Thương cảng Thị Nại đã từng là quốc cảng của vương quốc Champa trong một khoảng thời gian dài từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, là một địa điểm quan trọng trong tuyến hải thương của khu vực. Sau biến cố lịch sử năm 1471, Người Việt đã tiếp nhận truyền thống hải thương, và tầm nhìn hướng biển của các cư dân vương quốc Champa xưa. Do vậy đã diễn ra một quá trình chuyển hóa từ thương cảng Chăm thành thương cảng của người Việt trên khắp hệ thống thương cảng thuộc miền Trung miền Nam. Thương cảng Thị Nại thời vương quốc Champa đã trở thành thương cảng Nước Mặn thời các chúa Nguyễn Đàng Trong. Vị thế và vai trò của thương cảng Nước Mặn cũng đã có những thay đổi đáng kể so với thương cảng Thị Nại thời vương quốc Champa.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1: NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH THƯƠNG CẢNG NƯỚC MẶN 1.1 Yếu tố địa lý: 3
1.1.1 Vị trí địa lí thương cảng Nước Mặn 3
1.1.2 Địa hình khu vực thương cảng Nước Mặn: 5
1.2 Yếu tố lịch sử- xã hội: 6
1.3 Yếu tố kinh tế: 7
Chương 2: VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO THƯƠNG CẢNG NƯỚC MẶN 2.1 Quang cảnh thương cảng Nước Mặn: 12
2.2 Hoạt động của thương cảng Nước Mặn: 13
2.3 Tác động của tự nhiên đối với sự suy tàn của thương cảng Nước Mặn: 14
Chương 3: VỊ TRÍ HIỆN NAY VÀ DẤU VẾT CÒN LẠI CỦA THƯƠNG CẢNG NƯỚC MẶN. 3.1 Vị trí hiện nay: 16
3.2 Những dấu vết còn lại: 16
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
1
Trang 2MỞ ĐẦU
Thương cảng Thị Nại đã từng là quốc cảng của vương quốc Champa trong mộtkhoảng thời gian dài từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, là một địa điểm quan trọng trong tuyếnhải thương của khu vực Sau biến cố lịch sử năm 1471, Người Việt đã tiếp nhận truyềnthống hải thương, và tầm nhìn hướng biển của các cư dân vương quốc Champa xưa Dovậy đã diễn ra một quá trình chuyển hóa từ thương cảng Chăm thành thương cảng củangười Việt trên khắp hệ thống thương cảng thuộc miền Trung miền Nam Thương cảngThị Nại thời vương quốc Champa đã trở thành thương cảng Nước Mặn thời các chúaNguyễn Đàng Trong Vị thế và vai trò của thương cảng Nước Mặn cũng đã có nhữngthay đổi đáng kể so với thương cảng Thị Nại thời vương quốc Champa
Những nghiên cứu bước đầu của các nhà nghiên cứu đã cung cấp cho chúng tanhững nhận thức chung về quá trình phát triển, vai trò và vị thế của thương cảng NướcMặn trong sự phát triển chung của xứ Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII Cùng với Hội An,Thanh Hà, thì Nước Mặn đã trở thành một trong những thương cảng quan trọng nhất, gópphần vào sự hưng khởi của nền ngoại thương xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn Việcđặt Nước Mặn trong mối liên hệ giữa biển với lục địa, và trong hệ thống các thương cảngven biển sẽ làm nổi bật vai trò và vị thế của thương cảng này Vậy từ đâu thương cảngNước Mặn lại có được vị trí quan trọng trong hệ thống cảng thị Đàng Trong và cho đếnnay thương cảng ấy còn lại những dấu vết gì sau những thay đổi của thời gian Dưới gócnhìn của địa lí học, tôi xin trình bày đôi nét về những yếu tố hình thành nên và những dấuvết còn lại của thương cảng Nước Mặn hiện nay
2
Trang 3Chương 1: NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH THƯƠNG CẢNG NƯỚC MẶN 1.1 Yếu tố địa lý:
1.1.1 Vị trí địa lí thương cảng Nước Mặn.
Nước Mặn là tên gọi của một thương cảng sông nằm bên đầm Thị Nại, cách thànhphố Quy Nhơn ngày nay khoảng 15 km về phía bắc, cách cửa Kẻ Thử 8 km về phía tây.Nhưng không gian Nước Mặn đối với thương khách nước ngoài bao gồm cả đầm Thị Nại
và đôi khi chỉ cả vùng đất rộng lớn của phủ Quy Nhơn – vì đó là thương cảng chính củaphủ Quy Nhơn
Nước Mặn nằm ở hạ lưu sông Côn, nơi tiếp giáp với biển Đông, khi xưa nơi đâytừng tồn tại thương cảng Thị Nại, là trung tâm kinh tế của vương quốc Chăm pa CảngThị Nại dần tàn lụi theo thời gian do chiến tranh và những thay đổi về địa chất để rồiđược thay thế bằng một cảng thị khác là Nước Mặn, mặc dù thương cảng này không đóngvai trò quan trọng như Thị Nại trong hệ thống cảng biển Đàng Trong Vì nằm ở vị trí hạlưu sông nên cảng Nước Mặn tiếp nhận nguồn hàng từ khu vực Tây Nguyên và cũng làcửa ngõ tiến ra biển của toàn bộ vùng cao nguyên phía Tây thời bấy giờ Với đặc điểmnày, thương cảng Nước Mặn có thể được xem là điểm kết nối giữa biển và lục địa Trong
chuyên luận Thuận Quảng và Bình Định trong cuộc xung đột vùng miền ở Việt Nam, GS
Keith W.Taylor cũng đã đặc biệt quan tâm tới vị thế của Bình Định nói chung, cũng như
vị thế đầu mối giao thương của thương cảng Nước Mặn đối với sự phát triển của xứ Đàng
Trong “Đến những năm 1690, Bình Định đã trở thành trung tâm của một mạng lưới giao thông và liên lạc kết nối trung tâm Thuận Quảng của Đàng Trong với đồng bằng sông Mê Kông … Một tính chất quan trọng khác của Bình Định là vị trí của nó như một bến cuối của tuyến đường được đi lại nhiều dọc cao nguyên đến thung lũng Mê Kông, băng qua An Khê, Play Ku, và đến sông Mê Kông ở Stung Treng ở nơi mà hiện nay là phía Bắc Campuchia, nơi nó nối kết với mạng lưới giao thương tỏa ra từ Ayudhaya/Băngkok Thương mại di chuyển dọc tuyến đường này, nối Bình Định với những mối quan tâm buôn bán của người Xiêm Các dân tộc vùng cao và người Việt
3
Trang 4tham gia vào hoạt động thương mại này, nhưng các cộng đồng người Hoa ở Ayudhya/Bangkok và Qui Nhơn cung cấp vốn và các mối quan hệ để kích hoạt giao thương Qui Nhơn trở thành trung tâm thương mại quan trọng tại đầu mối của một cảng biển lý tưởng, con đường phía tây qua núi, con đường phía Bắc đến Thuận Quảng, và con đường phía nam tới đồng bằng sông Mê Kông” 1
Đồng thời, Nước Mặn nằm ở vị trí án ngữ trên tuyến đường hàng hải khu vực điqua biển Đông Vì được bao bọc bởi những eo biển như: Malacca, Đài Loan, Lombok,…nên biển Đông đã hình thành nhiều tuyến đường hàng hải quốc tế Nơi đây trở thành ngã
tư thông thương của các tuyến hàng hải thương mại quan trọng bởi đây là tuyến ngắnnhất nối giữa Bắc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, châu Âu và châu Á, Trung Đông
và châu Á Trong đó, vùng biển của nước ta chính là nơi các tuyến hàng hải quan trọng
đó đi ngang qua Đây là vị trí thuận lợi để hình thành và phát triển các thương cảng sầmuất Và ngay từ buổi đầu, người Chăm đã có tầm nhìn hướng biển khi mở nhiều cảngbiển, trong đó quan trọng nhất là Thị Nại Đến đời các chúa Nguyễn là sự xuất hiện của
thương cảng Nước Mặn Borry đã ghi lại con đường thương mại đó như sau: “Họ phải đi qua tỉnh Ran Ran (Phú Yên), Pulucambi (Quy Nhơn) và vùng đá ngầm ở Pulusisi” 2
Thương cảng Nước Mặn đã được ghi chép lại trong nhiều thư tịch cổ Nước Mặn
được ghi trong Hồng Đức bản đồ là Nước Mặn hải môn Còn giáo sĩ Alexandre de
Rhodes khi vẽ trên bản đồ đã phiên âm thành Nehorman Nhiều nhà hàng hải phương Tâytrong quá trình buôn bán và du hành ở đây thì gọi tên cảng theo tên phủ Qui Nhơn làQuingnin hay Pulucambi (người Bồ Đào Nha), Quy Nong (người Anh), Sintcheou hoặcChincheo (phiên âm theo tiếng Trung Quốc từ chữ Tân Châu) Trong các hồ sơ của công
ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) tên của cảng này là Quinam.3
1 Keith Taylor (2006), Thuận Quảng và Bình Định trong cuộc xung đột vùng miền ở Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay,
số 270, tr.8
2 Đỗ Bang (1993), Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỉ XVII- XVIII, Đại học Tổng hợp Hà Nội, tr 27.
3 Theo Đỗ Bang (1996), Phố cảng vùng Thuận Quảng, Nxb Thuận Hóa, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tr.153.
4
Trang 5Cristophoro Borri vào đầu thế kỷ XVII đã đến và lưu lại tại Qui Nhơn trong một
thời gian, và điều này đã được ông ghi chép trong tác phẩm Xứ Đàng Trong năm
1621 Theo ghi chép của Borri thì Nước Mặn “là một địa điểm dài chừng hai dặm và rộng tới một dặm rưỡi” 4
P Poivre trong tập hồi ký của mình có viết “tại tỉnh Qui Nhơn có một thương cảng khác gọi là Nước Mặn là một cảng tốt, an toàn được thương nhân lui tới nhiều nhưng kém hơn Faifo, nhưng lại không thuận tiện vì quá xa kinh thành mà các thuyền trưởng thì nhất thiết phải đi đến kinh thành nhiều lần và phải đi ròng rã 6 ngày đường”5
Theo công trình biên niên của Quốc sử quán triều Nguyễn – Đại Nam nhất thống chí thì vùng Nước Mặn “ở phía đông huyện Tuy Phước, rộng 197 trượng, thủy triều lên sâu 4 trượng 7 thước, thủy triều xuống sâu 4 trượng 4 thước, thủ sở ở địa phận thôn Bình Chính, có bảo đất, chu vi 48 trượng, 48 thước, cao 6 thước, mở một cửa, có một kì đì và
12 lỗ súng…” 6
1.1.2 Địa hình khu vực thương cảng Nước Mặn:
Địa hình vùng đất Bình Định giống như toàn thể khu vực Nam Trung Bộ, đều bịchia cắt mạnh bởi những dãy núi đâm ngang ra biển, tạo thành những bức tường thàngche chắn tự nhiên Bên cạnh đó là một hệ thống sông nhỏ, dốc, chảy theo hướng TâyBắc- Đông Nam ra biển, tạo điều kiện cho giao thông đường thủy, đồng thời tạo ra nhữngđồng bằng màu mỡ nhưng nhỏ hẹp và bị chia cắt bởi các dãy núi Cũng do bị chia cắt màcác con sông thường đổ ra biển bằng nhiều cửa Trong khi tại các cửa biển, đường bờbiển tương đối khúc khuỷu tạo thành nhiều vũng vịnh kín gió, là nơi lý tưởng cho việcneo đâu tàu thuyền, như: đầm Thị Nại, đầm Đề Gi, đầm Trà Ổ,…
Trong đó đầm Thị Nại đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện hình thành
và phát triển thương cảng Thị Nại trước kia và thương cảng Nước Mặn sau này Phía
4 C.Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb.Tp Hồ Chí Minh.
5 Đỗ Bang, Sđd, tr.154
6 Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa, tr 39- 40
5
Trang 6Đông có dãy núi Triều Châu kéo dài chạy từ Đông Phù Cát vào phía Nam tạo thành bánđảo Phương Mai Đây chính là bức bình phong thiên tạo ngăn cách giữa biển với đất liềntạo thành một vùng vịnh kín gió, vừa thông ra biển vừa giao lưu với đất liền Đó là đặcđiểm cơ bản và lí tưởng cho việc hình thành thương cảng Nước Mặn.
Nhà hàng hải Manguin từng ghi chép trong hải trình “ở bờ biển Việt Nam, Qui Nhơn là vịnh được cấu tạo cho việc trú ẩn của tàu thuyền tốt nhất Ở đó được thiết lập cảng của kinh đô Vijaya- Thi Nại chính trong sách sử ký viết “là thương cảng thứ nhất của Champa”.7
Năm 1793, một đoàn sứ bộ người Anh đến Quy Nhơn đã ghi lại một chi tiết đáng
chú ý là “…ở phía bắc mũi Nạy (Varella) là Quin Nong (Qui Nhơn), nơi ghe tàu trong vùng thường qua lại… Vùng biển này rất tốt Nó là chỗ chắn tất cả các loại gió Cũng có một con lạch đi qua rất hẹp nên những con tàu muốn đi vào đầm phải chờ thủy triều lên.” 8
mang vùng đất mới, vua Lê tăng cường nhân khẩu cho vùng đất mới bằng cách “tù nhân
bị tội lưu, ở châu gần thì xung làm quân vệ ở Thăng Hoa, ở châu ngoài thì xung làm quân vệ ở Tư Nghĩa, ở châu xa thì xung làm quân vệ Hoài Nhân, những kẻ được tha tội chết cũng xung làm quân vệ Hoài Nhân” 9
7 Đỗ Bang, Sđd, tr.172
8 Đỗ Bang, Sđd, tr.148
9 Ngô Sĩ Liên (2009), Đại Việt sử kí toàn thư- tập II, Nxb Khoa học xã hội, tr 577
6
Trang 7Theo quá trình Nam tiến, cư dân Việt ngày càng xuất hiện nhiều hơn ở khu vực
này Xung quanh đồn binh của quân đội vua Lê ở Gò Dinh và bờ Nam sông Hà Bạc từu
An Hòa đến Kim Xuyên hình thành nhiều cụm dân cư mới, bao gồm cư dân Việt đếncộng cư với người Chăm khai phá vùng đất mới chiếm đóng Quá trình di cư của ngườiViệt đến vùng đất Bình Định ngày nay chỉ thực sự đẩy mạnh vào thế XVI, XVII- thời kìcai trị của các chúa Nguyễn
Như vậy, khoảng cuối thế kỉ XV, người Việt bắt đầu đến định cư ở vùng đất BìnhĐịnh tuy nhiên vẫn còn ít, làng mạc thưa thớt nên chưa thể phát triển buôn bán, hìnhthành thương cảng thay thế cho Thị Nại đã suy tàn vì chiến tranh Nhưng từ thế kỉ XVI,cùng với sự xuất hiện của các chúa Nguyễn, lập ra đất Đàng Trong, thì vùng đất phủ HoàiNhân mới phát huy được những lợi thế của mình với vùng đồng bằng rộng, đất đai màu
mỡ, cửa biển lớn,…Nhờ đó mà lượng dân cư đến đây sinh sống ngày càng đông
Các chúa Nguyễn đã nhận thấy được vị trí, tiềm năng kinh tế của vùng đất: vùnggiàu có về tài nguyên thiên nhiên, trong đó có nhiều tài nguyên chưa được khai phá cùngvới việc kế thừa truyền thống thương mại, tính hướng biển từ thời Champa do vị trí địa líthuận lợi cho việc phát triển thương nghiệp quốc tế, nằm ở trung điểm của một trongnhững tuyến chính của hệ thống giao thương châu Á Đó là điều kiện để Nước Mặn đượcchú ý và đầu tư để trở thành một thương cảng có tiếng
1.3 Yếu tố kinh tế:
Phủ Quy Nhơn là vùng đất có nhiều cửa biển, vùng biển giàu có về hải sản, phíaBắc giáp với xứ Quảng Nam, phía Tây giáp với vùng cao nguyen rộng lớn, phía Namgiáp với vùng Phú Yên, Bình Khang, Diên Khánh với nguồn tài nguyên và sản vật phongphú Điều đó trở thành nguồn lực nội sinh để thương cảng Nước Mặn có điều kiện hìnhthành và phát triển
Tiến sĩ khảo cổ học Lê Đình Phụng trong bài viết Thương cảng Nước Mặn (Quy Nhơn)- Xứ Đàng Trong đã nhận định thương cảng Nước Mặn “nằm trên địa bàn một phủ
7
Trang 8giàu có, gần các phủ Phú Yên, Bình Khang, Dinh Nha Trang, có nguồn hàng dồi dào từ cao nguyên đổ về, cảng Nước Mặn có vai trò quan trọng trong giao lưu thương mại” 10
Nguồn hàng hóa.
Phủ Quy Nhơn được xem là một trong những phủ giàu có nhất, tham gia vào cơcấu các mặt hàng không chỉ có các hàng hóa lâm thổ sản, mà còn có hàng thủ côngnghiệp, nông- ngư nghiệp, những đặc sản của vùng đất Bình Định
Hàng hóa nông nghiệp
Sự trù phú của vùng đất Bình Định đã tạo nên nguồn sản vật dồi dào với nhiềugiống cây khác nhau: lúa, lạc, mía, hồ tiêu, thuốc lá, trầu cau, dừa, … không những cungcấp cho cư dân trong vùng mà còn dùng buôn bán, giao thương Những loại nông sản này
có nguồn gốc từ cả miền xuôi và miền ngược, được giao thương qua sông Côn
Ngoài ra, nguồn lợi từ chăn nuôi cũng đáng góp đáng kể vào cơ cấu hàng hóabuôn bán, như Gia súc và giá cầm ở đây khá nhiều, đáng kể nhất là trâu, ngựa Lê Quý
Đôn cho biết các nhà dân đều có chăn nuôi, “các xứ Cò Đen, Kẻ Dã xứ Quy Nhơn thì sản xuất ngựa, ngựa sinh trong hang núi, thành đàn hàng trăm, hàng ngàn con, có con cao tới hai thước rưỡi, ba thước trở lên Người đại phương tập dạy cho chở hàng hóa sang phủ Phú Yên, cho đến đàn ba đi chơ buôn bán hay đi xa cũng cưỡi ngựa bình thường”.11
Hàng hóa thủ công nghiệp.
Vốn hình thành trên mảnh đất từng là kinh đô của vương quốc Cham pa, lại cóthương cảng Thị Nại tồn tại trong vòng 5 thế kỉ nên hàng hóa thủ công nghiệp cũng mangtính chất đặc trưng của vùng
Sản phẩm gốm: với hai lò gồm nổi tiếng là gốm Gò Sành (từ thời Champa để lại)
và gốm chợ Gồm, các sản phẩm của khu vực này cũng khá phong phú và có giá trị
10 Lê Đình Phụng (2007), Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII, Nxb Thế giới, tr.583-592
11 Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 433
8
Trang 9Sản phẩm dệt: với nhiều làng dệt bên bờ sống Côn như: dệt Phú Phong, An Thái,
Phương Danh, … với kĩ thuật khung cửi thô sơ của người Việt và kĩ thuật dệt tinh xảocủa người Chăm giúp cho mặt hàng này khá đa dạng Ở Bình Định còn nổi tiếng với câu
Sản phẩm rèn đúc: các sản phẩm đa dạng của các lò rèn ở Đập Đá, Nhơn Phúc,…
được chuyển đi phục vụ như cầu khắp nơi từ Tây Nguyên vào đến các vùng đất xa hơn ởphái Nam,…
Ngoài ra còn có sản phẩm về xây dựng như việc khai thác đá ong, nấu vôi phục vụxây nhà, hay việc đòng tàu thuyền gỗ đễn ra khơi của cư dân: Cẩm Thượng, Trường Úc,Kiên Mỹ, Nhơn Thọ, Phú An,…
Hàng lâm thổ sản: Phủ Quy Nhơn có nhiều loại gỗ quý, ngoài ra còn có kì nam,
dầu rái, mật ong, ngà voi,…
Có thể nói, phủ Quy Nhơn có nguồn sản vật rất phong phú, đa dạng và có giá trị
xuất khẩu cao Đánh giá về sự trù phú của phủ Quy Nhơn, Phan Huy Chú trong Lịch trều
12 Borri, Sđd, tr 64
9
Trang 10hiến chương loại chí đã viết: “Của cải trong phủ có phần đầy đủ, cùng với phủ Tư Nghĩa, phủ Thang Hoa, đều gọi là hạt giàu có, Sản vật có nhiều như: trầm hương, sừng
tê, vàng bạc, sáp ong, đường, mật, dầu, sơn, cau tươi, hồ tiêu, cá, muối và các thứ gỗ đều rất tốt, lúa gạo không biết bao nhiêu mà kể Ngựa sinh ra ở trong hang núi, có từng đàn
cả trăm nghìn con Núi sông có nhiều phong cảnh…” 13
Borri cũng nhận xét: “Các thương gia châu Âu đến đây buôn bán cũng nói rằng
Xứ Đàng Trong có nhiều của cải hơn Trung Hoa mà chúng tôi biết là rất dồi dào về mọi thứ” 14 Chính sự dồi dào về nguồn hàng hóa và sản vật tự nhiên có giá trị đã thu hút nhiều
thương nhân, tàu buôn đến khu vực này
Mạng lưới giao thông
Mạng lưới giao thông đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền sản xuấthàng hóa vì những nguồn hàng hóa khắp nơi đổ vào trung tâm cảng chính là nhờ nhữngtuyến giao thông trọng yếu
Giao thông đường bộ: đi qua khu vực phủ Quy Nhơn có hai con đường chính Một
tuyến đường phía Bắc giáp Quảng Ngãi, phía Nam nối Phú Yên, nếu đi bộ phải mất 4ngày đường, đây là một phần của Thiên lý lộ Một con đường nữa là đường nối liền vùngthượng đạo với đường Thiên lý lộ (về sau này trở thành Quốc lộ 19)- hành trình này điqua phủ Quy Nhơn mất khoảng 5 ngày rưỡi.15
Giao thông đường thủy: ở Quy Nhơn có nhiều con sông đổ ra đầm Thị Nại: Côn
Giang, Lại Giang, Hà Thanh, La Tinh… nối liền các vùng núi- đồi- đồng bằng và duyênhải rất thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu hàng hóa giữa miền ngược và miền xuôi QuyNhơn lại có ưu thế về đường biển với 134km bờ biển cùng nhiều cửa biển và đầm phá từthời là vùng đất của Champa, như: Đề Gi, Kẻ Thử, Thị Nại… với các đầm Nước Ngọt,
13 Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội.
14 Borri, Sđd, tr.36
15 Lê Quý Đôn, Sđd, tr 151- 152
10
Trang 11Nước Mặn Nhà hàng hải Maguin từng nhận định: Quy Nhơn là vịnh được cấu tạo cho tầu thuyền trú ẩn một cách tốt nhất.
Điều kiện giao thông thuận lợi cho việc đi lại lẫn giao thương buôn bán Vùng phủQuy Nhơn giàu sản vật, lại nằm dọc bờ biển cùng hệ thống sông ngòi chằng chịt Cho nênnơi đây đã hình thành một thương cảng sầm uất vào thế kỉ XVI- XVIII, cảng Nước Mặn,với nhiều hoạt động trao đổi buôn bán tấp nập trong và ngoài nước
Sơ kết:
Có thể thấy, nơi đây đã hội tụ được những điều kiện thuận lợi cả về địa lý lẫn lịchsử- xã hội và kinh tế Khi kinh tế khu vực đang phát triển, đòi hỏi có một thương cảng đểthuận lợi cho việc giao lưu buôn bán với các vùng khác, và với các thương nhân- thuyềngia nước ngoài Cộng với đặc điểm tự nhiên thuận lợi sẵn có của bờ biển Thị Nại, thươngcảng Nước Mặn đã hình thành và nhanh chóng trở thành trung tâm giao thương buôn báncủa không chỉ với phủ Quy Nhơn mà cả vùng Tây Nguyên và khu vực lân cận
11
Trang 12Chương 2: VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO THƯƠNG CẢNG NƯỚC MẶN
2.1 Quang cảnh thương cảng Nước Mặn:
Trong sách “Xứ Đàng Trong năm 1621”, thừa sai người Bồ Đào Nha Cristophoro Borri miêu tả cảng thị Nước Mặn: “dài chừng hai dặm và rộng tới một dặm rưỡi” Nếu
như mô tả này là đúng với hiện thực thì có thể nói quy mô của thương cảng Nước Mặn làrất lớn Chúng ta có thể hình dung thương cảng Nước Mặn bắt đầu từ bờ Nam sông HàBạc xưa tức là từ thôn An Hòa qua thôn Lương Quang (xã Phước Quang), thôn KimXuyên (xã Phước Hòa), kéo dài đến thôn Tùng Giảng (nơi có cửa sông Hà Bạc), tiếp giápvới Gò Bồi và thôn Bình Lâm, nơi có thành Thị Nại xưa Đây chính là khu vực trung tâmcủa cảng thị Theo GS Đỗ Bang, không gian Nước Mặn không chỉ giới hạn ở riêng vùngnày mà đối với thương khách nước ngoài bao gồm cả khu vực đầm Thị Nại mà đôi khicòn chỉ cả vùng đất rộng lớn của phủ Quy Nhơn.16
Còn tác giả Nguyễn Xuân Nhân cũng cho rằng: “Không nên nhìn vào thực địa hiện nay mà đoán định theo chủ quan của người đời sau mà cho là thừa sai Borri đã ca ngợi quá lời về tầm vóc của cảng thị này” 17 Như vậy, có thể ngoài khu vực trung tâm,
cảng thị Nước Mặn còn bao gồm khu vực lân cận, gồm: khu vực cửa Kẻ Thử đến cửa ThịNại và hạ lưu sông Côn: Gò Bồi, Đập Đá, Gò Găng, An Thái, Phú Đa,… Những khu vựcnói trên đều có những hoạt động buôn bán với vai trò là những điểm thu gom hàng hóa vềcho vùng thương cảng
Bến cảng ở phía đông cầu Ngói; kéo dài đến trước mặt chùa Bà (Thiên Hậu Cung)của con sông Âm Phủ Còn khu phố được khoanh vùng trên thực địa, chiều dài khoảnghơn 1km, bề ngang chừng 500 mét Trước đây lúc cửa Kẻ Thử còn tấp nập ghe thuyền ravào buôn bán, các nhanh sông Âm Phủ, Cây Đa còn rộng và sâu, nước Mặn từ biển vàđầm dâng lên đến đây, thương thuyền vào tận Cầu Ngói để trao đổi buôn bán trực tiếptrên phố cảng của Nước Mặn
16 Đỗ Bang (2000), Đô thị Việt Nam dưới thời Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, tr 130
17 Nguyễn Xuân Nhân (2010), Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền, Nxb Khoa học xã hội, tr 86
12
Trang 13Thời phồn vinh của cảng thị Nước Mặn là từ đầu thế kỷ XVII cho đến giữa thế kỷXVIII Thời ấy, vùng trung tâm cảng thị Nước Mặn có nhiều dãy phố chạy ngang chạydọc như kẻ bàn cờ Có những dãy phố chuyên bán một loại hàng hóa: dãy phố Tàu Sáuchuyên bán vàng bạc và đồ trang sức, dãy phố Tàu Đông có nhiều tiệm thuốc Bắc; ngoài
ra còn có phố hàng mã, hàng pháo, hàng đồ gốm, hàng mỹ nghệ… Sầm uất nhất là khu
phố chợ “Tới ngày chợ phiên, tàu thuyền đậu kín bến, voi chở lâm sản từ miền thượng
về, ngựa thồ hàng từ các thị trấn, thị tứ trong vùng tới Người trong nước, người nước ngoài đủ màu da, nhiều tiếng nói, đi lại nhộn nhịp trên đường phố” 18
2.2 Hoạt động của thương cảng Nước Mặn:
Thương thuyền và thương gia các nước vào Nước Mặn để buôn bán các sản phẩmcủa nước họ và mua về những sản vật của vùng đất Đàng Trong Một thương gia Trung
Quốc cho biết: “Thuyền tự Sơn Nam về chỉ mua được một thứ củ nâu, thuyền từ Thuận Hóa về cũng chỉ mua có một thứ hồ tiêu, nhưng từ Quảng Nam về thì các hàng không món gì không có, các nước phiên không kịp được” 19
Giai đoạn này, thương cảng Hội An đóng vai trò là thương cảng liên vùng, thươngcảng quốc tế, thương cảng chính của Đàng Trong nên tất cả hàng hóa từ các vùng, miềnđều tập trung ở đây cho nên thương cảng Nước Mặn (giống như Thanh Hà) chủ yếu lànơi tập kết hàng hóa của phủ Quy Nhơn và của vùng Tây Nguyên
Phương tiện vận tải hàng hóa tại Nước Mặn tương đối đa dạng, phong phú Nhưngtập trung nhất vẫn là các loại đội thuyền, ghe và ghe bầu nhờ có trọng tải lớn, chuyên chởđược nhiều hàng hóa, lại có thể thực hiện những chuyến đi có hải trình dài Riêng thuyềnvận tải công tại Quy Nhơn có số lượng lên đến 93 chiếc, chỉ thua mỗi Hội An.20 Bên cạnhtàu thuyền, việc sử dụng sức kéo của loài vật để chuyên chở hàng hóa cũng khiến nơi đâynhộn nhiệp hơn khi phủ Quy Nhơn nổi tiếng là nơi có nhiều ngựa và voi Nhà truyền giáo
18 Borri, Sđd, tr 89-90
19 Lê Quý Đôn, Sđd, tr 295
20 Lê Quý Đôn, Sđd, tr 270
13
Trang 14Borri ghi lại rằng: “Chính tôi đã thấy một con voi dùng voi chuyên chở những vật rất nặng, một con khác chuyển một khẩu súng lớn và một con nữa một mình chuyển đến 10 chiếc thuyền, chiếc nọ theo sau chiếc kia, giữa đôi ngà một cách khéo léo và đưa xuống biển”.
Các phương tiện vận tải đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối hàng hóa đếnNước Mặn, từ Nước Mặn đến các thương cảng khác và điều đó cũng chứng tỏ hoạt độngkinh tế thương mại tại thương cảng diễn ra sôi nổi Sự phong phú về nguồn hàng từ cácvụng, đầm làm cho tàu thuyền tập trung rất tập nập
2.3 Tác động của tự nhiên đối với sự suy tàn của thương cảng Nước Mặn:
Từ cuối thế kỉ XVIII, do sự bồi lấp ở cửa Kẻ Thử và những con sông quanhthương cảng Nước Mặn, phía Bắc đầm Thị Nại phù sa ngưng tụ, nâng lòng sông Côn lên,làm các nhánh của sông Côn: sông Hà Bạc, Gò Bồi cũng bị cạn dần và thu hẹp lại Vìvậy, đến đầu thế kỉ XIX, từ sau cuộc chiến tranh Nguyễn- Tây Sơn kết thúc, tàu thuyềntrong và ngoài nước bắt đầu ra vào không thuận lợi Điều đó khiến nhiều thương gia bắtđầu không đưa thuyền vào Nước Mặn (có nguy cơ mắc cạn) và chuyển sang buôn bán ởcác thương cảng khác, như: Gò Bồi, Quy Nhơn…
Theo truyền tụng dân gian, vào thời Gia Long, trời nổ sấm, mở cửa Qui Nhơn vàlấp cửa Kẻ Thử Theo bản đồ địa chất, từ Đề Gi qua núi Bà đến Qui Nhơn có mạch đứtgãy hoạt động từ hơn 500 năm nay, mạch đứt gãy chạy theo hướng Tây Bắc – ĐôngNam Hơn 200 năm trước, ở vùng Đề Gi qua Núi Bà đến Quy Nhơn vết đứt gãy địa chất
có sự kiến tạo đột biến làm cho vùng phía Nam Núi Bà trồi lên một cách bất thường, gọi
là tân kiến tạo.21 Chính hiện tượng này đã nối liền quần đảo Triều Châu phía Bắc với lụcđịa tạo thành bán đảo Phương Mai, tạo điều kiện cho cửa Thị Nại (Quy Nhơn) trở thànhcửa biển duy nhất đi vào cảng Quy Nhơn Còn cửa Kẻ Thử nằm ngay trên mặt đứt gãynầy nên đành chịu sự vùi lấp của nó
21 Đỗ Bang, Sđd, tr.70
14