mặt hạn chế của nền kinh tế thị trường, những tư tưởng tâm lý xã hội tiêu cực lạc hậu đã len lỏi vào độ ngũ cán bộ quản lý hành chính Nhà nước. Năng lực quản lý Nhà nước và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa tốt, chưa ngang tầm với thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa. Việc cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết. Việc tuyển chọn, đào tạo sắp xếp, sử dụng và đánh giá cán bộ còn nhiều thiếu sót, không tạo ra động lực thúc đẩy chất lượng và hiệu quả của việc chấp hành thực thi pháp luật….

3.1.2. Nhng vn đề đặt ra

Vn đề đầu tiên là, để xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay chúng ta cần xây dựng, phát triển hoàn thiện hệ thống pháp luật

cũng như tinh thần “thượng tôn pháp luật”

Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980 và đặc biệt là Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung) thể hiện quá trình không ngừng phát triển và hoàn thiện của hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo những bước đột phá có ý nghĩa quyết định trong quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý đất nước. Tuy nhiên, ở mỗi lần biến pháp ấy, vai trò của pháp luật được thể hiện ở những mức độ khác nhau nhưng đều chung một mục đích và ý nghĩa: pháp luật luôn là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý xã hội, củng cố ký cương phép nước và tăng cường dân chủ. Pháp luật là điều kiện quan trọng hàng đầu đảm bảo thực hiện quyền công dân, quyền con người .

Trong sự nghiệp đổi mới và tham gia toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề cải cách pháp luật được đặt ra một cách cấp bách và cấp thiết. Hiến pháp năm 1992 đã xác định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế”. Một đất nước chỉ thực sự ổn định và phát triển nhờ vào một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Chính pháp luật là công cụ sắc bén nhất và là phương tiện hữu hiệu nhất để giai cấp thống trị xã hội thực hiện hóa được lý tưởng của mình. Như Quản Trọng nói: muôn vật nếu không ở trong khuôn khổ của pháp luật thì không thể hoạt động được, cho nên pháp luật là đạo lý tối cao của thiên hạ… cho nên bảo có người sáng lập ra pháp luật, có người bảo vệ pháp luật, có người tuân theo pháp luật . Vua làm ra pháp luật, quan bảo giữ pháp luật, dân theo pháp luật. Ở đây tư tưởng về sự cần thiết của việc dùng pháp luật để quản lý xã hội, và việc mọi người phải tuân theo pháp luật, pháp luật là tối cao vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận ngày nay.

Tư tưởng pháp trị của Pháp gia thực sự là bài học bổ ích và thiết thực trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta hiện nay. Điều đó thể hiện ở chỗ pháp luật phải thống nhất trong quá trình lập

pháp, hành pháp và tư pháp. Để có được một hệ thống pháp luật hoàn thiện và thống nhất, phải không ngừng củng cố, hoàn thiện các quy định về thẩm quyền và ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, đúng thủ tục và đúng đối tượng. Pháp luật phải rõ ràng, không có sự chồng chéo, trùng lặp, phải phù hợp với thực tiễn, phản ánh đúng những biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử và mang tính ổn định. Sức sống của pháp luật phải được thể hiện ở các chương, điều, tiết lột tả được nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn và khi đem áp dụng phải trở thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội. Pháp luật phải công bố cho toàn dân biết, biến tư tưởng pháp luật thành hành động cách mạng của nhân dân thông qua quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội. Pháp luật phải công bằng, khách quan, tránh riêng tư, yêu ghét riêng, tránh hùa theo những nhóm lợi ích, không phân biệt quan với dân, không cho phép bất cứ ai, dù ở địa vị nào đứng trên hay đứng ngoài pháp luật. Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, tất cả mọi cơ quna Nhà nước, các tổ chức xã hội phải được tổ chức và hoạt động theo đúng những quy định của hiế pháp và pháp luật.

Vn đề th hai là, việc thực hiện pháp luật và thưởng, phạt nghiêm minh.

Hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi người đều nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Pháp luật chỉ được đảm bảo khi các quy phạm pháp luật được thực thi trong các mối quan hệ xã hội, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xử lý nghiêm minh và kịp thời. Pháp luật phải có thưởng cho những người chấp hành đúng, có phạt cho những người vi phạm. Kiên quyết trừng chị những vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của công dân, làm cho nhân dân phải chịu bất công oan ức. Trong quá trình thực thi pháp luật mà thưởng, phạt không nghiêm minh thì nhười tận tâm, tận lực sẽ chán nản, còn người hư hỏng, vi phạm pháp luật, kỷ luật sẽ

Một phần của tài liệu Tư tưởng pháp trị của hàn phi tử với việc phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền việt nam hiện nay (Trang 104 - 113)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(131 trang)