Kinh tế Việt Nam thời kỳ 10 năm đầu sau khi đất nước thống nhất (1976 – 1985)

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 142 - 147)

CHƯƠNG 8. KINH TẾ VIỆT NAM

8.4. Kinh tế Việt Nam thời kỳ 10 năm đầu sau khi đất nước thống nhất (1976 – 1985)

8.4.1. Đặc điểm tình hình và đường lối phát triển kinh tế

* Đặc điểm tình hình

- Những khó khăn

Cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến vẫn còn là sản xuất nhỏ. Tính chất sản xuất nhỏ thể hiện rõ nét ở các mặt nhƣ: cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhỏ yếu, đại bộ phận lao động vẫn còn là thủ công, phân công lao động xã hội kém phát triển, năng suất lao động xã hội rất thấp, tình trạng tổ chức và quản lý kinh tế còn thiếu chặt chẽ, việc kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân còn yếu, nền kinh tế còn bị mất cân đối nghiêm trọng.

Không những thế, nền kinh tế còn phải chịu hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh ác liệt và ở miền Nam lại còn có nhiều tàn dƣ của chủ nghĩa thực dân mới. Thêm vào đó, cuộc chiến tranh ở biên giới Tây nam và phía Bắc cũng đã gây ra cho ta nhiều khó khăn hơn nữa trong công cuộc xây dựng nền kinh tế của đất nước.

Trên trường quốc tế, chúng ta cũng có những khó khăn nhất định: cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đang diễn ra gay go quyết liệt. Đế quốc Mỹ và các thế lực phản động thực hiện bao vây kinh tế đối với nước ta. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã thắng lợi, nhiều khoản viện trợ không hoàn lại hầu như không còn nữa.

Sự hợp tác kinh tế với nước ngoài đều được tiến hành trên cơ sở có đi có lại, cùng có lợi giữa các bên.

- Những thuận lợi

Tổ quốc ta đã đƣợc hòa bình, độc lập, thống nhất. Nhân dân phấn khởi, hai miền có thể hỗ trợ đƣợc cho nhau trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ và đem lại những thành tựu cực kỳ to lớn trong sự phát triển kinh tế của các nước. Những điều đó đã có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng kinh tế ở nước ta.

* Đường lối chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ này

Đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV đề ra như sau:

“đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp, vừa xây dựng kinh tế trung ƣơng, vừa phát triển kinh tế địa phương trong một cư cấu inh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lƣợng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng”.

Nhiệm vụ chung của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980) là vừa phải giải quyết những hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh và của chủ nghĩa thực dân mới, vừa phải tổ chức lại nền kinh tế vốn nghèo nàn lạc hậu, xây dựng một bước nền sản

xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong cả nước, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà.

Tập trung cao độ lực lượng của cả nước tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp, ngƣ nghiệp; phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm; cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, tạo tích lũy cho công nghiệp hóa XHCN.

Phát huy năng lực sẵn có và xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí, tích cực mở mang giao thông vận tải, tăng nhanh năng lực xây dựng cơ bản, đẩy mạnh công tác khoa học kỹ thuật.

Sử dụng hết lực lượng lao động xã hội, hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới công - nông nghiệp, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương, từng bước xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông- công nghiệp, kết hợp kinh tế với quốc phòng.

Hoàn thành về cơ bản cải tạo XHCN ở miền Nam, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN ở miền Bắc.

Tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài.

Ra sức phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hóa, xã hội, tiến hành cải cách giáo dục, đẩy mạnh đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật.

Thực hiện một sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức và quản lý kinh tế.

Đại hội V của Đảng đã xác định nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt chặng đường trước mắt bao gồm thời kỳ 5 năm 1981 - 1985 và kéo dài đến năm 1990 là khoảng thời gian có tầm quan trọng đặc biệt.

Những mục tiêu kinh tế - xã hội tổng quát của những năm 80 đã đƣợc đại hội V xác định nhƣ sau: Đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu nhất, dần dần ổn định, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời tăng thêm trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác và chuẩn bị cho sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của công nghiệp nặng trong chặng đường tiếp theo; Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc;

Đáp ứng nhu cầu của công cuộc phòng thủ đất nước, củng cố quốc phòng và giữ vững an ninh trật tự.

8.4.2. Thực trạng nền kinh tế nước ta 1976 – 1985

Trong thời kỳ này, tuy có nhiều khó khăn trở ngại, nhƣng cũng đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội: tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tạo XHCN ở miền Nam, phát triển thêm một bước lực lượng sản xuất trong cả nước. Hàng trăm công trình xây

dựng tương đối lớn về các mặt công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, văn hóa xã hội... đã được xây dựng trên khắp các miền của đất nước.

* Cải tạo và phát triển nông nghiệp.

- Cải tạo quan hệ sản xuất: Trước hết là vấn đề củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN ở miền Bắc. Do có sự khủng hoảng của mô hình tập thể nông nghiệp trong giai đoạn (1976 - 1980) nên tháng 1 năm 1981 Ban Bí thƣ trung ƣơng đã ra chỉ thị 100 về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động.

Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động là một hình thức quản lý tiến bộ, thích hợp với điều kiện lao động của ta - chủ yếu còn là thủ công và là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất.

Trong việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở miền Nam, một vấn đề quan trọng được đặt ra trước hết là việc xóa bỏ những tàn dư của chế độ thực dân và phong kiến về ruộng đất, giải quyết tốt vấn đề tranh chấp ruộng đất .

Ở miền Nam nước ta, sau khi được giải phóng, quan hệ sở hữu ruộng đất đã biến đổi sâu sắc, đại bộ phận ruộng đất đã về tay nông dân; quan hệ sản xuất phong kiến không còn là trở lực lớn trên con đường tiến lên của xã hội miền Nam. Do đó, ở đây chúng ta không cần tiến hành cải cách ruộng đất nhƣ ở miền bắc mà chủ yếu là việc xóa bỏ những tàn dƣ thực dân và phong kiến về ruộng đất.

Còn ở Nam bộ, đến cuối năm 1979 các địa phương đã xây dựng được 13.246 tập đoàn sản xuất. Nhƣng rồi vì làm ồ ạt không chuẩn bị tốt, nhất là việc điều chỉnh ruộng đất chƣa đƣợc giải quyết hợp lý và do có thiên tai nên có trên 4.000 tập đoàn sản xuất gặp khó khăn và dần dần bị tan rã. Để uốn nắn lại tình hình, Ban bí thƣ đã ra chỉ thị số 93 nhấn mạnh tinh thần tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp Nam bộ.

Và đến cuối năm 1980 phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở đó dần dần đi vào ổn định và ngày càng tiến lên những bước mới.

- Phát triển nông nghiệp:

Trong thời kỳ này, Nhà nước đã thực hiện chủ trương khai hoang, phục hóa, tăng vụ, diện tích gieo trồng đã đƣợc tăng thêm 1.5 triệu ha, đã cung ứng thêm cho nông nghiệp gần 10.000 máy kéo các loại, đƣa tỷ lệ cơ giới hóa làm đất lên 25% diện tích gieo trồng. Diện tích trồng rừng đạt 500.000 ha, thêm gần 1 triệu ha được tưới nước.

Trên cơ sở đó, sản xuất nông nghiệp thời kỳ này được phát triển một bước quan trọng. Nét nổi bật nhất của việc thực hiện 2 kế hoạch 5 năm này là việc tạo ra sự chuyển biến bước đầu của nông nghiệp. Gía trị tổng sản lượng nông nghiệp năm 1980 đạt 108.2% so với năm 1976 bình quân hàng năm đạt 1.9%; lương thực năm 1980 đạt 14.4 triệu tấn, bình quân đầu người đạt 184 kg. Năm 1985 giá trị tổng sản lượng nông nghiệp đạt 126.9% so với năm 1980, bình quân hàng năm tăng 4.9%; lương thực đạt

18.2 triệu tấn, bình quân đầu người đạt 304 kg. Nhờ những cố gắng trên mặt trận lương thực và thực phẩm, những yêu cầu bức thiết của đời sống nhân dân cơ bản được đảm bảo.

* Cải tạo và phát triển công nghiệp và vận tải.

- Đối với công nghiệp:

Tư bản tư doanh phải cải tạo xã hội chủ nghĩa chủ yếu bằng con đường công tư hợp doanh, các xí nghiệp của tư sản mại bản và tư sản bỏ chạy ra nước ngoài đều bị quốc hữu hóa và chuyển thành quốc doanh. Nhƣng thực chất việc hoàn thành cải tạo tƣ sản chỉ diễn ra trên hình thức.

Cải tạo tiểu thủ công nghiệp: Đối với tiểu thủ công nghiệp và những ngành dịch vụ cần thiết cho xã hội, phải sắp xếp lại theo ngành dưới sự quản lý của Nhà nước.

Tùy theo đặc điểm của từng ngành nghề mà áp dụng những hình thức tổ chức và cải tạo thích hợp.

Phát triển sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn đƣợc tiếp tục đẩy mạnh, tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đƣa nông nghiệp một bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạng sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp với nông nghiệp và công nghiệp trong một cơ cấu công nông nghiệp hợp lý.

Trong thời kỳ này, mặc dù có nhiều khó khăn về năng lƣợng, nghuyên liệu, vật tƣ, phụ tùng thay thế, nhiều cơ sở sản xuất đã phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, thực hiện liên kết giữa các ngành, các địa phương, đã vượt qua được nhiều khó khăn, tăng cường năng lực sản xuất và sản lượng trong cả công nghiệp và thủ công nghiệp.

Do vậy, sản xuấ công nghiệp đã ngăn chặn đƣợc sự giảm sút và trong kế hoạch 5 năm đã tăng lên một mức độ nhất định. Về cơ cấu công nghiệp đã có một sự thay đổi. Đó chính là một sự điều chỉnh cần thiết để đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta.

- Giao thông vận tải:

Trong ngành này đã khôi phục và xây dựng gần 1.700km đường sắt, 3.800km đường ô tô, 30.000m cầu, trong đó có cầu Thăng Long và Chương Dương, 4.000 m2 bến cảng, được bổ sung nhiều phương tiện vận tải mới, lập nhà máy sửa chữa tàu thủy Phà Rừng. Việc xây dựng sớm con đường sắt thống nhất có ý nghĩa kinh tế chính trị to lớn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân hai miền Nam Bắc. Và kết quả đạt đƣợc là khối lƣợng hàng hóa luân chuyển năm 1985 bằng 191,7% so với năm 1976.

* Về phân phối lưu thông:

- Cải tạo đối với tư sản thương nghiệp và những người buôn bán nhỏ

Đảng ta chủ trương “ xóa bỏ ngay thương nghiệp tư bản tư doanh” và đến năm 1978 công cuộc cải tạo đối với tư sản thương nghiệp cũng được tuyên bố căn bản hoàn thành, mặc dù việc đó cũng có tính chất hình thức.

Còn đối với việc cải tạo tiểu thương cũng khá phức tạp. Ở miền Nam có hơn 1 triệu tiểu thương, tập trung phần lớn ở các đô thị, đông nhất ở thành phố HCM, còn lại rải rác ở các thị xã thị trấn và các vùng nông thôn.

Đối với tiểu thương, Đảng ta chủ trương “tổ chức lại thương nghiệp nhỏ, chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất. Đối với số còn lại được phép kinh doanh, phải tăng cường quản lý bằng những chính sách và biện pháp thích hợp”.

Đến cuối năm 1978 có khoảng 9 vạn người buôn bán nhỏ được chuyển sang sản xuất và 15.000 người được sử dụng trong ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, sắp xếp và tổ chức lại kinh doanh theo ngành hàng ở các chợ trọng điểm của thành phố HCM và các tỉnh.

- Thống nhất được thị trường cả nước, thị trường xã hội chủ nghĩa được củng cố và mở rộng từng bước.Thị trường có tổ chức chiếm 55.8% (năm 1976) lên 72.2%

(năm 1985). Tháng 4 năm 1978 đã thống nhất được tiền tệ trong cả nước.

- Quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng được mở rộng: tháng 6 năm1985 Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương đã đề ra những chủ trương lớn vê giá, lương, tiền. Đây là một sự đổi mới có ý nghĩa cách mạng không chỉ về giá cả, tiền lương, tiền tệ mà cả về tài chính thương nghiệp và kế hoạch hóa. Đảng ta đã xác định “ xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, trong đó giá và lương là khâu đột phá có tính chất quyết định để chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh XHCN tạo điều kiện cho nền kinh tế- xã hội nước ta phát triển lên một bước mới”.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 142 - 147)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)