Từ những năm 60-70 của thế kỷ 20, trong giới sử họchai miền Nam-Bắc đã có một “diễn đàn” lớn để luận về công tội của triều Nguyễn nhất là vấn đề thống nhất đất nước, trách nhiệm của nhà
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1:
HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN NGOẠI GIAO THỜI NGUYỄN
(1802-1884)
1.1 Tình hình khu vực 5
1.2 Tình hình trong nước 8
1.3 Những yêu cầu lịch sử đặt ra cho ngoại giao triều Nguyễn 11
CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO TRIỀU NGUYỄN (1802-1884) 2.1 Tư tưởng ngoại giao thời Nguyễn 13
2.2 Chính sách và hoạt động ngoại giao của triều Nguyễn 16
2.2.1 Chính sách và hoạt động ngoại giao với Trung Quốc 16
2.2.2 Chính sách và hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực 24
2.2.3 Chính sách ngoại giao với phương Tây 36
2.3 Sơ kết 43
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO TRIỀU NGUYỄN KẾT LUẬN 1 Thành tựu và hạn chế 48
2 Bài học kinh nghiệm của chính sách ngoại giao triều Nguyễn 49
PHỤ LỤC 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
1
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Triều Nguyễn là một trong những triều đại phong kiến để lại nhiều vấn đề còngây trái chiều trong giới sử học Từ những năm 60-70 của thế kỷ 20, trong giới sử họchai miền Nam-Bắc đã có một “diễn đàn” lớn để luận về công tội của triều Nguyễn nhất
là vấn đề thống nhất đất nước, trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc mất nước,khủng hoảng xã hội dưới thời Nguyễn1… Đặc biệt là trong thời kì kháng chiến chống
Mỹ, do tình hình lịch sử lúc đó, trách nhiệm làm mất nước ta vào tay thực dân Pháp
cũng như việc Gia Long từng “cõng rắn cắn gà nhà” đã khiến giới sử học miền Bắc
phủ nhận toàn bộ công lao, những di sản của vương triều này đối với lịch sử dân tộc.Trong khi đó tại miền Nam, giới sử học ra sức bảo vệ cho vương triều Nguyễn Nhất làluận điểm Gia Long thống nhất đất nước chứ không phải Quang Trung để cổ súy cho
việc “Bắc tiến”, sức mạnh Nam hà sẽ thắng Bắc hà như lịch sử đã diễn ra Điều này
cho thấy, có một thời kì dài chúng ta đánh giá vương triều này qua nhãn quan chính trịchứ không phải của khoa học lịch sử!
Tuy nhiên từ sau Đổi mới đến nay nhất là từ cuối thế kỷ XX, quan điểm củagiới sử học nước ta đã có sự nhìn nhận khách quan hơn về những đóng góp của nhàNguyễn đối với lịch sử dân tộc Liên tục nhiều hội thảo đã được tổ chức để đánh giá vềnhững thành tựu và hạn chế của vương triều phong kiến cuối cùng này
Một trong những lĩnh vực quan trọng được giới sử học quan tâm đó chính làvấn đề đối ngoại của triều Nguyễn lúc bấy giờ như thế nào Có thể chia lịch sử ngoạigiao của triều Nguyễn thành hai thời kì: thời kì ngoại giao trước khi Pháp xâm lược(1802-1858) và thời kì ngoại giao sau khi người Pháp xâm lược và biến thành thuộcđịa của Pháp (1858-1945)
Vì chúng ta đều biết, triều Nguyễn được thành lập sau cuộc nội chiến 200 nămđẫm máu giữa các thế lực phong kiến cát cứ ở Đàng Trong, Đàng Ngoài và cuộc tranh
1 Xem thêm Văn Tân (9/1959), “Mấy ý kiến đối với quyển Nước Việt Nam, lịch sử và văn hóa của ông Lê Thành Khôi”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 7), tr.27-28; Nguyễn Phương, tạp chí Bách khoa (số 149).
2
Trang 3chấp giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh Trong nước thì nhân tâm thất tán, lòng người cònnhớ về cựu trào nhất là kẻ sĩ đất Bắc hà Làng mạc thì tiêu điều, theo Ngô Thì Sĩ chobiết: “trong số 9668 làng xã ở Bắc Bộ thì có 182 xã phiêu tán hoàn toàn, 443 xã phiêután phần lớn, 373 xã phiêu tán vừa hoặc phải nhập vào xã khác, tức là khoảng 10% số
xã ở đồng bằng Bắc Bộ lâm vào tình trạng phiêu tán, phá sản Ở trấn Thanh Hoa có
1393 xã thì 297 xã phiêu tán, trấn Nghệ An có 706 xã thì phiêu tán mất 115 xã” Việckhôi phục lại đất nước, thống nhất nhân tâm là một việc quan trọng hàng đầu của nhàNguyễn buổi đầu lập quốc Để thực hiện được điều đó nhà Nguyễn cần có một chínhsách ngoại giao thích hợp với bối cảnh khu vực và quốc tế đang hết sức rối ren Trongkhu vực, dưới sự bành trướng của người Xiêm, vấn đề tranh chấp Chân Lạp, VạnTượng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Đối diện với dã tâm của người Xiêm, các nướcnhư Chân Lạp, Vạn Tượng, Miến Điện đều muốn tìm một lực lượng đối trọng vớingười Xiêm Và vương triều Nguyễn là nơi các nước này tìm đến Trước tình hình đó,đòi hỏi vương triều Nguyễn phải có chính sách ngoại giao khôn khéo để giữ gìn mốiquan hệ hữu hảo và ổn định ở biên cương Bên cạnh sự phức tạp của tình hình khuvực, lúc bấy giờ tại khu vực viễn Đông, các nước tư bản chủ nghĩa đã vươn vòi đếnkhu vực này Đó chính là một trong những vấn đề gây khó khăn cho nền ngoại giaocủa triều Nguyễn Phải thừa nhận rằng, vương triều Nguyễn đã giải quyết vấn đề nàytrên lập trường quan điểm của ý thức hệ Nho giáo nên đã không đáp ứng được yêu cầumang tính chất thời đại Kẻ thù mà vương triều phải đối đầu chính là kẻ thù đến từ nềnvăn minh phương Tây chứ không còn là các tập đoàn phong kiến quan thuộc phươngBắc Điều đó đòi hỏi một chính sách đối ngoại phù hợp với tình hình lúc bấy giờ, phùhợp với đối tượng đặc biệt như chủ nghĩa tư bản phương Tây Trước những sức ép từviệc ổn định bang giao để phục vụ đối nội, âm mưu của chủ nghĩa tư bản phương Tây,chủ nghĩa Đại Thái ở phía Đông, nhà Nguyễn đã thi hành một đường lối đối ngoại hòahiếu với lân bang nhưng cương quyết bảo vệ chủ quyền dân tộc, còn với phương Tây
là một sự thận trọng trong lối tư duy của ý thức hệ Nho giáo
Chính sách ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX có vai trò hết sứcquan trọng đối với vương triều này Nó không chỉ giúp ổn định tình hình bang giao để
3
Trang 4xây dựng đất nước mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng nội lực đối đầu với kẻ thùmới trong giai đoạn sau này: chủ nghĩa tư bản phương Tây.
4
Trang 5CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN NGOẠI GIAO THỜI NGUYỄN
(1802-1884) 1.1 Tình hình khu vực
Đối với các nước phương Tây từ thế kỉ XVIII – XIX có những biến đổi sâu sắc
ở các nước châu Âu, giai cấp tư sản nắm chính quyền công thương nghiệp phát triểnnhanh và mạnh Trong thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, khoa học kỹ thuật cónhững thành tựu lớn trong thế kỉ ánh sáng Những năm 60, 70 của thế kỉ XVIII, cuộccách mạng công nghiệp ở Anh bắt đầu, hàng hóa tư bản của các nước tư bản Âu Mỹnhanh chóng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài do thị trường trong nước không đápứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Các nước tư bản chủ nghĩaphương Tây nhập vàng bạc, sản vật địa phương và nguyên liệu nhằm đáp ứng nhu cầutrong nước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Do nhu cầu về thị trường nguồnnguyên liệu, các nước tư bản phương Tây đua nhau tràn sang phương Đông khôngnhững để tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa mà còn tìm đất để đầu tư và nơi khaithác nguyên liệu cho nền công nghiệp chính quốc vì mục đích siêu lợi nhuận của họ.Trước tình hình những biến đổi của xã hội thế giới mà đặc biệt là các nước chủ nghĩathực dân phương Tây buộc các nước phương Đông phải có những chính sách ngoạigiao thích hợp đặc biệt là Việt Nam Đồng thời do nhu cầu phát triển nhanh chóng củachủ nghĩa tư bản trên thế giới thì nguy cơ bị xâm lược là rất lớn nhất là đối với mộtnước vừa mới thống nhất, tình hình trong nước còn gặp nhiều khó khăn
Ở châu Á đầu thế kỉ XIX một số nước vẫn đang ở trong giai đoạn phát triểncủa chế độ phong kiến, đa số các nước ở châu Á có trình độ sản xuất nông nghiệp lạchậu, năng suất lao động kém, thương nghiệp và thủ công nghiệp chưa phát triển Đốivới các nước ở châu Á những năm cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX với sự phát triểncủa hệ thống chủ nghĩa tư bản ở châu Âu, chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống thếgiới Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm thay đổi nhanh chóng tương quan lựclượng giữa các nước tư bản sản xuất công nghiệp và nông nghiệp lạc hậu Các nước tư
5
Trang 6bản đua nhau chiếm dụng những vùng đất trống Ba mươi năm cuối thế kỉ XIX đượcgắn liền với những cuộc chiến tranh xâm lược do các nước tư bản thực dân tiến hành ởchâu Á Do nhu cầu tìm kiếm thị trường, nguồn nguyên liệu mở rộng phạm vi ảnhhưởng của mình nên nhiều nước châu Á đã trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dânphương Tây Đầu thế kỉ XIX Ấn Độ trở thành thuộc địa của thực dân Anh Năm 1824thực dân Anh tiến hành xâm chiếm Miến Điện và lần lượt các nước trong khu vựccũng trở thành mục tiêu xâm lược của thế lực phương Tây Với sự phát triển chủ nghĩa
tư bản vào những năm cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX hầu hết các nước trong khuvực đều trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây ngoại trừ Xiêm vàNhật Bản
Từ thế kỉ XVIII, XIX các nước thực dân phương Tây ra sức chiếm đoạt thịtrường thế giới Ở châu Á các nước Ấn Độ, Indonesia, Mã Lai, Miến Điện, đã bị cácnước đế quốc giành nhau thôn tính Một nước lớn ở châu Á gần kề với Việt Nam làTrung Quốc cũng đã bị các nước đế quốc biến thành miếng mồi lớn Trước tình hìnhlúc bấy giờ chính quyền Mãn Thanh ra lệnh phong tỏa các miền duyên hải, cấm buônbán với các nước đế quốc Nhưng Trung Quốc là đất có thể mang lại lợi nhuận cao chocác nước tư bản phương Tây nên các nước tư bản đã tìm mọi cách để Trung Quốc phải
mở cửa
Đứng trước sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, các nước ở châu
Á đương đầu với những thách thức mang tính thời đại lịch sử Với tình hình này
“nhiều nước phong kiến thi hành chính sách đóng cửa, tuyệt giao để tự vệ Đó là biệnpháp tự vệ thụ động mang tính chất lạc hậu, không tạo được thực lực để chống xâmlược”2 Trung Quốc với địa bàn rộng lớn, giàu có trở thành thị trường mà nhiều nước
tư bản phương Tây muốn có nhất lúc bấy giờ Từ thời nhà Minh (1368 – 1644) sau đó
là nhà Thanh (1644 – 1912) Trung Quốc luôn đề ra các luật lệ cấm đoán tư nhân làm
ăn với nước ngoài hoặc vượt biển tìm kiếm cơ hội buôn bán với nước ngoài Năm
1728 triều đình ra qui định khắc khe hơn: nếu ai bỏ nước ra đi thì không được trở về.Người phương Tây chỉ được giao dịch buôn bán tại một hải cảng duy nhất là Quảng
2 Vũ Dương Ninh (2010), Lịch sử thế giới cận đại, NXB Giáo dục, tr 323.
6
Trang 7Châu Trung Quốc đến thế kỉ XIX vẫn thực hiện chính sách ngoại giao với các nướclân cận với tư tưởng Trung Quốc là trung tâm của thế giới, nhưng thế giới trong thế kỉXIX có nhiều biến động, trong nội bộ đất nước Trung Quốc cũng đối mặt với nhữngkhó khăn về kinh tế, gặp phải sự chống đối của nhân dân đối với triều đình Để khắcphục tình trạng trong nước nói trên Trung Quốc cũng cần những mối quan hệ thânthiện với các nước để phát triển đất nước, Việt Nam lúc bấy giờ Nguyễn Ánh lên ngôisau khi diễn ra cuộc nội chiến kéo dài đã tàn phá nền kinh tế, văn hóa xã hội Việt Namxuất phát từ những yêu cầu của hai nước cần những điều kiện ổn định tránh những tìnhtrạng chiến tranh để khôi phục và phát triển nền kinh tế trong nước vì lợi ích chungcủa từng nước do đó năm 1804 nhà Thanh và Việt Nam chính thức thiết lập mối quanhệ.
Còn quan hệ của các nước trong khu vực đối với Việt Nam trong thời kì này làmối quan hệ giữa Việt Nam với Xiêm Trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX mối qua hệgiữa Việt Nam với Xiêm rất thân thiện Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi, nước Xiêmcho sứ giả mang quốc thư đến chúc mừng Năm 1803 cũng sai sứ sang Xiêm thônghiếu và tặng quà rất hậu cho anh em vua Xiêm Quan hệ giữa hai nước lúc đầu rất tốtnhưng đến năm 1827 quân Xiêm xâm lược nước Vạn Tượng vua Vạn Tượng sang ViệtNam cầu viện, vua Minh Mạng cho quân sang giúp cuộc xung đột vũ trang Việt –Xiêm bắt đầu Nhưng quan hệ hai nước lúc này chủ yếu là quan hệ trên lĩnh vực chínhtrị, ngoại gia, còn trên lĩnh vực kinh tế văn hóa còn nhiều hạn chế
Trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân tư bản phương Tây, sự phát triểnmạnh mẽ của kinh tế tư bản đã đặt các nước châu Á vào một bối cảnh lịch sử mới đó làphải chống các thế lực tư bản phương Tây Trước những diễn biến của tình hình thếgiới và khu vực như vậy đã đặt ra cho triều đình nhà Nguyễn những vấn đề mới trongviệc quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực và phương Tây Lúc này trướcnhững tình hình trong khu vực như vậy một yêu cầu cấp thiết đặt ra là nhà Nguyễnphải làm như thế nào để có thể có mối quan hệ ngoại giao thân thiện với các nướctrong khu vực để đảm bảo nền độc lập của nước nhà và làm thế nào để đối diện với sựxâm nhập của chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây đang lớn dần, góp phần vào việc
7
Trang 8xây dựng và bảo vệ nền độc lập nước nhà Hoàn cảnh lịch sử bấy giờ đã thôi thúc triềuNguyễn thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo để tránh được những cuộc chiếntranh và tạo điều kiện cho nền kinh tế ngoại thương phát triển.
1.2 Tình hình trong nước
Nhà Nguyễn là được xác lập sau thành quả của cuộc chiến tranh với vươngtriều Tây Sơn Sau khi thống nhất, việc làm đầu tiên là Gia Long - Nguyễn Ánh bắtđầu củng cố và ổn định lại tình hình trong nước Một trong những yếu tố cần thiết choviệc xây dựng và ổn định lại đất nước sau chiến tranh là cần có một nền hòa bình, ổnđịnh và việc thiết lập một mối quan hệ ngoại giao hữu nghị là yếu tố hàng đầu
Thay đổi lớn nhất mà vua Gia Long phải đối mặt đó chính là việc quản lý mộtđất nước có cương vực lãnh thổ hết sức rộng lớn Nhà Nguyễn phải thiết lập hệ thốngcai trị từ trung ương tới địa phương trải dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau NguyễnÁnh chưa chuẩn bị cho việc quản lý một đất nước rộng lớn lại còn chứa nhiều bất ổn.Ông thiết lập hai trấn Bắc thành cai quản vùng đất Bắc hà và Gia Định thành cai quảnvùng đất Nam bộ Các vị tổng trấn có quyền “chém trước tâu sau” như trường hợp LêVăn Duyệt chém Huỳnh Công Lý, cha vợ vua Mnh Mạng do mắc tội tham ô Nhưngđến thời Minh Mạng đã bỏ cơ cấu hành chính tản quyền, chia cả nước thành 30 tỉnh và
1 phủ, tất cả đều trực thuộc chính quyền trung ương Sau những cuộc cải cách củaMinh mạng thì chính quyền dân chủ trung ương tập quyền của họ Nguyễn càng đượccủng cố vững chắc, mọi quyền lực tập trung vào tay hoàng đế Những việc làm trêncủa nhà Nguyễn đã góp phần nhất định trong chính sách đối nội nhằm thiết lập lại kỉcương trong nước, ổn định chính sự và lòng người sau hơn 200 năm nội chiến
Trong kinh tế, nhà Nguyễn phải đương đầu với nhiều vấn đề Việc tư hữu ruộngđất diễn ra từ cuối đời Lê gây nhiều hệ lụy cho chính quyền mới: “Phép chia ruộng từđời Hán trở xuống đều muốn thi hành mà những nhà thế gia quen thói cho là khôngtiện rồi việc phải thôi Đến cuối đời Lê thì bọn cường hào kiêm tính mỗi ngày một quá.Nay xin phàm điền thổ công tư đều dồn cả về sổ sân, ai có tư điền thì để lại 3 phần 10,còn 7 phần giao cho xã dân quân cấp”3 Đồng thời, vấn đề lũ lụt ở Bắc hà luôn là mối
3 Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 1,NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.555.
8
Trang 9lo cho các vua triều Nguyễn Các năm 1803, 1806, 1819, 1828, 1833, 1840, 1842,
1844, 1847, 1856, 1857 hầu như cả cùng đồng Bắc bộ bị ngập lụt, theo đó là nạn đói,dịch bệnh Vì thế cho nên các vua đầu thời Nguyễn rất khuyến khích việc khai đấthoang, lập đồn điền, đắp đê, phân phối lại đất công … Nổi bật nhất là chính sách
“doanh điền” và “đồn điền” và chính sách hỗ trợ cho công việc khai hoang, phục hóa,
mở rộng thêm diện tích đất đai thì nhà nước bỏ tiền của, thóc giống, trâu bò, banthưởng khuyến khích… cho người xin đi khai phá Nên 20 năm dưới triều Minh mạngdiện tích tăng thêm 477.892 mẫu, chỉ tính riêng năm 1828 số ruộng đất khai khẩn thêmđược ở mức cao nhất là 26.890 mẫu Số ruộng đất được tăng lên nhờ đó mà nôngnghiệp phát triển, sản lượng lúa dư thừa Một yếu tố giúp nông nghiệp hưng thịnh bởithời kì này là bởi chi phối của tư tưởng “nông vi bản, thương vi mạt” của Nho giáo,cho rằng tầng lớp thương nhân làm đảo lộn trật tự xã hội Với việc thi hành chính sách
“bế quan tỏa cảng” coi xã hội nông nghiệp bình yên không thay đổi là xã hội lí tưởng.Hoạt động công thương nghiệp tương đối sôi nổi, có một số mặt hàng trong nước đượccác thương nhân nước ngoài chú ý như lụa La Khê - Hà Đông, gốm Bát Tràng… Vàthị trường trong nước cũng đang cần một nguồn vốn, một thị trường tiêu thụ để pháttriển sản xuất Dưới thời Nguyễn, quan hệ buôn bán với các nước phương Tây và cácnước trong khu vực không phải là hoàn toàn đóng cửa, vẫn có những chính sách hoạtđộng linh hoạt, mềm dẻo và có quan hệ mậu dịch nhất định Lý do ta có thể hiểu là cácvua Nguyễn sợ sự xâm nhập và trà trộn của các nước phương Tây vào nước ta nên dẫnđến đã có những chính sách ngoại giao khép kín và ảnh hưởng không ít đến ngoạithương
Trong lĩnh vực văn hóa, các vua đầu triều Nguyễn rất chú ý tới việc giáo dục vàvăn hóa Ngay từ đầu, nhà Nguyễn chú trọng vào việc thu phục nhân tài trong nước cảBắc lẫn Nam, lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống để xây dựng nền tảng xâydựng đất nước Triều Nguyễn bị chi phối bởi tư tưởng “trọng đạo khinh thường lợi”của Nho giáo Tuy nhiên, do tính chất bảo thủ lạc hậu dưới triều Nguyễn thể hiện khá
rõ nét, triều đình nhà Nguyễn coi văn minh phương Tây và Thiên chúa giáo chỉ làmtổn hại đến “đạo nhân luân” và làm lung lạc ý chí con người Cho nên với họ điều
9
Trang 10quan trọng nhất là giữ, làm theo cái đã có, đang có đó là Nho giáo, đặc biệt trong quan
hệ ứng xử ngoại giao
Không thể không nhắc đến sự tác động của Nho giáo đối với chính sách đốingoại lúc bấy giờ, chính nó đã tạo ra một lực cản trong tư tưởng về việc thiết lập mộtmối quan hệ với các nước Nhưng ta hiểu rằng muốn có một chính sách nội trị vữngchắc thì cần có một mối quan hệ ngoại giao ổn định, tốt đẹp để tạo nền tảng cho việcxây dựng đất nước
Chính tình hình trong nước với những vấn đề đặt ra như vậy đã đặt ra cho nềnngoại giao triều Nguyễn những nhiệm vụ hết sức quan trọng
1.3 Những yêu cầu lịch sử đặt ra cho ngoại giao triều Nguyễn
Từ bối cảnh trong và ngoài nước như thế chúng ta có thể, lịch sử đã đặt ra chotriều Nguyễn hai vấn đề cấp bách:
Một là xây dựng nền ngoại giao hữu hảo với các nước láng giềng để có xâydựng lại đất nước sau hơn 200 năm chiến tranh và loạn lạc Đất nước mà vương triềuNguyễn tiếp quản là một đất nước có cương vực hết sức rộng lớn, có thể nói là rộnglớn nhất trong lịch sử: từ ải Nam quan đến mũi Cà Mau Biên giới lãnh thổ tiếp giápvới rất nhiều nước như: Mãn Thanh, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Chân Lạp, Xiêm La,
… Giữ gìn bờ cõi biên giới sẽ là một trong những nội dung hết sức quan trọng trongchính quốc phòng - ngoại giao của triều Nguyễn Đồng thời, đất nước sau hơn 200năm loạn lạc, nhân tâm thất tán, vấn đề thu phục lòng người về một mối hết sức khókhăn Nhất là nhiều nơi, lòng người còn nhờ về cựu trào Tây Sơn hay xa hơn nữa lànhà Lê Đất nước thì tiêu điều, ruộng đất bỏ hoang, làng mạc xiêu tán, thiên tai, lũlụt… Những thách thức về đối nội này không thể giải quyết trong một sớm một chiềunên các vua nhà Nguyễn cần mối bang giao hữu hảo để ổn định đất nước
Hai là đối với vấn đề phương Tây cần có một chính sách ngoại giao cho phùhợp Trong vấn đề này, nhà Nguyễn hết sức khó xử Vì chính Gia Long nhờ vào lựclượng phương Tây để giành ưu thế với Tây Sơn Hơn ai hết, Gia Long hiểu sức mạnhphương Tây như thế nào và dã tâm của chủ nghĩa tư bản phương Tây Cho nên ông là
10
Trang 11người đặt nền móng cho chính sách ngoại giao với phương Tây được các triều vua sau
kế thừa Chính sách “không phương Tây” của triều Nguyễn chính là không thiết đặtquan hệ ngoại giao chính thức với bất kì quốc gia nào kể cả Pháp nhưng đồng ý chothuyền buôn phương Tây đến buôn bán theo quy định của nước Việt Nam Tuy nhiênchính sách này cũng không hề bất biến mà có những thay đổi về mức độ xét theo từnggiai đoạn lịch sử cụ thể
Chính từ hai yêu cầu mang tính lịch sử như thế đã góp phần định tính cho chínhsách ngoại giao triều Nguyễn Trong suốt thời kì tồn tại với tư cách là vương triều độclập, hai nhiệm vụ này đã chi phối đường lối ngoại giao của triều Nguyễn
11
Trang 12CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO TRIỀU NGUYỄN (1802-1884)
2.1 Tư tưởng ngoại giao thời Nguyễn
Đối ngoại và đối nội là hai chức năng cơ bản của bất kì nhà nước nào Chínhsách đối nội là tiền đề cho đối ngoại và đối ngoại phải phục vụ cho việc đối nội Chínhtrong bối cảnh lịch sử đương thời đã đặt ra cho triều Nguyễn những vấn đề bức báchphải xử trí
Về đường lối đối ngoại cuả vương triều Nguyễn lúc bấy giờ có thể chưa thành 3mảng chính: ngoại giao với Trung Quốc, với các nước khu vực Đông Nam Á, với cácnước phương Tây Chính sách đối ngoại của triều Nguyễn hết sức đa dạng, đối vớitừng đối tượng lại có sự chuyển biến trong từng thời kì nhất định
Đối với Trung Quốc, triều Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách ngoại giao đã có từcác triều đại trước: thần phục giả vờ và độc lập thực sự Các vua triều Nguyễn khi mớilên ngôi đều cử sứ giả sang báo tang và dâng biểu cầu phong Việc được nhận sáchphong của thiên triều đối với nhà vua Đại Nam được xem như là sự xác nhận tínhchính thống của nhà vua Điều này cho thấy, việc ngoại giao với Trung Quốc chịu ảnhhưởng của thuyết thiên mệnh Nho giáo Nhưng thực tế, việc thần phục nhà Thanh chỉ
là một bước đi ngoại giao để không làm mất lòng nước lớn Các vua triều Nguyễnhoàn toàn độc lập trong đối nội đối ngoại Chính sách ngoại giao này đã được kế thừa
từ truyền thống lịch sử khi các triều đại Việt Nam vẫn luôn phải đối đầu với nguy cơxâm lăng từ phương Bắc Thể chế Việt Nam giống như Trung Quốc, tự coi mình lànước anh em bình đẳng với Trung Quốc Người Việt Nam tự gọi Trung Quốc là Bắctriều tự xưng mình là Nam triều Vua Việt Nam tự xưng là hoàng đế Trong các cuộctiếp kiến với các nước ngoài Trung Quốc cũng như là trong chiếu văn lưu hành nội bộ,nhà vua tự xưng là Đại Nam quốc đại hoàng đế Tuy vậy khi sứ thần triều Nguyễn quỳgối trước triều đình Bắc Kinh, thì sứ giả quỳ gối trước hoàng đế Trung Quốc và xưng
là sứ giả của Việt Nam quốc vương Trong các tài liệu nội bộ, triều đình Huế dùngthuật ngữ “bang giao”, “quan hệ cùng cấp”, để chỉ quan hệ ngoại giao với Trung Hoa
12
Trang 13có nghĩa họ không coi quan hệ giữa hai nước là quan hệ thượng quốc với chư hầu.Đồng thời triều Nguyễn còn xem mình là nước xứng đáng tiếp nối truyền thống Nhohọc hơn triều đại Mãn Thanh ở Trung Quốc lúc bấy giờ Điều này phản ánh, trong tưtưởng ngoại giao với triều đình Mãn Thanh vừa có sự thần phục về hình thức nhưngthực tế, triều Nguyễn đặt mình ngang hàng với hoàng đế phương Bắc và có niềm kiêuhãnh hơn khi cho rằng mình là người kế thừa chính thống của Nho giáo.
Trong khi đó đối với các nước lân bang như Chân Lạp, Vạn Tượng, NamChưởng,… triều Nguyễn lại đóng vai trò “thượng quốc”, xem các nước này là chưhầu, phiên thuộc Ngay cả các nước phương Tây cũng được xem như loài di địch Năm
1815, Gia Long công bố danh sách (viễn phương quốc chi lai cống) 13 nước mà vuacoi là chư hầu Trong đó có Cao Miên, Xiêm, Miến Điện, triều đình Luang Prabang(Nam Chưởng), triều đình Vạn Tượng, triều đình Xiên Khoảng (Trấn Ninh), Thủy Xá,Hỏa Xá và ngay cả Anh và Pháp Họ tự xem mình là như là “thượng quốc” tại phươngNam Nhà Nguyễn dùng từ “nhu viễn” để chỉ chính sách đối với các nước lân bang
“Nhu viễn” lấy ý từ câu trong Kinh Thượng Thư, thiên Thuấn Điển: nhu viễn năng cậnnghĩa là mềm dẻo, khéo léo chinh phục dân phương xa, mới thu phục được người ởgần
Tuy nhiên, do tình hình đất nước sau khi mới thành lập còn nhiều bất ổn nêntriều đình Nguyễn cần có sự ổn định, hòa bình để xây dựng đất nước còn nhiều ngổnngang, nhất là nhân tâm Triều đại này được sinh ra không giống như bất cứ triều đạinào khác ở Việt Nam Nó không được sinh ra sau các cuộc chiến tranh giải phóng dântộc hay những chính biến “êm đềm” nơi cung thất như nhà Lý nhà Trần mà là sau mộtcuộc nội chiến đẫm máu suốt 200 năm Đồng thời, Gia Long là hậu duệ của NguyễnHoàng, một bề tôi của nhà Lê chứ không thuộc về hoàng phái Tính chính thống củadòng họ này hết sức bấp bênh Nhân tâm ly tán, đất nước tiêu điều! Nhiệm vụ hàngđầu của các vua đầu triều Nguyễn là phải xây dựng lại đất nước Cho nên việc thực thimột chính sách ngoại giao hữu hảo, ôn hòa, tránh xung đột với các nước láng giềngđược các vua nhà Nguyễn hết sức chú trọng Có thể nói, chính sách ngoại giao củatriều Nguyễn đối với các nước láng giềng là hết sức linh động mềm dẻo nhưng cứng
13
Trang 14rắn về mặt nguyên tắc Nguyên tắc hàng đầu chính là bảo vệ cương quyết chủ quyền,độc lập dân tộc của đất nước
Đối với các nước phương Tây, đặc biệt là Pháp hết sức phức tạp Nếu đối vớivua Gia Long, người đã chịu ơn nước Pháp, ông đã rất ưu ái đối với giáo sĩ và thươngnhân người Pháp Ông chủ trương không cấm đạo nhưng cũng không phát triển nóthêm Trong triều đình Gia Long vẫn còn những người Pháp đã từng một thời gắn bóvới ông Và Gia Long vẫn sẵn sàng cho phép các hoạt động buôn bán với các nướcphương Tây tại đất nước của mình, nhưng từ chối mọi hiệp ước thương mại chính thứcđối với bất kì quốc gia nào ngay cả nước Pháp Và chính sách này đã được duy trì hầunhư tuyệt đối với các triều vua sau này Tuy nhiên thời kì Minh Mạng, việc cấm đạo vàmối quan hệ với các nước trở nên gay gắt hơn bất cứ giai đoạn nào khác Nguyên nhân
là do tình hình trong nước bất ổn, các giáo sĩ can thiệp vào các âm mưu nổi loạn tạiViệt Nam và sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân tại các nước trong khu vực Dù MinhMạng đã có những động thái tích cực vào cuối đời nhưng không thể phủ nhận thực tếchính sách “bế quan tỏa cảng” của ông là một bước lùi trong tình thế hiện tại Điều nàyphản ánh sự trì trề, bảo thủ phần trong tư tưởng đối ngoại mang nhiều ảnh hưởng củaNho giáo Các vua sau ông lại tiếp tục đường lối này cho đến năm 1858
Không thể phủ nhận tính bảo thủ trong tư tưởng đối ngoại nặng ảnh hưởng củaNho giáo thời Nguyễn nhưng cũng phải nhìn nhận rằng chính sách đối ngoại của triềuđại này không hoàn toàn là mù quáng, phản động như nhiều nhận định trước đây
2.2 Chính sách và hoạt động ngoại giao của triều Nguyễn
2.2.1 Chính sách và hoạt động ngoại giao với Trung Quốc
2.2.1.1 Chính sách ngoại giao với Trung Quốc
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các triều đại Trung Quốc có từ lâu đời.Đặc biệt do vị trí địa chính trị đặc biệt của Việt Nam nằm chắn ngang con đường tiếnxuống phía Nam của đế chế Trung Hoa nên trong suốt chiều dài lịch sử của mình, ngănngừa nguy cơ xâm lược từ phía bắc là một nhiệm vụ thường xuyên Ngoại giao vớiTrung Quốc là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong chính sách đối ngoại của bất
14
Trang 15cứ vương triều nào mới kiến thiết tại Việt Nam Ngay từ thời kì giành nền tự chủ đầutiên của Khúc Thừa Dụ, việc lựa chọn con đường độc lập thực sự, thần phục giả vờ đãđược xem là quốc sách Đây là một chính sách ngoại giao hết sức khôn ngoan nhằmthỏa mãn niềm kiêu hãnh được “phủ dụ” chư hầu của thiên tử Trung Hoa nhưng đảmbảo được sự độc lập, chủ quyền của dân tộc, tránh các mối họa chiến tranh từ phươngBắc Vì thế cho nên không ít lần chúng ta giành thắng lợi quân sự quan trọng trước
“thiên triều” nhưng liền sau đó thiết lập lại mối quan hệ Vua Quang Trung sau khiđánh thắng quân Thanh cũng phải dâng biểu cầu phong và tạ tội để xoa dịu nước lớn
Vì thế cho nên vấn đề ngoại giao với Trung Quốc luôn được các vua triều Nguyễn hếtsức coi trọng Theo Lê Văn Anh4 thì trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do nộicác triều Nguyễn biên soạn, trong 5 quyển về vấn đề bang giao thì 4 quyển thực chất làghi chép quan hệ bang giao giữa triều Nguyễn với nhà Mãn Thanh Trong đó, nhữngquy định chặt chẽ trong quá trình quan hệ ngoại giao với nhà Thanh được thể hiện rất
rõ, từ thể thức việc sai sứ, lễ phẩm, đệ văn thư đến thể thức việc tiếp sứ nhà Thanh đềurất tỉ mỉ và rõ ràng Điều này cho thấy rằng mối quan hệ với “thiên triều” đến nhàNguyễn vẫn được duy trì thậm chí các vua triều Nguyễn lại muốn duy trì lâu dài mốiquan hệ này Ngay từ năm 1788, Nguyễn Ánh đã phái sứ thần sang triều đình MãnThanh do Phan Chính Trọng cầm đầu đem quốc thư sang Lưỡng Quảng để đặt quan hệngoại giao Nguyễn Ánh đã tận dụng mọi cơ hội để ổn định quan hệ với nhà Thanh,bình thường hóa quan hệ với nhà Thanh, tạo môi trường quốc tế hòa bình để xây dựngđất nước và củng cố vương triều Và sau khi giành được chính quyền, thống nhất đấtnước từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau thì đó lại càng là nhu cầu cấp thiết của chínhquyền Gia Long buổi đầu trị nước
Vì thế cho nên, trong suốt triều đại của mình cũng như các người kế nghiệpông, việc “thần phục” thiên triều được duy trì hết sức khéo léo, ôn hòa hữu hảo nhưngđảm bảo kiên quyết vấn đề chủ quyền và độc lập Đường lối cương nhu, mềm dẻo,tranh thủ tạo mối quan hệ hữu hảo để kiến thiết đất nước sau 200 năm nội chiến này làhết sức phù hợp với lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc Chính sách ngoại giao này đượcthực hiện nhất quán qua các triều vua Nguyễn đến năm 1884 Vua Tự Đức trong “Bang
4 Trường đại học sư phạm Huế.
15
Trang 16giao chiếu” có khẳng định mục tiêu của chính sách ngoại giao là “muốn dân chúng yên
ổn, nước nhà hòa mục” và cho rằng: “việc bang giao nếu không được thiết lập thìkhông những không được giúp đỡ, mà những vùng đất xa kinh đô như biên giới vàthành Thăng Long sẽ bị quấy nhiễu và dẫn tới tai họa chiến tranh”5
2.2.1.2 Hoạt động ngoại giao với Trung Quốc
a Sách phong và triều cống
Sách phong và triều cống là hai nội dung quan trọng trong lịch sử ngoại giaoViệt Nam và Trung Quốc Sách phong là việc phong tước cho các chư hầu của TrungQuốc Từ thời Khúc Thừa Dụ đến nay, việc này đã trở thành một hiện tượng phổ biến:Tiết độ sứ, Giao Chỉ quận vương, An Nam quốc vương (Lý Anh Tông) đến Việt Namquốc vương thời Nguyễn Vua Việt Nam nhận sách phong từ Trung Quốc gọi là thụphong, khi mỗi lần vua mới lên ngôi đều cử phái bộ sang Trung Quốc cầu phong vàvua Trung Quốc cử sứ sang sách phong (tuyên phong) và báo tang vua cũ băng hà
Đối với Việt Nam nhận được sách phong của Trung Quốc cũng có ý nghĩa nhưđược sự thừa nhận từ quốc tế, do vậy uy tín vị trí của Việt Nam được xác định trongkhu vực Trung Quốc có một vị thế hết sức to lớn trong khu trong cục diện chính trịkhu vực Theo nhiều nhà nghiên cứu nước ngoại, Trung Quốc và các nước xung quanh
đã hình thành nên một hệ thống mandala Trong đó, Trung Quốc đóng vai trò trungtâm với quyền tông chủ và các nước xung quanh đóng vai trò chư hầu Việc được thiêntriều thừa nhận cho thấy tính chính thống của triều Nguyễn trong việc thừa kế vươngtriều Lê cai trị đất nước Điều này đảm bảo sự bình yên, tránh họa xâm lược từ phươngBắc Đồng thời đối với Trung Quốc việc sách phong cho các nước láng giềng xungquanh thể hiện được vị thế thiên triều Đặc biệt là trong bối cảnh triều đình nhà Thanhbấy giờ phải đương đầu với nhiều khó khăn trong và ngoài nước Nên việc duy trì tìnhtrạng bang giao hữu hảo giữa đôi bên có ý nghĩa hết sức quan trọng với cả hai triềuđình Việt Nam và Trung Quốc Đôi bên điều cần có tình trạng ngoại giao hòa bình để
5 Trương Thị Thanh (1994), “Bang giao chiếu của vua Tự Đức”, Triều Nguyễn-Những vấn đề lịch sử- tư tưởng
và văn học, ĐH Sư phạm Huế, tr.75.
16
Trang 17giải quyết vấn đề đối nội Cho nên việc thực hiện chính sách “thần phục giả vờ, độclập” thực sự là hết sức đúng đắn Các vua triều Nguyễn làm lễ lên ngôi rồi mới dângbiểu cầu phong nên không có gì là mất quốc thể cả
Vì thế cho nên nhà Nguyễn hết sức coi trọng vấn đề này và được “điển lệ hóa”hết sức chặt chẽ trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ Từ thời vua Gia Long đến
Tự Đức có 4 lần diễn ra đại điển sách phong vào các năm: 1804, 18021, 1842 và 1849.Riêng thời Tự Đức thì sách phong tại Huế do tình hình có nhiều bất lợi cho triều đìnhhai nước
Sách phong chỉ là một nghi thức ngoại giao thời phong kiến theo quan niệm củaNho giáo, không phản ánh thực chất mối quan hệ của Việt Nam -Trung Quốc Đó làmột nghi thức thể hiện đường lối ngoại giao mềm dẻo, nhún nhường, mong muốn cóhòa bình của Việt Nam trước mối đe dọa cố hữu từ Trung Quốc Gia Long đã từngtuyên bố không thụ phong nếu Trung Quốc không đồng ý đổi quốc hiệu do Gia Long
đề nghị Ý thức độc lập được thể hiện trong các nghi thức ngoại giao với Trung Quốc,bàn về lễ Dụ tế vua Minh Mạng nói với quần thần rằng "lễ này tùy tục nước ta, ta tựtheo lễ ta, có gì là không được”6
Triều cống được xem là nghĩa vụ đi kèm với sách phong Ngay từ thời Bắcthuộc, triều cống được xem là 1 thức “tô thuế” của thiên triều dành cho các khu vực bị
đô hộ như Việt Nam Sang đến thời trung đại, triều cống còn phản ánh tương quan mốiquan hệ giữa hai nước Các triều đại phong kiến Trung Hoa thường bắt chúng ta phảicống người tài, sản vật quý hiếm hay như lệ cống người vàng có từ thời Lê Thái Tổ.Nhưng bước sang đầu thế kỷ 19 nó được xem như thể hiện mối bang giao tốt đẹp giữaViệt Nam và Trung Quốc, chỉ còn mang tính chất lễ nghi
Nhà Thanh duy trì thể lệ triều cống có từ thời Minh 3 năm cống 1 lần và 4 nămđến kinh đô triều kính Việc triều cống diễn ra điều đặn, có một số lần nhà Thanh miễnviệc này cho triều đình Huế như khi Minh Mạng lên ngôi và trong suốt đời Thiệu Trị.Đặc biệt thời Tự Đức, phái bộ sang triều cống năm 1852 do loạn Thái Bình ThiênQuốc nên đến 1856 mới về Và sau đó Trung Quốc loạn lạc nên hoãn việc cống
6 Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch (2005), Đại Nam thực lục, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.156.
17
Trang 18Bảng 1: Thống kê số lần triều cống của các vua triều Nguyễn (1802-1858)
Sứ bộ triều cống còn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tường trình mọi thứ về Trung Quốc, sứ bộ phải thường xuyên điệptấu về cả lượt đi và lượt về “làm điệp tấu nói rõ sự thể đi đường”7
Nhiệm vụ thứ hai là tìm mua sách cổ, tranh cổ của người Trung Quốc “bọnngươi nên để lòng tìm mua (sách, họa) đem về đây… nếu thấy những loại sách ấy dẫucòn bản thảo cũng không kể đắt cứ mua”8 Thứ ba là thông báo về nước những biếnđộng chính trị nếu có ở Trung Quốc
Có thể thấy việc sách phong và triều cống giai đoạn này chỉ còn thể hiện uyquyền nước lớn của Trung Quốc Còn với triều Nguyễn đó là nghi thức ngoại giaomang tính truyền thống Đấy chỉ là hai hoạt động ngoại giao mang tính truyền thốnggiao hiếu, phản ánh sự bình thường hóa quan hệ Việt Trung, tuy nhiên nó cũng phảnánh trật tự truyền thống ở khu vực
b Các hoạt động ngoại giao khác
Bên cạnh các hoạt động sách phong và triều cống, mối quan hệ giữa Việt Nam
và Trung Quốc còn được thể hiện trên nhiều lĩnh vựa qua đó có thể thấy tính cươngnhu linh hoạt của chính sách đối ngoại triều Nguyễn Đặc biệt là việc giữ nguyên tắc
7 Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, NXB Thuận Hóa, Huế, tr.306.
8 Dẫn theo Đinh Thị Dung (2001), Quan hệ ngoại giao triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ 19, Luận án tiến sĩ tại ĐH
Sư phạm TP.HCM, tr.87.
18
Trang 19tuyệt đối: sự tự chủ trong đối nội đối ngoại, bảo vệ chủ quyền quốc gia mà cụ thể cứngrắn trong vấn đề đặt quốc hiệu, bảo vệ biên giới.
Trong vấn đề đặt quốc hiệu chúng ta có thể thấy được cương quyết, tự chủ củaGia Long Ngay từ thời mới giành được Gia Định, Nguyễn Ánh đã cho người đi sứsang Trung Quốc, đặt quan hệ với nhà Thanh Vua Gia Khánh cũng không ủng hộchính quyền Quang Toản đã mất chỗ dựa trong nước Khi Quang Toản bỏ Phú Xuânchạy ra Bắc, Gia Khánh xuống chiếu khẳng định sự diệt vong của Tây Sơn và xác địnhdứt khoát thái độ ủng hộ Nguyễn Ánh Gia Khánh sai tổng đốc Lưỡng Quảng CátKhánh tới trấn Nam Quan thúc binh giữ biên giới khi nào Nguyễn Ánh lấy được toàncõi An Nam thì tâu lên cho ông biết Cho nên việc Gia Long cầu phong không bị gâykhó khăn từ nhà Thanh Năm 1804, ông cứ Lê Quang Định sang xin đổi quốc hiệu làNam Việt, lược nói: “Các đời trước mở cõi viêm bang, mỗi ngày một rộng, bao gồm cảnước Việt Thường, Chân Lạp, dựng quốc hiệu Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm Nay
đã quét sạch miền Nam, vỗ yên được toàn cõi Việt, nên khôi phục hiệu cũ để chínhdanh tốt”9 Vua Gia Khánh nhà Thanh cho rằng tên Nam Việt sẽ giống tên nước thờiTriệu Đà bao gồm Lưỡng Quảng nên không cho “Vua hai ba lần phục thư để biện giải,lại nếu vua Thanh không chi thì không chịu phong”10 Trong vấn đề đặt quốc hiệu này,
có thể xem như một thành công về mặt ngoại giao thể hiện sự tự chủ của triều Nguyễn,không lệ thuộc hoàn toàn vào thiên triều
Ngoài ra một vấn đề khác cũng hết sức quan trọng trong bang giao hết nước làvấn đề biên giới Thực tế trong giai đoạn này hai nước chưa có đường biên giới rõ ràng
mà chỉ có vùng biên giới Vấn đề bảo vệ biên cương phía bắc rất được triều Nguyễnquan tâm Chính sách nhất quán của các vua triều Nguyễn trong vấn đề này là dùngngoại giao để giải quyết, trong trường hợp bất khả kháng mới dùng đến vũ lực vànguyên tắc hàng đầu là cương quyết bảo vệ biên giới, toàn vẹn về chủ quyền
Vấn đề giặc tàu ô, Gia Long thường hay giải quyết bọn giặc tàu ô hay vượt biênqua nước ta Gia Long năm 1807: “Nay bắt được bọn giặc tàu ô và súng ống khí giới,9
107, Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch (2004), Đại Nam thực lục, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội,
tr.580.
19
Trang 20vậy phải giao trấn Lạng Sơn để đưa về phủ Thái Bình Trung Quốc” sau đó đưa côngvăn sang Trung Quốc theo đúng thể lệ bang giao Nhà Thanh cũng hay gửi công vănbáo cho Việt Nam biết bọn giặc tàu ô hay sang quấy nhiễu mà đề phòng như năm 1807
“giặc biển tỉnh Mân nước Thanh là Thái Khiên và Chu Phần bị quan quân nước Thanhđuổi bắt, chạy trốn ra ngoài biển, Tổng đốc Lưỡng Quảng gửi thư cho Bắc Thành nóithuyền giặc đều mũi xanh cột buồn đỏ, nếu có chạy đến hải phận ta thì đón bắt cho…Vua hạ lệnh cho các quan địa phương duyên hải từ Quảng Đức trở ra Bắc đều phátbinh thuyền đi tuần xét”12 Thời Gia Long, vấn đề biên giới phía Bắc không có xungđột lớn
Đến thời Minh Mạng, vấn đề biên giới có sự phức tạp Năm 1831, Trung Quốcđem 600 quân vượt qua biên giới để đòi Phong Thu (Hưng Hóa) cho Trung Quốc.Minh Mạng phải đấu tranh trên cả quân sự lẫn ngoại giao Cuối cùng quân đội TrungQuốc phải rút về, trả lại sự bình yên cho biên giới phía Bắc Suốt triều Minh Mạng cónhiều lần Trung Quốc xâm phạm biên giới như năm thứ 11 và 12 nhưng Minh Mạngđều gửi công văn sang tỉnh thần Vân Nam đề nghị xử trí “Ta tùy việc châm chướchành động hợp lẽ phải, không để gây thành hấn khích ở biên giới cũng tốt”13 Đến thời
Tự Đức, từ năm 1851, biên giới Việt Trung thường có những xung đột do tình hìnhphiến loạn tại Trung Quốc Vua Tự Đức phải đối phó khá vất vả
Ngoài ra còn các hoạt động trao đổi buôn bán giữa hai nước, trao đổi văn hóa,thông báo cho nhau những sự kiện chính trị
11 Dẫn theo Đinh Thị Dung (2001), Quan hệ ngoại giao triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ 19, Luận án tiến sĩ tại ĐH
Sư phạm TP.HCM, tr.84.
12 Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch (2004), Đại Nam thực lục, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.696.
13 Nội các triều Nguyễn (199), sđd, tr.375.
20
Trang 212.2.2 Chính sách và hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực
2.2.2.1 Chính sách ngoại giao của triều Nguyễn với các nước trong khu vực Đông
Nam Á
Vấn đề ngoại giao với các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á cũngđóng vai trò hết sức quan trọng trong chính sách nội trị của triều Nguyễn Việc đảmbảo tình hình an ninh nơi biên giới là một trong những tiêu chí hàng đầu của triềuNguyễn Các tranh chấp giữa Miến Điện Xiêm La, dù bên nào cầu viện, triều Nguyễnđiều giữ thái độ trung lập, không can thiệp, thực hiện đúng phương châm “quyếtkhông bỏ tình hòa hiếu tìm lấy cừu thù”14 Đồng thời, triều Nguyễn coi các nước xungquanh là chư hầu, coi mình là một tiểu tông chủ ở phương Nam Điển lệ triều Nguyễnquy định lệ triều cống 3 năm một lần cho các nước Triều Nguyễn chia các nước xungquanh mình thành “thuộc quốc” và “thuộc man” Thuộc quốc có thể kể đến như: ChânLạp, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Thủy Xá, Hỏa Xá… Thuộc man là các động miền núichạy dài suốt biên giới phía Tây đến Tây Nam đất nước
2.2.2.2 Hoạt động ngoại giao của triều Nguyễn với các nước láng giềng
14 Nội các triều Nguyễn (1993), Sđd, tr.515.
21
Trang 22hưởng tại các nước nằm đệm giữa hai nước là Chân Lạp và Vạn Tượng là nguyên nhântrực tiếp dẫn đến mối quan hệ bị rạn nứt và đổ vỡ Điều này phản ánh thực chất bảnchất ngoại giao “không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợiích là mãi mãi”!
Khi Gia Long lên ngôi có đường lối ngoại giao khá hợp lý, tỏ ra thiện chí vớiXiêm Thời kì này cho đến đầu thời Ming Mạng chính sử triều Nguyễn cho thấy hainước có mối quan hệ hữu hảo, nhiều lần cho sứ qua lại thông báo cho nhau các sự kiệnchính trị quan trọng và trao đổi lễ vật rất trọng Mỗi khi nước Xiêm có tang quốcvương, Gia Long đều cử hai sứ đoàn một là để sang cáo phó hai là để chúc mừng vuamới, lệ nay đến thời Minh Mạng mới được thay đổi Đặc biệt năm 1824, Xiêm cho sứsang báo tin vua Xiêm mất, Minh Mạng bãi triều ba ngày để tang vua Xiêm, đây làtiền lệ chưa từng có Điều này phản ánh chính sách giao hảo với Xiêm quốc được cácvua sau Gia Long kế thừa Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng có những xung đột, phầnlớn là đến từ nước Xiêm
Lập trường của các vua nhà Nguyễn là dùng mọi cách để duy trì tình trạng hòabình kể cả việc mua chuộc Năm 1806, “Tướng Xiêm sai Phi Nhã Xương Ngân đemquân đóng tại địa đầu Hưng Hóa…xin giao nộp bọn Cầm Thắc, Khan Tiệp về nước.Thành thần giữ sứ giả lại, sai trấn thần đem quân chống giữ bờ cõi để xem động tĩnh,rồi dân sớ tâu lên Vua sai gửi thư sang Xiêm trách là gây hiềm khích ở biên thùy.Người Xiêm bèn sai Xương Ngâ rút quân về”15 Gia Long cấp tiền gạo cho sứ giả Xiêm
ở biên giới vùng Hưng Hóa của ta cốt để yên việc biên Sứ Xiêm cũng sang cáo lỗi,xin giữ tình hòa hiếu lâu dài
Về cơ bản quan hệ ngoại giao Việt Nam Xiêm La trong đầu thế kỷ 19 được giữgìn và phát triển thuyền thống hòa hiếu vốn có từ trước Tuy nhiên vẫn có những bấtđồng trong vấn đề Chân Lạp và nhất là Vạn Tượng Đối với vấn đề tranh chấp giữaXiêm La với Chân Lạp và Vạn Tượng, triều Nguyễn chủ trương giữ thái độ trung lậpcho đến khi có thể Như năm Gia Long thứ 12, có người học trò Bắc thành dâng thưhiến kế nên sai quan trấn giữ Ninh Biên và Trấn Ninh, tiếp giáp Chân Lạp, Xiêm La,
15 Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 657.
22
Trang 23nên xem tình thế ra sao rồi cùng Miến Điện tiến đánh, đó là dùng “Man di trị Man di”vậy Vua Gia Long dụ rằng: “Nước ta với Xiêm La có nghĩa láng giềng đã lâu, ChânLạp thì là nước phiên thần của ta, chưa làm gì thất lễ, há nân gây hấn ngoài biên?”16
* Vấn đề Chân Lạp trong quan hệ Việt – Xiêm
Chân Lạp trước vốn thần phục chúa Nguyễn nhưng sau khi Tây Sơn tiêu diệt họNguyễn thì quay sang thần phục Xiêm Đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua thì lại quaysang thần phục triều Nguyễn Chính sách này cho thấy, triều đình Chân Lạp mongmuốn lợi dụng vị trí vùng đệm của mình để bảo toàn lãnh thổ giữa hai cường quốc tạikhu vực Đặc biệt là trước sự xâm lấn của người Xiêm Việc này vô hình chung đãhình thành trong hoàng gia Chân Lạp hai lực lượng đối đầu nhau: một bên thân Việtmột bên thân Xiêm Trong cuộc tranh giành quyền lực của hoàng gia Chân Lạp luôn
có sự hiện diện của Việt Nam và Xiêm
Như năm 1814, vua Xiêm La bất bình vì Việt Nam đóng quân và vua Chân Lạpkhông chầu vua Xiêm Lê Văn Duyệt và đình thần có ý đánh nhưng Gia Long khôngđồng ý Điều này cho thấy Gia Long tránh giao tranh với Xiêm, hòa bình là đường lốingoại giao căn bản của ông trong suốt thời gian trị vì
Sang thời Minh Mạng có sự phản ứng mạnh hơn trong ngoại giao với Xiêm La
về vấn đề Chân Lạp Thời kì triều đình Minh Mạng có sự can thiệp sâu vào nội tìnhChân Lạp (1834) làm cho mối quan hệ giữa Việt-Xiêm trở nên hết sức căng thẳng.Năm 1842, Xiêm lấy cớ giúp Hoàng Tôn (người tự xưng là con hoàng tử Cảnh) đã tổchức xâm lược Việt Xiêm cắt đứt quan hệ Năm 1844, chiến tranh Việt Xiêm bùng nổ
ở Chân Lạp Đến năm 1847, triều đình Nguyễn mới rút quân về khỏi Chân Lạp ViệtNam – Xiêm La lại phải đối phó với chủ nghĩa tư bản phương Tây
*Xung đột vấn đề Vạn Tượng
Vạn Tượng cũng như các nước sứ Lào trước đây thần phục Xiêm La Năm
1801, nước này sang mừng Nguyễn Ánh Và từ năm 1804 trở đi, cứ theo lệ 3 năm lại
cử sứ sang tiến công cho Việt Nam Năm 1824, nhân cơ hội Anh gây hấn với Xiêm,
16 Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 869.
23
Trang 24Châu A Nỗ quốc vương Vạn Tượng nổi dậy chống Xiêm nhưng thất bại chạy sang cầucứu Minh Mạng, Minh Mạng chủ trương trung lập không can thiệp: “Họ đánh VạnTượng thì mặc họ, không được xâm phạm tới biên thùy thuộc vùng Mường Mán của
ta, nếu họ không nghe lời thì chiến sự sẽ bùng nổ”17 Minh Mạng đã đứng ra hòa giảimâu thuẫn giữa Xiêm và Vạn Tượng Nhưng đến năm 1827, Châu A Nỗ thất bại phảichạy đến Tam Động (xin cứu viện), triều đình lại trù trừ lỡ mất thời cơ chống phongkiến Xiêm Đến năm sau 1828, mới sai Phan Văn Thúy thống suất quân đội sang cứuVạn Tượng Xiêm giết sứ thần Phan Văn Thông, Minh Mạng điềm tĩnh đề nghị cử sứthần sang Bankok hỏi nguyên do sự thể ra sao”18 Minh Mạng liên tục cử sứ sang đềnghị làm rõ Năm 1830, vua Xiêm phải cử sứ sang xin lỗi.Đến năm 1833, nhân vụkhởi nghĩa Lê Văn Khôi, vua Xiêm lại gây chiến, quan hệ hai nước bị cắt đứt từ đây
Các vua Nguyễn đã cố gắng giữ quan hệ hòa hiếu nhưng dã tâm của người Thái
đã luôn gây bất lợi cho ta Việc tranh giành ảnh hưởng tại Chân Lạp, Vạn Tượng xuấtphát từ nhu cầu phòng thủ biên cương
Đến thời Tự Đức có cử Nguyễn Tri Phương nối lại hòa hiếu nhưng cho đến năm
1866 vẫn chưa thấy sử sách ghi chép lại
Có thể nhận xét quan hệ của Việt Nam đối Xiêm La là hòa hiếu nhưng không hề
lơ là phòng bị Ngay từ thời Gia Long dù quan hệ hai nước rất thân tình nhưng nhà vuakhông cho Xiêm mượn đường sang Lào 1809, không cho đi ngỏ Chân Đốc về nướcnăm 1815 Các vua như Minh Mạng giữ thái độ trung lập đến hết mức có thể Nhưngtrước tham vọng bành trướng của người Thái đưa dọa đến biên cương, nhà Nguyễn đã
có những phản ứng quyết liệt
b Ngoại giao với Chân Lạp
Chân Lạp từ lâu đã có mối quan hệ giao hảo với các chúa Nguyễn ở ĐàngTrong Đặc biệt là thời kì trị vì của vua Chey Chetta II cưới công nữ Ngọc Vạn nhằm
17 Quốc sử quán triều Nguyễn (2010), Minh Mạng chính yếu, NXB Thuận Hóa, Huế, tr.1685.
18 Lương Ninh (1991), Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á, Lịch sử Lào, tập 2, NXB ĐH Sư phạm Hà Nội, Hà
Nội, tr.107.
24
Trang 25dựa vào chúa Nguyễn lập thế đối trọng với Xiêm La Trong suốt thời kì chiến tranh vớiTây Sơn, nước Chân Lạp nằm dưới quyền bảo hộ của Xiêm La
Đến năm 1806, nước Chân Lạp đưa sứ sang cầu phong và xin triều cống Cứtheo lệ 3 năm triều cống một lần Nhìn chung thời kì, quan hệ giữa Việt Nam và ChânLạp bị chi phối rất nhiều bởi các thế lực thân Xiêm và Xiêm La Sự tranh chấp giữahai lực lượng thân Xiêm và thân Việt diễn ra không ngừng như năm 1813 Gia Longphái Lê Văn Duyệt, Ngô Nhơn Tĩnh lãnh 13.000 quân đưa Nặc Ông Chân (Ang ChanII) về nước19 Tháng 7 năm 1813, Lê Văn Duyệt rút quân về nước, lưu Nguyễn VănThoại ở lại bảo hộ Chân Lạp Từ đây Chân Lạp thuộc quyền bảo hộ của Việt Nam
Tuy nhiên, việc bảo hộ Chân Lạp xuất phát từ việc phòng thủ biên cương trước
dã tâm của người Thái Cho nên thời Gia Long, chính sách bảo hộ là không can thiệpvào nội tình của nước ấy Chân Lạp được coi như nằm trong hệ thống phòng thủ TâyNam của triều Nguyễn Cho nên khi hay tin Nguyễn Văn Thoại việc gì cũng chuyênquyết mà làm, không hề bàn với Phiên vương thì Gia Long xuống chiếu quở trách:
“phàm việc Chân Lạp giao cho phiên vương với phiên liêu xử đoán, không được hiếpchế; chỉ có chương sớ và công văn thời bọn người phải tường duyệt tham chước rồi sẽphát đệ về, để cho hiệp sự mà thôi”20
Nhưng đến thời Minh Mạng có sự thay đổi lớn trong vấn đề bảo hộ Chân Lạp.Đặc biệt là sau khi giữa Việt Nam và Xiêm La có những xung đột quân sự không thểgiảng hòa được Năm 1834, quốc vương Ông Chân mất Minh Mạng không cho lập hai
vị hoàng đệ là Ang Em và Ang Dương vì theo người Xiêm và cả đến người con trưởngcủa nhà vua quá cố cũng không được chọn vì là con của Hoàng hậu, con gái viên quanBên của Xiêm La Minh Mạng cử con gái thứ công chúa Ang May (1834-1841) lênngôi mà không thông báo cho nước Xiêm Chính sách độc đoán của các quan bảo hộViệt Nam như Trương Minh Giảng đã gây nên sự phản đối gay gắt của nhân dân Chân
19 Vua Xiêm chấp thuận việc này bằng cách buộc Chân Lạp giao hết vùng đất giữa hai dãy núi Dangret và vùng Prohm Tep, các tỉnh Miou Prei và Tpnle Repou cùng Stung Treng Nước Chân Lạp không còn biên giới với Lào
nữa Theo Lê Hương (1961), “Việc bang giao giữa Cao Miên và Việt Nam nhìn từ phía Cao Miên”, Tạp chí
Bách Khoa, số 321, ngày 15/7/1970, Sài Gòn, tr25.
20 Quốc sử quán nhà Nguyễn (1998), Quốc triều Chánh biên toát yếu, NXB Thuận Hóa, Huế, tr.116-117.
25
Trang 26Lạp Từ năm 1841 đến 1845, Chân Lạp bị sát nhập vào Việt Nam, việc triều chính doTrương Minh Giảng giải quyết Nhân dân Chân Lạp đã liên kết với quân Xiêm đưaquân vào can thiệp chiếm lấy các tỉnh phía Đông Chân Lạp, đưa hoàng đệ Ang Duonglên ngôi, trước đó nữ vương Ang May đã bị đem về an trí tại thành Phiên An Đến năm
1846, Thiệu Trị buộc phải thừa nhận quốc vương Ang Duong
Nhận xét về mối quan hệ giữa Chân Lạp và Việt Nam mà nói thì triều Nguyễn
đã chứng tỏ vai trò nước lớn của mình Thời Gia Long tuy bảo hộ nhưng không canthiệp vào nội tình nước ấy Sang thời Minh Mạng, thời kì đỉnh cao của nhà nướcNguyễn, đồng thời với sự bành trướng của Xiêm với Chân Lạp đe dọa trực tiếp đến anninh biên giới của Đại Nam buộc lòng Minh Mạng có sự can thiệp sâu vào nội tìnhChân Lạp Lúc này tình hình nội bộ Chân Lạp đầy biến động, với sự phân hóa sâu sắctrong hoàng gia Chân Lạp đã biến đất nước này thành tâm điểm tranh chấp giữa Xiêm
La và Việt Nam cho đến khi người Pháp đặt chân lên bán đảo Đông Dương
c Ngoại giao với Vạn Tượng
Vạn Tượng là một tiểu quốc nằm trên lãnh thổ Lào ngày nay, ráp ranh với ViệtNam Ngay từ thời các chúa Nguyễn, Vạn Tượng thường xuyên sai sứ sang cống nạpnhiều sản vật, được chúa Nguyễn xem là phiên giậu ở phía Tây Trong cuộc chiếntranh Tây Sơn và Nguyễn Ánh, Xiêm La bành trướng sang các nước thuộc Lào ngàynay như Vạn Tượng, Nam Chưởng,… Các nước này chịu sự cai trị của người Xiêm.Cho nên khi Gia Long lên ngôi, các nước đều sai sứ sang đặt quan hệ và xin triềucống Vua Gia Long đều xem các nước này là phiên giậu ngăn chặn sự bành trướngcủa Xiêm La nên ra sức vỗ về, theo lệ 3 năm triều cống một lần như Chân Lạp Theocác nhà sử học Lào thì vua Gia Long đối xử với các quốc vương Lào như đối với vuaXiêm, trong khi đó đối với Xiêm thì vua Vạn Tượng chỉ là tước Chao21 mà thôi22 Chủtrương nhất quán suốt thời kì trị vị của Gia Long là không can thiệp vào nội tình các
21 Một trong 5 bậc thang đẳng cấp của xã hội của Xiêm bấy giờ.
22 Theo Lê Văn Anh-Đặng Văn Chương (2008), “Chính sách đối ngoại của triều Nguyễn với Xiêm về vấn đề
Lào và Campuchia trong 30 năm đầu thế kỷ XIX”, Kỷ yếu hội thảo “Chú Nguyễn và vương triều Nguyễn trong
lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX”, NXB Thế giới, Hà Nội, tr.259.
26
Trang 27thuộc quốc này đảm bảo sự độc lập Nhưng sang thời Minh Mạng gặp nhiều vấn đềtrong tranh chấp Xiêm-Vạn Tượng như cuộc chiến Xiêm Việt nổ ra năm 1828
Trước ảnh hưởng của quân Xiêm thì tù trưởng Vạn Tượng là Châu A Nỗ đãsang cầu cứu nhà Nguyễn Vua Minh Mệnh đã cho người mang quân sang đất VạnTượng nhưng không giải quyết được nên đã đưa Châu A Nỗ về ở Nghệ An để chờ.Năm 1829, vua Minh Mệnh sai người đưa Châu A Nỗ về lại Trấn Ninh Đến đấy, Châu
A Nỗ xin đem quân Lào về Vạn Tượng, nhà Nguyễn đã cho 2 đội quân Việt Nam theo
hộ tống Nhưng khi đánh nhau với quân Xiêm, quân Châu A Nỗ đã tổn thất nặng Châu
A Nỗ lại xin thêm viện binh ở Nghệ An Thấy Châu A Nỗ hay sinh sự đánh nhau màkhông có kết quả gì thì vua Nguyễn đã không cấp quân nữa, chỉ ra lệnh những tùtrưởng Lào phòng giữ chỗ biên thùy Vì không có cứu viện, quân Châu A Nỗ thua chạy
về Trấn Ninh Tại đây, tù trưởng Chiêu Nội đã bắt Châu A Nỗ nộp cho quân Xiêm Saukhi chiếm được Vạn Tượng thì quân Xiêm đã mở rộng thâm nhập biên giới nước ta ởQuảng Trị Vua Minh Mệnh đã cho Phạm Văn Điển trấn giữ Một mặt ông đã viết thưphản kháng Xiêm, mặt khác ông cho quân đội tiến đánh quân Xiêm Tướng Xiêm đãtrả lời thư một cách khiêm nhường và cho rút quân về nước
Nửa sau Vạn Tượng trở thành một tỉnh của Xiêm, Việt Nam lâm vào cuộckháng chiến chống chủ nghĩa thực dân Pháp
d Đối với các nước khác
- Quan hệ với Nam Chưởng:
Quan hệ giữa nhà Nguyễn với Nam Chưởng khá lỏng lẽo, việc cử sứ thần thônghiểu không theo lệ cống đã quy định trong các năm 1823 và 1828 Năm 1833, sứ thầnNam Chưởng lại đến cống, nhưng ngay năm sau, nhân quân Xiêm xâm lược VạnTường , đến quân đánh lấn Trấn Ninh, Trấn Tĩnh và Cam Lộ , thì Nam Chưởng dựavào thế quân Xiêm cũng đem quân quấy nhiễu dân cư ở Trình Cố , đòi thu thuế năm
1837 ,nước Nam Chưởng lại đem hơn 1000 người cướp đoạt hai động Tiên Phong,Phong Thanh thuộc châu Ninh Biên thuộc tỉnh Hưng Hóa, làm kinh động dân địa
27