Kinh tế Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 125 - 128)

CHƯƠNG 8. KINH TẾ VIỆT NAM

8.2. Kinh tế Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị

8.2.1. Kinh tế Việt Nam từ khi Pháp xâm lƣợc đến chiến tranh thế giới lần thứ hai - Chính sách bóc lột của Pháp ở Việt Nam

Cuộc khai thác lần thứ nhất (1858 -1918) tư bản Pháp đã nặng về thương mại, chú trọng xuất cảng hàng hóa hơn là xuất cảng tƣ bản, Pháp đầu tƣ vào Việt Nam còn ở mức độ thấp và dè dặt, chủ yếu là để vay nặng lãi. Phương thức kinh doanh của chúng còn rất lạc hậu – theo phương thứ kinh doanh phong kiến.

Cuộc khai thác lần thứ hai từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tƣ bản Pháp đã chú trọng xuất cảng tƣ bản hơn xuất cảng hàng hóa. Bên cạnh việc tiếp tục cho vay nặng lãi, chúng đã tăng cường khai thác thuộc địa, đầu tư khai thác vào Việt Nam mạnh hơn, phương thức kinh doanh của Pháp lần này đã có sự thay đổi có phần kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa.

Đặc điểm kinh tế thời này là:

+ Nền nông nghiệp hết sức lạc hậu

+ Công nghiệp nhỏ bé què quặt và thủ công nghiệp bị chèn ép + Giao thông vận tải thấp kém

+ Thương nghiệp bị Pháp nắm độc quyền + Tài chính tiền tệ bị phụ thuộc.

- Kinh tế trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ 2 ( 1939 - 1945) Chính sách “kinh tế chỉ huy” của Nhật - Pháp.

Trong thời gian này Nhật thúc ép Pháp phải thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy” và biến nền kinh tế nước ta thành nền kinh tế chiến tranh.

Nội dung của chính sách “kinh tế chỉ huy” là kiểm sóat sản xuất, kiểm soát nhập cảng, kiểm soát việc phân phôi hàng hóa và kiểm soát giá cả. Thực chất của chính sách

“kinh tế chỉ huy” là tăng cường độc quyền về kinh tế để thu được lợi nhuận tối đa, để cung cấp cho bọn Nhật và để tổng động viên phục vụ thực hiện chiến tranh.

Nền kinh tế thời kỳ này có một số đặc điểm mới

+ Sản xuất nông, công nghiệp phục vụ chiến tranh, vận tải rất khó khăn.

+ Thương nghiệp bị kiểm soát chặt chẽ.

+ Tăng thuế và lạm phát nghiêm trọng.

8.2.3. Kinh tế trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm1945. Nhƣng chỉ đƣợc 3 tuần lễ sau đó tức là ngày 23 tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp quay lại gây hấn ở Nam bộ. Rồi chúng đánh dần ra các nơi

khác. Với tinh thần “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến chống lại chúng.

Kinh tế trong năm đầu dau cách mạng tháng 8 (1945 - 1946) * Khẩn trương mở chiến dịch cứu đói.

Đầu năm 1945 ở nươc ta xảy ra một nạn đói khủng khiếp làm cho hơn 2 triệu đồng bào bị thiệt mạng. Chính bọn Pháp, bọn Nhật là kẻ thủ phạm đã gây ra.

Sau cách mạng tháng tám, nạn đói có phần dịu đi do cách mạng phá kho thóc của Pháp, Nhật để chia cho dân và vì vụ chiêm 1945 đã có thêm một số thóc. Nhƣng nạn đói không dịu đi hơn mà trở lên trầm trọng, hàng vạn người có nguy cơ bị chết đói , vì số thóc trên có ít, mà vụ mùa năm 1945 bị thất thu 50% do có trận lụt lớn, làm cho 9 tỷnh ở Bắc bộ vì vỡ đê. Đó là một thử thách to lớn một đe dọa nghiêm trọng đối với sự phát triển của cách mạng.

Do vậy, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra phải khẩn trương mở chiến dịch cứu đói. Đó là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của cả nước lúc ấy (cứu đói ở miền Bắc và kháng chiến ở miền Nam).

Để tiền hành cứu đói, nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp trong đó có những biện pháp cấp bách như vận động phong trào nhường cơm sẻ áo, tổ chức cứu đói ở các nơi khuyến khích chở thóc gạo từ Nam ra Bắc, cấm xuất cảng gạo, ngô, đỗ, cấm đầu cơ tích trữ thóc gạo. Ngày 29 tháng11 năm1945 chính phủ lại ra quyết định địa chủ phải giảm tô 25% và xóa bỏ những món nợ lâu đời ở nông thôn. Đồng thời chính phủ cũng đã tiến hành một số biện pháp cơ bản và lâu dài nhƣ vận động toàn bộ dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất, vận động trồng mầu ngắn ngày ở các nơi chia lại công điền.

Ai không sử dụng hết ruộng đất ủy ban nhân dân sẽ cho nông dân mƣợn để trồng màu.

Những quãng đê vỡ đã đƣợc hàn khẩu lại, hệ thống nông giang đƣợc sửa chữa lại.

Do đó, chỉ trong một thời gian ngắn từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1945 diện tích trồng màu ở Bắc bộ đã tăng lên 3 lần vào năm 1946 sản lƣợng lúa đã vƣợt hơn năm 1944 là 38,8%. Nhờ nạn đói đã đƣợc chặn đứng chiến dịch cứu đói đã đạt đƣợc thắng lợi rực rỡ. Thắng lợi ấy là một kỳ công của chế độ dân chủ nhân dân và đã có tác dụng trọng yếu trong việc củng cố và bảo vệ chính quyền nhân dân.

* Đấu tranh xây dựng một nền tài chính tiền tệ độc lập:

Về tài chính: Trước hết nhà nước kêu gọi sự đóng góp tự nguyện của nhân dân, lập các quỹ quyên góp: quỹ độc lập và “Tuần lễ vàng” Hai quỹ này đƣợc nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Kết quả thu được 20 triệu đồng và 370 kg vàng (bằng số thuế thân và thuế điền thu của cả nước trong 1 năm dưới thời Pháp thuộc). Kết quả đã nói lên lòng kiên quyết giữ vững độc lập của nhân dân ta. Ngoài ác quỹ quyên góp trên

còn có một số hình thức đóng góp tự nguyện khác nhƣ “hũ gạo nuôi quân” nuôi dƣỡng cán bộ, bộ đội lập quỹ vệ quốc đoàn, đón thương binh về làng.

Những hình thức tài chính đặc biệt dựa vào lòng yêu nước của nhân dân ta mang lại những kết quả đáng kể, góp phần giải quyết những khó khăn về tài chính trong những ngày đầu cách mạng. Nhƣng nó cũng có nhƣợc điểm là không thành nghĩa vụ, không ổn định và không công bằng trong việc đóng góp. Do đó Nhà nước đã dần dần quy định sự đóng góp theo chế độ: Đầu tiên là bãi bỏ những thứ thuế nô dịch và bất công do chế độ cũ để lại nhƣ thuế đinh, thuế rƣợu, muối, thuốc phiện,…

Việc bãi bỏ những thứ thuế nô dịch và bất công đó đã có ý nghĩa chính trị rất lớn lao. Nhưng cũng gây lên nhiều khó khăn nhất định cho ngân sách nhà nước. Sau đó Nhà nước đã từng bước xây dựng chế dộ thuế khóa mới: Tiếp tục thu thuế quan vì thuế này còn thể hiện chủ quyền của 1 nước độc lập, thuế đồn điền vẫn tiếp tục thu nhưng giảm đi 20% đổi lại thuế đánh vào lãi thương mại, kĩ nghệ canh nông, lương bổng và thi hành từ 1 tháng1 năm1946.

Đồng thời với việc phải thu, Nhà nước quản lý chi, thực hiện nguyên tắc triệt để chi tiêu hướng vào việc thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản: diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, nhƣng đặc biệt là chi phục vụ sản xuất, giảm những chi tiêu không cần thiết, cán bộ lúc đó tình nguyện “cơm nhà việc nước” hay chỉ lĩnh sinh hoạt phí, thực hiện một chính phủ “ít tốn tiền” mà Mác đã nêu ra khi tổng kết xã hội Pari.

Về tiền tệ: Hồi đầu cách mạng, Nhà nước ta chưa có đồng tiền riêng nên thường phải bị động với những thủ đoạn gây rối của bọn Pháp. Do đó chính phủ chủ trương một mặt cho lưu hành giấy bạc Đông Dương trong một thời gian nữa (vì nó là tài sản của nhân dân) mặt khác đã cho chuẩn bị phát hành giấy bạc Việt Nam.

Tiếp đó ngày 31 tháng 1 năm 1946 Chính phủ đã cho phát hành giấy bạc Việt Nam tại miền Nam Trung bộ, từ vĩ tuyên 16 trở vào, vì nơi đây không có quân đội nước ngoài chiếm đóng, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở đây triệt để hơn, các lực lượng phản động bị quét đến tận gốc nên việc phát hành tiền mới không bị phá hại.

Đến ngày 16 tháng 8 năm1946 Chính phủ quyết định mở rộng việc phát hành giấy bạc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc Trung Bộ.

Và ngày 16 tháng 8 năm1946 trong kỳ họp thứ hai, Quốc hội đã cho phát hành giấy bạc Việt Nam trong toàn quốc, thế là chỉ hơn 1 năm sau cách mạng, nước Việt Nam đã có đồng tiền riêng của mình.

Đƣợc pháp luật cho phát hành trong toàn quốc, đƣợc nhân dân tín nhiệm. Đó là một thắng lợi to lớn trong lịch sử tiền tệ ở Việt Nam và một thành tựu to lớn trong lịch sử tiền tệ Việt Nam và một thành tựu to lớn trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.

* Phục hồi công thương nghiệp và chuyển dần nền kinh tế sang thời chiến:

Về công nghiệp: Chính phủ đã tiêu thụ đặc lợi đặc quyền của bọn thực dân và giành lại chủ quyền của ta nhƣ thủ tiêu đặc quyền khai mỏ của thực dân Pháp, nhà máy và tư bản Pháp được tiếp tục kinh doanh một số nhà máy như điện, nước, ở thành phố, than ... nhưng phải tuân theo luật lệ và chịu sự kiểm soát của ta. Chủ trương này đã ngăn ngừa đƣợc sự phá hoại của họ đã tránh đƣợc sự xáo trộn không cần thiết.

Về giao thông vận tải: Việc cấp bách là sửa chữa những chỗ bị bom đạn tàn phá trong chiến tranh thế giới lần thứ hai như: Về đường bộ đã sửa chữa được 50 trong số 60 chiếc cầu bị bắn phá, sửa được 500 km đường bộ, về đường sắt sửa xong được 15 trong số 18 chiếc cầu bị bom phá, tu sửa được 32 km đường bị hư hỏng… chưa đầy 1 tháng sau đường xe lửa Việt Nam đã được tổ chức lại, xe lửa đã đi được từ Nam ra Bắc và ngược lại. Chính phủ tiêu quyền kinh doanh đường xe lửa Hải Phòng - Vân Nam của công ty xe lửa Vân Nam của Pháp và giao cho bộ giao thông công chính nước ta quản lý.

Về thương nghiệp: Ngày 5 tháng 9 năm1945 chính phủ ra xác lệnh thủ tiêu những luật lệ cấm chợ ngăn sông, ngày 22 tháng 9 năm 1945 ra sác lệnh bác bỏ các nghiệp đoàn độc quyền kinh doanh. Chính phủ khuyến khích tƣ bản, tƣ nhân mở rộng kinh doanh thành lập hội thương gia Việt Nam để nghiên cứu các vấn đề thương nghiệp, đồng thời chính phủ kiên quyết nắm chủ quyền về ngoại thương thủ tiêu các luật lệ của Pháp đặt ra, ngày 9 tháng11 năm1945 chính phủ tuyên bố hủy bỏ quyền ƣu tiên xuất nhập khẩu đối với tƣ bản Pháp.

Sau khi thực dân Pháp gây hấn ở Nam Kỳ (ngày 23 tháng 9 năm 1945) nền kinh tế nước ta chuyển sang thời chiến: ở những thành phố địch đã chiếm được ta tiến hành bao vây và phá hoại kinh tế địch, bất hợp tác với địch. Ở những vùng nông thôn địch sẽ đi qua ta thực hiện chính sách “vườn không nhà trống” và cả nước thực hiện phong trào

“ủng hộ kháng chiến Nam Bộ “các đơn vị Nam tiến được tổ chức, các công binh xưởng đƣợc thành lập ở khắp nơi, tiến hành thu lƣợng máy móc nguyên liệu để di chuyển lên Việt Bắc.

Chính sách kinh tế kháng chiến bao gồm 2 mặt: 1 là phá hoại kinh tế địch, 2 là xây dựng kinh tế Việt Nam.

Phá hoại kinh tế địch bằng nhiều cách: phá hủy máy móc kho tàng, đường giao thông vận tải làm vườn không nhà trống, không cho địch vơ vét lương thực, của cải để thực hiện thủ đoạn “ lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 125 - 128)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)