1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng pháp trị của pháp gia và bài học lịch sử của nó đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay

186 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng pháp trị của pháp gia và bài học lịch sử của nó đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính trong điều kiện lịch sử đặc biệt đó đã đặt ra những vấn đề về tư tưởng, đạo đức luân lý, chính trị, pháp luật… làm xuất hiện hàng loạt các trường phái triết học, các nhà tư tưởng v

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 2

Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA 1.1 Đặc điểm lịch sử xã hội Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc - cơ sở xã hội cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia 9

1.2 Những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng pháp trị của Pháp gia 19

Kết luận chương 1 34

Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA 2.1 Khái quát tư tưởng hình pháp trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại 37

2.2 Triết học của Hàn Phi - tập đại thành tư tưởng pháp trị của Pháp gia 48

2.3 Giá trị và hạn chế lịch sử trong tư tưởng pháp trị của Pháp gia 85

Kết luận chương 2 90

Chương 3: TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1 Tư tưởng nhà nước và pháp luật trong lịch sử Việt Nam 94

3.2 Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những bài học lịch sử từ tư tưởng pháp trị của Pháp gia 133

Kết luận chương 3 154

KẾT LUẬN CHUNG 156

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 163

TÀI LIỆU THAM KHẢO 164

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, cùng với việc đẩy mạnh “công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc”[23,18], “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”[24,59], Đảng, nhà nước và nhân dân ta còn có một nhiệm vụ hết sức quan trọng là phải xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, làm nền tảng cho sự ổn định và phát triển đất nước, bởi vì pháp luật và

“nhà nước ta là cột trụ của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân”[23,44]

Chính vì thế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”[23,129] Để hoàn thành nhiệm vụ đó, chúng ta phải tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, “xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”[23,129]

Về vai trò, tác dụng của pháp luật trong việc thiết lập và ổn định chính trị xã hội, ngay từ thời cổ đại, các triết gia phương Đông đã nhận thức vấn đề này một cách khá tinh tế và đưa ra những tư tưởng sâu sắc Đặc biệt ở Trung

Trang 3

Quốc, thời Xuân thu – Chiến quốc, thời kỳ mà lịch sử xã hội Trung Quốc có sự chuyển biến sâu sắc từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến sơ kỳ, từ chế độ phong kiến phân quyền sang chế độ phong kiến trung ương tập quyền, những thể chế pháp luật và chuẩn mực đạo đức của xã hội cũ đã băng hoại, nhưng những thể chế pháp luật và chuẩn mực đạo đức của xã hội mới đang manh nha Chính trong điều kiện lịch sử đặc biệt đó đã đặt ra những vấn đề về tư tưởng, đạo đức luân lý, chính trị, pháp luật… làm xuất hiện hàng loạt các trường phái triết học, các nhà tư tưởng với lợi ích và địa vị xã hội khác nhau, với các phương pháp cải biến xã hội, giáo hóa đạo đức con người khác nhau, nhằm “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” đưa xã hội Trung Quốc tới sự ổn định và phát triển Trong đó, nếu Nho gia chủ trương “đức trị” bằng thuyết

“chính danh định phận”, Đạo gia dựa trên học thuyết về “đạo”, “tự nhiên”,

“vô vi”, đề xuất “vô vi nhi trị”, thì Mặc gia lại chủ trương “kiêm ái”,

“thượng đồng”, “thượng hiền”… Những tư tưởng và phương pháp trị quốc đó tuy có ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống nhân dân Trung Quốc, song chúng không đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử do đặc điểm đời sống xã hội đương thời đặt ra Chỉ với sự xuất hiện của trường phái Pháp gia, bằng đường lối pháp trị đã giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc sau một thời gian dài chiến tranh, phân quyền cát cứ, xây dựng nên chế độ phong kiến trung ương tập quyền ở Trung Quốc cổ đại

Vì sao Pháp gia mà đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử đã đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử của xã hội đuơng thời đặt ra? Bài học lịch sử tư tưởng pháp trị của Pháp gia đối với xã hội đương thời cũng như đối với thực tiễn xã hội ngày nay là gì ? Đó là những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức thiết thực

Với lý do trên, việc nghiên cứu, tiếp thu có phê phán những tinh hoa tư tưởng pháp luật và nhà nước trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đặc biệt là tư tưởng pháp trị của Pháp gia ở Trung Quốc cổ đại, từ đó rút ra những bài học

Trang 4

lịch sử góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là một trong những việc làm có ý nghĩa cần thiết và cấp bách cho những người làm công tác lý luận và thực tiễn ở nước

ta Vì thế tác giả chọn vấn đề: “Tư tưởng pháp trị của Pháp gia và bài học lịch sử của nó đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sỹ Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chính với ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn cấp thiết nói trên, tư tưởng pháp trị của Pháp gia từ trước đến nay đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Có thể khái quát các kết qủa công trình nghiên cứu trên thành ba hướng chính:

Hướng thứ nhất: Đó là các công trình nghiên cứu Pháp gia trong tổng

thể nền văn hóa Trung Quốc Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các tác

phẩm: Sử ký của Tư Mã Thiên, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 1988, với thiên Thân Bất Hại, Hàn Phi liệt truyện; Cuốn Lịch sử văn hóa Trung

Quốc, 2 tập, do Trung tâm phương Đông, Thượng Hải xuất bản năm 1993, với

chương 4 có tên là: Mầm mống của chính pháp và học thuật của chư tử; Cuốn

Lịch sử văn hóa Trung Quốc do Đàm Gia Kiện chủ biên, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, xuất bản năm 1993 với phần I, chương 1: Pháp chế cổ đại, phần III, chương 2: Triết học tiên Tần; hay cuốn Đại cương lịch sử văn hóa Trung

Quốc do Ngô Vinh Chính, Vương Miện Qúy chủ biên, Nxb Văn hóa – thông

tin, xuất bản năm 1994, với phần A, chương I: Đạo gia, Pháp gia, Minh biện; và phần B, chương 2, mục 1: Chế độ lễ nghi… Trong những tác phẩm này, các

tác giả đã trình bày một cách khái quát lịch sử, nội dung tư tưởng pháp chế ở Trung Quốc cổ đại, trong đó đặc biệt chú ý đến tư tưởng pháp trị của Pháp gia

Hướng thứ hai: Đó là công trình nghiên cứu tư tưởng Pháp gia nằm

trong dòng phát triển của lịch sử triết học Trung Quốc Trong đó phải kể đến

Trang 5

các tác phẩm như: Trung Quốc tư tưởng thông sử của Hầu Ngoại Lư, Triệu

Kỷ Bân, Đỗ Quốc Tường, Bắc Kinh Nhân dân xuất bản xã, xuất bản năm

1957 – 1960; Lịch sử triết học giản biên của Hồng Tiềm, Nhiệm Hoa, Uông

Tử Tung, Trương Thế Anh, Trần Tu Trai, Chu Bá Côn, Bắc Kinh Nhân dân

xuất bản xã, xuất bản năm 1957 Trong chương Triết học Trung Quốc thời kỳ

xã hội nô lệ phát triển và tan rã của tác phẩm này, các tác giả đã trình bày

khá sâu sắc tư tưởng pháp trị của Pháp gia trong cuộc đấu tranh chống thế lực chủ nô qúy tộc cũ cuối thời Chiến quốc, coi đó là công cụ đắc lực cho sự phát triển đời sống xã hội và củng cố chủ nghĩa chuyên chế ở Trung Quốc cổ đại

Trong cuốn Đại cương triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan, do Vạn Hạnh, Sài Gòn, xuất bản năm 1968, với chương 14: Hàn Phi Tử và Pháp gia,

tác giả đã bàn đến vấn đề như: Nền tảng kinh tế xã hội của học thuyết Pháp gia, tổng hợp lý thuyết Pháp gia của Hàn Phi Tử, so sánh phép trị nước của

Pháp gia và Đạo gia… Trong cuốn Trung Quốc triết học sử của Hồ Thích, do Khai Trí, Sài Gòn, xuất bản năm 1969 và chương 7 cuốn Đại cương triết học

Trung Quốc (2 tập) của Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Cảo Thơm, Sài Gòn,

xuất bản năm 1960, các tác giả đã trình bày nội dung tư tưởng của Pháp gia thành một chủ đề qua lịch sử phát triển của nó từ Thân Bất Hại, Thận Đáo, Thương Ưởng, Hàn Phi, Lý Tư Đặc biệt các ông đã lý giải sâu sắc nội dung các phạm trù “pháp”, “thuật”, “thế”, “hình danh”… của Pháp gia

Những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu về tư tưởng

của pháp trị Pháp gia và Hàn Phi Tử trong lịch sử triết học như: Lịch sử triết

học Trung Quốc do Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, xuất bản năm 1989, Lịch sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất

bản năm 1997; Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc do Doãn Chính chủ

biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1997, tái bản có sửa chữa bổ sung năm 2004 Trong những tác phẩm trên, các tác giả đã tập trung lý giải những vấn đề như tiền đề lý luận và thực tiễn của tư tưởng pháp trị

Trang 6

của Pháp gia, lịch sử hình thành, phát triển cũng như nội dung, ý nghĩa của tư tưởng pháp trị của Pháp gia mà đại biểu xuất sắc của trường phái này là Hàn Phi

Hướng thứ ba: Đó là các tác phẩm và tài liệu của các tác giả chuyên

nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu riêng về tư tưởng triết học – chính trị của

Pháp gia và Hàn Phi; trong đó phải kể đến cuốn: Hàn Phi Tử của Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 1994; Hàn

Phi Tử (2 tập) Phan Ngọc dịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội, xuất bản năm 1990;

cuốn Hàn Phi - Quyền thuật nhân sinh của Nguyên Trung, Nxb Văn nghệ Trường Giang xuất bản năm 1993; và tác phẩm Đức trị và pháp trị của Vũ

Khiêu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1993… Trong những tác phẩm trên, các nhà nghiên cứu đã dịch, giới thiệu, trình bày, phân tích và nhận định khá sâu sắc về nội dung tư tưởng và giá trị lịch sử tư tưởng pháp trị của Pháp gia và Hàn Phi Tử Tuy nhiên, trong tất cả các công trình nêu trên chưa có tác phẩm nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện tư tưởng của Pháp gia Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả các công trình đã công bố của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong luận án của mình, tác giả trình bày một cách hệ thống hơn về Pháp gia, và đặc biệt là việc đánh giá, rút ra những bài học lịch sử của nó đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của luận án

Mục đích của luận án:

Mục đích của luận án là trình bày, phân tích một cách hệ thống nội dung cơ bản tư tưởng pháp trị của Pháp gia trong lịch sử triết học Trung Quốc, đặc biệt là tư tưởng của Hàn Phi, qua đó đánh giá, rút ra những ý nghĩa và bài học lịch sử thiết thực của nó với sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam

Trang 7

Nhiệm vụ của luận ánï:

Để đạt được mục đích trên, luận án phải giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

Trình bày khái quát điều kiện lịch sử xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc và những tiền đề lý luận cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia với quan điểm về “đạo” và “lý”, học thuyết về “tính ác” của con người và quan điểm lịch sử tiến hóa của Pháp gia

Trình bày và phân tích nội dung cơ bản tư tưởng pháp trị qua các phạm trù triết học chính trị “pháp”, “thế”, “thuật” và mối quan hệ giữa “pháp”,

“thế”, “thuật” của Pháp gia

Phân tích đánh giá những giá trị và rút ra những bài học lịch sử trong tư tưởng pháp trị của Pháp gia

Giới hạn của luận án:

Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu nội dung tư tưởng pháp trị của Pháp gia ở thời đại Xuân thu - Chiến quốc, qua đó đánh giá và nêu lên một số bài học lịch sử của nó trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Với mục đích và nhiệm vụ nói trên, tác giả đã dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu và trình bày luận án Đồng thời tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lô gích, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học,v.v…

Để hoàn thành luận án này, tác giả đã sử dụng những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh điển của Pháp gia, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tác phẩm của các nhà nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Trung Quốc và về vấn đề xây dựng, phát triển

Trang 8

nhà nước, pháp luật… cùng một số tạp chí có liên quan đến nội dung của luận án

5 Cái mới của luận án

- Trên cơ sở lý giải điều kiện lịch sử xã hội và tiền đề lý luận tư tưởng pháp trị của Pháp gia, luận án trình bày một cách hệ thống tư tưởng pháp trị của Pháp gia, từ đó đánh giá và rút ra bài học lịch sử của nó trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Đó là những cái mới của luận án

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Với việc trình bày, phân tích một cách hệ thống những nội dung tư tưởng pháp trị cơ bản của Pháp gia, cùng với việc phân tích đánh giá những giá trị và hạn chế lịch sử của nó, luận án đã góp phần làm phong phú thêm tri thức về lịch sử tư tưởng Trung Hoa nói chung và tư tưởng pháp trị nói riêng, từ đó có thể rút ra những bài học lịch sử bổ ích và thiết thực trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học, giảng dạy lý luận về nhà nước và pháp luật trong các trường đại học và cao đẳng

7 Kết cấu của luận án

Phù hợp với mục đích và nhiệm vụ đã nêu, luận án được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 3 chương, 7 tiết, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 9

Chương 1

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA

1.1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI XUÂN THU - CHIẾN QUỐC - CƠ SỞ XÃ HỘI CHO TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA

Với tính cách là hình thái ý thức xã hội quá trình phát sinh, phát triển mỗi trường phái triết học đều gắn liền với những đặc điểm, điều kiện lịch sử xã hội nhất định đã nảy sinh ra nó Đúng như C Mác đã nói: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học”[51,156] Tư tưởng pháp trị của Pháp gia cũng vậy, nó hình thành không phải có tính chất ngẫu nhiên, hay xuất phát từ ý muốn chủ quan của nhà tư tưởng nào đó, mà nó chính là sự phản ánh một cách sâu sắc những điều kiện lịch sử xã hội Trung Hoa thời Xuân thu - Chiến quốc Vì thế, muốn xem xét, đánh giá một cách đúng đắn nội dung, tính chất của các trào lưu tư tưởng triết học Trung Quốc nói chung và tư tưởng pháp trị của Pháp gia nói riêng, chúng ta không thể không nghiên cứu bối cảnh lịch sử, cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của Trung Quốc cổ đại… đã quy định nội dung, tính chất và sự phát triển của nó như thế nào Qua đó có thể góp phần lý giải những vấn đề đặt ra liên quan đến tư tưởng pháp trị của trường phái Pháp gia như: Tại sao Pháp gia mà đại biểu xuất sắc là Hàn Phi lại cho rằng pháp luật nhà nước là công cụ, phương tiện quan trọng trong sự phát triển đời sống xã hội và củng cố chế độ chuyên chế phong kiến đương thời? Điều đó xuất phát từ ý muốn chủ quan của vua chúa và các nhà tư tưởng hay do quy định của điều kiện lịch sử khách quan? Và, cái gì trong tư tưởng pháp trị của

Trang 10

Pháp gia và Hàn Phi còn giá trị và có thể là bài học bổ ích và thiết thực cho thực tiễn của sự nghiệp đổi mới đất nước, với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra là phải xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật và nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

Những mầm mốn của tư tưởng của triết học Trung Quốc xuất hiện từ rất sớm Nhưng nó thực sự rở thành hệ thống từ thời Xuân thu - Chiến quốc Thời Xuân thu – Chiến quốc là thời kỳ chuyển từ chế độ nửa qúy tộc thị tộc, nửa chế độ chiếm hữu nô lệ (do đặc thù của phương thức sản xuất xã hội Châu Á), hay từ chế độ phong kiến phân quyền sang chế độ phong kiến trung ương tập quyền Sau này, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá đây là “lần chuyển biến thứ nhất và mạnh nhất trong lịch sử xã hội Trung Hoa”[7,23],

“là thời đại giải phóng lớn trong lịch sử Trung Quốc”[41,24], “là sự biến đổi toàn diện và sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa”[10,30] Và mọi người đều đồng ý với nhận xét của Phùng Hữu Lan về triết học trong thời kỳ này: “kể tất cả các thời kỳ trong lịch sử Trung Quốc thì không có thời kỳ nào có nhiều phái triết học, nhiều vấn đề được thảo luận đến và phạm vi nghiên cứu có hứng thú nồng hậu, không khí sôi nổi cho bằng”[39,24]

Thời Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Công cụ bằng sắt ngày càng thay thế cho công cụ sản xuất và binh khí chiến tranh bằng đồng Việc khai thác, chế tạo và sử dụng tốt công cụ lao động bằng sắt đã đem lại những thành công lớn trong sản xuất nông nghiệp.Việc dùng bò kéo cũng trở thành phổ biến Trong sách

Quốc ngữ có viết: “Đồng thau để đúc kiếm kích, sắùt để đúc quả cân…”, phát

minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Nhờ đó đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các công trình thủy lợi ở khắp khu vực sông Trường Giang, diện tích đất canh tác được mở rộng, kỹ thuật canh tác được

Trang 11

cải tiến làm tăng năng suất trong nông nghiệp Từ đó người ta thấy rằng không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt hay đất xấu như trước nữa Giờ đây công xã giao hẳn đất công cho từng hộ gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài Vì vậy, nông dân có thể dùng biện pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển mà thủy lợi mở mang, ruôäng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tư Chế độ “tỉnh điền” dần dần tan rã Sau đó, chế độ tư hữu về ruộng đất còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Trước kia theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã chia đều cho nông dân, nông dân phải nộp 1/10 sản lượng nông sản thu hoạch được cho thôn xã để nộp lên triều đình, nhưng điều này không còn tác dụng khi chế độ

tư hữu phát triển, số lượng ruộng đất chiếm hữu không bằng nhau, cho nên nhà nước bỏ hình thức thu thuế cũ, thi hành chế độ thu thuế đánh vào từ mẫu ruộng, tùy theo sản lượng ruộng đất nông dân sở hữu mà đánh thuế

Nước đầu tiên thi hành chế độ thuế mới là nước Lỗ (năm 594 trước Công nguyên) Cùng với chế độ thuế mới, các nước cũng thi hành chế độ quân sự mới Ở nước Lỗ, chế độ quân sự này gọi là “khâu giáp”, nước Trịnh gọi là “ khâu phú” Do tình trạng cát cứ, xưng hùng xưng bá của các nước chư hầu, việc buôn bán đi lại rất khó khăn và nguy hiểm, cho nên những người buôn bán phải là những người gan dạ, nhanh nhẹn và phải quen biết nhiều các đại phu, chư hầu, công khanh, vì vậy mà thế lực của họ ngày một lớn, hình thành một tầng lớp quý tộc mới, giành ảnh hưởng về chính trị

Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở thành phổ biến cùng với việc mở rộng trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đạt tới trình độ chuyên môn hóa cao hơn, thúc đẩy các ngành

Trang 12

nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề đúc đồng, nghề mộc, nghề làm đồ gốm…

Cuối Xuân thu, nước Ngô đóng lò luyện sắt lớn đến 10 người thụt bễ,

đổ than Nước Tấn trưng thu đồng để đúc đỉnh hình Trong sách Chu Lễ đã

viết về sự phát triển của các nghành chuyên môn rằng: “thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ nề chiếm hai phần…” Thợ thuyền tuy nhiều nhưng trình độ còn thấp và họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội

Trên cơ sở phát triển tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước Tiền tệ đã xuất hiện Trong xã hội đã hình thành tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực như Huyền Cao (nước Trịnh), Tử Cống (vốn là học trò của Khổng Tử)… Thương nhân nhiều người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng lớn đối với chính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang ở trong tình trạng rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn chư hầu các nước đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh đòi hỏi phải là những người có đầu óc tháo vát và lòng can đảm, đảm đương Hơn thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất, theo quan điểm “nông bản thương mạt”, nên nó cũng chưa thật sự phát triển Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới

Từ những thay đổi, biến động trên cho thấy rõ chế độ thể chế chính trị của nhà Chu không còn đủ mạnh để thống trị và trấn áp các nước chư hầu

Chế độ tông pháp của nhà Chu trước kia có tác dụng tích cực, làm cho trật tự

lễ nghĩa và thể chế xã hội nhà Chu ổn định và hưng thịnh trong một thời gian dài Nhưng càng về sau, huyết thống ngày càng xa, mối liên hệ về kinh tế, chính trị ngày càng lỏng lẻo Bên cạnh đó, sự cai trị tàn ác và sự bóc lột nhân dân vô cùng tàn khốc của giới quý tộc nhà Chu đã làm cho các cuộc nổi dậïy của nông dân càng nhiều, với tính chất ngày càng gay gắt hơn, các nước chư

Trang 13

hầu không nghe theo lời của Thiên tử Thiên tử nhà Chu không còn xét xử được các vụ tranh chấp giữa các nước chư hầu Không những thế, các nước chư hầu còn chuẩn bị quân đội khá quy mô, tiến hành mở rộng đất đai bằng cách chiếm những nước nhỏ xung quanh Những nước này xưa kia vẫn dựa vào uy thế của Thiên tử nhà Chu, nay lại tỏ ra mất tin tưởng vào nhà Chu, cho nên họ lần lượt bị các nước lớn thôn tính Các chư hầu luôn luôn động binh thanh toán lẫn nhau để giành quyền bá chủ thiên hạ, thậm chí họ còn đem cả binh lính vào tận kinh thành để uy hiếp nhà Chu Thời Xuân thu có khoảng 242 năm nhưng đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ giữa các chư hầu Đầu Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân thu chỉ còn hơn một trăm nước Sau bao cuộc chinh chiến thì còn lại bảy nước mạnh nhất là Tề, Tần, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tấn Những quốc gia lớn này dành tất cả tài lực và vật lực cho chiến tranh, bóc lột nhân dân rất tàn khốc, vơ vét sức người, sức của để tăng cường binh lực, tăng thuế khóa, lao dịch Thiên tai không ngừng xảy ra, nhân dân vốn đã cơ cực bần hàn ngày càng bần hàn cơ cực hơn Từ đó nhân dân mất hẳn niềm tin vào Thiên tử nhà Chu Trật tự lễ nghĩa và uy quyền của nhà Chu không còn được người dân tin tưởng, tôn trọng Những lễ nghi, pháp chế nhà Chu không còn được thi hành Nhà Chu chỉ còn tồn tại như một hư danh, các vua chư hầu mượn danh Thiên tử để trấn áp lẫn nhau

Việc các lãnh chúa thôn tính lẫn nhau cũng như các nước lớn bóc lột các nước nhỏ tàn khốc không chỉ dẫn đến sự diệt vong của các nước nhỏ, mà còn làm cho trật tự lễ nghĩa nhà Chu bị băng hoại, mâu thuẫn giữa các giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tăng Những người thuộc tầng lớp nông nô, con nhà buôn… nhờ buôn bán và mưu mẹo mà trở lên giàu có, có thế lực về chính trị, đã góp phần làm cho nền chính trị quý tộc cũ bị lung lay Tình trạng lễ nghĩa, cương thường bị đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời Xuân thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội như

Trang 14

“tiếm ngôi việt vị”, chế độ triều cống cũng bị các chư hầu tự ý gạt bỏ Thậm chí các nước chư hầu còn mượn danh Thiên tử bắt các nước nhỏ cống nạp và phụ thuộc vào mình Theo Tử Sản, mỗi lần nước Trịnh cống nạp cho nước Tần “phải dùng đến một trăm xe chở lụa và da thú, mà một trăm xe thì phải cả ngàn người”[10,35] Trong xã hội cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra Sự rối loạn danh thực và băng hoại trật tự lễ nghĩa, luân lý đạo đức xã hội thời kỳ này đã khiến Tề Cảnh Công phải thốt lên rằng: “Nghĩ như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, dẫu ta có lúa đầy kho chắc được ngồi yên mà còn

chăng?” (Luận ngữ, Nhan Uyên, 11) Cảnh hỗn loạn, mất kỷ cương thời này

đã được chép trong sử Người ta tính ra có tới 36 vụ tôi giết vua, còn những vụ con giết cha, anh hại em, vợ chồng sát hại nhau thì không biết bao nhiêu mà kể Tình trạng đó, theo Không Tử không phải xẩy ra một sớm một chiều mà nó đã âm ỉ, mục ruỗng từ lâu Chế độ lễ nghĩa nhà Chu trở thành sáo rỗng Việc tang viếng, tế lễ, chúc mừng trở thành thủ tục ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa của quan hệ gia tộc và trật tự xã hội như trước nữa Trong thời Xuân thu, ngoài các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các nước, trong từng nước cũng luôn xẩy ra những cuộc tranh giành đất đai, địa

vị, quyền thế giữa bọn qúi tộc với nhau

Như vậy có thể nói, đặc điểm chủ yếu của thời Xuân thu là sự suy vong của triều đại Tây Chu, thể hiện ở sự băng hoại của chế độ “tông pháp” và trật tự lễ nghĩa nhà Chu, đánh dấu sự suy tàn của chế độ nô lệ kiểu phương Đông ở Trung Quốc cổ đại, tạo nên sự phân hóa sâu sắc giữa các tầng lớp, giai cấp xã hội, hình thành thế cát cứ phân quyền thời Đông Chu Nguồn gốc sâu xa của sự biến động xã hội đó, thực chất là sự phản ánh tính chất quá độ của thời kỳ quá độ từ chế độ nô lệ kiểu phương Đông sang chế độ phong kiến tập quyền Một thời kỳ cái cũ đã suy sụp nhưng cái mới đang manh nha

Trang 15

Năm 403 trước Công nguyên ở nước Tấn ba dòng họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy đã nổi lên phế bỏ vua Tấn, dựng lên ba nước Hàn, Triệu, Ngụy Khi đó Trung Quốc đã bước vào thời kỳ Chiến quốc Bây giờ chỉ còn bảy nước lớn là Tề, Sở, Yên, Tần, Hàn, Triệu, Ngụy tạo thành cục diện “thất hùng”, thường gây chiến tranh với quy mô lớn và tàn khốc hơn thời Xuân thu để giành ngôi bá chủ thiên hạ Trong đó nước Tần ở phía tây Hàm Cốc quan, sáu nước kia ở phía đông ải quan đó, nên thường gọi là Sơn Đông lục quốc [10,38]

Những mâu thuẫn trong xã hội Trung Quốc thời Xuân thu ngày càng diễn ra gay gắt ở thời Chiến quốc Thời Chiến quốc đã có bước phát triển về kinh tế Đồ sắt phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện hơn với các loại công cụ lao động như lưỡi cày, lưỡi cuốc, liềm , rìu, dao được sử dụng phổ biến Ở các nước lớn như Hàn, Triệu, Tần, Tề… đã có những trung tâm luyện sắt lớn Kỹ thuật canh tác và hệ thống thủy lợi hoàn thiện hơn trước Kéo theo đó là sự phát triển công nghệ thủ công, như nghề làm đồ gốm, nghề trông dâu nuôi tằm, dệt lụa, nghề trạm trổ vàng bạc… Tiền tệ bằng kim loại ra đời Thương nghiệp và việc buôn bán trao đổi hàng hóa phát triển rất hưng thịnh, hình thành những khu trung tâm thương mại rất sầm uất Đô thành các nước và một số thành ấp lập nên những trục lộ giao thông trọng yếu đã biến thành những thành đô sầm uất như Hàm Dương nước Tần, Thọ Xuân nước Sở, Lâm Truy nước Tề, Khai Phong nước Ngụy Ở thời Chiến quốc quy mô và mức độ tàn khốc của các cuộc chiến tranh giữa các nước lớn ngày càng cao, “đánh nhau tranh thành, giết người thây chất đầy thành, đánh nhau giành đất, giết

người thây phơi đầy đồâng” (Mạnh Tử, Ly Lâu thượng) Sự phát triển của nền

kinh tế hàng hóa và chiến tranh loạn lạc xẩy ra liên miên đã làm cho công xã nông thôn tan rã Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần trở thành quan hệ sở hữu thống trị Thay thế cho chế độ thu thuế vào sản lượng thu hoạch trước kia, thì nay thu thuế tính theo số lượng ruộng đất Việc mua bán

Trang 16

ruộng đất tự do và sự phổ biến của chế độ tư hữu đã mở đường cho sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít lãnh chúa, địa chủ giàu có Đa số nông dân nghèo mất hết ruộng đất phải đi cày thuê, cày mướn trở thành tá điền cố nông Chế độ bóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện Trong lòng xã hội đã xuất hiện những yếu tố của quan hệ sản xuất mới, đó là chế độ phong kiến quận huyện Mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên gay gắt hơn, đã đẩy xã hội đến nguy cơ nghiêm trọng Điều này chính giai cấp thống trị đã nhận thấy, nên chúng đã tiến hành một số biện pháp cải cách nhằm ngăn chặn nguy cơ đảo lộn xã hội Đó là phong trào “biến pháp” ở một loạt các nước như nước Ngụy, nước Triệu, nước Hàn, nước Tề, nước Tần… suốt thời Chiến quốc Đó chính là cơ sở kinh tế cho một chế độ xã hội mới xuất hiện

Nhờ sử dụng các phương pháp của Thương Ưởng một cách hợp lý trong hoàn cảnh mới, nước Tần dần dần trở thành nước mạnh nhất Trung Hoa lúc đó Vua nước Tần thống nhất được Trung Hoa, xác lập nên chế độ phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên vào năm 221 trước Công nguyên, kết thúc một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử cổ đại Trung Hoa Đó là chế độ nhà Tần Biến cố này là dấu ấn nghi lại sự thay đổi lớn nhất lịch sử chính trị Trung Quốc Nó gắn liền với một tư tưởng lịch sử triết học có ảnh hưởng lớn thời bấy giờ là Pháp gia mà người đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử

Tóm lại, có thể nói thời kỳ Chiến quốc là thời kỳ đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Trung Quốc cổ đại Đó là bước chuyển của chế độ xã hội Trung Hoa từ tính chất phân quyền với sự thống trị của tầng lợp quý tộc lãnh chúa sang tính chất tập quyền, với sự thống trị của giai cấp quý tộc địa chủ quan liêu

Cùng với sự phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp

do các cuộc cải cách, biến pháp của một loạt nước thời bấy giờ, do sự cải tiến công cụ sản xuất, đặc biệt là do sự phát triển của đồ sắt và sự xuất hiện tiền tệ bằng kim loại cùng với chế độ mua bán ruộng đất tự do, chế độ sở

Trang 17

hữu tư nhân về ruộng đất phát triển Điều đó đã tạo ra sự phân hóa xã hội sâu sắc Giai cấp địa chủ hình thành và phát triển với hình thức bóc lột mới, đó là hình thức phát canh thu tô của chủ đất đối với tá điền và cố nông

Về chính trị, điểm đặc biệt nhất trong hời kỳ Chiến quốc đó là sự xuất hiện chế độ trung ương tập quyền, với việc quy tụ quyền sở hữu ruộng đất vả tập trung luật pháp, binh lực về chính phủ trung ương Tuy nhiên qúa trình chuyển xã hội Trung Hoa từ phân quyền sang tính chất tập quyền diễn ra hết sức quyết liệt, thể hiện bằng các cuộc chiến tranh giành bá chủ thiên hạ giữa các nước chư hầu với các cục diện “ngũ bá”, “thất hùng” suốt thời kỳ Xuân thu và Chiến quốc

Chính trong thời đại lịch sử đầy biến động và sâu sắc đó đã đặt ra hàng loạt những vấn đề về triết học, kinh tế, văn hóa, xã hội, luân lý, pháp luật, quân sự, ngoại giao… cho nhiều giới lý giải Đó chính là thời đại giải phóng

tư tưởng lần thứ nhất và trí thức được phổ cập ở Trung Quốc cổ đại [10,39]

Vì vậy thời này đã nảy sinh nhiều thiên tài đặc biệt và nhiều nhà tư tưởng triết học lớn với nhiều môn phái, có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc và nhiều nước

phương Đông mãi cho đến ngày nay, và ở một ý nghĩa nhất định đối với thế

giới Đúng như cuốn Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc do Ngô Vinh

Chính chủ biên đã viết: “Mầm mống của tư tưởng triết học Trung Quốc có thể bắt nguồn từ thần thoại thời tiền sử Tư tưởng triết học có hệ thống thì lại hình thành vào thời Xuân thu - Chiến quốc - một thời đại tư tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập Cuối Xuân thu, vương triều nhà Chu suy vi, lễ nhạc băng hoại, chế độ nô lệ bắt đầu tan rã, học thuật từ trong tay nhà nước chuyển dịch xuống dân gian Có phong trào mở trường tư dạy học, hình thành cục diện trăm nhà đua tiếng,… Trăm nhà thời Tiên Tần là cội nguồn tư tưởng triết học cổ đại Trung Quốc, đó là mầm mống ban đầu của các loại thế giới quan và phương pháp luận Hệ thống phạm trù được hình thành từ tư tưởng triết học Tiên Tần đã quy định tiến trình phát triển của tư tưởng triết học cổ

Trang 18

Trung Quốc”[8,33] Các trường phái triết học lớn xuất hiện thời kỳ này gồm Nho gia, Mặc gia, Âm dương gia, Pháp gia, Danh gia, Đạo gia, Tung hoành gia, Nông gia và Tạp gia Mỗi phái đều cố lý giải và đưa ra, tìm cách giải đáp theo những yêu cầu của thực tiễn lịch sử xã hội Trung Quốc lúc đó đặt ra hòng “cứu đời cứu người” theo cách của mình vì họ khác nhau về tính cách, về cơ sở quan điểm triết lý và đặc biệt là khác nhau về lợi ích giai cấp, địa vị xã hội, về những tư tưởng đã ảnh hưởng đến họ, về giai đoạn mà họ đang sống… Các nhà tư tưởng, các môn phái triết học là đại biểu cho lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức gay gắt, quyết liệt, tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại Nó thực sự trở thành điểm đỉnh của toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần xã hội Trung Hoa cổ đại, như một mốc son chói lọi trong lịch sử tư tưởng phương Đông [10.39]

Sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học thời Xuân thu – Chiến quốc, khiến người ta phải gọi là thời kỳ “Bách gia chư tử” (“Bách

gia” thiên Thiên hạ, sách Nam Hoa kinh, “Chư tử” thiên Giả Nghị liệt truyện, sách Sử ký), như trăm hoa đua nở, muôn chim cùng hót Mỗi phái có hệ

thống lý luận riêng cho việc trị nước, an dân, bình thiên hạ “Phái thì chủ trương nhân trị, phái thì lại bảo nếu người nào cũng yêu người khác như người thân của mình thì không cần ai tranh giành với ai mà xã hội sẽ yên Phái thì lại bảo phải trở về với thời thượng cổ, nhà cầm quyền không can thiệp vào công việc của dân, để dân sống một thời chất phát, hết ham muốn, hết tranh giành; kẻ thì lại bảo phải dùng pháp luật cho nghiêm, thưởng phạt công bằng thì nhà cầm quyền chẳng cần tài đức mà nước cũng trị”[6,1,104] Thực chất, mỗi trường phái triết học kể trên là đại diện cho tiếng nói của mỗi tầng lớp, giai cấp khác nhau thời bấy giờ Tuy nhiên các thuyết đều được nhà cầm quyền trọng, dù có thuyết bị chê là vu khoát không theo được Nhưng thực tiễn lịch sử cho thấy trong thế các nước chư hầu tranh giành, thôn

Trang 19

tính lẫn nhau, nước nào muốn tồn tại tất phải dương cao ngọn cờ tư tưởng và dùng đến quân sự, ngoại giao, kinh tế và ông vua nào cũng chiêu hiền đãi sỹ, lắng nghe họ, theo được hay không theo được, cũng không quá độc tài cấm đoán như các triều đại tập quyền khác, cho nên thời Chiến quốc trở thành thời đại hoàng kim của triết học; ngôn luận được hoàn toàn tự do bàn cãi, tranh luận không chỉ diễn ra giữa các trường phái triết học đối lập với nhau mà còn diễn ra giữa các triết gia trong cùng một trường phái Song trong thời Xuân thu – Chiến quốc, chỉ có một học thuyết được vua chúa áp dụng và đem lại kết quả nhanh chóng thống nhất Trung Quốc, đó là học thuyết Pháp gia Pháp gia chọn phương pháp pháp trị, điều đó xuất phát từ ý muốn chủ quan của họ, hay xuất phát từ những yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn lịch sử khách quan? Các căn cứ lý luận và thực tiễn của tư tưởng pháp trị Pháp gia là gì? Đó là những nội dung mà chúng ta cần phải làm sáng tỏ, muốn vậy trước hết phải tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau:

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA

Thời Xuân thu – Chiến quốc là thời kỳ xã hội Trung Hoa trải qua những biến động lịch sử lớn lao Thực chất của những biến động ấy là bước chuyển từ hình thái kinh tế – xã hội nô lệ đang suy tàn sang hình thái kinh tế – xã hội phong kiến trung ương tập quyền ở Trung Quốc, làm trật tự cương thường xã hội đảo lộn, đạo đức luân lý suy đồi

Các trường phái triết học, khi xem xét, đánh giá, giải thích hiện tượng biến đổi xã hội trên không thể không tìm cách lý giải khác nhau và đưa ra những biện pháp khác nhau để cải biến xã hội ấy Nếu Nho gia chủ trương nhân trị hay đức trị lấy “nhân nghĩa làm gốc”, Mặc gia lấy “kiêm ái”,

“thượng đồng”, “thượng hiền”, Đạo gia chủ trương theo đạo tự nhiên “vô vi nhi trị”… để trị nước thì Pháp gia với những căn cứ, thực tiễn lịch sử xã hội, và những tiền đề lý luận của mình đã chủ trương dùng pháp luật của nhà

Trang 20

nước làm công cụ quan trọng cho sự phát triển của đời sống xã hội và củng cố xã hội phong kiến ở Trung Quốc Sự hình thành tư tưởng pháp trị của trường phái Pháp gia đánh dấu một mốc son đậm nét trong thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, là sự kết tinh của những tiền đề lý luận và thực tiễn hết sức đặc sắc

1.2.1 Tư tưởng về “đạo” và “lý”, học thuyết “tính ác” - tiền đề lý luận cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia

Tư tưởng pháp trị của Pháp gia là sự kế thừa nhiều tư tưởng triết học của các bậc tiền bối đương thời Đặc biệt là sự kế thừa tư tưởng “tôn quân”,

“chính danh” của Khổng Tử, tư tưởng “thượng đồng”, “công lợi” của Mặc gia và kế thừa tư tưởng quan điểm về “ đạo”, “đức”, “đạo vô vi” của Đạo gia, tư tưởng “tính ác” của Tuân Tử Chính vì thế khi giới thiệu về Hàn Phi, Phan Ngọc đã viết: “Kết quả ông là con người duy nhất của Trung Quốc thực hiện được một sự tổng hợp ba học thuyết Nho, Lão, Pháp, ở đó Nho là tài liệu xây dựng, Pháp là cái bản thiết kế, nhưng Lão mới là kỹ thuật thi công của cái ngôi nhà độc đáo”[67,17] Tư tưởng về “đạo” và “lý” của Pháp gia là sự kế thừa tư tưởng duy vật về thế giới của Lão Tử Trong học thuyết của Lão Tử, học thuyết về “đạo” có một vị trí cực kỳ quan trọng Nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong triết học của ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của người Trung Hoa cổ đại

Kế thừa tư tưởng về “đạo” và “đức” của Lão Tử khi giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật, Pháp gia cho rằng vạn vật đều tuân theo “đạo”

và “lý” của chúng, điều này được biểu hiện ở hai thiên Giải Lão và Dụ Lão,

trong sách của Hàn Phi Hàn Phi nói: “Đạo là cái khởi đầu của vạn vật,”

“biết then chốt của việc đúng sai” Cho nên nhà vua chỉ cần nắm được

“đạo”, vô vi mà vẫn sai khiến được quần thần, cai trị được nước “Đạo” là cái muôn vật thành ra như nó tồn tại hiện nay, là chỗ dựa của muôn lý lẽ”[67,187], “là cái lý của vạn vật”[67,187] Nói chung cái thực chất của đạo

Trang 21

không bị hình thức hạn chế, mềm yếu theo thời, cùng tương ứng với lý Muôn vật được nó mà sống, mà bại, mà thành, phải biết cách dùng đạo cho đúng:

“Đạo cũng giống như nước, kẻ chết đuối uống nó nhiều quá mà chết, người khát uống nó sống ngay Nó giống như thanh kiếm, mũi giáo, người ngu làm việc phẫn nộ mà cái họa sinh ra Bậc thánh nhân dùng nó để trị kẻ bạo ngược mà cái phúc được thực hiện”[67,188] Đạo ít thấy nhưng có thể biết được hình dáng “Con người ta ít thấy con voi sống nhưng nếu có thấy được xương con voi chết thì dựa vào hình dáng của xương mà tưởng tượng ra được con voi sống”[67,188] Đạo là vĩnh viễn không thay đổi “Chỉ có cái gì cùng sinh ra cùng với lúc trời đất chia tách nhau, cho đến khi trời đất tiêu tán cũng không chết, không suy giảm, thì mới gọi là vĩnh viễn Nhưng cái vĩnh viễn thì không thay đổi”[67,189] Đạo là quy luật chung, theo đạo không phòng bị mà chắc chắn vô hại, đó là cái đạo của trời đất vậy

Trong phép trị nước, theo Hàn Phi, nhà vua không có đạo đức thì bên trong bạo ngược đối với bề tôi, và bên ngoài lo xâm lấn, khinh thường nước láng giềng Bên trong bạo ngược thì việc sản xuất của dân bị cắt đứt Bên ngoài xâm lấn và bị coi thường thì binh đao hay xẩy ra Sản xuất của nhân dân mà bị đình trệ thì không có tích lũy và nếu binh đao xẩy ra thì tướng sỹ chắc bị diệt vong “Đạo có cái đạo lớn – gọi là chính đạo, có cái giả dối gọi là tà đạo, thiên lệch lớn giữa chính đạo và tà đạo là sự hoa mỹ Cung thất đẹp đẽ thì việc ngục tục nhiều”[67,194-195] “Lý là cái văn vẻ làm thành vạn vật”[67,187] “là cái phân biệt vuông với tròn, ngắn với dài, thô với tinh, cứng với mềm Cho nên cái lý có xác định được thì rồi sau đó mới có cái đạo Cho nên vật có cái lý xác định hoặc còn hoặc mất, hoặc chết hoặc sống, hoặc thịnh hoặc suy”[67,189] “Vật có cái lý không thể bức bách nhau cho nên không thể không biến hóa”[67,187] Như vậy “lý”ù là cái quy tắc, quy luật riêng của vật trong hoàn cảnh, điều kiện riêng, có biến đổi, sinh động, như ngắn dài, lớn nhỏ, vuông tròn, cứng mềm, nặng nhẹ, trắng đen tạo nên

Trang 22

sự vật phong phú, đa dạng biến đổi khác nhau Và vì không thể không biến hóa cho nên không có quy tắc bất biến, muôn vật đều phế hưng, cho nên việc sống chết là bản tính của vạn vật

Như vậy, theo Hàn Phi, “đạo” vừa là nguồn gốc của vạn vật, vừa là quy luật phổ biến của chúng, vì vậy nó không thay đổi Còn “lý” là quy luật riêng, nên nó “bất thường” luôn biến hóa không ngừng Chính vì thế, để nhận thức được sâu sắc các sự vật và hoạt động có kết qủa, mọi hoạt động của con người phải tuân theo quy luật, tuân theo “đạo” và tuân theo “lý” Vận dụng thuyết “đạo” và “lý” vào phép trị nước, Hàn Phi cho rằng, ngày nay cái “lý”(thời thế hoàn cảnh, điều kiện của xã hội) đã thay đổi, thì đạo trị nước phải thay đổi Đó là cơ sở để ông cho rằng trị nước phù hợp với điều kiện lịch sử thời đó, nhà vua không thể dùng phương pháp “đạo đức”, “kiêm ái”, “vô vi” như Nho gia, Mặc gia và Đạo gia, mà phải chủ trương dùng phương pháp pháp trị “Phàm dựa theo đạo lý mà làm thì không việc nào mà không thành Không việc nào không thành thì lớn có thể trở thành cái thế cao quý của thiên tử, nhỏ dễ được hưởng cái lộc của vị khanh tướng, tướng quân”[67,175], “Lấy đạo mà cai trị thiên hạ thì quỷ không thiêng, mà cái thiêng của nó không làm thiệt hại đến người ta”[67,182-183] Người trị vì thiên hạ phải nhận thức được “đạo”và “lý” của vạn vật Ông cho rằng,

“đạo” tuy không thể nhìn thấy, nhưng thánh nhân nắm được chỗ công hiệu của nó mà thấy được hình dạng của nó Hàn Phi kịch liệt phê phán người trị

vì thiên hạ mà lại mê tín, bói toán, tin vào qủy thần Ông nhấn mạnh, trên thế giới không có gì chứng thực được là có quỷ thần, người cai trị tin vào quỷ thần sẽ mất nước, đánh giặc mà nhờ cầu khẩn quỷ thần sẽ thất bại

Lý thuyết về tính người vốn ác cũng là một căn cứ lý luận cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia Tư tưởng về tính người đã có từ trước, nhưng lý thuyết về tính người chỉ mới được bàn tới từ thời Mạnh Tử trở đi mà thôi Có nhiều thuyết về tính trong thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, đó là thuyết tính thiện

Trang 23

của Mạnh Tử, thuyết tính không thiện, không ác của Cáo Tử, thuyết tính siêu thiện ác của Trang Tử, thuyết tính vừa thiện vừa ác (không biết của ai), thuyết có tính thiện tính ác (không biết của ai), thuyết tính ác của Tuân Tử Tùy theo quan điểm về tính khác nhau mà các nhà tư tưởng, các trường phái triết học có phương pháp giáo hóa cá nhân, phương pháp trị dân khác nhau

Các Pháp gia trước Hàn Phi không thấy bàn về tính Là học trò xuất sắc của Tuân Tử, ngoài việc kế thừa học vấn uyên bác của Tuân Tử, của Nho giáo, Hàn Phi đặc biệt kế thừa tư tưởng tính ác của Tuân Tử nhưng ông khắt khe hơn Khi coi con người vốn “đại ác” Đóù chính là tiền đề lý luận vô cùng quan trọng để xây dựng phương pháp trị dân, trị nước bằng pháp trị của Hàn Phi Hàn Phi viết: “Nói chung, thích điều lợi và tìm nó, ghét cái hại mà tránh nó, đó là bản tính của con người”[67,124] “Mượn người làm thuê gieo mạ và cày ruộng cho mình thì ông chủ chịu mất tiền để cho họ ăn ngon, đưa

ra tiền và vải để lấy công Đó là không phải là vì yêu người làm thuê, mà vì nói: “Làm như thế thì người cày sẽ cày sâu và bừa kỹ” Người làm công dốc sức mình lo việc cày bừa, trổ hết tài sửa bờ đất và bờ ruộng, không phải vì yêu ông chủ Anh ta nói: “Có thế thì canh sẽ ngon, tiền và vải sẽ lấy dễ hơn”[67,328]

Đến ngay tình cha con: “Con người khi còn nhỏ nếu cha mẹ nuôi nấng qua loa, thì khi lớn lên sẽ oán cha mẹ Đứa con lớn lên phụng dưỡng cha mẹ kém thì cha mẹ giận và mắng nhiếc con Cha mẹ với con là chỗ thân thiết nhất mà còn oán trách nhau, đó đều là vì lo cho nhau không chu đáo như lo cho chính mình nên cũng cứ chia lìa và oán trách nhau”[67,328] “Cha mẹ đối với con, sinh con trai thì chúc mừng nhau, nhưng sinh con gái thì giết đi Con trai con gái đều từ trong lòng cha mẹ mà ra, nhưng sinh con trai thì chúc mừng nhau mà sinh con gái thì giết đi, đó là vì nghĩ đến cái thuận tiện về sau, tính đến cái lợi lâu dài Do đó, cha mẹ đối với con cái vẫn còn dùng lối tính toán mà đối xử với nhau huống nữa là những người không có cái ân

Trang 24

huệ của cha mẹ đối với con cái?”[67,505] Trong triều đình thì kẻ gian nhan nhản có tới “bát gian”, quan hệ vua tôi thực chất chỉ có vụ lợi, mua bán: vua bán trách nhiệm và chức tước, còn bề tôi bán tri thức và sức lực “Nói chung bọn gian thần đều làm theo bụng nhà vua để được nhà vua thân và yêu quý, các viên lại trăm quan cũng biết rằng nếu ngay thẳng trung thực thì không thể nào được yên thân”[67,2,101] Vua phải phòng bị từ người thân cùng giường, ở bên cạnh, cha anh, bề tôi, bọn du thuyết, các quan, trăm họ, đến

lân bang… Trong thiên Dương quyền, Hàn Phi viết: “Hoàng Đế có câu: “Kẻ

trên người dưới một ngày đánh nhau một trăm trận” Người dưới che giấu cái riêng tư của mình, để thử bụng người trên Người trên nắm lấy quyền cân nhắc xem xét để tước bớt quyền lực của kẻ dưới”[67,73] Như vậy, theo Hàn Phi, con người vốn đại ác không thể sửa, không thể dùng nhân, lễ, nghĩa, vô

vi để trị Hàn Phi trong thiên Bát kinh viết: “Muốn trị thiên hạ thì phải dựa

theo tình cảm con người Tình cảm con người có yêu có ghét, cho nên sự thưởng phạt có thể dùng được Thưởng và phạt có thể dùng được thì lệnh

cấm có thể thi hành mà cái đạo trị nước có đủ vậy”[67,524] Trong thiên Lục

phản ông đánh giá: Người tuân theo nhân nghĩa mà trị dân, để dân theo nhân

nghĩa là một ảo tưởng của Nho gia, làm hại cho nước, vì tính con người ta ác

do thời thế đổi khác: “Vào thời thượng cổ, người ta đua nhau về mặt đạo đức, vào thời trung thế người ta đua nhau về mặt mưu trí, nhưng ngày nay người ta tranh nhau về sức mạnh”[67,543]

Ông lý giải phải dùng hình pháp nghiêm khắc mới trị được dân một cách sinh động như sau: “Nay có đứa con hư hỏng, cha mẹ giận nó, nhưng không thể làm cho nó sửa đổi, những người trong làng chê bai nó nhưng không thể làm cho nó lay chuyển, lấy tình yêu của cha mẹ, lấy đức hạnh của người trong làng, lấy cái khôn ngoan của ông thầy học, cả ba cái tốt đẹp đều thi hành, nhưng rốt cuộc nó vẫn không lay chuyển, không thay đổi một sợi tơ cọng tóc Quan lại trong châu sai quân lính thi hành pháp công thì bắt kẻ

Trang 25

gian Lúc đó nó mới hoảng sợ, thay đổi tính nết, thay đổi tính hạnh của mình Cho nên cha mẹ thương con không đủ để dạy con, thế nào cũng phải nhờ cậy hình phạt nghiêm khắc của châu quận mới được Dân chúng nếu được thương yêu thì sinh kiêu căng, nhưng nghe theo uy lực”[67,546-547] Do đó lấy chính trực mà dẫn dắt, lấy hình phạt mà làm, thiên hạ mới có thể trị, “Uy thế có thể cấm bạo, đức dày không thể ngăn loạn”, trị nước dùng đông mà bỏ ít, cho nên không chuộng đức mà chuộng pháp “Pháp nước không thể để hư mất mà trị nước không phải trị có một người cho nên vị vua có thuật không tùy thích theo cái thiện mà làm theo cái đạo tất nhiên”[67,569]

Bởi vậy, kẻ thống trị, nhà nước phải căn cứ vào tâm lý luôn “tránh hại và cầu lợi” của con người mà đặt ra pháp luật; trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội Hàn Phi viết: “Nếu bày thứ hàng rẻ ở nơi kín đáo thì dù có là Tăng Sâm, Sứ Thu cũng có thể bị ngờ Nhưng nếu treo một trăm cân vàng ở ngoài chợ thì dù có bọn ăn trộm lớn cũng không dám lấy”, vì họ sợ phạm pháp và bị pháp luật trừng phạt [67,506-507] Theo Hàn Phi, với pháp luật chặt chẽ và minh bạch, được chép vào đồ thư, bày nơi quan phủ, ban bố cho mọi thần dân biết mà thi hành, thưởng phạt nghiêm minh thì thiên hạ sẽ trị Trị nước bằng hình pháp thì việc phân định phải trái, công tội sẽ vô tư khách quan tránh rơi vào tình trạng dùng tâm ý của cá nhân mà định nặng nhẹ, thiếu công minh chính trực, vì ông vua nào mà không có lòng tư dục, ân oán? Sự thiếu công bằng ấy sẽ là đầu mối loạn của thiên hạ Hàn Phi viết:

“Người trên tuân theo nhân nghĩa để trị dân là một ảo tưởng của Nho gia; làm hại cho nước, vì tính con người ta vốn ác”[67,2,145]

Hơn nữa nếu dùng nhân nghĩa để trị nước yên dân thì hạng người hiền trong thiên hạ, nhất là thời Chiến quốc, nếu có cũng rất ít Còn hạng người bất thiện thì rất nhiều Trị nước là trị dân khắp nước, chứ không phải chỉ trị số ít người hiền bằng giáo hóa đạo đức Cho nên trị nước theo Hàn Phi không

Trang 26

chăm chú vào điều nhân đức, mà phải coi trọng pháp luật, thưởng phạt là công cụ quan trọng nhất, dân dù đông bao nhiêu cũng trị được Đó là lợi thế của “pháp trị” so với “nhân trị” Hàn Phi viết: “Thánh nhân trị nước không cậy ở chỗ người ta yêu mình mà dùng cái thế khiến người ta không thể làm điều sai Trồng cây người ta làm điều hay cho mình thì trong một nước không đến nước người, nhưng dùng cái thế người ta không thể làm bậy thì có thể trị được cả một nước… Nếu cứ để mũi tên tự nó thẳng thì một trăm đời cũng không có tên, nếu đời cây gỗ tự nó tròn thì một ngàn đời cũng không có bánh xe”[67,568]

Hàn Phi dẫn chứng rằng Khổng Tử là một bậc thầy nhân nghĩa và chủ trương lấy nhân nghĩa để giáo hóa dân, trong nước Lỗ có mấy triệu người, vậy có bao nhiêu người theo học ông? Tất cả chỉ có bảy mươi hai người là có đức và trong số bảy mươi hai người đó chỉ có mười hai người được gọi là hiền nhân Vì vậy nếu chỉ dựa vào nhân nghĩa để trị dân thì trong số trăm quan lại thì may lắm được mười người có lòng nhân, còn lại chín mươi người kia là bọn gian ác Cho nên trị nước bằng nhân nghĩa là ảo tưởng Trái lại, nếu biết dùng hình pháp mà trị dân thì chỉ độ mười người dám làm điều ác, còn chín mươi người kia dẫu không phải là người hiền đức cũng không giám làm điều bậy và họ phải biết bổn phận của mình trước dân

1.2.2 Quan điểm lịch sử tiến hóa - cơ sở lý luận cho tư tưởng “biến pháp” của Pháp gia

Quan điểm tiến hóa về lịch sử của Pháp gia là một thành tựu nổi bật trong việc nghiên cứu về lịch sử xã hội và là một tiền đề đặc sắc cho phương pháp pháp trị của Pháp gia “Thời biến pháp biến”, đó là tư tưởng cơ bản về biến pháp trong phép trị nước của Pháp gia Nội dung này, phản ánh đậm nét quan điểm duy vật về lịch sử của Pháp gia và Hàn Phi

Trang 27

Hàn Phi là người phát triển quan điểm đó lên đỉnh cao mới và vận dụng triệt để vào thực tiễn xã hội, lấy quan điểm lịch sử tiến hóa làm căn cứ cho lý luận pháp trị của mình Trong quan niệm về tiến hóa xã hội, Thương Ưởng đã chia xã hội ra làm tam thế: thượng thế, trung thế và hạ thế Trong

thiên Khai Tắc ông viết: Trời đã bày ra mà dân sinh Trong lúc ấy dân chỉ

biết mẹ mà không biết cha, thân người thân mà yêu riêng Thân người thân thì biệt, yêu riêng thì hiểm (không biết đến ai) Dân đông mà chuộng biết và hiểu thời dân loạn Trong lúc ấy dân chuộng thắng mà lấy sức đánh nhau Chuộng thắng tất tranh, lấy sức đánh nhau tất kiện mà không được phân xử đúng đắn thì không vừa ý Cho nên người hiền đặt ra vô tư, mà dân vui điều nhân, trong lúc ấy, chọn người thân mà bỏ người hiền Phàm người nhân lấy yếu làm chuộng, người hiền lấy hơn nhau làm đạo, dân đông mà không có lấy cấm chế lấy hơn nhau làm đạo, lâu ngày tất loạn Cho nên thánh nhân thừa thế đặt ra phận đất đai, của cải, trai gái Định phận mà không cấm chế không được, cho nên đặt ra lệnh cấm Lệnh cấm ban ra mà không có người coi giữ không được, vì thế đặt ra chức quan Đặt chức quan mà không thống nhất không được, cho nên phải lập ra vua Vua đã lập thì chuộng hiền bị bỏ mà quý người sáng lập Như vậy thượng thế thân người thân mà yêu riêng; trung thế chuộng người hiền mà thích điều nhân; hạ thế thì thích người sang mà tôn quân Khi đạo trong dân tệ nên phải thay đổi, việc đời biến đổi mà đạo phải khác vậy Đây chính là cơ sở lý luận và thực tiễn cho tư tưởng

“biến pháp” của Pháp gia mà mà đại biểu xuất sắc cho tư tưởng này chính là nhà triết học, nhà chính trị kiệt xuất Hàn Phi

Theo Hàn Phi, lịch sử xã hội luôn trong quá trình tiến hóa không

ngừng theo “đạo” và “lý” của nó Trong thiên Ngũ đố, Hàn Phi chia lịch sử

thành bốn giai đoạn Mỗi giai đoạn lịch sử đó khác nhau về trình độ sản xuất, trình độ văn minh, tính chất sinh hoạt xã hội, phong tục tập quán “Đời thượng cổ, nhân dân ít nhưng cầm thú nhiều Nhân dân không thắng được

Trang 28

cầm thú, rắn rết Có bậc thánh nhân xuất hiện, lấy cây làm tổ để tránh thú vật làm hại và dân chúng lấy làm thích, cho làm vua thiên hạ, gọi ông là Hữu Sào Dân ăn trái cây, rau cỏ sò ốc, tanh tao hôi hám làm hại đến bụng và dạ dày, có nhiều người chết và nhiều người đau ốm Có bậc thánh nhân xuất hiện, xoi cây lấy lửa để nấu thức ăn tanh hôi Dân lấy làm thích cho làm vua thiên hạ, gọi ông là họ Toại Nhân Vào thời trung cổ, thiên hạ bị nạn nước lớn, Cổn và Vũ cho đào sông ngòi cho nước chảy ra biển Vào thời cận cổ, Kiệt , Trụ hung bạo, dâm loạn cho nên Thang và Vũ Vương trừng phạt Ngày nay nếu có người khen cái đạo của vua Nghiêu, Thuấn, Cổn, Hạ, Vũ, Thành Thang, Vũ Vương ở đời nay thì thế nào cũng bị vị thánh nhân mới chê cười Cho nên bậc thánh nhân không cốt trau dồi chuyện xưa, không noi theo những nguyên tắc bất biến, khi bàn việc làm ở đời thì dựa vào tình hình của thời mình mà đặt ra biện pháp”[67,539-540] Ông chê “Những người ngày nay muốn dùng cách cai trị của các vị vua ngày xưa để cai trị dân chúng đời nay thì cũng đều là loại ôm cây chờ đợi thỏ vậy”[67,540] Vì vậy, những biện pháp trong phép trị nước được sử dụng ở mỗi thời kỳ không giống nhau

Phương pháp cai trị cần phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của hiện thực xã hội và không phải là bất biến, nó sẽ thay đổi khi hoàn cảnh thay đổi Không có một biện pháp cai trị vĩnh viễn và cũng không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng với mọi thời đại “Muốn trị cái loạn của dân mà ngại thay đổi thói cũ của họ thì không thể hy vọng trị được Cho nên việc trị dân không có cái nguyên tắc bất biến; chỉ có pháp luật làm cho dân trị an Pháp luật thay đổi theo thời thì trị; việc cai trị thích hợp theo thời thì có công lao Cho nên nếu dân chất phác và lấy cái danh để ngăn cấm thì trị an, còn đời khôn ngoan thì chỉ có dùng hình phạt dân mới theo Thời thế thay đổi mà cách cai trị không thay đổi thì sinh loạn”[67,588] Trong quan điểm tiến hóa về lịch sử, Hàn Phi Tử đã giải thích sự vận động và phát triển của xã hội và những cuộc chiến tranh diễn ra từ những quan hệ vật chất xã hội Ông xem

Trang 29

lợi ích vật chất như là cơ sở của các quan hệ xã hội và hành vi con người; đồng thời cho rằng, dân số và của cải là nguồn gốc của mọi biến cố của lịch sử Ông kết luận: Thời cổ đại, người đàn ông không cày ruộng vì đã có đủ hoa quả hoang dại, còn người phụ nữ không dệt vải vì đã có đủ lông thú để mặc, lúc đó con người ít mà của cải nhiều Thời hiện đại, người nhiều mà của ít, mọi người phải lao động vất vả mà không đủ ăn, tất sinh ra cướp giật, đấu tranh với nhau và chiến tranh xẩy ra là lẽ thường tình

Hàn Phi giải thích trị dân bằng thưởng phạt xưa nay ắt khác nhau vì của cải ít hay nhiều, dân đông hay ít “ngày xưa, đàn ông không cày vì các sản phẩm của cây, cỏ đủ để ăn; đàn bà không dệt vải vì da của chim muông đủ để mặc Không phải vất vả mà việc nuôi dưỡng có đủ, số người thì ít mà tài sản thì có thừa Vì vậy cho nên dân không phải tranh giành Bởi vậy không cần phải thưởng hậu, không phải dùng hình phạt nặng mà dân tự nhiên trị Người ngày nay có năm đứa con không cho là nhiều Mỗi đứa con có năm đứa con, ông nội chưa chết mà đã có hai mươi lăm đứa cháu Vì vậy cho nên người thì đông mà của cải thì ít, làm việc vất vả mà nuôi dưỡng vẫn kém Cho nên dân tranh giành Dù có thưởng gấp đôi và phạt nặng hơn nhiều dân cũng không khỏi làm loạn”[67,540-541] Việc thưởng chức xưa và nay cũng khác Xưa “Nghiêu làm vua thiên hạ, mái tranh không xén, cột kèo bằng gỗ không đẽo Ăn cơm gạo hẩm, canh rau, mùa đông mặc áo da nai, mùa hạ mặc áo vải thô…Vua Hạ Vũ làm vua thiên hạ, tự mình cày cấy, cầm xẻng làm gương cho thiên hạ… Một ông quan huyện ngày nay, một ngày thân mình chết, thì con cháu mấy đời đi xe Cho nên người ta coi trọng chức này

Vì vậy trong việc nhường chức vụ, người ta ngày xưa coi nhẹ việc nhường chức thiên tử mà ngày nay người ta coi khó lòng nhường chức huyện lệnh, bởi vì một bên sang một bên hèn rất khác nhau”[67,541]

Không những thế, theo Hàn Phi địa lý khác nhau, mùa khác nhau, của cải khác nhau, hành động khác nhau, nên hình phạt cũng khác nhau “Nói

Trang 30

chung, những người ở trên núi cao uống nước dưới thung lũng sâu, vào tháng chạp và tháng hai lấy nước để tặng nhau Những người ở đầm lầy khổ vì nước thì lại thuê người khơi rãnh để cho nước chảy ra Cũng vì thế, mùa xuân vào những năm đói kém, con em cũng không có ăn, trái lại mùa thu vào những năm được mùa thì khách sơ cũng cứ được chén Đó không phải người

ta coi nhẹ những người cốt nhục mà yêu người khách qua đường Đó là vì thực tế có nhiều hay ít cho nên trong bụng nghĩ khác Do đó, người xưa coi khinh của cải không phải vì họ là nhân, đó là vì của cải nhiều… Vì vậy phạt nhẹ không phải là nhân từ, phạt nặng không phải là độc ác, cứ phù hợp theo tục mà làm, cho nên sự việc là dựa theo cái thế mà thay đổi, và việc phòng

bị là phải thích hợp với công việc”[67,541-542] Ông nhấn mạnh: “Vào thời thượng cổ, người ta đua nhau về mặt đạo đức, vào thời trung thế người ta đua nhau về mặt mưu trí, nhưng ngày nay người ta đua nhau về sức mạnh”[67,543] “Nếu muốn dùng cái chính trị khoan dung để cai trị cái thời dân nguy cấp thì cũng chẳng khác gì không có dây cương và roi vọt mà muốn điều khiển con ngựa hung hăng”[67,544] Đây chính là tiền đề về thực tiễn lịch sử xã hội căn bản để Pháp gia thời nay phải dùng pháp trị mà không thể dùng “nhân nghĩa”, “kiêm ái”, “vô vi”… để trị nước được

Do vậy kẻ thống trị phải căn cứ vào nhu cầu đòi hỏi tất yếu của thực tiễn lịch sử xã hội, của thời đại mà tùy theo thời thế hoàn cảnh mà lập ra chế độ mới và đặt ra những chủ trương, chính sách, phương pháp trị nước an dân, bình thiên hạ mới cho phù hợp Không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng cho mọi thời đại Người trị vì thiên hạ không cốt trau dồi chuyện xưa, không nên noi theo những phép tắc bất biến mà khi đề ra những chính sách, phương pháp trị nước phải căn cứ vào đặc điểm lịch sử xã hội ở thời đại mình Quan điểm cơ bản trong phép trị nước của hệ thống triết học chính trị Pháp gia và Hàn Phi là “thời biến, pháp biến”

Trang 31

Trong thời Xuân thu – Chiến quốc, phương pháp trị nước của Nho gia là “nhân trị” hay “đức trị”, là giáo hóa đạo đức Đức trị là “vi chính dĩ đức”,

tức lấy đức để làm chính trị Theo Kinh Dịch, một trong những sách kinh điển

của Nho giáo cho rằng đạo trời có bốn đức: nguyên, hanh, lợi, trinh Đạo người từ đó mà biểu hiện thành: nhân, nghĩa, lễ, trí Nguyên là nhân, đầu mối của thiện, cái tốt; hanh là lễ, hội họp cái đẹp, lợi là nghĩa, định rõ danh phận; trinh là trí, là tỏ rõ thị phi để giữ cái chính Như vậy theo Nho giáo,

“nhân trị” là lấy lòng nhân ái để trị dân, lo cho dân đông đúc, giầu có và được giáo dục - giáo hóa đó là quan điểm “phú” “thứ” “giáo”, giữ cho dân được thái bình thịnh trị của Khổng Tử Muốn làm được điều đó, bản thân người cầm quyền phải có “nhân” bao gồm cả phẩm chất trong tam cương, ngũ thường Nếu như Nho gia chủ trương trị nước bằng phương pháp “nhân trị”, thực hiện học thuyết “chính danh định phận”, duy trì trật tự lễ nghĩa trong xã hội, là tiếng nói của tầng lớp quý tộc cũ; Đạo gia trị nước theo đạo

“vô vi nhi trị”, tự nhiên biểu hiện lập trường của tầng lớp quý tộc đã bị sa sút trong xã hội, thì Mặc gia lại chủ trương trị nước bằng thuyết “kiêm ái” Nó vừa có ý nghĩa là học thuyết chính trị, vừa có ý nghĩa đạo đức “Kiêm” theo Mặc gia là gồm hết thảy mọi người như nhau, không phân biệt luân loại, thứ bậc, trái với “biệt” là sự chia rẽ, phân biệt lẫn nhau “Ái” là lòng yêu thương con người, trái với “ố” là sự thù ghét giữa con người với nhau “Kiêm ái” là yêu thương hết thẩy mọi người như nhau, không phân biệt thân sơ, quý tiện, trên dưới, sang hèn; yêu người như yêu mình, không có người làng mình, người làng người, người nước mình, người nước người “Kiêm ái”, vì thế cũng là nhân nghĩa “Ái” là “nhân”, “kiêm” là “nghĩa”

Như vậy, cả Nho gia lẫn Mặc gia đều lấy đạo đức, luật lệ của cổ nhân xưa làm mực thước, viện dẫn uy quyền của thánh vương xưa để biện minh cho giáo lý của mình, là không phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử và đặc điểm của hoàn cảnh thời đại thời Xuân thu – Chiến quốc Vì sao

Trang 32

Khổng Tử, Lão Tử, Mặïc Tử đi đến “mòn trán, lỏng gót” để hô hào mọi người về nhân, nghĩa, vô vi, kiêm ái, thu hàng ngàn môn đệ, nhưng chẳng được một nhà cầm quyền nào nghe theo, trong khi Pháp gia với những lý luận riêng rẽ, độc lập ở mỗi thời kỳ, không thành một tông phái về mặt tổ chức xã hội, thì lại trở thành hệ tư tưởng, thành quốc sách Rõ ràng cả Nho, Đạo, Mặc đều chỉ đề cập những vấn đề thuộc sinh hoạt tinh thần, những yếu tố tinh thần của xã hội Tại một thời điểm nào đó trong hệ thống chung của những học thuyết này có nói đến những vấn đề thuộc về cơ sở của xã hội, vấn đề kinh tế, thực tiễn, nhưng những vấn đề đó tuyệt nhiên không có chỗ đứng như là một trong những yếu tố tạo nên nội dung, bộ mặt của học thuyết Trong khi những học thuyết khác chỉ mải mê lý luận, thậm chí lý luận duy lý cao siêu, xa rời những vấn đề cấp thiết thì chỉ có một mình Pháp gia không những vươn tới vấn đề kinh tế, vấn đề quan hệ và lợi ích kinh tế mà còn trực tiếp đứng ở bên trong vấn đề đó và giải quyết nó một cách hiệu qủa Cho dù Pháp gia cũng không làm được công việc tổng hợp các vấn đề của toàn bộ xã hội trong một chỉnh thể lý luận nhưng rõ ràng trong tất cả các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại, chính Pháp gia là học thuyết duy nhất có sự kế thừa, hàm chứa những mặt, những yếu tố của học thuyết khác nhiều nhất Lễ nghĩa, danh phận đã được Pháp gia cụ thể hóa trong pháp luật Vô vi được chuyển hóa thành quan hệ biện chứng vô vi – hữu vi Kiêm ái, dù đây là nội dung yếm thế nhất trong học thuyết của Pháp gia, cũng ít được đề cập nhất, thậm chí bị bài bác gần như hoàn toàn, nhưng Hàn Phi vẫn không thể không xem đây là mục đích cuối cùng của pháp luật

Với tầm hiểu biết uyên thâm và tầm nhìn sâu sắc về lịch sử, phương pháp trị nước công hiệu nhất thời bấy giờ, theo Hàn Phi Tử là phương pháp pháp trị “Muốn trị cái loạn của dân mà ngại thay đổi thói cũõ của họ thì không thể hy vọng trị được Cho nên việc trị dân không có cái bất biến Chỉ có pháp luật làm cho dân trị an Pháp luật thay đổi theo thời đại thì thiên hạ trị Pháp trị đã được thích nghi với hoàn cảnh xã hội thì nó sẽ có công hiệu…

Trang 33

Thời thế thay đổi mà pháp luật không thay đổi thì loạn… Cho nên bậc thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà thay đổi”[67,588] Đây là tư tưởng phản ánh đậm nét tính chất duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát của Hàn Phi về lịch sử Hàn Phi đã xem xét quan hệ lợi ích vật chất là cơ sở nền tảng của tất cả các mối quan hệ xã hội và hành vi con người

Tuy Pháp gia không thấy được động lực thực sự của lịch sử, nhưng với cố gắng đi tìm nguyên nhân biến đổi của đời sống xã hội loài người trong điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội thì đó là một đóng góp vô cùng quý giá và chính tư tưởng pháp trị của Pháp gia đã tiến một bước dài so với các quan điểm duy tâm, tôn giáo thời bấy giờ Chống thái độ ngoan cố, thủ cựu trong phương pháp trị nước, Pháp gia mà đại biểu xuất sắc là Hàn Phi còn đưa ra quan điểm “tham nghiệm”, cho rằng bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng như quan điểm nào cũng phải kinh qua hoạt động thực tế và kiểm nghiệm khách quan mới có thể đánh giá chính xác được Chính dựa trên quan điểm này mà Pháp gia đã phê phán chủ nghĩa phục cổ trong phép trị nước của Nho gia, Mặc gia rằng: “đạo của vua Nghiêu, vua Thuấn cai trị dân mà các học thuyết trên viện dẫn, đã tồn tại hơn ba ngàn năm về trước, không có gì chứng thực, đã không có gì chứng thực mà lại mưu toan lấy đó làm mực thước cho nền chính trị hiện đại và ai cũng nhận mình là “chân truyền” thì là một ảo tưởng, là ngu xuẩn, “nếu như không phải là ngu xuẩn thì cũng là dối trá vậy”[67,561] Như vậy chẳng khác nào “người Tống ôm cây đợi thỏ vậy

”[67,540] Sở dĩ như vậy là vì bản thân Khổng Tử và Mặc Tử đều nói đến Nghiêu, Thuấn; đều noi theo đường lối trị nước của Nghiêu, Thuấn mặc dù chủ trương của Khổng Tử, Mặc Tử khác nhau nhưng cả hai đều tự cho mình là Nghiêu, Thuấn chân chính Trong khi đó, đời Ân, đời Chu tồn tại đã hơn bảy trăm năm về trước, lấy gì làm bằng cứ xác thực Chính vì vậy, theo Pháp gia phương pháp trị nước đúng đắn và hữu hiệu nhất, phù hợp với điều kiện lịch sử thời Xuân thu – Chiến quốc chỉ là phương pháp pháp trị mà thôi

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua sự trình bày, phân tích điều kiện lịch sử xã hội Trung Quốc cổ đại và những cơ sở tiền đề hình thành tư tưởng pháp trị của Pháp gia, tác giả có thể rút ra những kết luận:

1 Thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc là thời kỳ xã hội Trung Quốc đã trải qua những biến cố lịch sử hết sức lớn lao Thực chất của sự biến đổi ấy là bước chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội nô lệ đang suy tàn sang hình thái kinh tế - xã hội mới - xã hội phong kiến trung ương tập quyền; trật tự, cương thường xã hội đảo lộn, đạo đức, luân lý xã hội băng hoại làm cho vua - tôi, cha - con, vợ - chồng chia lìa, chém giết nhau để tranh giành quyền lực, địa

vị Trong điều kiện lịch sử đó, vấn đề trị quốc bình thiên hạ là nhiệm vụ trung tâm, là yêu cầu tất yếu mà lịch sử xã hội Trung Quốc đặt ra cả về lý luận lẫn thực tiễn

Khi giải quyết những vấn đề của thực tiễn xã hội đương thời đặt ra, trường phái Pháp gia đã chọn phương pháp pháp trị trong cách thức trị nước Điều đó không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của giai cấp cầm quyền, mà nó phải được xuất phát từ những tiền đề lý luận, những quan niệm về đạo đức, và điều kiện lịch sử xã hội nhất định Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm có tính duy vật về tự nhiên của Lão Tử và Tuân Tử, Hàn Phi đã lý giải và chỉ ra rằng sự phát sinh, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong

thế giới đều theo “đạo” và “lý” của nó Trong đó, “đạo” là quy luật phổ biến

của vũ trụ, vạn vật, nó tồn tại vĩnh viễn và không thay đổi; còn cái lý là sự biểu hiện khác nhau của “đạo” trong mỗi sự vật, hiện tượng cụ thể, là cái bất thường luôn biến đổi Dựa vào quan điểm về “đạo” và “lý” ấy, Hàn Phi đã luận chứng rằng khi “lý” đã thay đổi thì phép trị nước cũng phải thay đổi theo cho phù hợp, và phương pháp trị nước hiệu quả nhất thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc là phương pháp pháp trị

2 Trên cơ sở phân tích khái quát quá trình phát triển của lịch sử xã hội Trung Hoa từ thời cổ đại cho đến hiện đại, Hàn Phi và Pháp gia khẳng định

Trang 35

lịch sử xã hội loài người luôn biến đổi, từ trước đến nay chưa có chế độ nào tồn tại vĩnh viễn Từ đó, Hàn Phi đã phân định xã hội loài người qua bốn giai đoạn cơ bản: thượng cổ, trung cổ, cận cổ và hiện đại Mỗi thời kỳ lịch sử xã hội có những đặc điểm, tập quán riêng, với trình độ phát triển nhất định của sản xuất Động lực căn bản có tính quyết định đến sự biến đổi của lịch sử theo Pháp gia là do sự thay đổi dân số và số lượng của cải có trong xã hội

Do vậy, kẻ thống trị xã hội phải căn cứ vào nhu cầu của đời sống và xu thế khách quan của lịch sử xã hội, tùy thuộc vào đặc điểm thời thế, hoàn cảnh để đặt ra chính sách, phương pháp trị nước thích hợp nhất Nội dung

xuyên suốt trong phép trị nước của Hàn Phi và Pháp gia là thời biến, pháp

hiệu nhất thời Xuân thu – Chiến quốc là phương pháp pháp trị Tuy Hàn Phi

chưa thấy được vai trò của nhân dân, của người lao động là động lực thực sự của lịch sử, nhưng với những cố gắng đi tìm căn nguyên biến đổi của đời sống xã hội được xuất phát trên quan điểm quan hệ lợi ích vật chất thì đó là một đóng góp quý báu của ông, và có thể nói, đó là một bước tiến dài so với những quan điểm duy tâm, tôn giáo đương thời trong quan điểm về lịch sử xã hội

3 Hàn Phi còn phát triển học thuyết tính ác của Tuân Tử và đưa ra học thuyết mới về luân lý cá nhân là vì lợi để khẳng định sự đúng đắn của phép trị nước bằng pháp luật Qua đó, ông đã có đóng góp vào hệ thống lý luận về bản chất và tâm lý con người trong triết học Trung Quốc thời bấy giờ Hàn Phi giải thích rằng, con người sinh ra là đã vốn có tính ích kỷ, vị lợi; là “ham điều lợi, thích tìm nó, ghét cái hại rồi tránh nó” Vì thế, mọi người chỉ luôn

Trang 36

mưu cầu lợi ích cho riêng mình Tất cả những quan hệ như vua - tôi, cha - con, anh - em, bạn - bè hay những quan hệ về tình cảm trong đời sống của con người đều xuất phát trên cơ sở tính toán ham lợi, tránh hại cho cá nhân Bởi vậy, kẻ cầm quyền phải dựa trên cơ sở tâm lý của con người là tránh hại, cầu lợi để đặt ra pháp luật, thưởng phạt nghiêm minh, để duy trì trật tự xã hội Ngược lại, nếu dùng nhân nghĩa để giáo hóa và phán xét thiện ác, phải trái tất yếu sẽ rơi vào tình trạng dùng tâm ý của cá nhân để định công tội và thưởng phạt, sẽ thiếu tính khách quan và sự công minh chính trực, bởi người

ta ai chẳng có lòng tư dục, ân oán? Chính sự thiếu công bằng, nghiêm minh ấy sẽ là nguyên nhân dẫn đến sự loạn trong thiên hạ

Hơn nữa theo Hàn Phi, trong thiên hạ, đặc biệt là thời Chiến quốc, hạng người hiền có rất ít, còn hạng người bất thiện thì lại nhiều Trị nước là trị dân khắp nước không phải chỉ trị số ít người hiền bằng lòng nhân và giáo hóa đạo đức Cho nên, trị nước không chăm chú vào điều nhân đức, mà phải coi trọng hình pháp, thưởng phạt Đó là công cụ quan trọng nhất trong pháp trị Với việc thi hành pháp luật và thưởng phạt nghiêm minh thì dân dù đông bao nhiêu cũng không dám làm điều phản loạn Đó là toàn bộ cơ sở xuất phát và tiền đề lý luận cho tư tưởng pháp trị của Pháp gia

Trang 37

Chương 2

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA

2.1 KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG HÌNH PHÁP TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

Trước khi bàn đến pháùp trị, chúng ta cần làm rõ thế nào là bá đạo, một chính sách nằm ở giữa nhân trị và rất gần với tư tưởng pháp trị Trong thiên

Vương bá, Tuân Tử định nghĩa bá đạo rằng: “Đạo chưa đến cùng cực, nghĩa

tuy chưa nên hẳn song cái lý của thiên hạ cũng đại khái tiến hành, việc thưởng phạt đã định ra sao thì giữ vững đúng như vậy để làm tin cho thiên hạ, kẻ bề tôi ở giữa đều hiểu rõ mà biết những điều có thể chờ mong Cái chính lệnh đã bày ra thì đều rõ cái lợi của mình hỏng, cũng không lừa dối người Như thế thì binh mạnh, thành bền, địch quốc sợ mình, cả nước một bên, dân với nước đều tin Tuy ở đất hẻo lánh, uy cũng đông cả thiên hạ song không phải hết lòng sửa cái gốc ở chính giáo, không phải là lấy cái văn lý làm căn

bản, không phải làm cho người ta phục”[6,582] Vậy vương đạo trọng nhân

nghĩa mà nhân nghĩa trọng tín và thuật, vương đạo dùng chính đạo, còn bá đạo làm trọng hình pháp Tuy nhiên, Tuân Tử không phải là người sáng lập

ra một thuyết chính thống mà ông đã rút kinh nghiệm và kế thừa tư tưởng của người đi trước Trong thời Xuân thu đã có năm ông vua dùng bá đạo mà trị nước, an dân, bình thiên hạ; đã hùng cường một thời, làm minh chủ các chư hầu khác, trong sử gọi là ngũ bá, tức Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Mục Công nước Tần, Tương Công nước Tống và Trang Công nước Sở; rồi thời Xuân thu lại có thêm Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn Những ông vua này không phải là những nhà trí thức cao, chỉ nhờ những vị tướng tài như Quản Trọng, Bách Lý Hề… biết dùng người hiền, có chính sách khéo léo, làm cho dân giàu, nước mạnh và uy hiếp được các chư hầu khác

Trang 38

Tư tưởng hình pháp xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội Trung Quốc cổ đại Tuy pháp luật và hình pháp không phải là một, nhưng những hình pháp áp dụng ở Trung Quốc đã sớm mang ý nghĩa pháp luật, không thực hiện tùy tiện mà sớm tuân theo những hiến lệnh, định chế, sử dụng hình phạt theo pháp chế Khi có chữ viết, hình phạt được khắc lên bia đá, lên đỉnh đồng và sau này khắc lên gỗ hoặc sơn lên thẻ tre Thời đó người ta chưa phổ biến hình phạt cho dân chúng biết mà cho rằng hình luật càng giữ kín bao nhiêu thì càng có giá trị bấy nhiêu và tầng lớp qúy tộc càng được coi trọng Tới đầu nhà Chu, triều đình đã có bốn chức quan lớn (như quan thượng thư của đời sau) coi về bốn mặt lớn của xã hội, trong đó có chức quan Tư khấu coi về hình pháp, tư tưởng hình pháp bắt đầu được đem áp dụng làm phương pháp trị

nước an dân, nhưng chỉ áp dụng cho hàng thứ dân mà thôi, như sách Lễ ký,

thiên 10 nói: “Lễ không xuống đến thứ dân, hình không lên đến đại phu”

Đầu thời Xuân thu – Chiến quốc nước Trịnh làm hình thư, thì Thúc Hướng phản đối, nước Tấn làm hình đỉnh trong cung cấp cho tất cả các quan (không chỉ riêng quan coi về hình pháp) coi, thì Khổng Tử phê bình Trong

Tả truyện, quyển 26 đã chép lại những câu nói căm giận của Khổng Tử rằng:

“Nước Tấn sẽ mất chăng? Nước Tấn xưa nay giữ pháp độ mà Thúc Hướng nhận được để cai trị nước mình Các quan khanh đại phu theo thứ tự giữ lấy Nhờ thế dân có thể tôn qúy người sang, người sang nhờ thế mà giữ được cơ nghiệp mình Người sang hèn không lẫn lộn cái đó gọi là pháp độ Nay bỏ pháp độ này mà làm cái vạc ghi pháp luật thì dân phải biết cái vạc, lấy gì để tôn qúy người sang? Người sang còn cơ nghiệp nào để giữ? Người sang kẻ hèn không có trên dưới, lấy gì để làm thành nước”

Sau hình luật được đem phổ biến rộng rãi hơn như làm hình thư, chép lên hình đỉnh cho tất cả các quan đều biết, sau nữa chép lên gỗ, treo ở nơi thị tứ trong thành, viết lên thẻ tre, lưu truyền nhiều nơi cho dân chúng biết Cùng với sự phát triển kinh tế, và sự biến chuyển của xã hội… tư tưởng hình pháp

Trang 39

cũng phát triển để đáp ứng nhu cầu của lịch sử, trở thành phương tiện trị nước hữu hiệu ở một vài nước và lan ra hầu hết các nước Đến thời Xuân thu – Chiến quốc tư tưởng hình pháp ở Trung Quốc đã có bước phát triển mới cả về

nội dung và học phái Có thể chia Pháp gia ra làm bốn phái: phái trọng thực với Quản Trọng, Lý Khôi; phái trọng pháp với Thương Ưởng; phái trọng

thuật với Thân Bất Hại và phái trọng thế với Thận Đáo Tập Đại thành của

Pháp gia là nhà chính trị, nhà lý luận luật pháp, nhà văn kiệt xuất Hàn Phi Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu quá trình phát triển của tư tưởng pháp trị qua

tư tưởng hình pháp của các nhà tư tưởng tiêu biểu trong thời kỳ này

Nhiều nhà nghiên cứu đều cho rằng Quản Trọng là người mở đầu cho

Pháp gia Quản Trọng sống khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên tên là

Di Ngô, người đất Dĩnh Thượng, nước Tề, xuất thân trong giới bình dân nhưng học giỏi Cho đến nay không ai biết ngày tháng năm sinh của ông, chỉ biết ông là người có tài thao lược trong chính trị, làm tướng quốc nước Tề (thời Tề Hoàn Công) từ năm 685 đến năm 645 thì mất Lúc đầu ông là nhà Nho gia, sau đó nghiên cứu Pháp gia và chuyển từ “đức trị” sang “pháp trị” Người ta cho rằng ông là người đầu tiên bàn về vai trò của pháp luật như là cách trị nước và chủ trương công bố luật pháp công khai cho dân chúng Đời

sau truyền lại bộ Quản Tử, chép những tư tưởng chính trị, pháp chế của Quản

Trọng, song hết thẩy các học giả đời sau đều nhận thấy nó không phải của

Quản Trọng soạn mà do người thời Chiến quốc viết Theo bộ Quản Tử thì

chính sách của ông là: Tôn quân, vì vua đặt ra pháp luật, có quyền cho dân sống, bắt dân chết, nếu không tôn quân thì nước không thể giữ yên được, cái

“thế” nó như vậy; yêu dân không phải vì dân mà là vì vua, có yêu dân thì dân mới quy thuận đông mà vua mới mạnh: “Muốn tranh thiên hạ thì phải tranh thủ nhân tâm, có được lòng dân rồi mới khiến cho dân theo lệnh trên mà giẫm lên gươm đao, chịu mũi tên, viên đá, nhảy vào nước lửa”[6,853] Người ta cho rằng tư tưởng của Quản Trọng gồm các điểm chủ yếu sau:

Trang 40

Một là, Quản Trọng là người có óc thực tế (trọng thực), không thích

những lý thuyết cao siêu, tránh những điều viển vông Vì vậy, mục đích trị quốc của ông là làm cho phú quốc, binh cường, kho lẫm đầy đủ rồi mới nghĩ đến lễ tiết, y phục đủ mới biết nhục vinh

Hai là, muốn cho phú quốc, binh cường, một mặt, Quản Trọng đề

xướng và tiến hành cải cách như coi trọng phát triển cả nông nghiệp lẫn thương nghiệp; áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông” (gửi việc binh vào nhà nông) Trên cơ sở này mà tổ chức lại quân đội, luyện tập thường xuyên Mặt khác, Quản Trọng đặt ra và thực hiện lệ “cho chuộc tội”, “tội nặng thì được chuộc bằng một cái tê giáp (áo giáp bằng da con tê), tội nhẹ thì được chuộc bằng cái quy thuẫn (cái thuẫn bằng mai rùa); tội nhỏ thì nộp kim khí, tội còn nghi thì được tha hẳn, còn hai bên mà kiện nhau mà bên nào cũng có lỗi một phần thì ông bắt nộp mỗi bên một bó tên rồi xử hòa”[7,40]

Ba là, Quản Trọng chủ trương trong phép trị nước phải đề cao: “Luật,

lệnh, hình, chính” Luật là để định rõ danh phận cho mỗi người, lệnh để ra lệnh cho dân biết mà thi hành, hình là để trừng trị những kẻ làm trái luật, lệnh Theo Quản Trọng, có năm hình phạt: tội chết, tội đầy có hạn, tội đầy không có hạn, tội giam và tội phạt tiền; quá trình phạt tội phải xứng với cái danh thì kẻ có tội mới không oán, kẻ thiện mới không lo sợ; còn chính là để sửa cho dân theo đường ngay lẽ phải Ông cho rằng, luật pháp phải công khai rõ ràng, phải dạy cho dân biết luật pháp và khi thi hành phải giữ niềm tin đối với dân Lập pháp để cho người dân biết điều gì được làm, điều gì không được làm “Lập pháp phải minh bạch mà tùy theo thiên thời, địa lợi, nhân hòa”[7,583] Tùy thiên thời là nếu ra lệnh trái thời, dân làm không được thì hỏng

Muốn thi hành pháp luật thì phải chuẩn bị cho dân biết rồi mới áp dụng, nếu không dạy dân trước mà giết dân là bạo ngược Đồng thời theo Quản Trọng việc thi hành pháp luật phải thủ tín, “vì người trên mà không thi

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Duy Anh (1954), Trung Hoa sử cương, Bốn phương, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Hoa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Bốn phương
Năm: 1954
[2]. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb. Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2003
[3]. Đỗ Bang (1998), Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn, những vấn đề đặt ra hiện nay, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn, những vấn đề đặt ra hiện nay
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1998
[4]. Bình luận khoa học, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[5]. Bộ Tư pháp (1998), Một số vấn đề về luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
[6]. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (1992), Đại cương triết học Trung Quốc (thượng và hạ) Nxb. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc (thượng và hạ)
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Hồ Chí Minh
Năm: 1992
[7]. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê(1992), Hàn Phi Tử, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Phi Tử
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1992
[8]. Ngô Vinh Chính, Vương Miện Qúy (chủ biên, 1994)), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Ngô Vinh Chính, Vương Miện Qúy
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1994
[9]. Doãn Chính (chủ biên, 1994), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1994
[10]. Doãn Chính (chủ biên, 2004), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[11]. Doãn Chính, Trương Giới, Trương Văn Chung (1994), Giải thích các danh từ triết học sử Trung Quốc, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích các danh từ triết học sử Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính, Trương Giới, Trương Văn Chung
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1994
[12]. Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường (1998), Một số vấn đề về pháp chế thời Nguyễn. Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về pháp chế thời Nguyễn
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1998
[13]. Nguyễn Đăng Dung (1997), Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (lịch sử và hiện đại), Nxb. Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (lịch sử và hiện đại)
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. Đồng Nai
Năm: 1997
[14]. Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế, Nhà nước và pháp luật đại cương, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật đại cương
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
[15]. Will Durant (bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, 1971), Lịch sử văn minh Trung Quốc, Vạn Hạnh, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh Trung Quốc
Tác giả: Will Durant, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Vạn Hạnh
Năm: 1971
[16]. Droits Del’Home, Human Rijhts (1998), Quyền con người và các văn kiện quan trọng, Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Rijhts
Nhà XB: Viện thông tin khoa học xã hội
Năm: 1998
[17]. Đại Nam thực lục (chính biên, 1963), Nxb. Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục (chính biên)
Nhà XB: Nxb. Sử học
Năm: 1963
[18]. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1998
[19]. Đại Việt sử ký toàn thư (1991), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1991
[20]. Nguyễn Minh Đạm (1997), Hiệu qủa pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu qủa pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Minh Đạm
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w