Sự xác lập và phát triển của triều Nguyễn là một đề tài mang tính tổng quan, là nền tảng để tiếp tục triển khai nhiều đề tài khác trong chuyên đề Lịch sử Văn hóa triều Nguyễn (1802 – 1884). Với vai trò như vậy, nhóm nghiên cúu chúng tôi xác định rõ yêu cầu của đề tài này dừng lại ở mức độ tổng quan về mọi mặt của xã hội Việt Nam thời Nguyễn – kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Tuy vậy, không thể bỏ qua các chi tiết gợi mở, tạo bước đệm để các đề tài sau có cơ sở vững chắc cũng như định hướng phát triển đề tài của họ cho hợp lí nhất.
Trang 1MỤC LỤC Error! Bookmark not defined.
DẪN NHẬP 2
CHƯƠNG 1 TIỀN ĐỀ CỦA VIỆC XÁC LẬP TRIỀU NGUYỄN 4
1.1 Tiền đề khách quan 4
1.2 Tiền đề chủ quan 6
CHƯƠNG 2 SỰ XÁC LẬP TRIỀU NGUYỄN 8
2.1 Kết thúc chiến tranh với Tây Sơn (1793-1802) 8
2.2 Thể chế nhà nước 10
2.3 Lựa chọn quốc hiệu và kinh đô 11
2.4 Vấn đề chính đế vị 13
CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ HOÀN THIỆN CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ QUÂN CHỦ CHUYÊN CHẾ TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN TRONG THỜI NHÀ NGUYỄN 16
3.1 Về chính trị 16
3.1.1 Cải tổ bộ máy nhà nước thời Minh Mạng 17
3.1.2 Ban hành pháp luật 19
3.1.3 Xây dựng quân đội 21
3.2 Nhà Nguyễn với các hoạt động đối nội, đối ngoại 25
3.2.1 Đối ngoại 25
3.2.2 Tình hình đất nước và một số chính sách đói nội tiêu biểu 32
KẾT LUẬN 39
PHỤ LỤC 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 2DẪN NHẬP.
Sự xác lập và phát triển của triều Nguyễn là một đề tài mang tính tổng quan, là nềntảng để tiếp tục triển khai nhiều đề tài khác trong chuyên đề Lịch sử - Văn hóa triềuNguyễn (1802 – 1884) Với vai trò như vậy, nhóm nghiên cúu chúng tôi xác định rõ yêucầu của đề tài này dừng lại ở mức độ tổng quan về mọi mặt của xã hội Việt Nam thờiNguyễn – kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội Tuy vậy, không thể bỏ qua các chi tiết gợi
mở, tạo bước đệm để các đề tài sau có cơ sở vững chắc cũng như định hướng phát triển
đề tài của họ cho hợp lí nhất Đồng thời, tuy nói rằng là sẽ triển khai về mọi mặt nhưngvới khả năng có hạn, dung lượng kiến thức cũng như công sức vừa phải, trong đề tài này,chúng tôi chủ trương tập trung vào vấn đề: xây dựng và củng cố nền quân chủ chuyên chếtrung ương tập quyền của triều đình nhà Nguyễn là chủ yếu; còn về các mặt kinh tế, vănhóa, xã hội chúng tôi xin phép dừng lại ở mức độ khái quát nhất mà thôi
Với nguồn tài liệu phong phú, đa dạng mà thành viên của nhóm nghiên cứu lại cóhạn, đặc biệt lại gặp nhiều khó khăn trong quá trình liên lạc, trao đổi nên nguồn tài liệuchúng tôi tham khảo nhiều nhất là các cuốn sách lịch sử tổng hợp hoặc đã qua nghiên cứu
có sẵn (tư liệu bậc 2 trở lên) Tuy nhiên không vì vậy mà chúng toi phụ thuộc hoàn toànvào quan điểm lịch sử của họ mà nhìn nhận vấn đề dưới thái độ, góc nhìn của một sinhviên tập sự nghiên cứu khoa học Chúng tôi chỉ dựa vào nguồn tư liệu đã tổng hợp, xử lícủa các tài liệu trên nhưng không dựa hẳn vào quan niệm lịch sử của riêng một tác giảnào Cùng với đó, chúng tôi cũng cố gắn tiếp cận các nguồn tài liệu gốc như: Đại Namthực lục, Cương mục,… nhưng chỉ dừng lại ở mức độ tham khảo, dẫn chứng chứ chưathể đi sâu nghiên cứu, tổng hợp
Quá trình xác lập và phát triển của triều Nguyễn trải dài trên trục thời gian từnhững năm cuối thế kỉ XVIII đến hơn nửa đầu thế kỉ XIX, nhưng với xác định ban đầu,chúng tôi xin giới hạn đề tài này trong khoảng thời gian 1793 – 1884, không gian địa lí dĩnhiên là trên lãnh thổ Việt Nam như ngày nay Chủ thể nghiên cứu là sự xác lập và pháttriển của triều Nguyễn hay sâu hơn nữa là quá trình thiết lập, củng cố và phát triển củachế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền nhà Nguyễn và những ảnh hưởng của
Trang 3nó đến các mặt của xã hội phong kiến Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX Khách thể nghiêncúu dĩ nhiên là “triều Nguyễn” hay nói rõ hơn là bộ máy thống trị xã hội, bộ máy nhànước phong kiến do các vua họ Nguyễn đứng đầu (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, TựĐức).
Trong suốt quá trình xác lập và phát triển của mình, triều Nguyễn phải đối mặt vớinhiều vấn đề khó khăn như: khởi nghĩa của nhân dân chống lại chế độ, vấn đề cải cáchđất nước, vấn đề bảo vệ nền độc lập trước thực dân phương Tây,… Tuy nhiên, chúng tôixin phép dành các vấn đề này cho các đề tài chuyên sâu tiếp theo
Cuối cùng, với nhận định triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng của xãhội Việt Nam, lại là một đối tượng nghiên cứu còn gây nhiều tranh cãi trong giới sử giahiện đại, chúng tôi xác định việc nghiên cứu về chủ thể này cần phải thận trọng, tuân thủcác quy tắc nghiên cứu một các trung thực, khách quan, cẩn trọng và có hệ thống nhất cóthể
Trang 4CHƯƠNG 1 TIỀN ĐỀ CỦA VIỆC XÁC LẬP TRIỀU NGUYỄN.
là sự gặp nhau giữa văn văn minh Đông – Tây mà áp đảo thuộc về phương Tây đã đánhdấu một trang sử mới đầy sự kiện (hào hùng có mà bi sầu cũng nhiều); đồng thời đâycũng là giai đoạn đánh dấu bước đầu sự sụp đổ của chế độ phong kiến trên phạm vi toànthế giới mà cái rốn của sự sụp đổ ấy bắt nguồn từ châu Âu rồi lan rộng ra toàn thế giớitheo bước chân của các nhà tư sản
Ở khu vực Đông Nam Á, một số nước đã trở thành thuộc địa của tư bản phươngTây ngay từ thế kỉ XVI, XVII và sự hiện diện của người phương Tây trên khu vực nàyngày càng thường xuyên, mạnh mẽ hơn Đứng trước tình hình ấy, hầu hết các quốc gia
1 Các khái niệm “phương Tây” và “phương Đông” trong trường hợp này chỉ mang tính phân chia khu vực địa lí.
Trang 5Đông Nam Á đều rụt rè trước thực tại và tự bảo vệ mình bằng cách hạn chế giao lưu hoặctìm cách tránh né với phương Tây Chỉ duy có Xiêm La (Thái Lan) đã tiến hành nhiều cảicách quan trọng để thích ứng với thế cuộc và gặt hái được nhiều thành công Nhờ vậy, thếlực của Xiêm ngày một mạnh lên; cùng với đó là sự rối loạn dẫn đến tình trạng di dânchiếm đất một cách hung bạo của Myanma đã làm cho quan hệ ngoại giao giữa các quốcgia trong khu vực này có nhiều biến động, tạo thành một “thế cờ ngoại giao” hết sức rốiren và phức tạp, đòi hỏi các quốc gia cần có những bước đi thận trọng để bảo vệ ổn địnhkhu vực.
Trung Quốc cũng là một thực thể đóng vai trò quan trọng và có nhiều ảnh hưởng ởkhu vực Đông Nam Á nói riêng và cả Châu Á Thái Bình Dương nói chung Với vai trò lànước lớn nhất ở khu vực Đông và Đông Nam Á, cùng với đó là nền văn minh rực rỡ lâuđời, có sức lan rộng, tác động trực tiếp đến các quốc gia xung quanh, Trung Quốc (màbấy giờ là nhà Thanh) mặc dù đã qua giai đoạn cực thịnh của chế độ phong kiến phươngĐông (Khang Hi – Càn Long) và đang bắt đầu có biểu hiện suy yếu từ thời Gia Khánhnhưng vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng với các lân bang (trong đó có cả Việt Nam ta)
Dù vậy, ở giai đoạn lịch sử này Trung Hoa vẫn phải đứng trước những thách thức khi sự
“xâm thực” của phương Tây vào đất nước rộng lớn này ngày một mạnh mẽ và có nhữngbiểu hiện xung đột rõ nét ngày càng cao độ
Tất cả đã cho thấy một xu thế trên thế giới bấy giờ là sự chuyển dịch (một cách ồ
ạt và phi hòa bình) của chủ nghĩa tư bản sang phương Đông dưới hình thức chủ nghĩathực dân, đế quốc Đồng thời xu hướng khép mình tự vệ cũng lan truyền và gần như thểhiện hết sự bất lực của các xã hội phong kiến ngày càng mục rã, lạc hậu, mâu thuẫn dângcao ở phương Đông (ngoại trừ Nhật Bản và Xiêm La) Đứng trước những chiều hướngphát triển ấy, Việt Nam cuối thế kỉ XVIII, đặc biệt là nửa đầu thế kỉ XIX cũng có nhiềubiến động, mà đáng chú ý là thành công rực rỡ của khởi nghĩa nông dân Tây Sơn (tuyngắn ngủi nhưng lại mang dấu ấn quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc) và sự ra đờicủa nền quân chủ phong kiến cuối cùng ở Việt Nam – nhà Nguyễn Sơng song với đó, ởcác nước phương Đông, vấn đề ổn định đất nước về mọi mặt để đối phó với thực dân
Trang 6phương Tây cũng là một yêu cầu bức thiết (sau một thời gian dài khởi nghĩa nông dânbùng nổ khắp nơi) Đây là những tiền đề khách quan để nhà Nguyễn ra đời.
Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế lỉ XIX cũng đầy biến động.Sau hơn hai thế kỉ phân cắt bởi hai chính quyền vua Lê-chúa Trịnh và chúa Nguyễn vớicục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong, cùng với sự suy thoái của các thế lực phong kiến ấy
là phong trào khởi nghĩa nông dân rộng lớn bao trùm khắp nơi, tiêu biểu và thành tựunhất là khởi nghĩa (sau phát triển thành phong trào) Tây Sơn đã chấm dứt cục diện phânchia ấy Liền kề với đó là họa xâm lăng từ hai đầu Tổ quốc là Xiêm ở phía Nam, Thanh ởphía bắc đã làm cho xã hội Đại Việt xuống cấp trầm trọng sau khi đánh đuổi ngoại xâm,hòa bình lặp lại chưa được bao lâu thì sự tranh giành quyền lực lại nổi lên giữa nội bộTây Sơn và giữa Tây Sơn với Nguyễn Ánh – hậu duệ của chúa Nguyễn Đất nước lại bônqua khói lửa triền miên, mãi đến năm 1802 thì mới tạm lắng Rõ ràng, bối cảnh đất nướcnhư vậy bức thiết cần phải giải quyết các vấn đề hệ trọng sau thì mới thiết lập được sự ổnđịnh mà phát triển
Một là vấn đề thống nhất đất nước Về cơ bản, theo chúng tôi thì cuối thế kỉ XVIIIthì vấn đề này đã được nhà Tây Sơn xây dựng được Tuy nhiên, do bản chất nông dân,phong kiến nên chính quyền chưa được thống nhất Do vậy, yêu cầu lịch sử lúc này là cần
có một chính quyền thống nhất trên một lãnh thổ thống nhất
Thứ hai là vấn đề độc lập Vấn đề này không ai có thể chối cãi là Tây Sơn mà nổitrội là Nguyễn Huệ đã hoàn thành một cách oanh liệt khi đánh đuổi họa ngoại xâm từ cảphía Nam và Bắc Tuy nhiên, điều quan trọng đặt ra là sự xuất hiện của chủ nghĩa thựcdân ở Đông Nam Á đang đe dọa trực tiếp đến nền độc lập của Việt Nam Đây là một yêucầu khó khăn mà lịch sử đã đặt ra cho nhà Nguyễn sau khi lật đổ Tây Sơn và thiết lập nênmột vương triều phong kiến mới
Tuy đất nước đã thống nhất, nhưng do trải qua gần 2,5 thế kỉ phân cắt nên chế độcai trị cũng như cách thức tổ chức ở mỗi địa phương, vùng miền lại có những màu sắc rất
Trang 7khác nhau Do vậy, nhà Nguyễn với vai trò là một chính quyền thống nhất cần phải giảiquyết vấn đề này một cách khéo léo và hiệu quả nhất để tạo nền tảng cho sự phát triểncủa xã hội Việt Nam đi lên, cũng là tạo thế mạnh củng cố cho các lĩnh vực khác.
Cũng bởi ảnh hưởng của hàng trăm năm chiến tranh, phân cắt, nền kinh tế, vănhóa, xã hội Đại Việt bị xuống cấp, tàn phá nặng nề Về kinh tế, vấn đề nhứt nhối nhất làruộng đất hoang phế, nhân dân xiêu tán làm nền nông nghiệp (chỗ dựa chính của nềnkinh tế phong kiến) ngưng trệ, kém phát triển Văn hóa bị tàn phá, nhất là các công trìnhkiến trúc, tôn giáo Xã hội bất ổn với nhiều luồng tư tưởng chống lại nhà Nguyễn (như tưtưởng hoài Lê của sĩ phu Bắc Hà, nhớ Tây Sơn của nhân dân Bình Định,…), đồng thời làmâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ vẫn còn rất gay go Tất cả những vấn đề ấy đã đặtlên vai triều đình phong kiến họ Nguyễn những trọng trách vô cùng to lớn trong côngcuộc xây dựng và củng cố một xã hội Việt Nam (Đại Nam) thật vững chắt trước sóng giócủa chủ nghĩa thực dân vẫn hằng ngày thường trực và qua lại vùng biển Đông của đấtnước
Trên đây là những tiền đề chủ quan và khách quan có tác động trực tiếp để hìnhthành lên triều đình phong kiến Nguyễn Đồng thời đó cũng chính là những yêu cầu củalịch sử, thách thức của thời đại đặt ra đối với vương triều phong kiến này Nhà Nguyễn về
cơ bản đều đã ý thức được những vấn đề ấy, nhưng nếu xét chi tiết thì họ chỉ giải quyếtđược phần nào vấn đề mà thôi Vẫn còn nhiều vấn đè họ còn mắt phải những sai lầmnghiêm trọng, chẳng hạn như xử lí các mâu thuẫn bằng quyền lợi của giai cấp thống trị,ngoại giao khép kín theo kiểu cố hựu phương Đông, chậm cách tân,… Hậu quả là việcđánh mất đất nước vào nửa cuối thế kỉ XIX
Trang 8CHƯƠNG 2 SỰ XÁC LẬP TRIỀU NGUYỄN.
Tại sao lại chọn năm 1793 làm cột mốt cho giai đoạn kết thúc chiến tranh với nhàTây Sơn? Theo quan điểm chủ quan của chúng tôi, sự kiện vua Quang Trung băng hànăm 1792 là nguyên nhân, bước chuyển trong tương quan thế lực giữa nhà Tây Sơn vàNguyễn Vương Thứ nhất, khi vua Quang Trung mới băng thì tất nhiên rằng triều đìnhTây Sơn sẽ rối loạn vì phải lo cho hậu sự của ông Thứ hai, Quang Toản lên ngôi khi tuổiđời quá trẻ sẽ không đủ “tâm, lực và tầm” để kiểm soát hoạt động của triều đình Thứ ba,
do Quang Toản còn nhỏ nên việc triều thần chuyên quyền (Bùi Đắc Tuyên) là chuyện dễhiểu Thứ tư, khi vua Quang Trung không còn thì sự gắn kết giữa các vị tướng của ông sẽkhông được êm ấm như xưa (bởi lẽ “gà tức nhau tiếng gáy, người tức nhau tiếng nói” và
sự li gián của gian thần) Tất cả những điều trên đã làm cho triều đình Tây Sơn rơi vàotình trạng lục đục, phân tán quyền lưc Từ đó, ảnh hưởng đến đời sống xã hội, các chínhsách cải cách của vua Quang Trung cũng bị ngưng trệ tạo điều kiện cho Nguyễn Vươngphản công mạnh mẽ Từ năm 1793, các đợt phản công của Nguyễn Vương ngày càngdpồn dập và đạt được nhiều thắng lợi quan trọng Đến tháng 3-1801, Nguyễn Vương đãchiếm lại hầu hết đất đàng trong cũ Đến tháng 5 thì chiếm được Phú Xuân, triều đìnhCảnh Thịnh (Quang Toản) buộc phải sơ tán ra Bắc Hà Đồng thời, Nguyễn Ánh lên ngôivua và lấy niên hiệu là Gia Long Đến tháng 7 thì Gia Long đã chiếm được toàn bộ đấtđàng ngoài, triều đình Tây Sơn đến đây sụp đổ
Như vậy, việc kết thúc chiên stranh với nhà Tây Sơn là một yêu cầu hàng đầu đểthành lập triều Nguyễn Từ dây đất nước đổi chủ, giang sang thu về một mối, đặt dướiquyền cai trị của một nhà nước thống nhất, chấm dứt về cơ bản tình trạng cát cứ Đây chỉmới là điều kiện ban đầu cho việc thành lập một vương triều, song song với đó là vấn đềthiết lập bộ máy nhà nước phong kiến và thực thi các chính sách đối nội và đối ngoại đểbảo vệ chế độ ấy Nhưng, dù thế nào đi nữa thì việc đánh bại Tây sơn là một thắng lợimang ý nghĩa trung tâm, tiên quyết để triều Nguyễn ra đời Đến đây, Chúng ta có thể rút
Trang 9ra nguyên nhân thắng lợi của Nguyễn Vương trong cuộc chiến với Tây Sơn: đầu tiên phải
kể đến là sự kiên trì của Nguyễn Ánh trong suốt từ năm 1780 (khi ông bắt đầu khỏi binhđánh Tây Sơn) đến năm 1802 (khi ông giành thắng lợi hoàn toàn) đã trải qua biết baosóng gió, gian nan, có khi phải lưu vong nơi đất Xiêm, khi lại chạy đến Hà Tiên, PhúQuốc lánh nạn; nhưng kì thiệt, ngài đã vượt qua những biến chuyển thời thế ấy để gâydựng cơ nghiệp cho nhà Nguyễn Thứ hai là sự hỗ trợ về quân sự từ các lực lượng ngoạiquốc như: quân đội đánh thuê của Bá-đa-lộc, sự giúp đỡ của quân đội Ai Lao (dưới thờiInthavong),… đã góp phần quan trọng cho chiến thắng, đặc biệt là sự hỗ trợ về mặt kĩthuật quân sự từ các quân nhân người Pháp Tuy vây, dưới một góc độ khác thì sự nhờ vảcủa Nguyễn Ánh với các quân đội nước ngoài là một hành động sai lầm nghiêm trọng khigiải quyết vấn đề mâu thuẫn dòng tộc bằng biện pháp quốc gia, không khác nào để chonước ngoài có cơ hội chen vào việc trong nước; nổi bậc là việc cầu cứu quân Xiêm đã tạo
cơ hội cho họ xây dựng âm mưu xâm chiếm nước ta (nếu không có sự đánh trả của TâySơn) Thứ ba là sự ủng hộ của các thế lực phong kiến vào Nguyễn Vương Đó là các đạidiền chủ, địa chủ ở vùng Nam Bộ Bởi lẽ họ là những người nhờ ơn các đời chúa Nguyễn
mà xây dựng cơ ngơi, một phần là do chính sách của Tây Sơn không có lợi cho họ (TâySơn xuất thân từ nông dân nên dĩ nhiên sau khi thắng lợi phải bảo vệ và giành quyền lợicho nông dân, muốn thế phải tước bớt ruộng đất của địa chủ) Do vậy, chính tầng lớp phúnông ở miền Nam đã là chỗ dựa vững chắt về kinh tế, hậu cần cho công cuộc phản côngcủa Nguyễn Vương Đồng thời với những yếu tố trên là vấn đề lòng dân – yếu tố quantrọng nhất về mặt nội tại để quyết định chiến thắng cho Nguyễn Vương Yếu tố này làhậu quả kéo theo của vấn đề nhà Tây Sơn suy yếu Do nhà Tây Sơn thoái trào nên cácchính sách tiên tiến không được thực thi, ruộng đất chia cho nông dân không đáp ứngđược nguyện vọng, chiến tranh liên miên,… đã làm cho lòng tin của nhân dân vào một sựđổi mới bị lung lay Do thế, thay vì nguyện vọng được hưởng lợi từ ruộng đất như trướckia thì bây giờ điều mong muốn nhất của nhân dân là một nền hòa bình, một cuộc sốngyên ổn, là chấm dứt chiến tranh loạn lạc Tất cả những yếu tố ấy đã làm nên thắng lợi choNguyễn Vương
Trang 102.2 Thể chế nhà nước.
Trị vì một đất nước thống nhất, được quyền quản lí lãnh thổ rộng lớn, nhưng trướctình trạng tình hình chính trị ở mỗi miền vẫn còn khác nhau, nên chính quyền họ Nguyễntrong buổi đầu quản lí đất nước còn gặp nhiều khó khăn Các vua Gia Long (1802-1819),Minh Mạng (1820-1840) đã tìm mọi cách sớm ổn định tình hình để tạo cơ sở vững chắccho sự phát triển lâu dài của vương triều Công việc của nhà nước mới được thành lập ởđầu thế kỉ XIX vô cùng bộn bề và phức tạp xã hội Việt Nam lúc này đang có những biếnchuyển mới, nhu cầu bức thiết đòi hỏi phải chỉnh đốn và kiện toàn các lĩnh vực chính trị,kinh tế, văn hóa,… cho phù hợp với tình hình của đất nước trong giai đoạn mới Trong đóviệc xây dựng và xác lập một thể chế chính trị là vô cùng quan trọng để định hình cho sựphát triển lâu dài
Ngay từ đầu, vua Gia Long đã thực hiện việc kiện toàn bộ máy chính quyền nhànước từ trung ương đến địa phương, đặt mới và bổ sung nhiều cơ quan và các chức quan
Ở trung ương, về cơ bản triều Nguyễn vẫn duy trì mô hình quan chế thời Lê song có sựthay đổi chút ít như bỏ chức Tể tướng, tập trung quyền lực vào 6 bộ, vua là người trựctiếp điều khiển cả 6 bộ Cơ cấu hành chính địa phương hầu như giữ nguyên theo tổ chức
cũ của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong và triều Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài Cảnước được chia làm 27 trấn, doanh Đặc biệt, dưới triều Gia Long và đầu triều MinhMạng, ở Bắc và Nam hà tồn tại hai đơn vị hành chính là Gia Định Thành và Bắc Thành
có quyền hành, tổ chức tương tự như một triều đình thu nhỏ Việc này đã làm cho nhiềunhà nghiên cứu liên hệ đến thể chế phân quyền trong cai trị Tuy nhiên, chúng ta có thểthấy rằng ý kiến ấy là chưa chính xác, bởi lẽ hai “thành” ấy vẫn đặt dưới sự kiểm soát củatriều đình, hai vị quan đứng đầu vẫn phải giữ lễ triều quy Hình thức tổ chức ấy là phùhợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ vì lẽ hai khu vực này nằm xa Kinh đô và có những đặcđiểm chính trị, xã hội khác biệt nhau rất nhiều Một điểm đáng chú ý nữa là chế độ quânquản trải dài gần hết đời Gia Long Điều này biểu hiện ở các chức quan đứng đầu cácThành, Trấn/Doanh đều là võ tướng Việc này cũng dễ hiểu: đất nước vừa qua chiến tranhthì đội ngũ quan lại chưa được kiện toàn nên các võ tướng đóng quân ở đâu thì quản lí
Trang 11khu vực ấy, hơn nữa loạn lạc còn nhiễu động nên cần có quân đội để trấn áp Như vậychế độ quân quản là một tất yếu, là quy luật khách quan của lịch sử khi một triều đạiđược thành lập bằng con đường quân sự.
Rõ ràng, ngay từ đầu nhà Nguyễn đã lựa chọn thể chế quân chủ chuyên chế trungương tập quyền bằng con đường truyền thống là tập trung quyền lực tối cao vào nhà vua.Nhưng do một số khách quan của thời cuộc nên tạm thời quyền lực ấy được chia sẻ mộtphần cho hai quan Tổng trấn Xét cho cùng thì lựa chọn này cũng là phù hợp với kháchquan của lịch sử khi cả phương Đông vẫn còn nằm trong hình thái kinh tế xã hội phongkiến Ở nước ta, nền tảng của chế độ mới vẫn chưa được hình thành thì làm sao có thể đòihỏi một cải cách, thay đổi như lối suy nghĩ của nhiều người vẫn đòi hỏi (trên lập trườngcủa những con người tồn tại sau đó cả thế kỉ hơn)
“Trước hết, theo tôi cần phân biệt tên nước trong cách tự gọi của nhân dân ta vớiquốc hiệu do nhà nước chính thống đặt ra và sử dụng trong các văn kiện quốc gia, tronghoạt động đối nội, đối ngoại của mình”1
Như vậy, theo quan niệm trên, tên Việt Nam trở thành quốc hiệu chính thức vàonăm 1804 (năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Long thứ 3) khi vua Gia Long làm lễ tế cáo TháiMiếu và ban chiếu đổi quốc hiệu là Việt Nam Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến khía cạnhquốc hiệu Việt Nam chứ không tập trung vào tên nước Việt Nam – mà theo các nhànghiên cứu thì tên gọi Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu trong thư tịch cổ của cả TrungQuốc (trong Sử Ký của Tư Mã Thiên) và nước ta Một điểm cần nói là chúng ta đang đềcập đến quốc hiệu trong gia đoạn xác lập ban đầu của triều Nguyễn nên chúng tôi chỉ đềcập đến quốc hiệu Việt Nam thời Gia Long (và đầu thời Minh Mạng) mà thôi
Theo như vậy, quốc hiệu Việt Nam dưới triều Nguyễn tồn tại từ năm 1804 đếnnăm 1838, khi vua Minh Mạng đổi thành Đại Nam Trong thời kì Bắc thuộc, dĩ nhiênquốc hiệu nước ta bị xóa bỏ, đất nước bị chi làm ba miền: Bắc, Trung, Nam nằm trongkhối Đông Dương thuộc Pháp Với kết luận chung như vậy, Giáo sư Phan Huy Lê đã đặt
1 Phan Huy Lê, 2012, Lịch sử và văn hóa Việt Nam – tiếp cận bộ phận, nxb Thế Giới, Hà Nội, tr 799.
Trang 12ra vấn đề cần giải quyết, đó là: tên gọi Việt Nam phải chăng do nhà Thanh đặt ra khikhông chấp nhận quốc hiệu Nam Việt do vua Gia Long đề nghị vì e ngại bao gồm cảvùng Lưỡng Quảng của nước Nam Việt thời nhà Triệu, từ đó đổi lại thành Việt Nam?
Thực ra theo chúng tôi, câu hỏi trên được trả lời phụ thuộc vào lối suy nghĩ củatừng người, có thể cho rằng là Gia Long đã phụ thuộc nhà Thanh khi nhận tên Việt Nam
mà cũng có thể cho rằng Gia Long chủ động trong việc đặt tên để khỏi xích mích với
“Thiên triều” khi vương triều chỉ mới thiết lập Quan trọng là chúng ta có thể khẳng địnhrằng quốc hiệu nước ta đầu nhà Nguyễn được lựa chọn là Việt Nam với ý: "Nam" có ýnghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa "Việt Thường" và Việt Nam nghĩa là hướng về,
mở rộng về phương nam của đất người Việt
Việc lựa chọn quốc hiệu này chứng tỏ Gia Long đã có ý niệm về một quốc gia mớitrong bối cảnh mới, Là sự đoạn tuyệt với tên gọi An Nam mang đậm tính phụ thuộc vàophương Bắc, là sự tuyên bố rằng nhà nước này là rộng lớn, là ước mơ mở cõi của bao thế
hệ mà các vương triều trước chưa thể làm được
Có thể nói việc đầu tiên của một vương triều khi xác lập vị trí của mình là chọnkinh đô Nhà Nguyễn khi thành lập đã không định đô ở Thăng Long như các triều đạitrước mà quyết định dời đô về Phú Xuân – Huế Tại sao lại là Phú Xuân? Theo chúng tôicâu trả lời là: Phú Xuân là đất bản hộ của dòng họ Nguyễn, là nơi đứng chân suốt mấyđời của các chúa Nguyễn Đó chính là chỗ dựa tinh thần cho vua Gia Long khi chọn nơinày là nơi khởi nghệp đế vương cho triều đại mình Mặt khác Huế nằm ở trung tâm nướcViệt Nam thưở ấy, có một vị trí vô cùng quan trọng Theo Đại Nam nhất thống chí(ĐNNTC): “kinh sư là nơi miền núi miền biển đều họp về, đứng giữa miền nam miềnbắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thuỷ thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiềnsâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn, sông lớn giăng phía trướcnúi cao giữ phía sau, rồng cuộn hổ ngồi, hình thế vững chắc thật là thượng đô của nhàvua” Không những thế, nhà Nguyễn còn nhận thấy tầm quan trọng của nhân dân nơi đây.Theo Đại Nam thực lục (ĐNTL), kinh sư là nơi mà “ dân phong thuần hậu chất phácquen cần cù chịu khó, các hạt khác không sánh kịp Các liệt thánh triều ta đóng đô ở đấy
Trang 13thực ra là nghĩ kế lâu dài Ôi! Dựng nước cốt lấy đức làm gốc rồi chọn chỗ hiểm để giữlấy.” (ĐNTL tập 11, tr 23) Trước khi trở thành kinh đô của triều Nguyễn, Huế đã có mộtlịch sử phát triển lâu dài Theo ĐNNTC: “Hai xứ Thuận Quảng đời Hán là huyện TượngLâm, đời Tấn, Đường là nước Lâm ấp, đời Tống là nước Chiêm Thành…” Năm 1069, LýThánh Tông chiếm được vùng đất này Năm 1103, bị Chiêm Thành chiếm lại Năm 1306qua cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm Thành và công chúa Huyền Trân, chúa Chiêm dângkhu vực này cho nhà Lý Từ đó về sau, Thuận Hoá trở thành một phần của đất Việt Năm
1558, Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thanh Hoá Năm 1774 chúa Nguyễn chọn Phú Xuânlàm đô thành Năm 1801 Nguyễn Ánh lại lấy Phú Xuân từ Tây Sơn và đóng đô ở đó PhúXuân là đất kinh đô và trở thành Huế bây giờ
“Những người làm Quốc sử nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua
ra chính thống và ngụy triều Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sang lập ra cơ nghiệp,hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp
ở đất trung nguyên, thì cho là chính thống Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, làm sựthoán đoạt không thành, hai là xưng đế xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa,
ba là những người ngoại chủng vào chiếm đất làm vua, thì cho là ngụy triều”1 Từ quanniệm trên, chúng ta có thể thấy vấn đề chính đế vị là một vấn đè hết sức quan trọng đốivới một triều đình phong kiến Một vị vua chính thống mới được sử sách đề cao và côngnhận tuyệt đối, là cái danh để thiên hạ thần phục, là điều kiện cần thiết để đảm bảo quyềnlực tối cao của nhà vua trên lãnh thổ trị vì của mình Triều Nguyễn thành lập trên conđường xóa bỏ nhà Tây Sơn – một vương triều hình thành trên cơ sở tiêu diệt các thế lựccát cứ phong kiến mục nát, bất lợi cho sự phát triển của dất nước Hơn nữa, người khaisáng ra triều Nguyễn lại là hậu duệ (đồng thời cũng không phải là dòng chính) của thế lựcphong kiến chúa Nguyễn ở đàng trong đã bị đánh bại và lưu vong khỏi đất nước Thêmnữa, Nguyễn Ánh lại còn bị mang tiếng là “rước voi về giày mả tổ” khi cầu viện Xiêm
La, đặc biệt là trong mắt sĩ phu Bắc Hà thì Nguyễn Ánh chỉ là một người xa lạ, không cócan hệ gì với triều đình họ Lê cố cựu Những điều đó đã yêu cầu Gia Long phải có những
1 Việt Nam sử lược….tr 393
Trang 14bước đi thật khéo léo để xây dựng nên tính chính thống chính đế vị của mình để thuận bềthiết lập sự cai trị.
Một là cần có sự công nhận từ bên ngoài Đó là vấn đề cầu phong Quang Trunglên ngôi vua và đã được nhà Thanh sách phong ấn tín, Quang Toản kế nghiệp cha cũngđược nhà Thanh công nhận Mà truyền thống xưa nay Đại Việt luôn giữ quan hệ hòa hiếuvới nhà Thanh, Trung Hoa luôn đóng vai trò là một nước lớn, một thiên triều với cácnước nhỏ (mang sự ảnh hưởng từ văn hóa Trung Quốc) Vì vậy, điều quan trọng mà GiaLong làm khi lên ngôi là phải nhận được sự công nhận của nhà Thanh Tháng 5-1802,Gia Long đã cử một sứ đoàn do Trịnh Hoài Đức dẫn đầu sang nhà Thanh để trả lại ấnphong của nhà Tây Sơn và xin cầu phong cho Gia Long Kết quả như mong đợi, đến năm
1804, lễ thụ phong được chính thức diễn ra ở Thăng Long Sự kiện này cũng đánh dấubước mở đầu cho chính sách ngoại giao của triều Nguyễn
Sau khi đã có sự công nhận từ bên ngoài, vấn đề tiếp theo mà Gia Long phải làm
là thu phục lòng dân Để cho ý dân trên khắp đất nước đều quy phục, Gia Long đã thựchiện nhiều chính sách khác nhau về nhiều mặt của xã hội, nhưng đáng chú ý nhất lànhững chính sách sau:
- Chính sách “nhổ cỏ tận gốc” nhà Tây Sơn, tức là tìm bắt và diệt dòng họcủa ba anh em nhà Tây Sơn cũng như các thần tướng dưới tay họ, những người theo TâySơn trước kia đều bị đem ra sử phạt nặng nề Chính sách này nhằm trừ tai họa khi nhữngngười có quan hệ với Tây Sơn có ý đồ khôi phục cố triều, đồng thời răn đe dân chúngkhông được có ý lật đổ tân triều Chính sách này được triển khai rất mạnh mẽ và tàn bạo
vô hình chung đã làm cho một bộ phận rất lớn nhân dân khiếp sợ, nhưng lại làm nhiều sĩphu cứng rắn cảm thấy bất bình và để lại một vết ố rất lớn trong lịch sử dân tộc (đó là vếtnhơ của sự thù hằng cá nhân, là đem việc của dòng tộc để giải quyết việc nước, là lạmdụng quyền lực để làm chuyện dã man,…)
- Bước đầu cải tổ giáo dục và trọng nạp nhân tài, đặc biệt là kêu gọi sĩ phuBắc Hà ra giúp nước Chúng ta có thể nhận định rằng, đến lúc này tư tưởng hoài Lê của sĩphu miền Bắc vẫ còn khá nặng nề Ý thức được điều đó, Gia Long đã ban hành nhiều
Trang 15chính sách đẻ khuyến tấn các sĩ phu ấy ra giúp việc hành chính cho triều đình, đồng thời
cố gắn giữ phương cách trị nước như trong thời Lê để “lấy lòng” họ Song song với đó làcải tạo giáo dục, thi cử để tuyển chọn quan lại giúp ích cho công cuộc tái thiết đất nướcsau thời gian dài loạn lạc
- Chính sách ruộng đất cũng là sự quan tâm hàng đầu mà Gia Long chútrọng Để ổn định xã hội, giải quyết mâu thuẫn giai cấp, vấn đề chia lại ruộng đất đượcnhanh chóng thực hiện Năm 1802, Gia Long hạ lệnh lập sổ bạ của các tỉnh Bắc Hà, kêugọi nhân dân tái sản xuất trên ruộng hoang, tổ chức cho người xiêu tán về lại quê cũ sảnxuất, tăng cường quản lí công điền Còn đối với Nam Hà, Gia Long lại có cách ứng xửkhác khi tiếp tục cho dân chúng khẩn hoang, chưa vội lập sổ bạ Đồng thời thực hiệnnhiều chính sách trả ơn cho những người đã giúp đỡ ông trong thời gian khó khăn (màphần đông là các điền chủ) Một trong những chính sách trả ơn ấy là việc không đụngchạm đến ruộng đất của địa chủ để xem như một cách trả lễ, giữ hòa khí với họ
Ngoài ra, Gia Long còn có nhiều chính sách khác để thu phục lòng dân như cácchính sách về quản lí hành chính, cải tổ văn hóa,… đều nhằm mục tiêu ban đầu là xâydựng tính chính thống cho vương triều mới
Trang 16CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ HOÀN THIỆN CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ QUÂN CHỦ CHUYÊN CHẾ TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN TRONG THỜI NHÀ NGUYỄN.
Dưới thời Nguyễn, chế độ quân chủ tập quyền được khôi phục, củng cố, các chínhsách cai trị mang tính chuyên chế tập trung cao Khuynh hướng tập trung quyền lực pháttriển từng bước và đạt đến đỉnh cao vào triều vua Minh Mạng Các vua Nguyễn ở nửađầu thế kỉ XIX đều lên ngôi khi đã ở tuổi trưởng thành, từ Gia Long đến Tự Đức, đều lànhững người thực sự nắm quyền điều hành đất nước với quyền lực tuyệt đối trên danhnghĩa cũng như thực tế Vua là người nắm trong tay tất cả quyền hành pháp, lập pháp, tưpháp, giám sát, tổng chỉ huy quân đội, là người quyết định các chính sách đối nội, đốingoại,… Để đảm bảo uy quyền tuyệt đối ấy cũng như sức mạnh của dòng họ, một quyđịnh không ghi bằng văn bản nhưng lại được tuân thủ nghiêm ngặt, đó là “lệ tứ bất”:không lập hoàng hậu, không đặt Tể tướng, không lấy đỗ Trạng Nguyên, không phongtước vương cho người ngoài hoàng tộc1 Các vua Nguyễn đầu thế kỉ XIX đều là nhữngngười siêng năng triều chính thông qua các buổi thiết triều, nghe chính sự, phê duyệt tấu
sớ, được đào tạo bài bản về Nho học, thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, hà khắc với bảnthân
Trên con đường tiến tới tập trung quyền lực tuyệt đối, các vua Nguyễn không ngầnngại xóa bỏ mọi rào cản với một quyết tâm cao, kể cả việc giết hại hoặc loại bỏ quyền lựccủa các công thần có công khai quốc, những người từng “chia ngọt, sẻ bùi”, “đồng cam,cộng khổ” với Nguyễn Ánh thời chinh chiến Nguyễn Văn Thành bị bức tử, Lê VănDuyệt, Lê Chất bị san mả - họ đều là những trọng thần, từng làm Tổng trấn ở Bắc thành
và Gia Định Thành
1 Có ý kiến còn cho là có lệ không lập Đông cung Thái tử.
Trang 173.1.1 Cải tổ bộ máy nhà nước thời Minh Mạng.
Đầu thời vua Minh Mạng, hầu hết bộ máy hành chính thời Gia Long còn hoạtđộng bình thường Nhưng đến thập niên 30 của thế kỉ XIX, để củng cố quyền uy tối cao,Minh Mạng đã thực hiện một cuộc cải cách hành chính có thể gọi là triệt để và hiệu quả
to lớn từ trung ương đến tận địa phương
Ở triều đình trung ương: các chức Tam Thái, Tam Thiếu, Tham Chính, Tam Nghịđều bị bãi bỏ thay bằng 4 chức đại học sĩ hàm chính nhất phẩm, gọi là tứ trụ đại thần(gồm có Cần chính điện Đại học sĩ, Văn minh điện Đại học sĩ, Võ hiển điện Đại học sĩ vàĐông các điện Đại học sĩ)
Bên dưới là 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) chịu trách nhiệm chỉ đạo cáccông việc chung của nhà nước và ngũ quân đô thống phủ phụ trách quân đội, do chứcThượng Thư đứng đầu giúp việc có các chức Tả - Hữu Tham tri, Tả - Hữu Thị lang mỗi
bộ có một văn phòng gồm hai cơ quan gọi là Ấn ty và Trực xứ (có nhiệm vụ giao tiếp vớivăn phòng hoàng đế, tập trung chương sớ, sổ sách để trình lên vua) và nhiều Thanh lại ty
là các phòng chuyên môn được phân phối theo địa phương hoặc theo loại công việc
Ngoài 6 bộ còn đặt rất nhiều cơ quan phụ trách chuyên môn khác gọi là các nha,gồm 4 loại: Thứ nhất là các cơ quan văn phòng gồm có Tam Nội Viện (gồm Thị ThưViện, Thị Hàn Viện và Nội Hàn Viện) và Thượng Bửu ty sau nhập chung thành nội các.Thứ hai là các cơ quan phục vụ hoàng gia và hoàng cung gồm có tôn nhân phủ, thị vệ xứ,cẩn tín ty, thái y viện và thái bộc tự Thứ ba là các cơ quan coi về kho tàng gồm có nội vụphủ, thương trường và vũ khố Thứ tư là các nha sở quốc gia, được thành các cơ quanphụ trách tư pháp và giám sát (có Đại Lý Tự, Đô Sát Viện), các cơ quan phụ trách lễ nghi(có Thái Thường Tự, Quan lộc tự), các cơ quan phụ trách văn hóa khoa học (có Quốc TửGiám, Hàn Lâm Viện, Quốc Sử Quán, Khâm Thiên Giám) (xem phụ lục)
Để giúp triều đình trung ương trong việc nắm bắt tình hình cai trị các địa phương,triều Nguyễn cho đặt ra những chức quan khâm sai, kinh lược làm nhiệm vụ đi thanh traquân dân chính tại các tỉnh để báo cáo cho vua và triều đình
Trang 18“Như vậy, nguyên tắc bao trùm, chi phối trong tổ chức và hoạt động của bộ máynhà nước thời Nguyễn là tập trung thống nhất quyền lực vào một cá nhân - Hoàng đế,tăng cường sự quản lý, giám sát chặt chẽ của nhà nước trung ương đối với tất cả các địaphương và quan lại các cấp Trong thực tế, việc làm đó đã có tác dụng củng cố chế độtrung ương tập quyền thúc đẩy bộ máy chính quyền các cấp hoạt động có hiệu quả hơn.Tuy nhiên, và trong ý đồ, chủ trương và trong hiện thực, bộ máy nhà nước thời Nguyễn làmột nhà nước quân chủ tập trung quan liêu chuyên chế” (Lịch sử Việt Nam giản yếu doLương Ninh chủ biên).
Về cải cách hành chính địa phương: bắt đầu từ năm 1831, vua Minh Mạng xóa bỏcác tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh Bấy giờ cả nước có 30 tỉnh và một phủ thừathiên Năm 1831 đổi các trấn phía bắc thành 18 tỉnh Năm 1832 đổi các dinh trấn thành
12 tỉnh
Đứng đầu tỉnh là các Tổng đốc (phụ trách 2-3 tỉnh) và Tuần phủ (phụ trách mộttỉnh dưới quyền tổng đốc) giúp việc có 2 ti là Bố chính sứ ti và Án sát sứ ti
Dưới cấp tỉnh là phủ (do chức Tri phủ đứng đầu) dưới phủ là huyện nếu ở miềnxuôi (do chức Tri huyện đứng đầu) hoặc châu nếu ở miền núi (do chức Thổ Tri châu làcác Thổ ty, Lang đạo, tù trưởng người dân tộc đứng đầu ), Năm 1829 vua Minh Mạng bãi
bỏ chế độ thế tập của các Thổ ty, Lang dạ, tù trưởng và giao cho các quan chức địaphương tuyển chọn những người hào mục trong tộc người làm Thổ Tri châu Mấy nămsau, vua Minh Mạng lại cho đặt chế độ lưu quan, đưa người miền xuôi lên giữ chức Trichâu cai quản miền núi Dưới huyện (hoặc châu) là đơn vị tổng (do chức Chánh tổngđứng đầu) Dưới tổng là xã (do Lí trưởng phụ trách) (Xem thêm phụ lục)
Ban đầu, quan lại dưới triều Nguyễn chủ yếu bao gồm những người có công vớiNguyễn Ánh (kể cả một số người Pháp), và một số cựu thần nhà Lê hoặc đỗ đạt thời Lê:
về sau thông qua thi cử Tuy nhiên, đến năm 1807 mới có khoa thi hương đầu tiên, năm
1822 mở khoa thi hội đầu tiên
Trang 19Để nuôi dưỡng đội ngũ quan lại, nhà Nguyễn cho đặt chế độ lương bổng theo hàmcao thấp, các quan được hưởng một số gạo tiền và còn lại được phần ruộng đất công theochế độ quan điền Đến thời Minh Mạng nhà vua cho đặt thêm tiền dưỡng liêm - tiền nuôidưỡng sự thanh liêm đối với các quan cai trị ở bên ngoài nhằm để cho họ khỏi bị nghèotúng.
Như vậy, thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quânchủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc quản
lý đất nước Đặc biệt là những thành tựu trong cải cách hành chính dưới triều Minh Mạngcòn có nhiều giá trị Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng:
“Nhà Nguyễn có nhiều chính sách hay Chính sách Đình Nghị: Đã đi họp là phảiphát biểu Ý kiến trong Đình Nghị phải được ghi chép Nếu không phát biểu trong kỳ họptrước, kỳ sau sẽ không được đi họp nữa Hay chủ trương Hầu trị: Người của địa phươngkhông được đứng đầu trong địa phương Phải đi nơi khác làm quan, khi đến địa phươngkhác, không được lấy vợ, mua đất ở đó Giám khảo chấm thi không được tham gia khi cóngười nhà đi thi, hoặc phải trình báo… Đây là những chính sách mà ngày nay chúng tacần học tập”
3.1.2 Ban hành pháp luật.
Sau khi lên ngôi, tháng 8 năm Nhâm Tuất (1802) Gia Long cho đình thần thamkhảo bộ luật Hồng Đức (triều Lê) biên soạn 15 điều luật để ban hành nhằm ổn định bướcđầu đất nước sau chiến tranh, loạn lạc Tuy nhiên, đây mới chỉ là những điều lệ về kiệntụng, chưa bao quát các lĩnh vực khác, nên chưa đáp ứng nhu cầu quản lí xã hội đươngthời Ý thức được tầm quan trọng của luật pháp trong củng cố chế độ quân chủ chuyênchế, đến tháng Giêng năm Tân Mùi (1811) Gia Long đã sai Nguyễn Văn Thành làm Tổngtài cùng với Vũ Trinh, Trần Hựu san dịch, biên soạn bộ luật mới của nền cai trị1
1 Gia Long dụ rằng: “Các bậc đế vương trị nước, hình pháp đặt ra đã lâu Hình pháp không đúng thì dân
không chỗ mà nắm nay luật lệ chưa định, pháp ty không theo vào đâu được, thực không phải ý Khâm tuất minh
doãn của Trẫm Bọn khanh nên hết long khảo xét những pháp lệnh điển lệ của triều, tham hợp với điều luật đời
Hồng Đức và nước Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc mà làm thành sách, Trẫm sẽ tự sửa chữa cho đúng để ban hành” (Thực lục, tập 1, sđd, tr 807-808.
Trang 20Đến tháng 7 năm Nhâm Thân (1812) thì bộ luật mới được hoàn thành và lấy tên làHoàng Việt luật lệ (hay còn gọi là luật Gia Long) Đến năm 18132 thì bộ luật ấy đượckhắc in và ban hành trên phạm vi toàn quốc.
Về cơ bản, Hoàng Việt luật lệ bao gồm 22 quyển với 398 điều, gồm 2 phần chính:
- Phần thứ nhất giới thiệu các mục về luật, các biểu đồ, luật lệ về tang chế, giải thíchnhững chỗ trọng yếu của nghĩa luật và so sánh cũng như sách dẫn các điều luật
- Phần thứ hai là toàn bộ nội dung 398 điều, các điều được phân theo chức năngquản lí của 6 bộ ở cấp trung ương: Danh lệ (quyển 3,4), Lại luật (quyển 4, 5), Hộ luật(quyển 6, 7, 8), Lễ luật (quyển 9), Binh luật (quyển 10,11), Hình luật (từ quyển 12 đến20), Công luật (quyển 21)
Ngoài ra, trong bộ Hoàng Việt luật lệ còn có một bài tựa của vua Gia Long, nhiều
lệ khác và các phần chú (giải thích)
Về hình thức, Hoàng Việt luật lệ được biên soạn mô phỏng theo cách thức của ĐạiThanh luật lệ, từ các điều khoản (luật), các điều lệ (các bản án đã xử trong thực tế) đếnphần chú và cách ấn loát Bởi thế nên bộ luật này không gọi là Hình thư hay Hình luật màgọi là Hoàng Việt luật lệ (giống với Trung Quốc là Đại Thanh luật lệ) Tuy nhiên, cáchthức biên soạn ấy lại là điểm mới trong kĩ thuật làm luật của triều Nguyễn so với các triềuđại trước, lại đặt nền tảng cho hoạt động lập pháp sau này
Về nội dung, luật Gia Long là một bộ luật tổng hợp có sự tham chước từ các bộluật trong và ngoài nước khác Ngoài ra, các nhà soạn luật thời Nguyễn còn hấp thụ tinhhoa, ảnh hưởng từ “Đại Minh luật”, “Đường luật sơ nghĩa”, căn cứ vào tình hình thựctiễn của Việt Nam Vì vậy, bộ luật này vẫn mang “bản sắc” mới mẻ của riêng mình vàchiếm một vai trò tương đối quan trọng trong lịch sử lập pháp Việt Nam
Qua thực tế thi hành bộ luật này, nhiều vấn đề của đời sống thực tiễn chưa đượcbao quát hết Vì thế, về sau thường có những bổ sung, sửa chữa ít nhiều, nhất là dưới thờiMinh Mạng Điều này có thể thấy rõ qua sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ với các
2 Có ý kiến cho rằng là phải tới năm 1815 mới ban hành chính thức,
Trang 21chế định và những điều chỉnh, bổ sung theo thời gian Tuy nhiên, xét một cách tổng quát,Hoàng Việt luật lệ là một bộ luật tổng hợp – vừa luật vừa lệ - của nền pháp luật phongkiến triều Nguyễn Các điều trong bộ luật đã được chia ra để bao quát các vấn đề về ansinh xã hội, kinh tế, chính trị và là “giường mối cho việc trị nước” nên được thi hành từlúc ban bố đến hết triều Nguyễn
Bên cạnh bộ luật chính thống ấy, nhà Nguyễn còn ban hành rất nhiều văn bản khácnhau như: chiếu, chỉ, đặc biệt là các đạo dụ của nhà vua, quy định một số vấn đề về quanchế, tổ chức nhà nước, đất đai, tài sản, hình án, hôn nhân, nhất là về cấm truyền đạo vàtheo đạo Thiên Chúa Trong đó có nhiều đạo dụ bổ sung cho nội dung của Hoàng Việtluật lệ Điển hình là các đạo dụ: năm Gia Long thứ 16 (1817); năm Minh Mạng thứ 8(1827), thứ 10 (1829), thứ 20 (1839); năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), thứ 4 (1844); năm
Tự Đức thứ 3 (1850), thứ 8 (1855); …
3.1.3 Xây dựng quân đội.
Quân thứ là tên gọi các lực lượng vũ trang của triều Nguyễn bắt đầu từ triều GiaLong đến hết triều Tự Đức (1802-1883) Đây là lực lượng công cụ trực tiếp để nhàNguyễn xây dựng và bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
Trang 22- Tổ chức quân đội ở địa phương:
Trong quân đội thì có các đội bộ binh, pháo binh và tượng binh (không có kỵ binhdùng giao chiến tuy kỵ binh vẫn có vai trò lễ nghi) Lính tòng quân thì chia thành hai lựclượng: lính vệ và lính cơ Lính vệ là quân đội chính quy, thường tại ngũ, chủ yếu đóng ởkinh kỳ cùng các tỉnh thành Lính vệ còn gọi là tuyển binh Lính cơ thuộc loại lính mộ địaphương nên còn gọi là biền binh hay mộ binh, khi cần tới thì gọi nhưng thời bình thì vềquê làm ruộng, chủ yếu là bổ sung thêm cho lực lược chính quy Phép luân phiên đó gọi
là "Biền binh định lệ"1 Các đơn vị thì chia làm ba phiên; hai phiên cho về quê, chỉ giữmột phiên Hết hạn lại thay phiên ra sung vào quân dịch
- Tổ chức quân đội ở Kinh đô
Quân đóng ở kinh thành Huế thì được chia thành ba hạng: thân binh, cấm binh vàtinh binh Thân binh dùng để bảo vệ vua Cấm binh để canh giữ và chăm sóc kinh thành.Tinh binh được giao việc trấn giữ khu vực ngoài kinh thành Ngoài ra còn có thuộc binhtrong các phủ đệ của các vương tôn, hoàng tử và đại thần dùng hầu hạ chứ không phảiviệc quốc sự
Thân binh gồm các vệ Cẩm Y, vệ Kim Ngô, vệ Tuyển Phong và doanh Vũ Lâm.Cấm binh gồm các doanh Thần Cơ, doanh Thần Phong, doanh Long Vũ, doanh Hổ
Uy, doanh Hùng Nhuệ, vệ Kỳ Vũ, vệ Kinh Tượng (tượng binh), vệ Thượng Tứ (kỵ binh),
vệ Long Thuyền (chuyên chở thuyền vua), viện Vũ Bị (lính dùng súng), viện Thượng Trà(dâng nước), đội Tư Pháo (chế thuốc súng), đội Tài Thụ (trồng cây), đội Giáo Dưỡng, vệVõng Thành (lo bẫy săn cho vua), đội Thượng Thiện (bếp núc) và đội Phụng Thiện
Tinh binh gồm có ba doanh của Kinh kỳ thủy sư, vệ Giám Thành, vệ Thủ Hộ, vệDực Hùng, ty Lý Thiện (bánh trái để cúng tế), thự Hòa Thanh (ca nhạc), thự Thanh Bình(múa)
1 Giống như phép quân điền của các thời đại trước.
Trang 23- Vấn đề tuyển quân và kiểm tra quân số.
Phép tuyển lính triều Nguyễn có tên là "Giản binh định lệ" Theo đó thì lính vệđược tuyển theo nguyên quán Các tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận thì ba suất đinhtuyển lấy một lính Các tỉnh Nam Kỳ, tức từ Bình thuận vô nam thì năm suất đinh lấytuyển lấy một lính Các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra trung châu Bắc Kỳ cùng Quảng Yên thìbảy suất đinh tuyển lấy một lính Riêng các tỉnh thượng du gồm Hưng Hóa, TuyênQuang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Cao Bằng thì 10 suất đinh mới tuyển lấy một lính
Nếu lấy trung bình là tám suất đinh lấy một lính, căn cứ trên số tráng đinh năm
1847 là 1.024.388 thì có khoảng 128.000 lính trên toàn quốc Áp dụng phép "Biền binhđịnh lệ" tức luân phiên cho lính về quê làm ruộng thì số quân hiện dịch là khoảng 4-50nghìn
Theo đánh giá của tướng Pháp de Courcy trong thời gian Pháp xâm chiếm ViệtNam, năm 1885, quân đội chính qui "An Nam" có vào khoảng 70.000 người, trong số đó
12 ngàn tuyển mộ từ các vùng quanh kinh thành Huế Ngoài ra, theo ông, cũng phải kểđến "vô số" các toán dân quân thành lập và đóng tại các thành phố lớn, cũng như tại hầuhết các làng Các đội dân quân này tuy nhiên trang phục rách rưới, vũ trang nghèo nàn, vàthiếu tổ chức
Việc thi tuyển chủ yếu căn cứ theo tầm vóc và sức mạnh Ai xách quả tạ nặng 100cân bằng một tay đi được 30 trượng thì xếp hạng ưu; đi 24 trượng thì hạng thứ ưu; đi 20trượng thì hạng bình; 16 trượng là hạng thứ bình; 10 trượng là hạng thứ
Triều Minh Mệnh lại lập thêm đội "Giáo dưỡng binh" để con các võ quan theo họccùng được lãnh lương hầu đào tạo giới trẻ Học trình kéo dài sáu năm
Khi còn giao chiến với lực lượng Tây Sơn quân đội nhà Nguyễn có thu nạp một số
sĩ quan và binh lính ngoại quốc trong số đó có người ở lại nhận quan tước vào triều GiaLong như Jean-Baptiste Chaigneau và Philippe Vannier, giúp huấn luyện quân sĩ theo
Trang 24phương thức Âu châu Sang triều Minh Mệnh thì đa số chọn hồi hương và quân đội nhàNguyễn mất đi nguồn kiến thức tân tiến về chiến thuật và chiến cụ.
Ngoài ra, nhà Nguyễn còn sử dụng những người mắc tội để xung quân, làm đồnđiền tại những miền biên viễn như trấn Gia Định hay trấn Tây Thành (Campuchia) TạiGia Định, lực lượng này chủ yếu gồm những người mắc tội ở miền Bắc hay miền TrungViệt Nam, gọi là quân Thanh Thuận, An Thuận, Hồi Lương và Bắc Thuận Thanh Thuận
và An Thuận là những người tham gia cuộc nổi loạn tại Thanh Hóa, Nghệ An trong thập
kỷ 1810 Hồi Lương là những tội phạm cũ, nay được tha, được đưa vào quân đội đểchuộc tội Bắc Thuận là những người trốn tránh lao dịch, bỏ làng xã, không có tên trong
sổ bạ ở Bắc Thành (Bắc Bộ), được tuyển mộ vào quân ngũ, tức là khác với những binhlính quân dịch thông thường Các đơn vị Hồi Lương và Bắc Thuận là những toán quântích cực tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi sau này
- Trang bị vũ khí và tổ chức luyện tập:
Vũ khí chủ lực nhà Nguyễn gồm: súng ống của pháo binh thời nhà Nguyễn thì cỡlớn là súng đại bác, còn gọi là thần công; nhỏ là súng thạch cơ điểu thương và các loại vũkhí truyền thống như: gươm, giáo, cung tên,… Đời Gia Long quy định mỗi vệ quân ởkinh đô, thân binh có 250 súng trường, 250 súng điểu thương, ở các bảo có 150 súngtrường, 150 súng điểu thương, ở ngoài có 200 súng trường, 200 súng điểu thương và cácloại vũ khí khác
Triều Minh Mạng thì mỗi vệ (500-600 lính) có 2 khẩu thần công và 200 khẩuthạch cơ điểu thương với tỷ số 4 tay súng cho mỗi 10 lính Sang triều Tự Đức thì mỗi đội(50 lính) có 5 khẩu điểu thương nên tỷ số rút thành 1 tay súng cho mỗi 10 lính Hằng nămthì tập bắn chỉ một lần và mỗi tay súng chỉ có quyền bắn 6 viên đạn Ai bắn hơn số ấyphải bồi thường
Như vậy, có thể thấy rằng, quân đội nhà Nguyễn về cơ bản là một quân đội được
tổ chức hiện đại, trang bị đầy đủ, là công cụ hữu hiệu để triều đình kiểm soát các vấn đềnảy sinh như khởi nghĩa nông dân, bành trướng thế lực, tự vệ,… Tuy nhiên, do yếu tố
Trang 25khách quan của lịch sử mà quân đội ấy càng ngày càng thụ động, lạc hậu, chậm cải tiến
so với quân đội của các quốc gia trên thế giới (nhất là phương Tây), nhưng xét theokhông gian khu vực thì đã là tiến bộ hơn nhiều Do vậy, lực lượng quân đội này đã khôngthể ngăn cản nổi sự xâm lược của thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX (do trình độ kĩ thuật, tổchức chiến đấu đã thua xa Pháp)
Trong giai đoạn đầu thế kỉ XIX, khi nhà Nguyễn thành lập thì nhà Thanh cũng đãbước qua giai đoạn cực thịnh, đang dần suy yếu và đứng trước nguy cơ bị thực dân xâmlược Tuy nhiên, để giữ vững quan hệ hòa hiếu lâu đời thì nhà Nguyễn đã chủ động đặtquan hệ bang giao với Trung Quốc trước Cụ thể, ngay trong năm 1802 (Nguyễn Ánh làm
lễ đăng quang), Gia Long đã cử tới hai sứ bộ để đặt quan hệ với nhà Thanh Sứ bộ thứnhất do Hộ bộ Thượng thư Trịnh Hoài Đức làm chánh sứ, khởi hành vào tháng 5 nămNhâm Tuất (1802), đem phẩm vật và quốc thư đến tỉnh Quảng Đông xin được cầu phong.Sau đó hai tháng (tức tháng 7), vua Gia Long gửi thư sang Tổng đốc Lưỡng Quảng hỏi vềthể lệ bang giao Đến tháng 10 (cũng năm ấy) đoàn sứ thứ hai do Thượng thư Binh bộ Lê
1 Sđd, Viện Sử Học,…tập 5…., trang 430.
Trang 26Quang Định làm Chánh sứ sang xin phong và xin đổi Quốc hiệu là Nam Việt Nhữnghoạt động này đã chứng tỏ ngay từ đầu nhà Nguyễn đã lựa chọn con đường ngoại giaomang tính truyền thống muôn thuở là thần phục nhà Thanh (Trung Hoa) với địa vị là mộtnước nhỏ “tỏ ý ngoan ngoãn” chịu phận bên cạnh một nước lớn.
Xét cho cùng thì những hoạt động ngoại giao kể trên của Gia Long là nhằm vàomục đích củng cố đế quyền, xây dựng tính chính đế vị (như đã nói ở trên) Xét về mặtquyền lợi ngoại giáo, chúng ta có thể thấy được mục đích trực tiếp trong quan hệ vớiTrung Quốc trong mọi triều đại đều hướng đến bảo vệ yên ổn cho vùng biên giới phíaBắc đất nước, triều Nguyễn cũng không phải là ngoại lệ Trong khoảng giai đoạn nửa đầuthế kỉ XIX, theo ý kién của các nhà nghiên cứu thì đường biên giới trên đất liền giữa ĐạiNam và nhà Thanh đã khá rõ ràng, cụ thể Điều này được phản ánh trong bộ Hoàng Việtnhất thống dư địa chí (Lê Quang Định) Chính vì vậy, trong quan hệ ngoại giao với nhàThanh, chúng ta chỉ thấy những hoạt động như cầu phong, nộp cống, báo tang,… vớinhững sứ đoàn qua lại giữa hai nước (Xem thêm ở phụ lục)
Hiện nay, vẫn có nhận xét cho rằng đường lối ngoại giao của triều Nguyễn với nhàThanh đã thể hiện sự nhu nhược, mù quáng, hèn nhát của một nước nhỏ đối với một nướclớn đã rơi vào vòng khủng hoảng và suy tàn Đó thực sự là một nhận thức phi lịch sử,không đặt vấn đề vào hiện thực lịch sử Do vậy, chúng ta cần chú ý các điểm sau:
- Trong quan hệ ngoại giao giữa nước ta với các triều đại phong kiến Trung Hoaxưa nay luôn nằm trong khuôn khổ thần phục, xin được sắc phong Đó là một phươngcách ngoại giao mang lại sự chính danh cho ngôi vị đế vương (kiểu như cần sự công nhận
từ bên ngoài), mang lại sự yên ổn cần thiết để củng cố và xây dựng nền hòa bình cho mộtnước nhỏ nằm bên cạnh một cường quốc phong kiến thuộc hạng mạnh nhất châu Á TriềuNguyễn không phải là tiền lệ của phương cách ngoại giao này
- Mặc dù thần phục và chấp nhận làm chư hầu, nhưng các vua triều Nguyễnvẫn tỏ rõ quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự chủ của dân tộc Cụ thể, trong đề nghị đổitên nước, Gia Long khẳng định: “Mấy đời trước mở dất Viêm giao ngày càng rộng gồm
cả đất Việt Thường và đất Chân Lạp, đặt quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm
Trang 27Nay thần lấy hết cõi Nam, có toàn cả đất Việt, nên theo hiệu cũ để chánh quốc danh”1.Nhưng sau khi nhà Thanh không chấp nhận tên nước này, vua Gia Long đã tỏ thái độcứng rắn và nhiều lần không tán thành, cuối cùng nhà Thanh ra sắc đổi Nam Việt thànhViệt Nam.
Quan hệ đối ngoại, ngoại giao của nhà Nguyễn đối với nhà Thanh không chỉ phảnánh trong việc các sứ đoàn đi, đến mà còn thể hiện trên một số lĩnh vực khác mà điển chếnhà Nguyễn quy định rất rõ ràng và đầy đủ Đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của nhàNguyễn trong việc cứu vớt và cấp tuất cho các thuyền nhân Trung Quốc bị tai nạn giạt vàođịa phận nước ta, phục vụ cho hoạt động đối ngoại về mặt quan phương Tuy nhiên quan
hệ chính vẫn là quan hệ đối ngoại cấp nhà nước
Trong quan hệ ngoại giao với khu vực, chúng ta đề cập chủ yếu về quan hệ ngoạigiao giữa Việt Nam (Đại Nam) với các quốc gia lân cận như Chân Lạp, Ai Lao (VạnTượng) và Xiêm La là chủ yếu, còn đối với các quốc gia khác ở vùng Đông Nam Á hảiđảo (Phi Luật Tân, Mã Lai, ) thì quan hệ chỉ thuần túy là ngoại thương chứ chưa thực sự
là ngoại giao nên chúng tôi không đề cập đến
Trong quan hệ với Xiêm La, chúng ta cần lưu tâm đến hai vùng đệm là Cao Miên
và Ai Lao, bởi lẽ đây chính là khu vực diễn ra các tranh chấp và xung đột giũa hai thế lựcphong kiến ở Đông Nam Á lục địa Trong thời kỳ các chúa Nguyễn còn chiến tranhvới Tây Sơn, Xiêm La đã lợi dụng cơ hội để phân chia đất Cao Miên năm 1779 dưới đời
quốc vương Trịnh Quốc Anh (Phya Tak).
Năm 1794, Nặc Ấn lưu vong qua Vọng Các rồi được vua Xiêm cho một đạo quânđưa về nước nhưng hai tỉnh Battambang và Angkor phải nhượng cho nước Xiêm Nặc Ấnmất năm 1796 Năm 1802 Miên mới có vua là Nặc Ông Chân, con Nặc Ông Ấn Tuy đăthần phục Xiêm La, Ông Chân vẫn cử sứ đoàn ra chầu vua Gia Long tại Thăng Long Từnăm 1805 Miên thần phục triều đình Việt nhưng năm sau lại sang Vọng Các thụ phongtiếp
1 Trung tâm bảo tồn di tích cố đo Huế, (2002), Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn, Huế.
Trang 28Người Xiêm không tán thành chính sách nước đôi này nên ngầm giúp Nặc ÔngNguyên, em của Ông Chân nổi loạn Ông Chân phải chạy sang cầu cứu triều Nguyễn.
Xiêm liền tiến quân đánh thành La Bích (Lovek) Vua Gia Long cử Lê Văn Duyệt, Tổng
trấn Gia Định thành dẫn 10.000 quân hộ vệ đưa Ông Chân trở về nước khiến Xiêm vàNặc Ông Nguyên phải rút lui Lê Văn Duyệt sau đó đặt chế độ bảo hộ trên đất Miên từđấy và xây thành Nam Vang và thành La Lem Sau đó vua cử Nguyễn Văn Thụy đem1.000 quân sang trấn giữ xứ này như một thuộc quốc
Dù có xung đột nhưng việc giao thiệp giữa triều Gia Long và Xiêm La vẫn giữđược sự hòa hảo Từ năm 1802 trở đi hai bên vẫn có sứ bộ qua lại trao đổi thân thiện vàtặng phẩm Tại Ai Lao, Việt và Xiêm cùng đặt ảnh hưởng, Quốc vương Ai Lao xin thầnphục cả Việt lẫn Xiêm Dân vùng Cam Lộ, dân ở các vùng Cao nguyên haitỉnh Thanh Nghệ, người Thượng (tức người Rhadé) ở các nước Thủy Xá và Hỏa Xá cũng
có cống phẩm đến để tỏ lòng tuân theo chính quyền của triều Nguyễn
Năm 1827, Quân Xiêm La đánh Vạn Tượng khiến quốc vương xứ này là A
Nộ chống không nổi phải sang cầu cứu triều đình Việt Nam Vua Minh Mạng cho Thốngchế Phan Văn Thúy mang viện quân sang giúp nhưng bị quân Xiêm đánh bại Năm 1828Phan Văn Thúy vàNguyễn Văn Xuân, Nguyễn Khoa Hào tiếp tục đem 3.000 quân và 24
con voi đưa A Nộ về Trấn Ninh, rồi tiến vào Vạn Tượng (Vientiane) nhưng đạo quân của
nhà Nguyễn và A Nộ lại bị thua phải xin viện binh Nghệ An Vua Minh Mạng chán việcnày hạ lệnh bãi bỏ và chỉ còn phòng vệ vùng biên giới Sau A Nộ chạy về Trấn Ninh bịbắt nộp cho Xiêm La
Quân Xiêm được đà đánh dấn vào các miền phụ cận Quảng Trị Thống chế PhạmVăn Điển và Tham tán Quân vụ Lê Đăng Doanh cùng với các đạo quân nhà Nguyễn ởLào phải đi ngăn quân Xiêm, đằng khác gửi thư cho họ để trách cứ Xiêm La trả lờikhiêm nhượng rồi rút quân về Tuy vậy họ vẫn bí mật giúp người Chân Lạp nổi lên chốnglại chính quyền Đại Nam hoặc lấn lướt Vạn Tượng và các xứ quy phụ triều đình