Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 129 - 138)

CHƯƠNG 8. KINH TẾ VIỆT NAM

8.3.2. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

* Khôi phục kinh tế (1955 - 1957)

- Nội dung của việc khôi phục kinh tế: Cần thực hiện về cả 3 mặt: Khôi phục cơ sở sản xuất, khôi phục mức sản xuất ngang trước chiến tranh (năm 1939) và cần có những biến đổi cần thiết về tính chất của nền kinh tế cũ sao cho phù hợp với chế độ dân chủ nhân dân.

- Kết quả khôi phục kinh tế:

+ Hoàn thành cải cách ruộng đất. Sau khi mới giải phóng, ở nhiều địa phương trên miền Bắc, nông dân vẫn chƣa có ruộng cày, nên nông dân đã có yêu cầu phải cải cách ruộng đất. Hơn nữa đây là một nguyên tắc bất di bất dịch của cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân. Do đó, Nghị quyết Bộ chính trị tháng 9 năm 1954 đề ra chủ trương tiếp tục tiến hành cải cách ruộng đất ở những nơi chưa làm (chủ yếu là vùng mới giải phóng).

+ Cải cách ruộng đất ở giai đoạn này đƣợc tiến hành trong 3 đợt:

Đợt 3 (2/1955 - 6/1955), đợt 4 (6/1955 - 12/1955) và đợt 5 (12/1955 - 7/1956).

Trong đó, đợt 5 là lớn nhất, làm ở 1732 xã của 16 tỷnh (đợt này đƣợc ví nhƣ một chiến dịch Điện Biên Phủ trên lĩnh vực phản phong…). Cả 5 đợt, cải cách ruộng đất đã đƣợc tiến hành ở 3653 xã, 22 tỷnh, phần lớn ở đồng bằng và trung du.

Tuy đợt 4 và 5 có phạm phải một số sai lầm (trấn áp địch tràn lan…) nhƣng cuộc cải cách ruộng đất đã thu đƣợc những thắng lợi to lớn: cả 5 đợt đã tịch thu, trung thu và trƣng mua 810.000 ha ruộng đất, 100.000 trâu bò, 2.000.000 nông cụ, 150.000 nhà cửa đem chia cho hơn 20 triệu hộ, với 9,5 triệu người.

Thắng lợi đó đã có ý nghiã to lớn về cả kinh tế và trính trị.

Về kinh tế: Ta đã xóa bỏ được quan hệ sản xuất phong kiến thực hiện “ người cày có ruộng”, xóa bỏ về căn bản chế độ người bóc lột người ở nông thôn, giải phóng sức lao động trong nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân.

Về chính trị : Cuộc cách mạng phản phong đã hoàn thành, kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Bắc, uy thế chính trị của địa chủ đã bị đánh đổ, khối liên minh công nông đƣợc củng cố

Nói chung, thắng lợi của cải cách ruộng đất có ý nghĩa chiến lƣợc. Tuy nhiên, những thắng lợi ấy có bị hạn chế một phần vì đợt 4 và đợt 5 ta có phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Hội nghị lần thứ X (khóa II) của Đảng (họp vào tháng 9 năm 1956) đã đánh giá thành tích và sai lầm của cải cách ruộng đất và đề ra chủ trương sửa sai.

Đến cuối năm 1957 công tác sửa sai đã đƣợc hoàn thành và thắng lợi của cách mạng ruộng đất đã đƣợc phát huy.

Đồng thời với việc tiến hành cải cách ruộng đất và sửa sai, đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, Nhà nước chủ trương sử dụng, hạn chế và bước đầu cải tạo:

dùng những hình thức thấp của chủ nghĩa tư bản Nhà nước như gia công, đặt hang, kinh tiêu, đại lý, ủy thác mua bán và còn dùng những chính sách thuế, giá cả để hướng việc kinh doanh của họ phục vụ cho quốc kế dân sinh.

- Khôi phục sản xuất đạt và vượt mức trước chiến tranh (năm 1939):

Nghị quyết của Bộ chính trị tháng 9 năm 1954 đã đề ra chủ trương về khôi phục công nông nghiệp như sau: “ Trước hết cần nắm việc khôi phục công nông nghiệp. Đó là vấn đề then chốt, là cơ sở của việc cải thiện đời sống nhân dân. Khôi phục và phát triển công nghiệp nhẹ trước, công nghiệp nặng sau, công nghiệp nhẹ là chính, đồng thời cũng khôi phục một phần công nghiệp nặng”.

Để thực hiện chủ trương đó, nhà nước đã thực hiện một số biện pháp chủ yếu như sau: giải quyết một số vấn đề khó khăn trước mắt về đời sống (vì vừa ra khỏi chiến tranh), giúp các cơ sở sản xuất về vốn (tổ chức hợp tác xã tín dụng ở nông thôn vào ngày 17 tháng 4 năm1956; tăng vốn đầu tƣ cho công nghiệp: từ 6,9% - năm 1955 lên 41,8% - năm 1957), đẩy mạnh phong trào đổi công và phong trào làm thủy lợi để khôi phục và phát triển nông nghiệp.

Do vậy, sản lƣợng lúa năm 1957 so với năm 1939 đạt 162%, sản lƣợng công nghiệp và thủ công nghiệp bằng 299,8%. Trong thời gian đó đã xây dựng đƣợc một số xí nghiệp mới - chủ yếu là các xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.

Giao thông vận tải cũng được khôi phục và phát triển nhanh chóng: các đường sắt Hà Nội - Nam Định, Hà Nội - Lào Cai,…được khôi phục. Đường ô tô đã vượt hơn năm 1939 là 38% và thành một hệ thống thông suốt. Điều đó đã góp phần tích cực vào việc khôi phục kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.

- Chấn chỉnh thương nghiệp, tài chính, tiền tệ: Trong giai đoạn này nhiệm vụ quan trọng của thương nghiệp là thống nhất thị trường, bình ổn vật giá, nắm độc quyền ngoại thương và mở rộng việc buôn bán với nước ngoài.

Đến tháng 7 năm 1955 ta đã hoàn thành việc điều chỉnh giá, thị trường đi vào một hệ thống. Sau khi thống nhất giá cả một số mặt hàng (gạo, muối, vải,…) lên một cách đột biến Nhà nước đã quan tâm bình ổn giá bằng các biện pháp kinh tế; phát triển mậu dịch quốc doanh, lập lại hợp tác xã mua bán (ngày 15 tháng 3 năm 1955). Độc quyền ngoại thương (năm 1955 – Nhà nước nắm 77%, năm 1957 nắm được 95% kim ngạch ngoại thương). Việc buôn bán với nước ngoài được mở rộng hơn.

Để hỗ trợ cho việc thống nhất thị trường, bình ổn vật giá, Nhà nước đã ban hành thuế tồn kho (vào tháng 1 năm 1955), vì sau khi hòa bình lập lại nhà nước đã ban hành điều lệ tạm thời về thuế hàng hóa, quy định các hàng mới sản xuất hay nhập khẩu đều phải chịu thuế hàng hóa và có sự điều chỉnh giá lên ở vùng mới giải phóng.

Việc thu thuế hàng tồn kho đã có tác dụng to lớn điều tiết lợi nhuận của tƣ sản, tăng tích lũy cho nhà nước, bảo vệ sản xuất trong nước. Đồng thời, Nhà nước còn thực hiện thống nhất và ổn định tiền tệ, thu hồi các loại tiền: tiền Đông Dương, tiền tín phiếu, tiền ngân hàng nhân dân Nam Bộ; lưu hành giấy bạc ngân hàng Trung ương (phát hành năm 1951). Nhà nước còn tăng cường quản lý tiền mặt và mở rộng quan hệ tín dụng.

* Cải tạo và phát triển kinh tế (1958 - 1960) - Nhiệm vụ của kế hoạch 3 năm(1958 -1960)

Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và công nghiệp lấy sản xuất nông nghiệp làm khâu chính, chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề lương thực, đồng thời rất chú trọng sản xuất công nghiệp, hết sức tăng thêm các tƣ liệu sản xuất và phần lớn hàng tiêu dùng.

Ra sức cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội, khâu chính là đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp, đồng thời tích cực phát triển và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh.

Trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao thêm một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động và tăng cường củng cố quốc phòng.

Trong các nhiệm vụ đó thì nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ yếu là trọng tâm; đồng thời bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Cải tạo xã hội chủ nghĩa

Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích cải tạo những quan hệ sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong đó mấu chốt là cải biến chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tƣ bản chủ nghĩa về tƣ liệu sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, mở đường cho sức sản xuất phát triển.

Ở miền Bắc nước ta, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa bao gồm cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, cải tạo nông nghiệp, cải tạo thủ công nghiệp và cải tạo tiểu thương, trong đó cải tạo nông nghiệp là khâu chính vì nông nghiệp chiếm bộ phận rất quan trọng, nông dân lao động là một lực lƣợng sản xuất to lớn.

Đến cuối năm 1960, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã căn bản đƣợc hoàn thành: 85,5% số hộ nông dân đã vào hợp tác xã nông nghiệp - theo hình thức thấp và quy mô nhỏ (33,0 ha ruộng đất và 68 hộ một hợp tác xã), gần 100% số hộ tư sản thuộc diện cải tạo đã được cải tạo, 87,9% số thợ thủ công đi vào con đường làm ăn tập thể, 45,6% số tiểu thương vào hợp tác xã, chuyển được 11.000 người sang sản xuất và một số ít người được tuyển vào làm nhân viên cho mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán.

Thắng lợi cho cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có ý nghĩa lịch sử to lớn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đƣợc xác lập một cách phổ biến (nhƣng chủ yếu mới thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất); chế độ người bóc lột người đã căn bản bị xóa bỏ; lực lƣợng sản xuất đã đƣợc giải phóng và đang trên đà phát triển.

Tuy nhiên, trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã có những biểu hiện chủ quan nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, nhanh chóng biến kinh tế tƣ bản tƣ nhân thành quốc doanh; một số nơi gần nhƣ cƣỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, khi mà họ chƣa có thời gian suy nghĩ trên mảnh đất vừa đƣợc chia.

- Phát triển sản xuất

Trong giai đoạn này sản xuất nông, công nghiệp đƣợc phát triển mạnh mẽ. So với năm 1957, năm 1960 giá trị tổng sản lƣợng nông nghiệp bằng 113,7%, trong đó thắng lợi nhất là về sản xuất lương thực - sản lượng hàng năm đạt 5 triệu 15 vạn tấn, nông nghiệp đã phát triển toàn diện hơn so với trước chiến tranh.

Trong công nghiệp, chủ trương của Đảng ta lúc này: “…phải ra sức phát triển công nghiệp sản xuất tƣ liệu sản xuất, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.

Công nghiệp đã có thay đổi một bước về tỷ trọng: từ chỗ chiếm 31,4% năm 1957 lên 42,6% năm 1960 (trong giá trị sản lƣợng công nghiệp). Trong công nghiệp nhóm A từ chỗ chiếm 23,5% năm 1958 lên 89,9% năm 1960.

Có một số mặt hàng công nghiệp mới đƣợc ra đời nhƣ: máy công cụ đạt trình độ chính xác cấp II, tức 1/1000 li, gang lò cao nhỏ, gạch chịu lửa, axit sun-phu-ric, thuốc trừ sâu, gỗ, dán, xà phòng, đồ sắt tráng men, văn phòng phẩm, len, hàng dệt, kim, đường kính…Một số trung tâm công nghiệp xuất hiện như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,…

- Tăng cường thương nghiệp, tài chính, tiền tệ

Thương nghiệp quốc doanh đã được phát triển mạnh theo hướng tăng cường trình độ chuyên nghiệp hóa: từ 10 công ty – năm 1957 lên 14 tổng công ty liên doanh; mở rộng kinh doanh cả ăn uống, phục vụ, sửa chữa, may mặc. Mạng lưới mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán đƣợc phát triển về cả nông thôn, miền núi và miền biển.

Nhà nước đã nắm được gần 100% về ngoại thương.

Công tác tài chính giai đoạn này đã có những chuyển biến mới: Từ tài chính cung cấp sang tài chính xây dựng, chấm dứt việc phát hành cho chi tiêu tài chính và chỉ được phát hành qua con đường cho vay ngắn hạn, đã có chính sách, đã có chính sách thuế phục vụ cho công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Về tiền tệ, cuộc cải cách tiền tệ lần thứ 2 đã đƣợc đề ra (vào ngày 27 tháng 2 năm 1959: Chính phủ cho phép thay đổi đơn vị tiền tệ: 1000đ ngân hàng cũ ăn 1đồng ngân hàng mới. Ngày 28 tháng 2 năm 1959 cuộc thu đổi tiền đƣợc tiến hành). Cuộc cải cách tiền tệ này đã có ý nghĩa to lớn nâng cao sức mua của đồng tiền; Nhà nước đã rút bớt được một số tiền mặt trong lưu thông làm cho quan hệ hàng tiền được cân đối hơn;

Nhà nước nắm được sự phân bố tiền tệ trong nhân dân để điều hòa lưu thông tiền tệ;

đồng thời nhà nước nắm được nguồn tiền trong tay giai cấp tư sản - lúc đó đang được cải tạo.

* Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965):

- Nhiệm vụ của kế hoạch này:

Sau khi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã giành thắng lợi có tính chất quyết định, chúng ta đã chuyển sang lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm nhiệm vụ trọng tâm. Nhiệm vụ cụ thể của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhƣ sau:

+ Ra sức phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, tích cực phát triển giao thông vận tải, tăng cương thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp hợp tác xã.

+ Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh.

+ Tiến hành cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công tác khoa học và kỹ thuật, đẩy mạnh thăm dò tài nguyên thiên nhiên và điều tra cơ bản.

+ Cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động.

+ Kết hợp phát triển kinh tế với việc củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự an ninh.

- Thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

+ Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mà kế hoạch 5 năm này chỉ thực hiện một bước, nhằm xây dựng bước đầu cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

+ Chủ trương công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta đã được Đại hội Đảng lần thứ III đề ra nhƣ: “Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và

hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta thành một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại”.

Để thực hiện chủ trương trên, Nhà nước đã dành 48% số vốn đầu tư xây dựng cơ bản để xây dựng công nhiệp, trong đó tới 78% dành cho công nghiệp nặng. Nguồn vốn để thực hiện công nghiệp hóa trong kế hoạch này chủ yếu dựa vào phần thu ở trong nước (chiếm tỷ trọng 80 - 82,5% tổng số doanh thu của ngân sách). Trong đó có số thu của kinh tế quốc doanh lại là chủ yếu và bằng 2,2 lần thời kỳ cải tạo. Một phong trào tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng (với khẩu hiệu “thắt lung buộc bụng” để xây dựng chủ nghĩa xã hội) đã đƣợc phát động mạnh mẽ.

Do đó, đến cuối năm 1964, giá trị sản lƣợng công nghiệp đã đạt 172% so với năm 1960, bình quân hàng năm tăng 14,6%.

Về công nghiệp nặng so với năm 1960, năm 1964 đạt 198,4% (bình quân hàng năm tăng 23%). Về công nghiệp nhẹ, cũng năm 1964 so với năm 1960 đạt 158,5%, nên đã giải quyết được 90% nhu cầu của nhân dân về hàng tiêu dụng thông thường.

Đồng thời, ta còn dành một phần để xuất khẩu.

+ Đối với nông nghiệp cũng có bước phát triển khá: giá trị sản lượng nông nghiệp năm 1964 đạt 119% so với năm 1960 (chăn nuôi tăng 22%, trồng trọt tăng 16,7%).

Phong trào trồng cây gây rừng và phong trào “Tết trồng cây” cũng đƣợc thực hiện tốt.

+ Mạng lưới giao thông vận tải từ trung ương đến địa phương, từ miền xuôi lên miền ngược đã được phát triển mạnh. Trong 4 năm nhà nước dành 11,7% số vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản cho nhiệm vụ đó.

Về đường sắt, Nhà nước kéo dài quãng đường về phía Nam (Hàm Rồng, Vinh), làm thêm những quãng đường quan trọng (Thái Nguyên - Bắc Giang, Uông Bí - Hải Dương).

Về đường bộ, các con đường liên tỷnh, liên huyện, nhất là ở miền núi đã được xây dựng thêm và thực hiện phương châm tăng cầu, giảm phà.

Về đường thủy, Nhà nước đã tiến hành nạo vét các lòng sông, nối liền các thành phố quan trọng nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Việt Trì, Bắc Giang,…và củng cố thêm các cảng sông, cảng biển.

Do vậy, năm 1964 so với năm 1960 khối lƣợng vận tải hàng hóa tăng 48,4%, vận chuyển hành khách tăng 49%.

- Thương nghiệp - tài chính - tiền tệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN:

Ngành nội thương tiếp tục mở rộng mạng lưới của ngành, hợp lý hóa tổ chức: đưa cửa hàng HTX mua bán về xã - là một chuyển biến mới về sự phân công và phân phối giữa mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Trong các thành phố và thị xã, ngành kinh doanh ăn uống, phục vụ, rau quả được tăng cường hơn. Do đó, năm 1964

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 129 - 138)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)