Kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến hóa (179 trước công nguyên đến 938)

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 121 - 125)

CHƯƠNG 8. KINH TẾ VIỆT NAM

8.1. Kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến

8.1.2. Kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến hóa (179 trước công nguyên đến 938)

* Chính sách nô dịch và bóc lột của phong kiến Trung Quốc

Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, nhiều tập đoàn phong kiến Trung Quốc nhƣ:

Triệu, Hán, Ngô, Tùy, Đường …. Thay nhau thống trị của chúng chỉ dừng lại ở châu, quận, huyện. Lúc đầu phạm vi thống trị của chính chỉ dừng lại ở châu, quận. Dưới đó chính quyền đô hộ đã thông qua tầng lớp trên trong xã hội Việt Nam, những lạc hầu, lạc tướng để thực hiện nô dịch và bóc lột nhân dân ta. Trong thời kỳ này, những phong tục và luật lệ của người Việt có từ trước vẫn được duy trì

Nhƣng từ năm 43 sau công nguyên khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng bị dập tắt, phong kiến Trung Quốc đã mở rộng ách đô hộ. Chúng cử quan lại người Hán sang Việt Nam cai trị với cấp huyện. bên cạnh đó phong kiến Trung Quốc tăng cường chính sách đồng hóa dân tộc, với việc du nhập phong tục văn hóa Trung Quốc vào Việt Nam, những cư dân người hán cũng được đưa sang sinh sống ở Việt Nam ….

Khi nhà đường thống trị Việt Nam, từ năm 662, chúng tăng cường can thiệp vào làng xã, với tƣ cách là tế bào kinh tế xã hội cơ sở. Những đơn vị hành chính cơ sở được nhà đường thiết lập như tiểu thương từ 70 -130 hộ, đại hương là 160 - 540 hộ.

Tiểu xã 10 - 30 hộ, đại xã 40 - 60 hộ. Như vậy âm mưu của nhà Đường hủy bỏ tính tự trị của làng xã Việt Nam để mở rộng nô dịch, bóc lột và thực hiện đồng hóa dân tộc.

Nhìn chung, suốt trong thời kỳ thống trị Việt Nam, sự sâm phạm của chính quyền đô hộ vào làng xã gặp nhiều khó khăn

Làng xã đúng nghĩa vẫn là: “Bầu trời riêng của người Việt Nam” ở đó vẫn bảo lưu, giữ vững những phong tục tập quán và sức mạnh truyền thống của dân tộc. Trên thực tế khả năng tự vệ của làng xã đã phá vỡ âm mưu đồng hóa dân tộc của phong kiến Trung Quốc ở nước ta.

Tiến hành đồng thời với sự nô dịch về chính trị, phong kiến Trung Quốc còn mở rộng hoạt động khai thác bóc lột ở Việt Nam. Hoạt động này biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau mà nội dung của nó còn mang tính chất nô dịch cƣỡng bức và phong kiến nông nô.

Trong những hình thức bóc lột bằng cống nạp, phong kiến Trung Quốc còn thực hiện bóc lột thuế, lao dịch ở Việt Nam. Sau khi đặt ách thống trị về danh nghĩa toàn bộ đất đai ở nước ta thuộc về hoàng đế Trung Quốc. Do vậy, người Việt Nam cấy ruộng công phải nộp tô cho chính quyền đô hộ. thời nhà Đường, nhân đinh cày ruộng mỗi năm nộp hai thạch lúa. Thời kỳ phong kiến Trung Quốc nô dịch, hai mặt bằng chủ yếu trong đời sống nhân dân là muối và sắt thì chính quyền đô hộ độc quyền quản lý và đánh thuế. Ngoài ra các mặt hàng thủ công khác cũng bị đánh thuế nặng.

Để thực hiện bóc lột lao dịch, chính quyền đô hộ đã tiến hành kiểm tra dân số ở Việt Nam. Thời nhà Hán theo thống kê của chính quyền đô hộ Âu Lạc có 143.643 hộ với 981.735 nhân khẩu. Người dân Âu Lạc phải đi lao dịch liên miên, xây thành đắp lũy cho chính quyền đô hộ đã ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất xã hội.

Ngoài những hình thức bóc lột nói trên, phong kiến Trung Quốc còn thực hiện chính sách chiếm đoạt đất đai lập đồn điền, cướp bắt thợ thủ công giỏi ở nước ta đưa về Trung Quốc, thời nhà Ngô chúng đã bắt hàng nghìn thợ thủ công Việt Nam để phục vụ cho việc xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh - Trung Quốc).

Nhƣ vậy, chính sách nô dịch và bóc lột của phong kiến Trung Quốc là một trở lực lớn trên con đường phát triển của xã hội Việt Nam. Nó tạo nên sự bần cùng phá sản trên quy mô xã hội rộng lớn và sự phân hóa trong xã hội ngày càng rõ nét. Trong hoàn cảnh ấy, cuộc đấu tranh của nhân dân ta để bảo tồn nòi giống, để phát triển vẫn mở ra hướng đi lên cho nền kinh tế dân tộc.

* Những chuyển biến của nền kinh tế dân tộc

Thời kỳ phong kiến Trung Quốc đô hộ cũng là thời kỳ xã hội Việt Nam đi vào con đường phong kiến hóa với việc hình thành quan hệ địa chủ nông nô. Sự hình thành ấy diễn ra trong bối cảnh lịch sử khá đặc biệt, nên đã phản ánh cơ cấu kinh tế và cơ cấu giai cấp trong xã hội không thuần nhất.

Về phương diện kinh tế, bên cạnh kinh tế làng xã đã xuất hiện những đồn điền của nhà nước phong kiến ngoại bang và một số trang trại của quan lại địa chủ người Trung Quốc sang sinh cơ lập nghiệp ở Việt Nam.

Về phương diện giai cấp, với tầng lớp địa chủ, bên cạnh tầng lớp quý tộc người Việt đã địa chủ hóa, còn có bọn quan lại địa chủ người hán sang sinh sống ở Việt Nam đã dẫn dần Việt Hóa. Với nông dân lao động, bên cạnh những nông dân người Việt sinh sống trong các làng xã, chịu sự bóc lột của chính quyền đô hộ nhƣ thân phận nông nô, còn có những nông nô người hán làm việc trong các đồn điền thực dân đã Việt hóa.

Nhìn chung, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế gai cấp, đã phản ánh những đặc thù riêng về con đường phong kiến hóa ở Việt Nam. Quan hệ kinh tế mới hình thành là quan hệ sơ khai phong kiến với những hình thức bóc lột vừa mang tính nô dịch cƣỡng bức vừa mang tính chất phong kiến nông nô.

Thời kỳ phong kiến Trung Quốc đô hộ Việt Nam, cuộc đấu tranh chống áp bức để sinh tồn và phát triển là yếu tố quyết định mở đường cho nông công thương nghiệp có những chuyển biến. Trong nông nghiệp, trồng trọt đã trở thành nguồn sống chủ yếu của con người: kỹ thuật trồng trọt có nhiều tiến bộ. Công cụ sắt và trâu bò cày kéo đƣợc sử dụng phổ biến trong canh tác. Hệ thống đê điều đƣợc hình thành dọc các con sông lớn vùng đồng bằng bắc bộ và bắc trung bộ. Người dân đã biết dùng phân bón để bón ruộng, biết chiết cành cây để trồng. trải qua quá trình lâu dài trong canh tác, con người Việt Nam đã tiến tới trồng lúa theo hai vụ chiêm mùa. Chăn nuôi gắn bó chặt chẽ với trồng trọt trong hoạt động kinh tế của các gia đình. Ngoài nuôi trâu bò sử dụng trong canh tác, con người còn biết nuôi voi, ngựa để kéo xe và chuyển đồ vật, nuôi lợn, gà sử dụng làm thực phẩm

Với thủ công nghiệp, ngoài các xưởng thủ công nghiệp quan doanh do chính quyền đô hộ trực tiếp quản lý, thì thủ công nghiệp trong nhân dân vẫn tiếp tục phát triển, chủ yếu với tính cách là nghề phụ trong gia đình, nhằm giải quyết những nhu cầu thông thường về ăn, ở, mặc trong nhân dân. Trong quá trình phát triển của thủ công nghiệp, việc giao lưu kinh tế văn hóa với nước ngoài đã làm xuất hiện thêm một số ngành nghề thủ công nghiệp mới bên cạnh những nghề thủ công nghiệp truyền thống

Nghề khai mỏ luyện kim có sự phát triển hơn so với thời kỳ trước, vì từ sau công nguyên, nước ta bước vào thời kỳ thịnh đạt của đồ sắt. Các loại công cụ, nông cụ bằng sắt đƣợc sử dụng khá phổ biến trong hoạt động kinh tế của nhân dân. Bên cạnh đó các mỏ vàng, bạc, đồng tiếp tục đƣợc khai thác phục vụ cho việc sản xuất đồ Mỹ nghệ.

Những đồ vật trang sức bằng vàng bạc nhƣ vòng, trạm, hạt chuỗi … là những sản phẩm thủ công quý, hàng năm Việt Nam phải cống nạp cho Trung Quốc. Ngoài các loại Mỹ nghệ trên, nghề khảm xà cừ chạm khắc còn cho những sản phẩm quý nhƣ khay, cơi, trầu … mà sử sách Trung Quốc phải công nhận là báu vật.

Với nghề gốm, bên cạnh gốm thường còn có gốm tráng men, gốm nửa sành, nửa sứ. Hình loại đồ gốm đa dạng, đƣợc trang trí bằng những hoa văn đẹp. trên cơ sở nghề gốm, nghề gạch ngói cũng phát triển, với các loại ngói thường và gạch ngói tráng men đƣợc sử dụng vào việc xây dựng thành lũy của chính quyền đô hộ.

Đến thế kỷ III, người Việt Nam đã biết sản xuất các loại giấy như giấy bằng vỏ dó, giấy trầm hương. Riêng giấy trầm hường là sản phẩm quý, vì vậy năm 284 lái buôn La mã đã mua 3 vạn tờ ở Việt Nam để dâng tặng vua Tấn (Trung Quốc) vào thời điểm này, La Mã và cả Châu Âu vẫn chƣa biết sản xuất giấy.

Nghề dệt vẫn tiếp tục phát triển, kỹ thuật dệt, nhuộm đƣợc cải tiến, nghề dệt đã cho những sản phẩm nổi tiếng nhƣ lụa, lĩnh, the, vóc, nhiễu, với màu sắc và họa tiết đẹp. Đó là những sản phẩm mà nước ta phải cống nạp cho Trung Quốc.

Cùng với những nghề thủ công nêu trên, những nghề thủ công khác cũng nhƣ nghề nấu đường, nghề mộc, đan lát…. cũng có sự phát triển.

Nhƣ vậy, trong thời kỳ phong kiến Trung Quốc đô hộ Việt Nam, thủ công nghiệp vẫn giữ được bản sắc dân tộc bên cạnh đó qua giao lưu kinh tế với người nước ngoài , người Việt Nam đã tiếp thu được kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất mới đa dạng thêm ngành nghề thủ công nghiệp dân tộc.

Một khi sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp có sự phát triển nhất định, nó đã thúc đẩy hoạt động giao lưu trao đổi trong nhân dân, cũng như với người nước ngoài, giao thông vận tải đã góp phần quan trọng trong thúc đẩy quá trình đó, vào khoảng thế kỷ VII - VIII, trên đất nước ta đã hình thành nên mạng lưới giao thông thủy bộ nối liền các vùng trong nước với nhau.

Thời kỳ này sông Hồng đã trở thành đường giao thông có ý nghĩa về kinh tế, văn hóa, quân sự. Đường biển Việt Nam đã trở thành đường hàng hải quốc tế, có thuyền bè nước ngoài đi lại tấp nập. Từ Việt Nam có đường bộ sang Trung Quốc, sang Lào và Thủy Chân Lạp.

Để phục vụ cho hoạt động giao thông vận tải, nhân dân ta đã đóng các loại thuyền, đi lại trên sông biển và dung voi ngựa để vận chuyển đồ vật và kéo xe chở đồ.

Giao thông vận tải đã góp phần mở rộng giao lưu trong nước. Thương nghiệp có những chuyển biến đáng chú ý, với việc xuất hiện các chợ địa phương, những trung tâm đổi chác dọc biên giới phí Bắc. Thời kỳ này các châu, quận đã trở thành trung tâm trao đổi của cả nước, nơi đây có nhiều người nước ngoài như Ấn Độ, Ba Tư, Ả Rập…

tới trú ngự và buôn bán. Như vậy, mối liên hệ kinh tế giữa các vùng trong nước được tăng cường. Đây là điều kiện cần thiết để nhân dân ta trao đổi với nhau kinh nghiệm sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở mang một số ngành nghề.

Riêng trong lĩnh vực ngoại thương, chính quyền đô hộ độc quyền nắm giữ và kiểm soát. Do vậy, giao lưu trao đổi giữa người Việt Nam với nước ngoài gặp không ít khó khăn. Tuy Vậy, hoạt động ngoại thương vẫn có các tác động nhất định tới sự phát triển kinh tế trong nước qua việc tiếp thu kinh nghiệm sản xuất của nước ngoài.

Hàng Việt Nam bán ra nước ngoài là các loại làm thổ sản quý, đồ mỹ nghệ…

Hàng nhập từ nước ngoài vào Việt Nam thường là thuốc men, đồ sắt…

Nhƣ vậy, hàng nghìn năm phong kiến Trung Quốc đô hộ Việt Nam, chính sách nô dịch và bóc lột là một trở lực lớn trên con đường phát triển của xã hội. Tuy vậy, cuộc đấu tranh chống nô dịch và áp bức vẫn mở ra những chuyển biến trong nền kinh tế dân tộc. Xã hội Việt Nam đã đi vào con đường phong kiến hóa, với việc hình thành

chủ nô, nông công thương nghiệp đều có những tiến bộ. Những chuyển biến nêu trên đã tạo điều kiện để kinh tế xã hội cần thiết cho xã hội Việt Nam bước sang thời kỳ lịch sử mới, thời kỳ phong kiến dân tộc tự chủ.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 121 - 125)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)