Triều Nguyễn là một trong những triều đại phong kiến để lại nhiều vấn đề còn gây trái chiều trong giới sử học. Từ những năm 6070 của thế kỷ 20, trong giới sử học hai miền NamBắc đã có một “diễn đàn” lớn để luận về công tội của triều Nguyễn nhất là vấn đề thống nhất đất nước, trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc mất nước, khủng hoảng xã hội dưới thời Nguyễn … Đặc biệt là trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, do tình hình lịch sử lúc đó, trách nhiệm làm mất nước ta vào tay thực dân Pháp cũng như việc Gia Long từng “cõng rắn cắn gà nhà” đã khiến giới sử học miền Bắc phủ nhận toàn bộ công lao, những di sản của vương triều này đối với lịch sử dân tộc. Trong khi đó tại miền Nam, giới sử học ra sức bảo vệ cho vương triều Nguyễn. Nhất là luận điểm Gia Long thống nhất đất nước chứ không phải Quang Trung để cổ súy cho việc “Bắc tiến”, sức mạnh Nam hà sẽ thắng Bắc hà như lịch sử đã diễn ra. Điều này cho thấy, có một thời kì dài chúng ta đánh giá vương triều này qua nhãn quan chính trị chứ không phải của khoa học lịch sử
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 4Một trong những lĩnh vực quan trọng được giới sử học quan tâm đó chính là công cuộc mởmang, kiến thiết đất nước của nhà Nguyễn Vì chúng ta đều biết, triều Nguyễn được thành lậpsau cuộc nội chiến 200 năm đẫm máu giữa các thế lực phong kiến cát cứ ở Đàng Trong, ĐàngNgoài và cuộc tranh chấp giữa Tây Sơn với Nguyễn Ánh Trong nước thì nhân tâm thất tán,lòng người còn nhớ về cựu trào nhất là kẻ sĩ đất Bắc hà Làng mạc thì tiêu điều, theo Ngô Thì
Sĩ cho biết: “trong số 9668 làng xã ở Bắc Bộ thì có 182 xã phiêu tán hoàn toàn, 443 xã phiêután phần lớn, 373 xã phiêu tán vừa hoặc phải nhập vào xã khác, tức là khoảng 10% số xã ởđồng bằng Bắc Bộ lâm vào tình trạng phiêu tán, phá sản Ở trấn Thanh Hoa có 1393 xã thì 297
xã phiêu tán, trấn Nghệ An có 706 xã thì phiêu tán mất 115 xã” Việc khôi phục lại đất nước,thống nhất nhân tâm là một việc quan trọng hàng đầu của nhà Nguyễn buổi đầu lập quốc Đểthực hiện được điều đó nhà Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách cải cách tiến bộ thực hiệntrên nhiều lĩnh vực suốt thời gian dài Và nhờ vào những chính sách này mà nền kinh tế nước
ta không chỉ phục hồi mà còn phát triển, đưa vị thế đất nước nâng cao trong khu vực vào thờibấy giờ Công cuộc khai hoang ở cả hai miền Nam Bắc đã thực sự làm thay đổi bức tranh kinh
tế nông nghiệp đã bị tàn phá trước đó do hậu quả của chiến tranh Nó không chỉ giúp giảiquyết nạn đất đai bị bỏ hoang mà cả vấn đề lưu dân bỏ đất ly hương Bên cạnh đó, về phươngdiện văn hóa, giáo dục, nhà Nguyễn đã tiến hành lập Quốc Tử Giám, mở các khoa thi nhằmđào tạo và tuyển dụng nhân tài cho triều đình Công việc biên soạn quốc sử đã để lại một disản đồ sộ, mà có thể nói chưa một Quốc sử quán của vương triều nào hoạt động hiệu quả nhưvậy Trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phương Tây đang đe dọa chủ quyền các nước trong khuvực, vua Gia Long, Minh Mạng đã ý thức sâu sắc về nguy cơ đó và có những hoạt động điềutra, thăm dò, đồng thời củng cố quốc phòng, tiếp thu các thành tựu kĩ thuật phương Tây 5Chương 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CÔNG CUỘC MỞ MANG VÀ KIẾN THIẾT ĐẤTNƯỚC CỦA NHÀ NGUYỄN 71.1 Tình hình khu vực 71.2 Tình hình trong nước: 9
1
Trang 21.3 Những yêu cầu lịch sử đặt ra cho công cuộc mở mang và kiến thiết đất nước của triều
Nguyễn: 10
2.1 Mở mang đất đai: 12
2.1.1 Chính sách khẩn hoang: 12
2.1.1.1 Vấn đề ruộng đất- yêu cầu bức thiết đặt ra vào nửa đầu thế kỉ XIX: 12
2.1.1.2 Chính sách khẩn hoang của nhà Nguyễn: 12
2.1.2 Triều Nguyễn với việc thực thi chủ quyền trên biển 16
2.1.2.1 Nhận thức của nhà Nguyễn về tầm quan trọng của việc thực thi chủ quyền trên biển: 16
2.1.2.2 Các hoạt động quản lí và thực thi chủ quyền: 17
2.2 Kiến thiết đất nước 20
2.2.1 Củng cố, hoàn thiện thể chế trung ương tập quyền 20
2.2.1.1 Xác lập địa vị Nho giáo 20
2.2.1.2 Tổ chức bộ máy nhà nước 21
2.2.1.3 Chế độ quan lại (quan chế): 23
2.2.1.4 Luật pháp 25
2.2.2 Kinh tế 26
2.2.2.1 Nông nghiệp 26
2.2.2.2 Công nghiệp, thủ công nghiệp 29
2.2.2.3 Thương nghiệp: 32
2.2.2.4 Chế độ thuế khóa: 35
2.2.3 Xã hội 35
2.2.4 Văn hóa, giáo dục 41
2.2.4.1 Văn hóa 41
2.2.4.2 Chính sách giáo dục, đào tạo 43
2.2.5 Tổ chức quân đội và an ninh quốc phòng 47
2.2.6 Ngoại giao 51
2.2.7 Khoa học, kĩ thuật 53
2.2.7.1.Khoa học 53
2.2.7.2.Kĩ thuật 54
3.1 Thành tựu: 56
3.2 Hạn chế: 57
2
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
3
Trang 4MỞ ĐẦU
Triều Nguyễn là một trong những triều đại phong kiến để lại nhiều vấn đề còn gây tráichiều trong giới sử học Từ những năm 60-70 của thế kỷ 20, trong giới sử học hai miền Nam-Bắc đã có một “diễn đàn” lớn để luận về công tội của triều Nguyễn nhất là vấn đề thống nhấtđất nước, trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc mất nước, khủng hoảng xã hội dưới thờiNguyễn1… Đặc biệt là trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, do tình hình lịch sử lúc đó, trách
nhiệm làm mất nước ta vào tay thực dân Pháp cũng như việc Gia Long từng “cõng rắn cắn gà
nhà” đã khiến giới sử học miền Bắc phủ nhận toàn bộ công lao, những di sản của vương triều
này đối với lịch sử dân tộc Trong khi đó tại miền Nam, giới sử học ra sức bảo vệ cho vươngtriều Nguyễn Nhất là luận điểm Gia Long thống nhất đất nước chứ không phải Quang Trung
để cổ súy cho việc “Bắc tiến”, sức mạnh Nam hà sẽ thắng Bắc hà như lịch sử đã diễn ra Điều
này cho thấy, có một thời kì dài chúng ta đánh giá vương triều này qua nhãn quan chính trị chứkhông phải của khoa học lịch sử!
Tuy nhiên từ sau Đổi mới đến nay nhất là từ cuối thế kỷ XX, quan điểm của giới sử họcnước ta đã có sự nhìn nhận khách quan hơn về những đóng góp của nhà Nguyễn đối với lịch
sử dân tộc Liên tục nhiều hội thảo đã được tổ chức để đánh giá về những thành tựu và hạn chếcủa vương triều phong kiến cuối cùng này
1 Xem thêm Văn Tân (9/1959), “Mấy ý kiến đối với quyển Nước Việt Nam, lịch sử và văn hóa của ông Lê Thành Khôi”,
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 7), tr.27-28; Nguyễn Phương, tạp chí Bách khoa (số 149).
4
Trang 5Một trong những lĩnh vực quan trọng được giới sử học quan tâm đó chính là công cuộc
mở mang, kiến thiết đất nước của nhà Nguyễn Vì chúng ta đều biết, triều Nguyễn được thànhlập sau cuộc nội chiến 200 năm đẫm máu giữa các thế lực phong kiến cát cứ ở Đàng Trong,Đàng Ngoài và cuộc tranh chấp giữa Tây Sơn với Nguyễn Ánh Trong nước thì nhân tâm thấttán, lòng người còn nhớ về cựu trào nhất là kẻ sĩ đất Bắc hà Làng mạc thì tiêu điều, theo Ngô
Thì Sĩ cho biết: “trong số 9668 làng xã ở Bắc Bộ thì có 182 xã phiêu tán hoàn toàn, 443 xã
phiêu tán phần lớn, 373 xã phiêu tán vừa hoặc phải nhập vào xã khác, tức là khoảng 10% số
xã ở đồng bằng Bắc Bộ lâm vào tình trạng phiêu tán, phá sản Ở trấn Thanh Hoa có 1393 xã thì 297 xã phiêu tán, trấn Nghệ An có 706 xã thì phiêu tán mất 115 xã” Việc khôi phục lại đất
nước, thống nhất nhân tâm là một việc quan trọng hàng đầu của nhà Nguyễn buổi đầu lậpquốc Để thực hiện được điều đó nhà Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách cải cách tiến bộthực hiện trên nhiều lĩnh vực suốt thời gian dài Và nhờ vào những chính sách này mà nền kinh
tế nước ta không chỉ phục hồi mà còn phát triển, đưa vị thế đất nước nâng cao trong khu vựcvào thời bấy giờ Công cuộc khai hoang ở cả hai miền Nam Bắc đã thực sự làm thay đổi bứctranh kinh tế nông nghiệp đã bị tàn phá trước đó do hậu quả của chiến tranh Nó không chỉgiúp giải quyết nạn đất đai bị bỏ hoang mà cả vấn đề lưu dân bỏ đất ly hương Bên cạnh đó, vềphương diện văn hóa, giáo dục, nhà Nguyễn đã tiến hành lập Quốc Tử Giám, mở các khoa thinhằm đào tạo và tuyển dụng nhân tài cho triều đình Công việc biên soạn quốc sử đã để lại một
di sản đồ sộ, mà có thể nói chưa một Quốc sử quán của vương triều nào hoạt động hiệu quảnhư vậy Trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phương Tây đang đe dọa chủ quyền các nước trongkhu vực, vua Gia Long, Minh Mạng đã ý thức sâu sắc về nguy cơ đó và có những hoạt độngđiều tra, thăm dò, đồng thời củng cố quốc phòng, tiếp thu các thành tựu kĩ thuật phương Tây
Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề tồn tại cần được nghiên cứu trong những chính sáchnhằm mở mang và kiến thiết đất nước của nhà Nguyễn, như: vấn đề ruộng đất tư ngày càng giatăng, chủ trương phục hồi và củng cố hệ tư tưởng Nho giáo, tình hình xã hội không ổn địnhvới rất nhiều khởi nghĩa nông dân nổ ra trong suốt thời Nguyễn Từ triều Tự Đức trở đi, triềuNguyễn ngày càng bộc lộ những hạn chế, bất cập, làm cho thế nước suy yếu để rồi thất bạitrước cuộc xâm lược của thực dân Pháp Trong đó, nổi lên hai vấn đề quan trọng là thái độ của
5
Trang 6nhà Nguyễn đối với xu hướng canh tân và trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mấtnước.
Làm sáng tỏ những ván đề trên sẽ đưa đến một cách nhìn nhận và đánh giá toàn diện, cảtích cực lẫn hạn chế của triều Nguyễn trong công cuộc mở mang, kiến thiết đất nước nói riêng
và trong tiến trình lịch sử Việt Nam nói chung
6
Trang 7Chương 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CÔNG CUỘC MỞ MANG VÀ KIẾN THIẾT
ĐẤT NƯỚC CỦA NHÀ NGUYỄN 1.1 Tình hình khu vực
Đối với các nước phương Tây từ thế kỉ XVIII – XIX có những biến đổi sâu sắc ở cácnước châu Âu, giai cấp tư sản nắm chính quyền công thương nghiệp phát triển nhanh và mạnh.Trong thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, khoa học kỹ thuật có những thành tựu lớntrong thế kỉ ánh sáng Những năm 60, 70 của thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp ở Anhbắt đầu, hàng hóa tư bản của các nước tư bản Âu Mỹ nhanh chóng xuất khẩu ra thị trườngnước ngoài do thị trường trong nước không đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa Các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây nhập vàng bạc, sản vật địa phương vànguyên liệu nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Do nhucầu về thị trường nguồn nguyên liệu, các nước tư bản phương Tây đua nhau tràn sang phươngĐông không những để tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa mà còn tìm đất để đầu tư và nơikhai thác nguyên liệu cho nền công nghiệp chính quốc vì mục đích siêu lợi nhuận của họ.Trước tình hình những biến đổi của xã hội thế giới mà đặc biệt là các nước chủ nghĩa thực dânphương Tây buộc các nước phương Đông phải có những chính sách cải cách, đặc biệt là ViệtNam Đồng thời do nhu cầu phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản trên thế giới thì nguy
cơ bị xâm lược là rất lớn nhất là đối với một nước vừa mới thống nhất, tình hình trong nướccòn gặp nhiều khó khăn
Ở châu Á đầu thế kỉ XIX một số nước vẫn đang ở trong giai đoạn phát triển của chế độphong kiến, đa số các nước ở châu Á có trình độ sản xuất nông nghiệp lạc hậu, năng suất laođộng kém, thương nghiệp và thủ công nghiệp chưa phát triển Đối với các nước ở châu Ánhững năm cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX với sự phát triển của hệ thống chủ nghĩa tư bản ởchâu Âu, chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống thế giới Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đãlàm thay đổi nhanh chóng tương quan lực lượng giữa các nước tư bản sản xuất công nghiệp vànông nghiệp lạc hậu Các nước tư bản đua nhau chiếm dụng những vùng đất trống Ba mươinăm cuối thế kỉ XIX được gắn liền với những cuộc chiến tranh xâm lược do các nước tư bảnthực dân tiến hành ở châu Á Do nhu cầu tìm kiếm thị trường, nguồn nguyên liệu mở rộngphạm vi ảnh hưởng của mình nên nhiều nước châu Á đã trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực
7
Trang 8dân phương Tây Đầu thế kỉ XIX Ấn Độ trở thành thuộc địa của thực dân Anh Năm 1824 thựcdân Anh tiến hành xâm chiếm Miến Điện và lần lượt các nước trong khu vực cũng trở thànhmục tiêu xâm lược của thế lực phương Tây Với sự phát triển chủ nghĩa tư bản vào những nămcuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX hầu hết các nước trong khu vực đều trở thành thuộc địa củachủ nghĩa thực dân phương Tây ngoại trừ Xiêm và Nhật Bản.
Từ thế kỉ XVIII, XIX các nước thực dân phương Tây ra sức chiếm đoạt thị trường thếgiới Ở châu Á các nước Ấn Độ, Indonesia, Mã Lai, Miến Điện, đã bị các nước đế quốc giànhnhau thôn tính Một nước lớn ở châu Á gần kề với Việt Nam là Trung Quốc cũng đã bị cácnước đế quốc biến thành miếng mồi lớn Trước tình hình lúc bấy giờ chính quyền Mãn Thanh
ra lệnh phong tỏa các miền duyên hải, cấm buôn bán với các nước đế quốc Nhưng TrungQuốc là đất có thể mang lại lợi nhuận cao cho các nước tư bản phương Tây nên các nước tưbản đã tìm mọi cách để Trung Quốc phải mở cửa
Đứng trước sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, các nước ở châu Á
đương đầu với những thách thức mang tính thời đại lịch sử Với tình hình này “nhiều nước
phong kiến thi hành chính sách đóng cửa, tuyệt giao để tự vệ Đó là biện pháp tự vệ thụ động
bàn rộng lớn, giàu có trở thành thị trường mà nhiều nước tư bản phương Tây muốn có nhất lúcbấy giờ Từ thời nhà Minh (1368 – 1644) sau đó là nhà Thanh (1644 – 1912) Trung Quốc luôn
đề ra các luật lệ cấm đoán tư nhân làm ăn với nước ngoài hoặc vượt biển tìm kiếm cơ hội buônbán với nước ngoài Năm 1728 triều đình ra qui định khắc khe hơn: nếu ai bỏ nước ra đi thìkhông được trở về Người phương Tây chỉ được giao dịch buôn bán tại một hải cảng duy nhất
là Quảng Châu Trung Quốc đến thế kỉ XIX vẫn thực hiện chính sách ngoại giao với các nướclân cận với tư tưởng Trung Quốc là trung tâm của thế giới, nhưng thế giới trong thế kỉ XIX cónhiều biến động, trong nội bộ đất nước Trung Quốc cũng đối mặt với những khó khăn về kinh
tế, gặp phải sự chống đối của nhân dân đối với triều đình
Trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân tư bản phương Tây, sự phát triển mạnh
mẽ của kinh tế tư bản đã đặt các nước châu Á vào một bối cảnh lịch sử mới đó là phải chốngcác thế lực tư bản phương Tây Trước những diễn biến của tình hình thế giới và khu vực như
2 Vũ Dương Ninh (2010), Lịch sử thế giới cận đại, NXB Giáo dục, tr 323.
8
Trang 9vậy đã đặt ra cho triều đình nhà Nguyễn vấn đề về xu hướng canh tân đất nước Lúc này trướcnhững tình hình trong khu vực như vậy một yêu cầu cấp thiết đặt ra là nhà Nguyễn phải làmnhư thế nào để có thể đảm bảo nền độc lập của nước nhà và làm thế nào để đối diện với sựxâm nhập của chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây đang lớn dần, góp phần vào việc xâydựng và bảo vệ nền độc lập nước nhà
1.2 Tình hình trong nước:
Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu GiaLong, lập ra nhà Nguyễn Việc thống nhất đất nước sau hàng trăm năm bị chia cắt bởi nộichiến chính là tiền đề cho sự mở mang và kiến thiết đất nước Sau khi thống nhất, việc làm đầutiên của vua Gia Long là bắt đầu củng cố và ổn định lại tình hình trong nước- những yếu tốcần thiết cho việc xây dựng lại đất nước
Thay đổi lớn nhất mà vua Gia Long phải đối mặt là việc quản lý một đất nước có cươngvực lãnh thổ rộng lớn Nhà Nguyễn phải thiết lập hệ thống cai trị từ trung ương tới địa phươngtrải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau Nguyễn Ánh chưa chuẩn bị cho việc quản lý một đấtnước rộng lớn lại còn chứa nhiều bất ổn Ông thiết lập hai trấn Bắc thành cai quản vùng đất
Bắc hà và Gia Định thành cai quản vùng đất Nam bộ Các vị tổng trấn có quyền “chém trước
tâu sau” như trường hợp Lê Văn Duyệt chém Huỳnh Công Lý, cha vợ vua Minh Mạng do mắc
tội tham ô Nhưng đến thời Minh Mạng đã bỏ cơ cấu hành chính tản quyền, chia cả nước thành
30 tỉnh và 1 phủ, tất cả đều trực thuộc chính quyền trung ương Sau những cuộc cải cách củaMinh Mạng thì chính quyền phong kiến trung ương tập quyền của họ Nguyễn càng được củng
cố vững chắc, mọi quyền lực tập trung vào vua Những việc làm trên của nhà Nguyễn đã gópphần nhất định trong chính sách đối nội nhằm thiết lập lại kỉ cương trong nước, ổn định chính
sự và lòng người sau hơn 200 năm nội chiến
Trong kinh tế, nhà Nguyễn phải đương đầu với nhiều vấn đề khó khăn Việc tư hữu
ruộng đất diễn ra từ cuối đời Lê gây nhiều hệ lụy cho chính quyền mới: “Phép chia ruộng từ
đời Hán trở xuống đều muốn thi hành mà những nhà thế gia quen thói cho là không tiện rồi việc phải thôi Đến cuối đời Lê thì bọn cường hào kiêm tính mỗi ngày một quá Nay xin phàm điền thổ công tư đều dồn cả về sổ sân, ai có tư điền thì để lại 3 phần 10, còn 7 phần giao cho
9
Trang 10xã dân quân cấp”3 Đồng thời, vấn đề lũ lụt ở Bắc hà luôn là mối lo cho các vua triều Nguyễn.Các năm 1803, 1806, 1819, 1828, 1833, 1840, 1842, 1844, 1847, 1856, 1857 hầu như cả cùngđồng Bắc bộ bị ngập lụt, theo đó là nạn đói, dịch bệnh Trong khi đó, thương nghiệp gần nhưkiệt quệ sau thời gian chiến tranh liên miên, các thương cảng ở thời chúa Nguyễn đã đi vào lụitàn Buôn bán trong nước cũng gặp nhiều khó khăn do sự chia cắt đất nước Dưới thờiNguyễn, quan hệ buôn bán với các nước phương Tây và các nước trong khu vực không phải làhoàn toàn đóng cửa, tuy nhiên hoạt động về thương mại vẫn rất hạn chế do loạn lạc và chính
sách “bế quan tỏa cảng” Lý do ta có thể hiểu là các vua Nguyễn sợ sự xâm nhập và trà trộn
của các nước phương Tây vào nước ta nên dẫn đến đã có những chính sách ngoại giao khépkín và ảnh hưởng không ít đến ngoại thương
Trong lĩnh vực văn hóa, các vua đầu triều Nguyễn rất chú ý tới việc giáo dục và vănhóa Ngay từ đầu, nhà Nguyễn chú trọng vào việc thu phục nhân tài trong nước cả Bắc lẫnNam, lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống để xây dựng nền tảng xây dựng đất nước.Triều Nguyễn bị chi phối bởi tư tưởng “trọng đạo khinh thường lợi” của Nho giáo Tuy nhiên,
do tính chất bảo thủ lạc hậu dưới triều Nguyễn thể hiện khá rõ nét, triều đình nhà Nguyễn coivăn minh phương Tây và Thiên chúa giáo chỉ làm tổn hại đến “đạo nhân luân” và làm lung lạc
ý chí con người Cho nên với họ điều quan trọng nhất là giữ, làm theo cái đã có, đang có đó làNho giáo, đặc biệt trong quan hệ ứng xử ngoại giao
Chính tình hình trong nước với những vấn đề như vậy thật sự là thách thức không nhỏkhi triều Nguyễn bắt đầu thực hiện công cuộc mở mang và kiến thiết đất nước
1.3 Những yêu cầu lịch sử đặt ra cho công cuộc mở mang và kiến thiết đất nước của triều Nguyễn:
Từ bối cảnh trong và ngoài nước như thế, có thể nói, lịch sử đã đặt ra cho triều Nguyễnhai vấn đề cấp bách:
Thứ nhất, nhà Nguyễn cần nhanh chóng ổn định tình hình trong nước, thiết lập nền caitrị trên toàn lãnh thổ và vực dậy nền kinh tế bị tàn phá trong chiến tranh Bởi, đất nước màvương triều Nguyễn tiếp quản là một đất nước có cương vực hết sức rộng lớn, có thể nói làrộng lớn nhất trong lịch sử: từ ải Nam quan đến mũi Cà Mau Biên giới lãnh thổ tiếp giáp với
3 Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 1,NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.555.
10
Trang 11rất nhiều nước như: Mãn Thanh, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Chân Lạp, Xiêm La,… Việc giữgìn biên giới sẽ là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong chính quốc phòng -ngoại giao của triều Nguyễn Đồng thời, đất nước sau hơn 200 năm loạn lạc, nhân tâm thất tán,vấn đề thu phục lòng người về một mối hết sức khó khăn Nhất là nhiều nơi, lòng người cònnhớ về cựu trào Tây Sơn hay xa hơn nữa là nhà Lê Đất nước thì tiêu điều, ruộng đất bỏ hoang,làng mạc xiêu tán, nạn lưu dân, cùng với thiên tai, lũ lụt… Những thách thức về đối nội nàynếu không sớm được giải quyết sẽ gây ảnh hưởng đến sự ổn định của đất nước, tạo điều kiệncho các thế lực bên ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây đẩy nhanh quá trình xâm lượcnước ta.
Thứ hai, nhà Nguyễn cần có những chính sách quốc phòng- ngoại giao phù hợp nhằmtăng cường thế và lực của đất nước Trong thời điểm tình hình thế giới có nhiều thay đổi lớn,các nước phương Tây không ngừng thực hiện các cuộc chiến tranh xâm lược nhằm tìm kiếmthuộc địa Nước ta lại vừa mới thống nhất sau chiến tranh, thế và lực còn chưa vững Hơn aihết, vua Gia Long hiểu được sức mạnh và dã tâm của phương Tây Vì vậy yêu cầu kiến thiếtđất nước cần đặt hàng đầu, trong đó có việc củng cố quốc phòng và linh hoạt trong ngoại giao
Chính từ hai yêu cầu mang tính lịch sử nêu trên đã góp phần định hình cho công cuộc
mở mang và kiến thiết đất nước của triều Nguyễn
11
Trang 12Chương 2: NHÀ NGUYỄN TRONG VIỆC MỞ MANG, KIẾN THIẾT ĐẤT NƯỚC 2.1 Mở mang đất đai:
2.1.1 Chính sách khẩn hoang:
2.1.1.1 Vấn đề ruộng đất- yêu cầu bức thiết đặt ra vào nửa đầu thế kỉ XIX:
Bước sang thế kỉ XIX, tình hình nông nghiệp Việt Nam đã đặt ra cho nhà Nguyễnnhững thách thức: sự phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu ruộng đất Căn cứ vào địa bạ thờiGia Long, thì có những tỉnh như Phú Yên không có công điền Hoặc như tại trấn Sơn Tây, SơnNam Thượng và Sơn Nam Hạ có đến hơn 200 xã thuộc 10 huyện không có ruộng công4 Cóthể thấy từ những năm 30 của thế kỉ XIX, ruộng đất tư đã chiếm một tỉ lệ lớn so với ruộngcông Nguyễn Công Trứ khi lãnh doanh điền sứ đã dâng sớ xin trừ nạn cường hào, lời tâu rằng:
“Có công điền thổ thì chúng thường bày việc thuê mướn làm béo mình, nhưng dân ngheo không kê cứu vào đâu được Giáo hóa không thấu xuống dưới, đức trạch không kéo khắp nơi Chưa hẳn là không bởi đó Thậm chí còn ẩn lậu đinh điền, ruộng đến nghìn mẫu không nộp thuế chỉ đầy túi cho hào cường, đinh đến trăm suất chỉ phục dịch riêng cho bọn nó Nay xin
Thêm vào đó, chế độ tô thuế nặng nề, thiên tai lụt lội, hạn hán đã gây ra nạn đói ở Bắc
Hà, khiến nhiều nông dân phiêu tán, nhiều đồng ruộng bỏ hoang Đặc biệt là dưới thời vua GiaLong và Minh Mạng Tình trạng này cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những cuộc khởinghĩa nông dân, tập trung chủ yếu tại các trấn Bắc Thành, Thanh Hóa, Nghệ An,… Trong tìnhtrạng xã hội bấy giờ, giải pháp để ổn định kinh tế- xã hội, điều hòa mâu thuẫn giai cấp chỉ cóthể bằng việc giải quyết ruộng đất cho nông dân để ổn định cuộc sống của họ và tạo điều kiệncho sản xuất phát triển Vì vậy khẩn hoang trở thành yêu cầu bức thiết được đặt ra trong việckiến thiết kinh tế- xã hội đất nước thời kì này
2.1.1.2 Chính sách khẩn hoang của nhà Nguyễn:
Các đời vua từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đều rất chú trọng đếnviệc khai hoang Trong khoảng từ năm 1802 đến năm 1858, triều Nguyễn đã ban hành 46quyết định khai hoang với các lực lượng được huy động tối đa (cả tù binh và tội phạm) và
4 Kỉ yếu hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, Sđd
5 Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại nam thực lục chính biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội
12
Trang 13nhiều phương thức khẩn hoang khác nhau như: đồn điền, doanh điền, tư nhân được Nhà nướccấp vốn và tư nhân khai khẩn tự do6
Ngay từ những năm 1802, 1803 Gia Long đã hạ lệnh cho quan lại khuyến khích nhândân đo đạt ruộng đất khai hoang ghi vào sổ địa bạ, quân sĩ phục hóa Đến năm 1806 do thiếuđất cày đời sống nhân dân khó khăn, phiêu tán vì đói đến 108 xã, ruộng đất bỏ hoang hơn
12.700 mẫu (theo Quốc Triều điều lệ lược biên).7
Đối với các trấn ở Bắc Thành, những nơi có ruộng hoang hóa và dân tự nguyện làm
đơn xin khai khẩn thì Nhà nước cho phép và ruộng khai khẩn được thì trở thành ruộng tư Năm
1831, vua Minh Mạng ra thông cáo cho tất cả mọi người dân trong nước đều được làm đơn xinkhai khẩn đất hoang chỗ nào tùy ý Được 3 năm Nhà nước mới ghi chép lại số lượng diện tích,
3 năm nữa Nhà nước mới bắt đầu thu thuế8 Nhờ chính sách động viên và khuyến khích này, ởnhững vùng ven biển, có lịch sử khai hoang từ trước, vẫn tiếp tục được nhân dân khai khẩn đấthoang và thành lập làng, ấp mới Tổng Quần Anh (vùng Hải Hậu) được khai khẩn từ thế kỉ
XV, sang thế kỉ XIX vẫn tiếp tục tiến hành
Một hình thức khai hoang đáng chú ý nhất ở đồng bằng Bắc Bộ trong nửa đầu thế kỉ
XIX đó là hình thức “doanh điền” do Nguyễn Công Trứ đề xuất và thực hiện với danh nghĩa
Doanh điền sứ của nhà Nguyễn Hình thức này được áp dụng lần đầu vào năm 1828 ở vùng
ven biển Nam Định và Ninh Bình thuộc đồng bằng Bắc Bộ Đây là hình thức kết hợp giữa nhànước và nhân dân trong khai hoang vừa giải quyết nạn đói vừa tạo lập thêm làng ấp mới trong
đó lớn nhất thành lập 2 huyện: Tiền Hải( Thái Bình) với 18.970 mẫu, 2350 đinh, Kim Sơn(Ninh Bình) với 14.620 mẫu, 1260 đinh Dân khai hoang được Nhà nước cấp một phần nhuphí trong quá trình đi khai hoang.9
6 Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang (1997), Tình hình ruộng đất, kinh tế nông nghiệp và đời sống nhân dân dưới triều Nguyễn,
Nxb Thuận Hóa, tr 43
7 Kỉ yếu hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn (2008), Nxb Thế giới, Hà Nội, tr 480
8 Kỉ yếu hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn (2008), Nxb Thế giới, Hà Nội, tr 481
9 Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, Sđd, tr 779
13
Trang 14Đơn vị Số đinh Tiền mua
trâu bò
Tiền mua nông cụ
Tiền làm nhà
Tổng cộng
Các khoản chi cấp trên đây, Nhà nước không cấp bằng tiền mà phát bằng hiện vật chongười khai hoang Cứ năm người thì phát một con trâu, một cái bừa, một cày, một móng, mộtcuốc và một liềm, sức các ông chiêu mộ lĩnh về cấp phát10 Mỗi người dân còn được cấp lương
ăn trong 6 tháng Có thể thấy, sự trợ cấp của Nhà nước là nguồn động viên và hỗ trợ quantrọng cho quá trình khai hoang
Cùng lúc đó cũng xuất hiện 2 hình thức “tư điền thế nghiệp” và “tư điền quân cấp”.
Nhờ những chính sách khai hoang đó mà diện tích ruộng đất lên tới 4.273.013 mẫu (1847)
Còn đối với vùng đất phía Nam, quá trình khai hoang có thể chia làm 2 giai đoạn:
Từ đời vua Gia Long đến cuối đời Minh Mạng: chủ yếu tập trung khai khẩn phía hữu
ngạn sông Hậu, nối qua vùng đồi núi Thất Sơn, khu vực đồi núi thấp Thời gian này đã lập nêntỉnh An Giang, tách ra từ trấn Vĩnh Thanh.11
Theo lệ, về đất ruộng, ở nơi có đồi núi và có đồng bằng được phân thành sơn điền vàthảo điền Sơn điền có năng suất kém, thảo điền có năng suất cao, vì vậy trong việc quy địnhthuế điền, luôn luôn thảo điền chịu thuế cao hơn Ở vùng Nam Bộ, để tiện việc thuế khóa vàkhuyến khích người dân khai hoang, nơi nào đất mới trưng khẩn thì khai là sơn điền (mặc dùkhông có núi) để chịu thuế nhẹ, vài năm sau, khi đất đã thành thục thì nâng lên làm thảo điền
Nhận ra được tầm quan trọng của vùng đất Chấu Đốc, Hà Tiên, trước khi muốn pháttriển về kinh tế cho vùng này, vua Gia Long ra lệnh cho Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu)đào con kinh Thoại Hà vào năm 1817 Bên cạnh, để bảo vệ an ninh biên giới khu vực này, vuaGia Long lại tiếp tục cho đào còn kinh Vĩnh Tế nối liền Châu Đốc với Hà Tiên Ông cho rằng:
“công trình đào sông ấy rất khó Việc nhà nước và cách phòng giữ bờ cõi quan hệ rất lớn Bọn
10 Kỉ yếu hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn (2008), Nxb Thế giới, Hà Nội, tr 482
11 Sơn Nam (2014), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Trẻ, Tp HCM, tr 22
14
Trang 15ngươi tuy khó nhọc một lần nhưng lợi ích cho muôn đời sau, phải bảo nhau biết, chớ nên sợ
Vua Minh Mạng đặc biệt khuyến khích việc lập ấp ở vùng Châu Đốc Vua phán: “Đó là
vùng biên giới quan trọng của quốc gia, trẫm muốn vì nhận dân mà giữ gìn cho nên phải đặc biệt chú ý tới việc cai trị Dó chính là kế hoạch biên phòng Còn vấn đề thuế khóa đinh điền,
lệnh “những xóm làng tân lập được miễn thuế thêm ba năm nữa Riêng thuế than, thuế điền
Từ đời Thiệu Trị đến đời Tự Đức: khai khẩn những điểm chiến lược nhằm đề phòng nổi
loạn ở phía Hậu Giang, chính sách đồn điền được thúc đẩy mạnh Thời vua Thiệu Trị, vua chođào thêm con kinh nối liền Tiền Giang và Hậu Giang phục vụ cho mục đích quân sự Các cơ
sở đồn điền ở Biên Hòa, Định Tường được giao lại cho dân địa phương cày mà nạp thuế làmruộng công, lính khai thác đồn điền được cho hồi hương Ở Tây Ninh cũng được xúc tiến lậpđồn điền từ năm 1843
Đến đời vua Tự Đức đẩy mạnh việc lập đồn điền, lập ấp nhằm: giữ giặc và yên dân.Hình thức lập đồn điền là dân sống tập trung làm lính đồn điền, đây là hình thức bán quân sự,khai hoang kết hợp với kinh tế quốc phòng Hình thức đồn điền được triển khai: Đồn điền dobinh lính khai khẩn, đồn điền do dân khai khẩn, người bị lưu đày, người Hoa và một số dân tộcthiểu số Một số đồn điền được khai phá như Quảng Ngãi, Mỹ Tho, Hà Tiên…
Ai mộ được 50 người thì tổ chức thành một đội, người mộ được làm suất đội Về sau,khi cày cấy có hiệu quả, đội được cải ra thành ấp, viên suất đội thành ấp trưởng, theo quy chếdân sự Còn ai mộ được 500 người thì tổ chức thành 1 cơ (10 đội), người mộ được bổ nhiệmlàm chánh đội, sau này cơ này trở thành tổng, theo quy chế dân sự.15
Mục đích của việc làm này là mở rộng diện tích đất canh tác, tăng sản lượng lươngthực, giải quyết được nhu cầu lương thực cho binh lính, nhà nước có thêm thu nhập, góp phầncủng cố quyền thống trị nhà nước, đảm bảo an ninh quốc phòng tại những biên cương hải đảo.Các đồn điền phát triển có sự chuyển hóa thành làng xã, khu định cư dân sự, trở thành làng ấp
12 Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sđd, tr 86
13 Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sđd, tr 86
14 Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sđd, tr 86
15 Kỉ yếu hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, Sđd, tr 354
15
Trang 16Trông chính sách phát triển đồn điền một cách linh hoạt và rộng khắp thì quân sự hóa đồn điềnluôn được duy trì chặt chẽ, thời Minh Mạng đã ban hành những quy định khuyến khích quân
sự đồn điền để họ yên tâm làm ruộng, năm 1826 các lính đồn điền ở Quảng Ngãi được phépgiữ lại ½ sản phẩm để dùng Ví dụ: Khánh Hòa khẩn 140 mẩu, thu 2.300 hộc thóc, thưởng 100quan
Chế độ đồn điền được khuyến khích phát triển như vật để phục vụ chính sách cai trị củanhà nước, kết quả của chính sách khai hoang bằng biện pháp đồn điền được đánh giá cao, quanlại địa phương ủng hộ nhiều
Năm Thiệu Trị thưởng tiền cho những ai mộ được khai khẩn những nơi còn bỏ hoang,tiền thưởng gia tăng theo con số mộ được đất khai hoang
Bên cạnh chính sách đồn điền, nhà Nguyễn cũng không ngừng phát triển việc mộ dânlập ấp là hình thức dân sống theo quy chế dân sự, không bị câu thúc nhiều, con số tối thiểu đểlập một ấp là mười người, đủ số ấy mới được chọn đất mà khai khẩn, lập bộ Mười người ởđây là mười người dân cam kết chịu thuế, còn những lưu dân đến sau thì không tính Khi đấttrở thành thành thuộc thì vùng này sẽ trở thành làng
Có thể thấy để giải quyết vấn đề ruộng đất, nhà Nguyễn đã thực hiện nhiều chính sách,tùy thuộc vào tình hình của từng vùng miền Tuy nhiên, nhìn chung các chính sách đều hướngđến việc mở rộng lãnh thổ, phát triển đồn điền và kinh tế tại những vùng đất mới, tạo điều kiệncho người dân khẩn hoang yên tâm khai phá Điều đó giúp giải quyết phần nào nạn lưu dân,đất đai bị bỏ hoang trong khi nhân dân khó khăn, thiếu đất canh tác Bên cạnh còn đi kèm vớiviệc bảo vệ cương vực lãnh thổ và vùng biên giới của đất nước
2.1.2 Triều Nguyễn với việc thực thi chủ quyền trên biển.
2.1.2.1 Nhận thức của nhà Nguyễn về tầm quan trọng của việc thực thi chủ quyền trên
biển:
Ngay sau khi thành lập vương triều, đến năm 1803, vua Gia Long đã cho lập lại độiHoàng Sa và năm 1815 sai Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra thăm dò đường biển Đếnnăm sau, 1816, vua lại sai thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra khảo sát quần đảo này Điều đó cho
thấy vua Gia Long và triều Nguyễn đã bước đầu nhận ra tầm quan trọng của biển “Xứ Hoàng
16 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 1, Nxb Khoa học xã hội, tr 898
16
Trang 17Như vậy, ngay từ những ngày đầu sau khi thống nhất đất nước, triều Nguyễn đã chothành lập đội Hoàng Sa- đơn vị chuyên dụng có nhiệm vụ khai thác kinh tế và thực thi chủquyền nước ta trên biển Vua Minh Mạng đã cho khảo sát điều độ khu vực Hoàng Sa trongnhững năm 1834, 1835, 1837, 1838 Triều đình điều động một bộ phận quân đội, chủ yếu làthủy binh và một số nhân viên chuyên trách việc thăm dò hải trình tham gia vào các đợt khảosát này Ngoài ra, trong tổng số hơn 85 nghìn châu bản hiện còn được lưu giữ tại Trung Tâmlưu trữ Quốc gia I, có 19 châu bản liên quan trực tiếp đến việc quản lí hành chính và tổ chứchoạt động trên quần đảo Hoàng Sa Qua các châu bản có thể thấy mọi hoạt động liên quan đếnHoàng Sa- Trường Sa đều phải tâu trình lên nhà vua và do nhà vua quyết định, phe chuẩn Đếnthời Nguyễn, đặc biệt dưới thời vua Minh Mạng, việc quản lý và thực thi chủ quyền trên biểnĐông được nâng lên cấp quốc gia do vua trực tiếp chỉ đạo và điều hành thông qua bộ máy triềuđinh và chính quyền những tỉnh liên quan Có thể nói công việc quản lí và thực thi chủ quyền
đã được nhà Nguyễn nâng lên cấp quốc gia ở trình độ cao nhất và do nhà vua trực tiếp chỉ đạoquyết định
2.1.2.2 Các hoạt động quản lí và thực thi chủ quyền:
- Khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ:
Việc đo đạc đã được thực hiện từ thời chúa Nguyễn và đầu thời Nguyễn Nhưng đếnthời Minh Mạng công việc này mới được xem là trọng yếu, được tổ chức chặt chẽ và có nhiềutiến bộ Đo đạc bao gồm đo độ nông sâu của đường biển và đo độ ngắn dài, rộng hẹp của cácđảo, bãi cát để vẽ thành bản đồ
Yêu cầu đo đạc vẽ bản đồ từ năm 1836 được bộ Công tâu lên nhà vua quy định rất cụ
thể: “Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều
dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, tình hình hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhắm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm Lại từ xứ ấy trông vào
bờ bến, đối thẳng vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào,
17
Trang 18phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình
17
Như vậy phải đo đạc chu vi, kích thước các chiều, độ nông sâu từng hòn đảo, bãi cát,khảo sát cả bãi đá ngầm, tình trạng hiểm trở và thủy trình từ cửa biển trong bờ ra các đảo ấy,ước tính số dặm Tất cả đều phải ghi lại trong nhật kí Hạn chế lớn nhất của đo đạc và vẽ bản
đồ thời Nguyễn so với phương Tây là chưa thể xác định tọa độ
Sau nhiều lần khảo sát, nhà Nguyễn đã đi đến một nhận thức bao quát về quần đảo
Hoàng Sa- Trường Sa: cả hai vùng này gọi chung là “Hoàng Sa” và phân biệt làm 4 sở, ba sở
ở phía Bắc và một sở ở phía Nam
Bản đồ “Đại Nam nhất thống toàn đồ” (1838) thời Minh Mạng thể hiện đường cong bờ
biển và hình hài đất nước tương đối chính xác Trên đó có thể hiện vùng Hoàng Sa rộng lớn
Có thể thấy, mặc dù vẫn còn lạc hậu về kĩ thuật đo đạc, vẽ bản đồ nhưng hoạt động này
đã góp phần khẳng định ý thức khẳng định chủ quyền của nhà Nguyễn đối với biển đảo
- Cắm mốc giới, dựng bia miếu:
Năm 1836, đội Khảo sát Hoàng Sa do Chánh đội trưởng thủy quân Phạm Hữu Nhậtđứng đầu Trên thuyền mang theo 10 cọc gỗ gọi là mộc bài có khắc rõ kích thước và dòng chữ:
“Minh Mạng thập thất niên”.18 Đây là cách cắm mốc giới, biểu thị chủ quyền quốc gia với nămtháng chính thức của vương triều
Nhà Nguyễn còn chủ trương trồng cây, dựng miếu và lập bia trên Hoàng Sa Năm 1833,
vua Minh Mạng phái người đến trồng nhiều cây để “sau này cây cối xanh tốt, to lớn, người dễ
phân biết, ngõ hầu tránh được nạn mắc cạn.” Năm 1835 lại cho lập miếu và dựng bia trên
Hoàng Sa
- Thu lượm sản vật, của cải:
Vùng Hoàng Sa có nhiều sản vật như: chim, cá, san hô, đồi mồi,… mà Lê Quý Đôn vàcác sách địa lí đã miêu tả từ thế kỉ XVIII- XIX Tuy nhiên, hai quần đảo này lại là vùng hiểmyếu, có nhiều bãi cát đá ngầm, gay tai nạn cho tàu thuyền qua lại Một số tàu thuyền qua đây bịnạn để lại một số vũ khí, của cải các loại Công việc khai thác khoáng vật có từ thời các chúa
17 Tạp chí Xưa và Nay (2014), Đặc khảo Hoàng Sa- Trường Sa , tr 13, 14
18 Tạp chí Xưa và Nay (2014), Đặc khảo Hoàng Sa- Trường Sa , tr 15
18
Trang 19Nguyễn và được duy trì dưới triều Nguyễn Đoàn khảo sát năm 1838 thu được một đại bácbằng đồng, các loại đá san hô nhỏ, các loại chim, rùa,…
Nguồn thu này không lớn và thất thường nên không phải là mục tiêu chủ yếu của cácđoàn khảo sát Hoàng Sa
- Cứu hộ thuyền viên nước ngoài:
Với địa thế hiểm trở, nhiều tàu buôn nước ngoái đã bị mắc cạn ở đây Nhiều tàu trong
số đó đã được chính quyền nhà Nguyễn cứu hộ Điều đó được ghi nhận trong nhiều châu bảntriều Nguyễn cũng như các tư liệu nước ngoài
Trong các châu bản vào năm Minh Mạng thứ 11 có ghi lại sự kiện tháng 6/1830, mộttàu buôn của Pháp mắc cạn, Thủ ngự Đà Nẵng đã lập tức cho thuyền tuần tiễu ở cửa tấn mangnước ngọt ra biển tìm kiếm Cuối cùng, thuyền tuần tĩu đã gặp, đưa thuyền chủ thuyền cùngphái viên và 15 thủy thủ về cửa tấn, người và của cải vẫn an toàn19
Một trường hợp nữa được chép lại trong Đại Nam thực lục Năm 1836, một thuyền
buôn của Anh Cát Lợi đi qua Hoàng Sa bị mắc cạn và vỡ đắm, hơn 90 người trôi dạt vào bờbiển Bình Định Vua Minh Mạng nghe tin, giao cho tỉnh thần lo nơi trú ngụ, cấp tiền gạo, lạiphái Thị vệ Thông ngôn đến thăm hỏi, ban cho thuyền trưởng, đầu mục vải vóc, rồi sai pháiviên đem họ đến Hạ Châu đưa về nước Sự giúp đỡ đó làm họ cảm kích vô cùng.20
2.1.3 Sơ kết:
Nhà Nguyễn thành lập trong bối cảnh đất nước đối mặt với vô vàn khó khăn sau thờigian dài chia cắt và loạn lạc Nhiều vấn đề bức thiết cần giải quyết ngay được đặt ra, nhất là về
đất đai Với tư tưởng “dĩ nông vi bản”, việc phát triển kinh tế nông nghiệp vẫn là mấu chốt
hàng đầu của nền kinh tế Nhà Nguyễn đã có những chính sách tiến bộ trong vấn đề ruộng đấtnhằm khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, đào kênh, lập ấp Điều này không chỉ giúp nhàNguyễn phần nào giải quyết được vấn đề ruộng đất ở cả hai miền Nam- Bắc, thúc đẩy pháttriển kinh tế, mà còn giúp yên dân và bảo vệ lãnh thổ phía Nam Tuy nhiên, chính sách khaihoang có phần thoáng của nhà Nguyễn đã làm nảy sinh vấn đề gia tăng chiếm dụng ruộng đất
tư của các địa chủ, làm giảm ruộng đất công
19 Tạp chí Xưa và Nay (2014), Đặc khảo Hoàng Sa- Trường Sa , tr 16
20 Tạp chí Xưa và Nay (2014), Đặc khảo Hoàng Sa- Trường Sa , tr.16
19
Trang 20Dưới triều Nguyễn, các hoạt động quản lí và thực thi chủ quyền đối trên biển được tổchức đều đặn và nâng lên một trình độ mới Do nhận thức sâu sắc về vị thế quan trọng của hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (lúc bấy giờ gọi chung là xứ Hoàng Sa) là “cương vực trên
biển” nên nhà Nguyễn nâng công việc quản lí và thức thi chủ quyền đối với hai quần đảo này
lên tầm quốc gia, đặt dưới sự tổ chức và điều hành của triều đình do nhà vua trực tiếp chỉ đạo
và phê duyệt Đó là một nhận thức sâu sắc và thái độ trách nhiệm cúa nhà Nguyễn đối với chủquyền trên hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa
Những nội dung quản lý và thực thi chủ quyền trên biển được phản ánh qua nhiều tưliệu, như: bản đồ, các bộ chính sử, hội điển, châu bản… Nhưng quan trọng nhất vẫn là châubản vì nó mang tính chất quốc gia, mang tính pháp lí cao nhất của quốc gia theo chế độ quânchủ tập quyền
2.2 Kiến thiết đất nước
2.2.1 Củng cố, hoàn thiện thể chế trung ương tập quyền
2.2.1.1 Xác lập địa vị Nho giáo
Nhà Nguyễn chủ trương lấy Nho giáo làm khuôn vàng thiết ngọc cho việc cai trị, đảmbảo sự thống trị vững chắc về mặt tư tưởng nhà nước Tư tưởng đó được hàm chứa trong ngũkinh: dịch, lễ, thi, thư, Xuân thu và Tứ thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung)
Tư tưởng Khổng giáo còn được vua Minh Mạng áp dụng cho dân gian qua 10 Huấn dụ
vào năm 1834, đề cao nguyên tắc Nho giáo Mười điều giáo huấn gồm: Đôn nhân luận (giữ vững tam cương ngũ thường); Chính tâm thuật (giữ tâm địa ngay thẳng); Vụ bản nghiệp (chăm nghề nghiệp gốc); Thượng tiết kiệm (chuông sự tiết kiệm); Hậu phong tục (giữ phong tục cho thuần hậu); Huấn tử đệ (dạy dỗ con em); Sùng chính đạo (chuộng đạo chính); Giới dâm thắc (răn giữ những điều gian tà dâm dục); Thận pháp thủ (cố giữ pháp luật); Quản thiện hạnh
(rộng lòng từ thiện)
Vua Gia Long cho lập Văn Miếu, trấn thờ Khổng tử Quốc tử giám được thành lập dạycho các quan sĩ tử mở khoa thi chọn ra người làm quan, tất cả mọi người đều được tham dự.Nhìn chung chương trình học nặng nề tư tưởng Nho giáo
20
Trang 212.2.1.2 Tổ chức bộ máy nhà nước
Năm 1802, Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, thiết lập vương triều Nguyễn, kế thừa đượcnhững thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nướclàm chủ được một vùng lãnh thổ rộng lớn từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau Năm 1804, GiaLong đặt quốc hiệu là Việt Nam Sự thống nhất về lãnh thổ đã giúp nhà Nguyễn xây dựng một
cơ chế quân chủ tập quyền mạnh mẽ với một bộ máy hành chính và một thiết chế vận hànhquy củ, chặt chẽ, hoàn thiện nhất, đặc biệt là sau cải cách của Minh Mạng (1831-1832) đánhdấu thời kì hưng thịnh
Về cơ bản vẫn giữ ngyên hệ thống quan chế cơ cấu chính quyền trung ương giống nhưcác triều đại trước Đứng đầu là vua nắm toàn bộ quyền lực, thâu tóm mọi công việc từ trungương đến địa phương Để có quyền lực cao hơn thì triều Nguyễn đặt ra lệ tứ bất: không đặtchức tể tướng, không lấy học vị trạng nguyên, không lập hoàng hậu, không phong vương NhàNguyễn thiết lập hệ thống chính trị trên toàn quốc phục vụ quyền lợi cho dòng tộc mình
Dưới vua gồm có 6 bộ: bộ Lại, bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình, bộ Công chịu tráchnhiệm các công việc chung của nhà nước Đứng đầu mỗi bộ là thượng thư giúp việc cho
thượng thư là các quan chức tả hữu tam tri, tả hữu thị lang Giúp việc 6 bộ còn có bốn tự: thái
thường tự, hồng lô tự, thái bộ tự, quang lộc tự, đứng đầu tự là thiếu khanh và tự khanh Bên
cạnh đó còn có Hàn lâm viện, Nội tào, Ty thông, Quốc tử giám, Thái y viện, Tào chính, Hành
nhân….
Gia Long tăng cường tổ chức, kiểm soát, giám sát các quan lại và tổ chức hành chính ở
triều đình cũng như ở địa phương Đô sát viện tức là ngự sử đài bao gồm cả 6 khoa: khoa binh,
khoa hình, khoa lễ, khoa công, khoa lại, khoa hộ giám sát hoạt động của các quan lại Đây là
cơ quan hoạt động độc lập không chịu sự kiểm soát bất kì cơ quan nào ngoài nhà vua Hàn
lâm viện phụ trách sắc dụ công văn, phủ nội vụ phụ trách kho tàng, Quốc Tử Giám phụ trách
giáo dục, Thái y viện là nơi lo thuốc thang, chữa bệnh trong cung
Nhà Nguyễn thi hành biện pháp phân quyền tạm thời: kinh đô là Dinh Quảng Đức sau
đó đổi thành phủ Thừa Thiên, 11 trấn Bắc Hà Cũ thành một tổng trấn gọi là Bắc Thành, 5 trấn
ở cực nam cũ gọi là Gia Định thành đứng đầu chức tổng trấn có quyền xử lí mọi việc sau đótâu lên vua Dưới trấn các đơn vị phủ do tri phủ đứng đầu, huyện do tri phủ cai quản, châu thì
do tri châu phụ trách, dưới huyện là cấp tổng, xã có lí trưởng Bắc thành và Gia Định Thành là
21
Trang 22hai đơn vị hành chính địa phương lớn nhất trực thuộc trung ương có đầy đủ bộ máy cai trị nhưmột triều đình thu nhỏ.
Đến thời Minh Mạng có nhiều thay đổi, củng cố chế độ quân chủ chuyên chế, quốc gia
được thống nhất Giúp vua giải quyết các giấy tờ, văn thư và ghi chép có Thị thư phòng (thời Gia Long) sang thời Minh Mạng đổi tên là Văn thư phòng, năm 1829 thì chuyển thành Nội
các Về việc “quân quốc trọng sư” (là cơ quan tư vấn cho nhà vua những vấn đề trọng yếu của
quốc gia), thành viên của Viện có tứ trụ đại thần: 4 vị đại điện học sĩ có hàm từ tam phẩm trở
lên được vua chỉ định, sau đó chuyển thành Viện cơ mật (1834) Ngoài ra còn có thêm Tông
nhân phủ phụ trách các việc cho hoàng gia, Quang lộc tự, Doanh điền sứ, Tào chính ty, Ngũ quân đô thống sứ,…
Các đơn vị hành chính cấp thành, trấn bị bãi bỏ thống nhất tên gọi đơn vị trong cả nước
là liên tỉnh Cả nước 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên, các tỉnh do Tổng đốc đứng đầu, có Tuần
phủ giúp việc (phụ trách một tỉnh), giúp việc có hai ty là Bố chính sứ ty phụ trách thuế, ruộng đất và Ấn sát sứ ty phụ trách về giao thông và trạm dịch Quan võ thì có Đề đốc và Lãnh binh,
… Tổng đốc thường kiêm quản hai đến ba tỉnh, tỉnh nhỏ thì Tuần phủ phụ trách (các quan
đứng đầu tỉnh thường là võ quan cao cấp) Quan chức địa phương chủ yếu do trung ương bổnhiệm chịu trách nhiệm trước hai cấp: Tổng đốc – Tuần phủ và Trung ương Dưới tỉnh là phủ,huyện (châu), tổng, xã
Tóm lại, cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền nhà Nguyễn ngày càng được hoàn chỉnhnhưng vẫn có hạn chế: là một nhà nước quân chủ tập trung quan liêu chuyên chế nặng nề.Hoàng đế là Giáo chủ, nhà làm luật và quan tòa tối cao Mọi chức vụ đều phụ thuộc vào nhàvua và để quyền bính của mình được tôn trọng, nhà vua không ngần ngại giáng cấp cả những
vị quan cao nhất Từ điều này, hàng ngũ quý tộc không thể dùng quyền lực của mình cân bằngquyền lực với nhà vua như các triều đại trước
Sơ đồ bộ máy nhà nước triều Nguyễn
22
Đô sát viện Bố
chánh Ánsát
Đốc
Tri phủ Tri huyện Cai tổng
Hội đồng hương chức Dân chúngGiáo thụHuấn đạo
Hoàng đế
Trang 232.2.1.3 Chế độ quan lại (quan chế):
Để tuyển dụng nhân tài, nhà Nguyễn cho tổ chức các kì thi Hương, thi Hội Nội dung vàcách thức tổ chức các kì thi về cơ bản vẫn theo lệ cũ Các kì thi Hương, thi Hội vẫn xoayquanh những câu hỏi về kinh nghĩa, chế, chiếu, biểu, thơ phú, văn sách Từ thời Thiệu Trị, nhànước định lệ và mở thêm thi võ ở kinh đô với ba kì theo các nội dung: mang nặng, múa côn,giáo, gươm, bắn súng và binh pháp Người đỗ cũng được phân thành hai hạng: Cử võ – Tiến sĩ
võ Ngoài các kì thi chính thức được mở ba năm một lần, nhà Nguyễn cũng mở thêm các kì thi
Ân khoa, Chế khoa
Dưới thời Nguyễn, các kì thi Đình không lấy trạng nguyên, đặt thêm hạng Phó bảng,đổi Hương cống là cử nhân, Sinh đồ là Tú Tài (từ năm 1829) Năm 1835, Minh Mạng định lệtrong kì thi Hội, mặc dù các trường thi chung đề nhưng quyển văn của các thí sinh từ QuảngBình trở vào Nam được chấm riêng với yêu cầu thấp hơn nhằm khuyến khích việc học tập cònhạn chế ở khu vực này Các vua cũng nhiều lần tự tay ra đề thi (ngự đề) cho các trường thiHương, việc phúc hạch sau các kì thi được các vua Nguyễn rất quan tâm, trong nhiều trườnghợp chính bản thân nhà vua làm việc đó
Từ năm 1841, các trường thi Hương đều phải định trước số ngạch lấy đỗ trong mỗi kìthi tùy theo tình hình học tập và sô người đi thi ở các địa phương Năm 1880, triều định lại quy
23
Trang 24định các phủ - tỉnh phải định trước số học trò đủ tiêu chuẩn dự thi nhằm tránh việc số người đi
dự thi Hương quá nhiều Trong các kì thi Hội, nhà nước cho phép các quan lại, giám sinh(chưa đỗ Cử nhân), Huấn đạo, Giáo thụ dự thi
Khi đỗ đạt, các tân Tiến sĩ được vinh quy bái tổ tại quê nhà trước khi được triều đình bổdụng các chức vị Lễ Ân tứ vinh quy được tổ chức ngay từ khoa thi đầu tiên vào thời MinhMạng (1822) với các quy định về các việc như cấp người, vật dụng mang theo,… Nhưng đếnthời Tự Đức, những quy định này mới đi vào quy củ Bên cạnh Lễ Ân tứ vinh, nhà Nguyễncòn có lệ khắc tên tuổi, quê quán và một số thông tin về tiểu sử khoa cử của các Tiến sĩ đỗchánh bản lên các tấm bia đá và đặt ở các Văn Miếu Qua 39 khoa thi Hội của triều Nguyễn,trong số 558 vị khoa bảng, ban văn có 293 Tiến sĩ được khắc tên vào 32 bia đá dựng ở VănMiếu, ban võ có 10 vị được khắc tên vào hai bia đá dựng tại Võ Miếu Tuy nhiên, với nhữngnguyên nhân lịch sử khác nhau, một số Tiến sĩ bị đục tên khỏi bia đá, cũng có vị bị triều vuanày đục tên nhưng được triều vua khác khắc tên lại như trường hợp của Phan Thanh Giản
Có thể nói rằng, con đường khoa cử rất được đề cao trong việc bổ dụng quan lại vào bộmáy nhà nước Các vua nhà Nguyễn, đặc biệt là Gia Long, Minh Mạng đã tuyển dụng tất cảcác quan lại của mình trong số người có học qua thi cử Những người qua học hành thi cử, tuy
số lượng không nhiều nhưng đó là tầng lớp thống trị đất nước
Bên cạnh việc bổ dụng cho những người đỗ Tiến sĩ, Phó bảng, nhà Nguyễn cũng cónhững chính sách đãi ngộ trong việc bổ nhiệm quan chức đối với những thí sinh thi hỏng Sau
kì thi Hội, các thí sinh thi hỏng có thể về quê chờ khoa thi tiếp, hoặc cũng có thể xin nhập học
ở trường Quốc Tử Giám Các thí sinh thi trượt và có nhu cầu nhập học ở trường Quốc TửGiám nếu như không có nhu cầu thi tiếp thì sau ba năm sẽ được sung đi Hậu bổ ở các tỉnh Tuynhiên, việc bổ dụng này cần phải căn cứ vào kết quả của kì thi Hội của các thí sinh và cân nhắcthứ tự ưu tiên Đối với những nơi bị khuyết các chức vụ Giáo thụ, Huấn đạo, các thí sinh vềquê có thể được bổ nhiệm vào các chức này Ngoài ra, đối với thí sinh là con quan (ấm sinh)chỉ đỗ Tú tài và theo học ở trường Quốc Tử Giám, nếu thi tiếp các kì thi vẫn không đỗ, thì sau
30 tuổi mới được ra làm quan Tất nhiên khi bổ nhiệm, danh sách phải được các quan trongQuốc Tử Giám dâng lên, xét duyệt và phải trải qua kì sát hạch
24
Trang 25Ta thấy, chính hàng quan lại làm thành cái khung của nền hành chính Quan lại đượcchia làm hai hàng: văn và võ, mỗi hàng có chín phẩm, mỗi phẩm được chia làm hai trật Trừmột số thời kì loạn lạc, quan võ thường bị xếp dưới quan văn Qua thi cử mọi người đều có thểđảm nhiệm các chức vụ nhà nước Tất cả các quan văn và quan võ đều được tuyển qua thi cử.Như vậy, có thể thấy đây là một sự tiến bộ rõ rệt so với các triều đại trước vốn còn sử dụng cảviệc chọn lựa, gửi gấm, thế tập, thâm chí cả việc mua bán Quan lại xuất thân từ nhân dân vàcon cháu của họ sẽ chỉ là thường dân nếu không tự vươn lên bằng chính công lao của mình.Điều đó cho thấy chính quyền hầu hết do tầng lớp ưu tú, trí thức tham dự.
2.2.1.4 Luật pháp
Bộ luật Gia Long ra đời trong bối cảnh đất nước thống nhất, các thế lực phong kiến âmmưu nổi lên, nạn trộm cướp …các quan lại chưa có cơ sở để suy xét thì nhu cầu cấp thiết vềmột bộ luật mới được đặt ra phục vụ cho nhu cầu quản lí, điều hành quốc gia, củng cố chế độphong kiến, bảo vệ quyền lực, ổn định xã hội Do đó cho ra đời một bộ luật mới là tất yếu Nếuthời Lê có luật Hồng Đức thì thời Gia Long có bộ luật Gia Long, mỗi triều đại đều có một bộluật riêng, mỗi bộ là cột mốc thể hiện giai đoạn phát triển của mỗi thời kì Năm 1815, bộ luậtGia Long được sửa xong, ngoài ra còn có tên gọi Hoàng Triều luật lệ do tổng trấn Bắc ThànhNguyễn Văn Thành biên soạn Bộ luật trên cơ sở tham khảo bộ luật nhà Thanh, luật Hồng Đức(Lê Thánh Tông) Đây là bộ luật cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam
Luật Gia Long gồm 398 điều, chia thành 7 chương, ngoài ra còn có 30 điều “tạp tụng”.
Các điều khoản luật được chia làm 6 loại tương ứng việc phân chia công việc của triều đình
Bộ luật có những điều quy định những kẻ mưu phản và đại nghịch, những kẻ cùng mưu, khôngphân biệt thủ phạm hay tòng phạm đều lăng trì xử tử Bộ luật Gia Long nói riêng và luật phápnói chung đều thể hiện rất rõ ý đồ bảo vệ quyền hành tuyệt đối của nhà vua, đề cao địa vị quanlại, trừng trị những người chống đối Bộ luật được sử dụng trong suốt thời nhà Nguyễn đó làGia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,… rồi dùng tiếp ở Trung Kì trong thời thực dânPháp chiếm đóng ở Việt Nam
Năm 1833, Minh Mạng cho ban hành Đại Nam hội điển toán yếu quy định rõ chức
năng, nhiệm vụ của quan lại và của các cơ quan nhà nước Năm 1843, Thiệu Trị cho ban hành
25
Trang 26Đại Nam hội điển sử lệ, tập hợp những văn bản pháp luật mà vua Minh Mạng đã ban hành Về
sau, còn rất nhiều đạo dụ (khoảng 250 văn bản) được các nhà vua Nguyễn tiếp tục ban hành.
Nhìn chung, hệ thống pháp luật thời nhà Nguyễn đã có những tiến bộ đáng kể, học hỏi kinhnghiệm bộ luật nhà Thanh, không chỉ là đỉnh cao so với những thành tựu của các triều đạitrước, mà còn là di sản pháp luật đối với hiện tại và tương lai Tuy nhiên, bộ luật vẫn thể hiệntính chất chuyên chế cực đoan đối với nhân dân Một số điều khoản tích cực tiến bộ của bộluật Hồng Đức không còn được giữ lại, cơ bản sao chép nhà Thanh, các điều khoản bảo vệngười phụ nữ, khuyến khích nông nghiệp và tiểu thủ công trong bộ luật Hồng Đức không còn.Luật Gia Long khắc khe hơn, phạm vi trừng trị mở rộng bà con thân thuộc phạm nhân, đốitượng được áp dụng trở nên rõ ràng, cụ thể hơn, các hình phạt dã man hơn luật Hồng Đức.Nhưng dù sao cũng đã chỉnh sửa và cập nhập phù hợp với điều kiện Việt Nam lúc bấy giờ Bộluật Gia Long không phải là kết quả tự nhiên của biến chuyển nội tại của luật pháp Việt Nam
mà là một công cụ để củng cố trật tự mới sau 30 năm
Tất cả đất ruộng trong nước đều thuộc quyền sở hữu của nhà vua kể từ thời nhà Đinh,Tiền Lê, người nông dân nhận ruộng cày cấy và nộp tô thuế cho triều đình Tuy vậy, trên thực
tế những ruộng đất do người dân cày lâu ngày được coi như của riêng, có thể mua bán21.Ruộng tư là đất riêng do tư nhân trồng trọt và nộp thuế Đất này có thể mua bán, cầm cố,truyền cho con cháu, nếu triều đình muốn trưng dụng phải trả tiền bồi thường Năm 1809, vuaGia Long quy định là nếu chủ đất có văn khế thì chiếu giá mà trả nửa tiền, còn nếu không cóvăn thì chính phủ chỉ trả mỗi mẫu 50 quan Năm 1827, vua Minh Mạng quy định lại việc bồithường một cách song phẳng: nếu nhà nước xâm phạm vào ruộng đất tư bao nhiêu, phải chiếunguyên giá, trích tiền công ra mà trả cho chủ sở hữu
21 Theo Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thế giới, tr 47
26
Trang 27Ruộng công là đất của công, do triều đình giao cho xã, thôn sử dụng và cấm bán, trừmột vài trường hợp có thể cầm cố trong hạn 3 năm, hết hạn phải lấy lại Năm 1804, Gia Longban hành phép quân điền, tất cả mọi người đều được chia ruộng đất nhưng mỗi người ít nhiềutính theo phẩm tước đối với quan viên và thứ bậc xã hội với các tầng lớp xã hội khác ví dụ: cácquý tộc vương tôn được cấp 18 phần, quan lại nhất phẩm thì 15 phần, dân nghèo được 3phần.22 Năm 1840, Minh Mạng sửa lại phép chia ruộng cho tất cả mọi người đều được hưởngmột phần như nhau, riêng lão nhiêu, lão hạng, tàn tật được ½ phần, lương điền của lính khôngthay đổi Mục đích của việc quân điền cốt làm thế nào cho một tấc đất cũng đều khai khẩn,mọi người ai cũng có ruộng làm, thoát khỏi bệnh đói nghèo, ngăn chặn sự chiếm đoạt ruộngđất
Khi lên ngôi Gia Long đã ra lệnh cấm bán ruộng đất công và quy định chặt chẽ việccầm cố đất công để đảm bảo đất cày cho nông dân Đạo dụ năm Gia Long thứ 2 (1803) ghi rõ:
“Theo lệ cũ thì công điền công thổ cho dân quân cấp, đem bán riêng là có tội, do đó nhân dân đều được hưởng lợi cả Từ đời Tây Sơn bỏ hết luật cũ, dân gian nhiều người đổi ruộng công làm ruộng tư, cũng có kẻ tạ sự việc công mà cầm bán ruộng đất công… Phàm xã dân có công điền công thổ đều không được mau bán riêng, làm trái là có tội Ai mua nhầm thì mất tiền Nếu nhân có việc mà cho người mướn để chi dùng việc công trong xã thôn thì chỉ hạn cho ba năm, quá hạn thì xử tội nặng Người nào tố cáo đúng thực thì thưởng cho ruộng nhất đẳng
Đến năm 1844, vua Thiệu Trị nhắc lại việc kiên quyết không cho bán ruộng đất côngvới nhiều quy định chặt chẽ hơn Nhưng các điều luật để bảo vệ công điền công thổ tuy đượcnhắc đi nhắc lại, hình như vẫn không được thi hành triệt để Nếu như vào năm 1864, vua TựĐức còn nhắc lại luật cấm mua bán ruộng đất công, thái độ cương quyết để ngăn chặn sự xáotrộn quyền sở hữu xã thôn và giữ nguyên số lượng ruộng đất công không còn được duy trì kể
từ khi ngân sách triều đình thiếu hụt sau các thất bại trước quân Pháp và phải nhượng sáu tỉnhNam Kì cho người Pháp Nhưng đến năm 1871, vua Tự Đức chính thức cho phép bán ruộngđất công, đất lưu hoang làm ruộng đất tư, để lấy tiền trợ quân phí.24
22 Theo Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế& xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Nxb Văn học, tr.80
23 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên (Q.21), Nxb Khoa học xã hội
24 Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế& xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Nxb Văn học, tr 95
27
Trang 28Thuế ruộng đất phải nộp bằng hiện vật, nhưng nhă Nguyễn vẫn cho phĩp nộp tiền haythóc lúa văo trường hợp như: vận chuyển khó khăn vă lđu, hay mất mùa thiếu thóc,… Mặtkhâc thuế ruộng lại không đồng nhất với nhau, như lă công điền được cấp không cho nông dđncăy cấy thì nông dđn dĩ nhiín phải nộp thuế cho chính phủ, ở những vùng thừa người thiếu đất,chính phủ không ngần ngại đânh thuế nặng lín câc công điền bóc lột một câch triển để thuđược lợi nhuận Văo thời Gia Long, năm 1804, vua định thuế chia theo 4 khu vực, mỗi khuvực lại có câch tính thuế đất khâc nhau, có nơi nộp bằng thóc, có nơi nộp cả thóc lẫn tiền Văokhoảng năm 1836, vua Minh Mạng định lại thuế ruộng đất vă chia cả nước lăm ba khu vực thuthuế như sau:25
- Khu vực 1: gồm câc tỉnh từ Quảng Bình đến Khânh Hòa
- Khu vực 3: gồm câc tỉnh Bình Thuận vă lục tỉnh Nam Kì
Ruộng cỏ
Ruộng núi 26 thăng tô thóc 23 thăng tô thóc 26 thăng tô thóc 23 thăng tô thóc
Trị thủy vă thủy lợi:
Năm 1803 Gia Long chứng kiến một nạn lụt lớn do vỡ đí Bắc thănh gđy ra vì vậy mẵng đê chú trọng đến công tâc thủy lợi 11 lần cấp kinh phí cho địa phương tu sửa đí điều vă
đắp đí mới thường xuyín, mỗi lần 7-9 vạn quan tiền Năm 1809, vua đặt nha Bắc Thănh đí
chânh, với một viín đổng lý vă một viín Tham biện, để đốc biện câc việc đí điều ở câc trấn xứ
Bắc Kì Văo khi ấy, hệ thống đí điều ở Bắc Kì tổng cộng lă 239.933 trượng.26
25 Đại Nam thực lục chính biín (đệ nhị kỉ), Sđd
26 Một trượng bằng khoảng 4m Chiều dăi của hệ thống đí điều văo năm 1809 như thế văo khoảng 960km
28
Trang 29Đến thời Minh Mạng cũng đã cấp 14 lần kinh phí tiền gạo, cho việc tu sửa đắp đê điều
đào kênh sông Năm 1828, Minh Mạng cho thành lập nha Đê chính gồm nhiều quan chức và
thơ lại phụ trách thủy lợi, nhiều bản tường trình về thực trạng đê điều, sông ngòi được dânglên, kêu gọi quan lại đóng góp ý kiến chống lụt Nhưng đến năm 1833 thì bãi bỏ và giao việc
này lại cho các Đốc biện ở các tỉnh Năm 1830, chiều dài đê điều ở các tỉnh Bắc Kì tăng lên
đến 303.616 trượng.2728
Đến thời Tự Đức, việc phòng hộ đê và xác định trách nhiệm của các phủ, huyển, tổng,
… ở những nơi đê vỡ được quy đinh rõ ràng, tỉ mỉ
Ở phía Nam, đi đôi với việc khai khẩn đất hoang, các vua nhà Nguyễn đã chú trọng đếnviệc đào kênh, dẫn nước, phục vụ tưới tiêu, giao thông thủy và mục đích quân sự Năm 1817Gia Long cho đào kênh sông An Thông, sông Bảo Định tức kênh Vũng Gù (sông Vàm Cỏ)sông mở đến đâu làng ấp được thiết lập tới đó Ngoài ra còn tổ chức đào kênh Vĩnh Tế( 1819-1924) của Thoại Ngọc Hầu - Nguyễn Văn Thoại kéo dài từ Châu Đốc đến Hà Tiên mở đầu choquá trình phát triển khu dân cư sầm uất, trù phú
Tuy nhiên vẫn không tránh được sự thiếu sót do thiếu quản lí, tác động của môi trườnghàng năm vẫn xảy ra nạn lụt, hạn hán khiến cho dân mất mùa đói kém Dù sao chúng ta cũngghi nhận được một số thành quả vô cùng to lớn trong khai hoang, phát triển thủy lợi xây dụngcác công trình, đắp đập đào kênh, góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tếnước nhà, ổn định xã hội
2.2.2.2 Công nghiệp, thủ công nghiệp
Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh sản xuất thủ công nghiệp Thủcông nghiệp dưới thời Nguyễn vẫn giữ vị trí quan trọng bao gồm nhiều công xưởng cũng nhưhàng loạt các ngành nghề khác nhau, đóng vai trò chế tạo mọi sản phẩm cần dùng cho bộ máyvua quan, hoàng gia, đóng thuyền, đúc tiền, đúc súng
Ty Thuyền chính chịu trách nhiệm đóng các loại thuyền, thuyền chiến, thuyền công Vũ
khố chế tạo ti là một cơ quan quản lí thủ công các loại gồm 57 cục: làm đúc, làm đồ vàng, vẽ,
làm gạch ngói, khắc chữ, đúc súng, luyện đồng…Ngoài ra còn có ty Doanh kiến, ty Tu tạo, ty
Thương bác hỏa….
27 Theo Kinh tế& xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Sđd
28 Tương đương khoảng 1215 km.
29
Trang 30Thợ thủ công trong các công xưởng đều là thợ giỏi được tổ chức hoạt động theo chế độcông tự, tập trung theo ban, hưởng lương theo công việc nặng nhẹ: gạo và tiền Chế độ làmviệc nặng nề, kiểm soát gắt gao, tính chất tập trung và trình độ tay nghề cao nên sản phẩm làm
ra đạt chất lượng cao Được tiếp xúc với công nghiệp cơ khí phương Tây kích thích tinh thầnham muốn làm việc, sáng tạo của những người thợ thủ công, năm 1834 chế tạo thành công xe
“thủy hỏa kí tế” dùng sức nước nghiền thuốc súng của Nguyễn Văn Túy Sau đó hàng loạt các
máy móc được ra đời như: máy cưa văn gỗ, máy xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tới ruộng
….Ngoài ra các thợ công xưởng đóng được chiếc thuyền máy bằng hơi nước, sự ra đời các tàumáy đầu tiên đua Việt Nam bước vào một kỉ nguyên mới nhưng tiếc rằng những thành quả nàykhông được các triều đại sau chú ý
Khai mỏ là một trong những ngành kinh tế quan trọng và có lịch sử lâu đời ở nước ta
Là một nước có nhiều khoáng sản vô cùng phong phú: mỏ đồng, mỏ sắt, mỏ thiếc, mỏ vàng,
mỏ bạc, mỏ than…Nghề khai mỏ thời Lê mạt - nhất là ngành khai mỏ ở Đàng Ngoài là mộttrong những nhành kinh tế phát triển lúc bấy giờ Bước sang thế ki XIX thì ngành khai mỏ tiếptục được phát triển, trải qua nhiều thế kỉ nhà Nguyễn quản lí: 139 mỏ trong đó có 39 mỏ vàng,
32 mỏ sắt, 15 mỏ bạc, 9 mỏ đồng…29
Việc khai mỏ được phân thành 4 lực lượng: loại mỏ do nhà nước trực tiếp kinh doanh
là một trong những chính sách kinh tế mới của triều Nguyễn Nhất là thời Minh Mạng tự đứng
ra khai thác một số mỏ quan trọng thường là mỏ vàng, mỏ bạc, nhà nước cử các phái viên củatriều đình hay giao những phái viên ở tỉnh xuất tiền công ra thuê người, mộ phu, điều độngbinh lính lập những công trường khai thác mỏ lớn của nhà nước Theo Khâm định Đại Namhội điển sự lệ và Đại Nam thực lục chính biên, triều Nguyễn đã có những thời gian khai thácnhưng mỏ sau: mỏ vàng Chiên Đàn (Quảng Nam); Tiên Kiều (Hà Tuyên); Hội Nguyên (NghệAn); Phú Nội, Phú Bính, Phúc Phú(Cao Bằng), Gia Nguyên (Hưng Hóa) Mỏ bạc Tống Tinh,Ngân Sơn (Bắc Cạn) Mỏ chì: Quan Triều - Nam Tiền (Thái Nguyên) Tuy nhiên, năng suấtkhai mỏ của nhà nước thấp hơn tư nhân ví dụ mỏ bạc Tống Tinh sau 6 tháng hoạt động đã lỗnặng cuối cùng giao cho thương nhân Hoa kiều lĩnh trưng Khi vào tay thương nhân công việckhai thác lại tiên hành tốt hơn nên năm 1840 nhà nước lại tăng thuế từ 100 lạng lên 130 lạngđến 1846 lại tăng lên 200 lạng… Loại thứ 2 do thương nhân Hoa kiều lĩnh trương, hàng năm
29 Kinh tế& xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Sđd
30
Trang 31nộp thuế cho nhà nước và chịu sự kiểm soát của chính quyền địa phương hay của những pháiviên của triều đình, chính sách này nhằm tăng cường sự kiểm soát của nhà nước đối với ngànhkhai mỏ nhân đồng thời cũng công nhận quyền kinh doanh khai mỏ của thương nhân Hoa
kiều, theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (q.41) thì trong 4 tỉnh : Thái Nguyên, Lạng Sơn,
Tuyên Quang và Hưng Hóa có 27 mỏ vàng trên tổng số 34 mỏ vàng cả nước và 13 mỏ bạc trêntổng số 14 mỏ bạc cả nước Điều đó cho chúng ta thấy rõ các thương nhân Hoa kiều đã nắmphần quan trọng trong ngành khai mỏ miền thượng du Bắc kì… Loại thứ 3 do thổ tù thiểu sốlĩnh trương như mỏ Tụ Long (Tuyên Quang) các thổ tù cũng lĩnh trưng trực tếp của nhà nướcnhững mỏ ở địa phương, hàng năm phải nộp thuế cho nhà nước, loại thứ 4 do người Việt lĩnhtrương số này không nhiều chỉ nổi bật là mỏ Chu Danh Hổ (Bắc Ninh)
Ngành khai mỏ đạt đỉnh cao nhất vào thời Gia Long và Minh Mạng trong 3 năm đạtđược 79 mỏ, sau đó các triều đại sau quá trình khai thác có sự biến chuyển khai thác ít dần.Nhà nước để cho tư nhân khai mỏ nhưng phải trả thuế cao được kiểm soát bởi quan chức, nhâncông làm thuê tự do được trả công khá cao theo công việc khó dễ như một người phụ trách lònấu quặng được trả mỗi tháng 12 quan tiền, trong lúc thợ nhà nước chỉ được 5 quan và mộtphương gạo Đây là một phương thức sản xuất mới nhưng về sau không còn được áp dụng dochính sách thuế nhà nước quá nặng Nhìn chung, ngành khai mỏ dưới triều Nguyễn không phảihoàn toàn đình đốn, ngưng trệ mà cũng có sự phát triển nhất định, tuy nhiên nó chỉ thể hiện ởtrong giai đoạn đầu từ thời Ming Mạng trở đi còn về sau thời Tự Đức ngành khai mỏ lênxuống thất thường và càng ngày sụt giảm, phương thức sản xuất theo lối sản xuất thủ công vớinhững hình thức bóc lột phong kiến mang nặng tính chất nô dịch
Một ngành cũng có sự phát triển đáng kể là sự xuất hiện nhiều làng nghề thủ công nổitiếng như làng gốm Bát Tràng (Bắc Ninh), làng Gò Găng (Bình Định) làm nón, làng ThiênPhúc và Vạn Phúc dệt tơ lụa, làng Đông Hồ (Bắc Ninh) làm tranh dân gian, nghề in bản gỗ,nghề làm pháo, nghề thêu, Từ sự chuyên hóa các làng nghề thủ công đi đến độc quyền sảnxuất một ngành nghề, các ngành nghề này mang tính chất gia đình hay bán gia đình.30
Hoạt động thủ công nghiệp có 2 bộ phận: làng nghề thủ công dân gian và xưởng thủcông do triều đình quản lí Ngoài các làng nghề thủ công còn có sản xuất muối biển: DiêmTrường, Phụng Chính, Phú Lộc (Thừa Thiên Huế)…
30 Theo Việt Nam văn hóa sử cương, Sđd tr 58
31