Kinh tế Việt Nam thời kỳ tiền phong kiến

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 118 - 121)

CHƯƠNG 8. KINH TẾ VIỆT NAM

8.1. Kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến

8.1.1. Kinh tế Việt Nam thời kỳ tiền phong kiến

* Kinh tế thời nguyên thủy:

Thời kỳ nguyên thủy, lịch sử còn gọi là thời kỳ đồ đá. Căn cứ vào loài hình công cụ lao động và phương thức sinh hoạt của người nguyên thủy, khảo cổ học chia thời kỳ đồ đá thành ba giai đoạn: Đá cũ, đá giữa và đá mới.

- Giai đoạn đá cũ ở Việt Nam cách đây 30 vạn năm. Tại vùng núi Đọ (Thanh Hóa) con người nguyên thủy Việt Nam đã xuất hiện. Trong buổi bình minh của lịch sử, người nguyên thủy sống thành từng bầy, hái lượm những thức ăn có sẵn trong tự nhiên để sinh sống. Đất đai đúng nghĩa là kho lương thực nguyên thủy của con người.

- Bước vào giai đoạn đá giữa, kỹ thuật chế tác đá cơ bản vẫn là ghè đẽo. Những công cụ lao động tìm thấy trong các di chỉ văn hóa Hòa Bình so với công cụ núi Đọ thuộc giai đoạn đá cũ đã có sự phong phú hơn về số lƣợng và loại hình. Với những công cụ đƣợc ghè đẽo một mặt, còn một mặt giữ nguyên đƣợc coi là đặc trƣng riêng của văn hóa Hòa Bình.

- Giai đoạn đá mới ở Việt Nam cách đây 5 ngàn năm, với nền văn hóa Bắc Sơn

… đây là giai đoạn đá phát triển toàn diện, với sự đa dạng về loại hình công cụ đá.

Giai đoạn đá mới ghi nhận những biến chuyển quan trọng trong đời sống con người.

Con người dần chấm dứt cuộc sống lang thang, ăn lông ở lỗ để tiến tới định cư. Trồng trọt đã trở thành nguồn sống quan trọng của con người. khi con người sống định cư là điều kiện thuận lợi để chung sức lao động để phát triển trồng trọt và chăn nuôi.

Nhìn chung, vào giai đoạn đá mới, hoạt động sinh hoạt và kinh tế của người nguyên thủy vẫn mang tính cộng đồng trong các tổ chức thị tộc, bộ lạc. Nhƣng tới cuối chế độ công xã nguyên thủy, khi công xã nông thôn và gia đình phụ hệ cá thể xuất hiện, đã dẫn tới sự tan rã của quan hệ cộng đồng nguyên thủy.

Với các công xã nông thôn, sự phân hóa tài sản đã bắt đầu xuất hiện. Ruộng đất, nguồn nước vẫn thuộc quyền sở hữu công xã, nhưng có những cái đã thuộc về gia đình phụ hệ cá thể nhƣ nhà cửa, đồ dùng trong nhà, nông cụ. Để sinh sống, các gia đình nhận ruộng của công xã canh tác riêng, thu hoạch riêng. Bên cạnh hoạt động mang tính chất gia đình, các thành viên công xã phải tham gia lao động tập thể cho công xã nhƣ xây dựng công trình thủy lợi. Nhƣ vậy, tính chất cá nhân của sức sản xuất là nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Nó báo hiệu quan hệ cộng đồng nguyên thủy đi vào giai đoạn tan rã.

Thời kỳ nguyên thủy kéo dài vài chục vạn năm, lịch sử xã hội nguyên thủy phát triển chậm chạp nhưng vẫn theo xu thế đi lên. Kinh tế nguyên thủy ở nước ta chủ yếu là kinh tế hái lƣợm và trồng trọt. Nó diễn ra trong phạm vi hẹp, mang tính chất tự

nhiên, tự cấp, tự túc. Ở đó con người trao đổi với thiên nhiên nhiêu hơn trao đổi với xã hội. Tình trạng này khiến phân công lao động xã hội diễn ra yếu ớt chậm chạp, kinh tế hàng hóa không có điều kiện phát sinh.

* Kinh tế thời kỳ bắt đầu dựng nước

Thời kỳ mở đầu dựng nước ở Việt Nam cách đây khoảng 4 nghìn năm lịch sử, từ khi kỹ thuật luyện kim xuất hiện. Thời kỳ này gồm hai giai đoạn: Văn Lang và Âu Lạc, mà lịch sử gọi chung là thời đại Hùng Vương. Nhìn lại lịch sử nhân loại, khi kỹ thuật luyện kim xuất hiện sự có mặt của các loại công cụ, nông cụ bằng kim loại trong hoạt động kinh tế của con người là một cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất, góp phần quyết định làm thay đổi nhưng quan hệ kinh tế xã hội. Thời đại Hùng Vương, vào giai đoạn nước Văn Lang, tổ chức xã hội lúc đầu dưới hình thức liên minh bộ lạc mà thủ lĩnh đứng đầu là Hùng Vương. Khi đồ đồng phát triển cực thịnh, xã hội Văn Lang đã xuất hiện bóng dáng của nhà nước đầu tiên. Tổ chức xã hội trên có vua Hùng, rồi tới hạc hầu, lạc tướng và dưới là lạc dân tầng lớp cơ bản trong xã hội. Ngoài ra, trong xã hội còn một số lƣợng nhất định những nô tì, họ phục vụ trong các gia đình quyền quý.

Trong xã hội Văn Lang, quan hệ kinh tế cũng có sự thay đổi. Sử cũ ghi lại “lạc dân khẩn ruộng, lạc hầu ăn ruộng”. Như vậy, lạc hầu là người đã chiếm một phần sản phẩm của lạc dân. Quan hệ kinh tế bất bình đẳng đã xuất hiện, kéo theo sự phân hóa trong xã hội. Ở khu mộ táng thuộc huyện Thiệu Dương (Thanh Hóa), có ngôi mộ có 36 hiện vật bằng đồng, trong khi ấy có ngôi mộ chỉ có ít đồ gốm sơ sài. Căn cứ vào số lượng và chất lượng đồ tùy táng, người ta có thể đánh giá được kẻ giàu người nghèo trong xã hội.

Thời đại Hùng Vương khi bước sang giai đoạn nước Âu Lạc, về phương diện Nhà nước và tổ chức xã hội có những thay đổi lớn so với giai đoạn nước Văn Lang.

Theo sách “Giao châu ngoại vực kí” thì đội quân của nhà nước Âu Lạc lên tới 3 vạn người. Với thành Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội) cũng là một minh chứng về phân hóa giai cấp và tổ chức xã hội. Thành Cổ Loa, với 3 vòng thành, ở đó có sự phân định rạch ròi chỗ ở, nơi đóng quân của vua, quan, lính. Điều đó thể hiện sự phân hóa trong xã hội đã khá rõ nét và Nhà nước của An Dương Vương được tổ chức khá chặt chẽ.

Trong lịch sử Việt Nam, sự lớn mạnh của Nhà nước Âu Lạc có nguyên nhân khách quan từ sự xâm lăng của phong kiến Trung Quốc, nhƣng mặt khác nó còn là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp trong xã hội đã phát triển tới mức độ nhất định.

Sự phát triển của Nhà nước kéo theo những thay đổi trong quan hệ kinh tế xã hội.

Trong xã hội Âu Lạc, ruộng đất thuộc Quyền sở hữu tối cao của nhà vua. Do vậy, người dân cày cấy ruộng công phải chịu các nghĩa vụ với Nhà nước, như đóng góp sản

phẩm, đi lai dịch, binh dịch. Chính sự phân hóa xã hội khiến cho số nô tì thời Âu Lạc nhiều hơn thời Văn Lang.

Cùng với những biến đổi trong quan hệ kinh tế xã hội, khi bước vào thời kỳ dựng nước, việc xuất hiện các công cụ bằng kim loại thực sự là một cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất. Đây là thời kỳ trung tâm kinh tế đã dời về vùng đồng bằng dọc lưu vực các dòng sông như sông Hồng, sông Cầu, sông Mã. Người dân đã sinh sống định cư thành làng xã, bên cạnh quan hệ huyết thống là quan hệ láng giềng. Do con người định cƣ, nên có điều kiện tập trung phát triển trồng trọt và chăn nuôi.

Với trồng trọt, bên cạnh việc trồng cây lương thực con người còn trồng các loại cây thực phẩm, hoa quả, cây lấy sợi. Trồng trọt đã trở thành nguồn sống chủ yếu của con người. Trong hoạt động canh tác, việc sử dụng các nông cụ bằng đồng và sắt cùng với việc bước đầu bước đầu sử dụng trâu bò đã góp phần mở rộng diện tích trồng trọt, Con người còn biết lợi dụng nguồn nước ven sông để tưới lúa. Bên cạnh hoạt động trồng trọt, con người còn tiến hành chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm. Chăn nuôi mang tính chất là nghề phụ trong gia đình.

Để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người, thủ công nghiệp thời Hùng Vương có sự phát triển. Giai đoan Văn Lang, kỹ thuật luyện kim đúc đồng đạt tới đỉnh cao. Sản phẩm của nó khá đa dạng, trong đó nổi bật là trống đồng. Trống đồng đƣợc coi là một kỳ công trong nền văn hóa dân tộc. Qua phân tích tỷ lệ hợp kim đồng thau người ta thấy đây là một tỷ lệ hợp lý, vừa đảm bảo được độ bền chắc cho các công cụ lao động, vừa đảm bảo đƣợc độ nóng chảy cần thiết để dễ đúc đƣợc sản phẩm. Từ Văn Lang chuyển sang giai đoạn Âu Lạc đã xuất hiện thêm kỹ thuật luyện đúc sắt. Chính sắt là chất liệu dần loại bỏ đồng ra khỏi lĩnh vực công cụ lao động.

Với nghề dệt, thời Hùng Vương người dân còn trồng dâu nuôi tằm, trồng các loại cây lấy sợi để dệt vải. Căn cứ vào y phục của nam và nữ in trên trống đồng chứng tỏ nghề dệt có những tiến bộ nhất định.

Với nghề gốm, các sản phẩm của nó đƣợc trang trí bằng các văn hoa đơn giản, nhiệt độ nung gốm ổn định hơn, đảm bảo đƣợc độ bền chắc của đồ vật.

Bên cạnh những nghề thủ công nói trên, những nghề thủ công khác nhƣ móc, đan lát … tiếp tục đƣợc duy trì phát triển nhằm phục vụ những nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt của con người.

Như vậy, nông nghiệp và thủ công nghiệp thời Hùng Vương đều có những tiến bộ, tạo điều kiện cho sự trao đổi giữa con người trong xã hội nảy sinh. Khảo cổ học đã tìm thấy đồ đồng Đông Sơn (Thanh Hóa) ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Điều đó chứng tỏ rằng giữa các vùng trong nước có sự trao đổi với nhau. Thời kỳ này đã có sự trao đổi với nước ngoài. Trống đồng Đông Sơn đã được tìm thấy ở các nước vùng Đông Nam Á

Thời đại Hùng Vương cách đây 4 nghìn năm lịch sử, với những chuyển biến trên các phương diện kinh tế xã hội nói trên chỉ ra rằng với thời đại Hùng Vương, dân tộc Việt Nam đã hòa nhập cùng nhiều dân tộc trên thế giới bước vào ngưỡng cửa của thời đại văn minh.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 118 - 121)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)