Giai cấp công nhân ở Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam là cả một quá trình phát triển kể cả về chất và số lượng. Giai cấp công nhân Việt Nam là một giai cấp có sứ mệnh lịch sử riêng của giai cấp mình, đó là lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc. Giai cấp công công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chủ nghĩa thực dân Pháp. Ra đời từ công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp qua quá trình phát triển về số lượng và quá trình tiếp thu chủ nghĩa Marx – Lenin cùng với đó là quá trình đấu tranh từ tự phát đến tự giác. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời với nhiều đặc điểm khác so với các công nhân ở nhiều nước trên thế giới. Giai cấp công nhân cũng có những sứ mệnh lịch sử khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử Việt Nam. Công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Lịch sử hình thành và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam cần được nghiên cứu. Nghiên cứu để thấu hiểu lịch sử của dân tộc để tìm ra những qui luật phát triển chung nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam, từ đó có thể dự đoán được những qui luật phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai. Vì vậy trong suốt quá trình phát triển của dân tộc giai cấp công nhân cần được nghiên cứu để nắm bắt được những vấn đề đặt ra đối với công nhân trong lịch sử cũng như trong thời hiện đại ngày nay.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1.1 Đôi nét về tác giả: 6
1.2 Đôi nét về tác phẩm “Giai cấp công nhân Việt Nam”: 15
CHƯƠNG II: NỘI DUNG CHÍNH CỦA TÁC PHẨM 2.1 Chương thứ nhất: Công nghiệp và công nhân Việt Nam trước khi nước ta bị thực dân Pháp xâm chiếm: 18
2.2 Chương thứ hai: Sự hình thành của giai cấp công nhân Việt Nam: 24
2.2.1 Giai đoạn đầu ở Nam kỳ trước 1883: 24
2.2.2 Giai đoạn thứ hai từ năm 1883-1884 đến 1897-1898: 26
2.2.3 Công nhân đấu tranh và thể lệ nhân công trước khi Đume sang Việt Nam: .30 2.3 Chương thứ ba: Sự phát triển về số lượng của giai cấp công nhân Việt Nam từ 1919 đến 1929: 39
2.4 Chương thứ tư: Đời sống của giai cấp công nhân Việt Nam từ 1919 đến 1929: 47 2.4.1 Về sự bần cùng hóa và vô sản hóa ở Việt Nam sau năm 1914 – 1918 và vấn đề mộ phu: 47
2.4.2 Điều kiện sinh hoạt vật chất và điều kiện lao động của công nhân 49
2.4.3 Những nét đại cương về quy chế lao động của Pháp ở Việt Nam 54
2.5 Chương thứ năm: Những điều kiện chính trị mới của phong trào công nhân Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất: 56
2.5.1 Sơ lược về thái độ của phong kiến Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất: 56
1
Trang 22.5.2 Sự nhoi lên của giai cấp tư sản cùng chủ nghĩa quốc gia cải lương ở Việt
Nam và các hoạt động của nó: 57
2.5.3 Những ảnh hưởng đầu tiên của cuộc đại cách mạng tháng 10 Nga đến thời cuộc chính trị Việt Nam: 58
2.6 Chương thứ sáu: Phong trào công nhân Việt Nam từ 1919 đến 1929 từ sự thành lập các nhóm, các Đảng tiền Mác xít đến sự phân liệt của Việt Nam thanh niên cách mạng Việt Nam đồng chí hội: 61
2.7 Chương thứ bảy: Phong trào công nhân trong năm 1929 bước qua năm 1930 – từ sự thành lập ra ba đảng cộng sản đến sự thống nhất tất cả các lực lượng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam: 64
2.8 Chương thứ tám: Cao trào công nhân và nông dân từ 1/5/1930 đến Xô viết Nghệ An 68
CHƯƠNG III: Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ HẬU TÁC PHẨM 3.1 Ý nghĩa của tác phẩm 72
Ý nghĩa khoa học: 72
Ý nghĩa thực tiễn: 75
3.2 Mối liên hệ của tác phẩm với một số công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân hậu tác phẩm 73
3.2.1 Tình hình nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam hậu tác phẩm 76
3.3 Một vài vấn đề cần liên hệ: 82
KẾT LUẬN 89
1 Đóng góp về phương pháp luận, sử liệu: 89
2 Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam 90
2
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
3
Trang 4MỞ ĐẦU
Đối với giáo sư Trần Văn Giàu, nhiều người tìm thấy ở ông hình ảnh của
“tam vị nhất thể”: ông vừa là nhà trí thức yêu nước và cách mạng, vừa là một nhà
sư phạm, vừa là một nhà nghiên cứu khoa học
Bà “nhà” ấy hiện hữu trong một con người, hòa quyện với nhau, hỗ trợ chonhau Trong những năm làm “cách mạng chuyên môn” (như ông tuyên bố trước tòa
án đế quốc), ông vẫn nghiên cứu diễn biến tình hình trong nước và trên thế giới để
ra đường lối hành động, viết sách và làm “thầy giáo đỏ” Khi chuyển sang nghiêncứu và giảng dạy, hoạt động của ông không rời mục tiêu phục vụ công cuộc giảiphóng dân tộc.Trong đó lĩnh vực nghiên cứu về giai cấp công nhân, đặc biệt là giaicấp công nhân Việt Nam được Trần Văn Giàu dành nhiều tâm huyết
Giai cấp công nhân ở Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam là cảmột quá trình phát triển kể cả về chất và số lượng Giai cấp công nhân Việt Nam làmột giai cấp có sứ mệnh lịch sử riêng của giai cấp mình, đó là lãnh đạo quần chúngnhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc Giai cấp công công nhân Việt Nam là sảnphẩm trực tiếp của chủ nghĩa thực dân Pháp Ra đời từ công cuộc khai thác thuộcđịa lần thứ nhất của thực dân Pháp qua quá trình phát triển về số lượng và quá trìnhtiếp thu chủ nghĩa Marx – Lenin cùng với đó là quá trình đấu tranh từ tự phát đến
tự giác Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời với nhiều đặc điểm khác so với cáccông nhân ở nhiều nước trên thế giới Giai cấp công nhân cũng có những sứ mệnhlịch sử khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử Việt Nam
Công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Lịch sử hình thành vàphát triển của giai cấp công nhân Việt Nam cần được nghiên cứu Nghiên cứu đểthấu hiểu lịch sử của dân tộc để tìm ra những qui luật phát triển chung nhất của lịch
sử cách mạng Việt Nam, từ đó có thể dự đoán được những qui luật phát triển củađất nước trong hiện tại và tương lai Vì vậy trong suốt quá trình phát triển của dântộc giai cấp công nhân cần được nghiên cứu để nắm bắt được những vấn đề đặt rađối với công nhân trong lịch sử cũng như trong thời hiện đại ngày nay
4
Trang 5Giai cấp công nhân có là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà sử học và cónhững tác phẩm về giai cấp công nhân có giá trị lịch sử và thực tiễn nhất định trong
đó có tác phẩm của giáo sư sử học Trần Văn Giàu: “Giai cấp công nhân Việt Nam
-Sự hình thành và phát triển của nó từ giai cấp tự mình đến giai cấp cho mình”.
Tác phẩm đã nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam từ nguồn gốc cho đến là mộtgiai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thành công Tác phẩm là một công trình sửhọc có những đóng góp lớn trong việc nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam, tácphẩm cũng là nguồn cung cấp nhiều sử liệu cho quá trình nghiên cứu giai cấp côngnhân ở trong quá khứ cũng như ở thời đại hiện đại
5
Trang 6CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1.1 Đôi nét về tác giả:
GS Trần Văn Giàu sinh ngày 6-9-19111 tại xã An Tập, tổng Thanh Mục Hạ,tỉnh Tân An (nay là xã An Lục Long, Châu Thành, Long An) trong một gia đình làmnông, cha mẹ vốn là điền chủ nhỏ Là con út trong gia đình, Trần Văn Giàu được cho
ăn học đến nơi đến chốn Năm 1923, Trần Văn Giàu trúng tuyển và vào học ở trườngChasseloup Laubat2 Rời mảnh đất quê hương lên Sài Gòn học tập, Trần Văn Giàu đãnhanh chóng chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước của Nguyễn An Ninh, PhanChâu Trinh,…Và hưởng ứng theo lời khuyên của Nguyễn An Ninh “hãy sang Pháphọc hỏi”, Trần Văn Giàu đã xin gia đình sang Pháp du học Từ đây, Trần Văn Giàuchính thức bước vào con đường cách mạng
Hầu như trong khoảng thời gian hoạt động cách mạng từ năm 1930 – 1949,Trần Văn Giàu phải thoát li khỏi gia đình, di chuyển nhiều nơi, hoạt động bí mật vànhiều lần bị bắt giam trong tù từ khám lớn Sài Gòn đến Côn Đảo, Tà Lài Trongnhững năm “làm cách mạng chuyên môn”3, Trần Văn Giàu đã có nhiều đóng góp chocách mạng Việt Nam như tham gia xây dựng tổ chức Xứ ủy Nam kì, cộng tác với cácđảng viên trí thức như Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thủ, Huỳnh Văn Tiểng… đểlập lại các mối quan hệ với chi bộ địa phương, kết nạp những đoàn viên Thanh niênTiền phong đáng tin cậy nhất vào những “đội xung phong” và thành lập các đơn vịCứu quốc của Việt Minh Trần Văn Giàu còn giữ nhiều chức vụ quan trọng như Bí thư
xứ ủy Nam kì (năm 1933), Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ trong những năm
1945, Giám đốc Nha Thông tin tuyên truyền tại Chiến khu Việt Bắc (1946-1950)
Trần Văn Giàu không chỉ là một nhà trí thức cách mạng mà còn là một nhà sưphạm Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Trần Văn Giàu đã trực tiếp mở các lớp
NXB Trẻ, trang bìa cuối.
6
Trang 7huấn luyện chính trị nên được gọi là “thầy giáo đỏ” Chính thức bước vào lĩnh vựcgiảng dạy từ năm 1951, Trần Văn Giàu vừa làm công tác quản lí, vừa trực tiếp giảngdạy Là một trong những giáo sư đầu tiên của nền giáo dục đại học cách mạng, TrầnVăn Giàu đã đào tạo ra nhiều nhân tài trong ngành sử như Phan Huy Lê, Trần QuốcVượng, Đinh Xuân Lâm,… Với quan niệm: “Thầy giáo không phải là người giữ vàngcất trong kho mà là đem vàng gieo ra cho mọi người càng rộng càng hay”4, Trần VănGiàu đã là một người thầy tâm huyết, tận tụy, hết lòng truyền đạt kiến thức cho thế hệsau, vì thế có thể xem Trần Văn Giàu như là “Chu Văn An ngày nay”
Song song với cương vị một nhà sư phạm mẫu mực, Trần Văn Giàu còn là mộtnhà khoa học tài ba Trần Văn Giàu quan niệm: “Cái nghiệp của người nghiên cứuchân chính như con trâu kéo cày Kéo cho đến khi sức tàn lực kiệt mới chịu gục ngãtrên luống cày Nhưng khỏi lo ruộng cày dang dở Con cháu sẽ kéo cày tiếp, kéo hayhơn là cái chắc”5 Với quan niệm đó Trần Văn Giàu đã dốc hết lòng hết sức chonghiên cứu khoa học và đã để lại cho đời hàng trăm công trình nghiên cứu khoa học
về các lĩnh vực văn, triết, sử như Biện chứng pháp, Vũ trụ quan, Duy vật lịch sử,
Chống xâm lăng, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Giai cấp công nhân Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Miền Nam giữ vững thành đồng, Gía trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh… Và nhận xét
về cuộc đời khoa học của Trần Văn Giàu GS Vũ Khiêu đã viết như sau: “Là một nhàkhoa học lỗi lạc, anh đã viết hàng vạn trang giấy nhưng không hề lặp lại mình hay lặplại người khác Từng trang từng trang vẫn sáng long lanh những phát hiện mới, nhữngnhận định mới”6
Chắc chắn Trần Văn Giàu là một trong những tác gia đương đại lớn nhất củaViệt Nam Ông khởi nghiệp khảo cứu và trước tác từ rất sớm Đầu những năm 30 củathế kỷ trước, ngay khi còn học tại Trường Đại học Phương Đông mang tên Lênin ởMạc Tư Khoa, ông đã tham gia soạn thảo và chắp bút cho một số văn kiện quan trọngcủa Quốc tế Cộng sản có liên quan đến việc chỉ đạo Đảng Cộng sản Đông Dương Từ4
Nguyễn Phan Quang (2011), “Nghe thầy kể chuyện”, NXB Tổng hợp Tp.HCM.
7
Trang 8năm 1935 đến năm 1941, suốt gần bảy năm trong nhà tù đế quốc, lúc ở Khám Lớn(Sài Gòn), khi ở Côn Đảo và trong trại tập trung Tà Lài, Trần Văn Giàu thường xoaytrần trên nền xi măng của xà lim, cặm cụi, bí mật soạn ra hàng chục tài liệu tuyêntruyền, huấn luyện Vượt qua sự rình rập, đòn roi khủng bố của mật thám, vị “Giáo sưĐỏ” ngày ấy đã hăm hở tham gia giảng dạy cho các lớp huấn luyện của Đảng ở trong
tù, góp phần trang bị cho nhiều lớp cán bộ, đảng viên những tri thức lý luận và kỹnăng tuyên truyền, tổ chức cốt yếu nhất Nhiều “học viên” của “Trường Đại học cáchmạng” ấy sau này đã trở thành cán bộ cao cấp của Đảng, như Tôn Đức Thắng, PhạmVăn Đồng, Phan Đình Khải (Lê Đức Thọ) v.v Trong những ngày tháng gấp rút chạyđua với thời gian, chuẩn bị lực lượng giành chính quyền ở Sài Gòn và Nam Kỳ ở vàođêm trước cuộc Cách mạng tháng Tám, đích thân Bí thư xứ uỷ Trần Văn Giàu lại soạn
ra nhiều cuốn sách nhỏ làm tài liệu huấn luyện, tuyên truyền trong công nhân và nhất
là trong giới trí thức, công chức cao cấp, để qua đó, bằng lý luận và nhiệt huyết, thuyếtphục, lôi kéo họ về phe cách mạng Tiếc rằng cho tới nay, phần lớn những tác phẩmnày của ông – hiển nhiên là có giá trị đặc biệt, còn đang bị thất lạc, chưa tìm lại đượcbao nhiêu
Cuộc cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945 nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nhưng chỉ gần ba tuần sau thực dân Pháp đã núp bóngquân Anh quay lại phát động chiến tranh nhằm tái lập chế độ thực dân ở Việt Nam.Nhân dân Nam Bộ là những chiến sĩ tiên phong anh dũng đối đầu với quân giặc Pháp.Trần Văn Giàu đứng ở vị trí tiên phong trong đội quân tiên phong ấy Năm 1949, bấtthần ông được gọi ra chiến khu Việt Bắc, được giao nhiều nhiệm vụ khác nhau Từnăm 1951 đến 1954 ông là Giám đốc, là giáo sư trực tiếp giảng dạy ở Trường Dự bịĐại học trong vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh Thời kỳ này ông vẫn tiếp tục viết, chủyếu là các tài liệu lý luận tuyên truyền, huấn luyện chính trị
Tháng 11 năm 1954, Trường Đại học Sư phạm Văn khoa và Trường Đại học
Sư phạm Khoa học được thành lập, Trần Văn Giàu là Bí thư Đảng ủy đầu tiên củaĐảng bộ trường, giảng dạy các môn khoa học Chính trị, Triết học, Lịch sử thế giới vàLịch sử Việt Nam Năm học 1955 - 1956, ông được Nhà nước phong học hàm Giáo sưđợt đầu tiên Giữa năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, ông
8
Trang 9được cử giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy nhà trường và là một trong những bậc thầy khaisáng của hai ngành sử học và triết học hiện đại ở nước ta.
Những năm tháng đó, GS Trần Văn Giàu và các GS Đào Duy Anh, GS TrầnĐức Thảo, GS Cao Xuân Huy khai nền, mở nghiệp cho ngành sử và ngành triết thậtgian nan Thiếu thầy, thiếu sách vở, nhất là thiếu các sách công cụ, giáo trình Khôngthể chần chừ, Trần Văn Giàu cùng các học trò và đồng nghiệp phải “xắn tay áo” biênsoạn ngay những bộ giáo trình đầu tiên Lạ thay! Trong điều kiện như vậy mà bộ giáotrình mà ông chủ biên về Lịch sử cận đại Việt Nam, cho đến nay, sau nhiều thập kỷvẫn có thể được xem như bộ giáo trình cơ bản, sâu sắc và có tầm nhất Bên cạnh đó,ông phải soạn gấp các sách như Triết học phổ thông, Lịch sử chống xâm lăng rồi MiềnNam giữ vững thành đồng Vừa được dùng như tài liệu tham khảo trong nhà trường,vừa được dùng như tài liệu tuyên truyền, như tiếng kèn hiệu kêu gọi đồng bào, đồngchí xông pha vào Nam tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Vượt qua giai đoạn đó, đến đầu những năm 60 của thế kỷ trước, GS Trần VănGiàu bắt tay vào những công trình khảo cứu công phu, cẩn trọng về lịch sử Việt Nam
Bộ sách đầu tiên của ông là bộ “Giai cấp công nhân Việt Nam” (3 tập) Đây là côngtrình khảo cứu công phu, hệ thống đầu tiên về lịch sử phong trào công nhân Việt Nam.Sau hơn 4 thập kỷ, ngày nay có thể thấy ở chỗ này chỗ kia bộ sách cần có sự bổkhuyết và hiệu chỉnh về sử liệu, song quan trọng nhất là những đóng góp của GS TrầnVăn Giàu về phương pháp Với bộ sách này, lần đầu tiên lịch sử Việt Nam không chỉcòn là lịch sử của các lãnh tụ, các chính đảng hay các tôn giáo mà thực sự là lịch sửcủa quần chúng nhân dân, do nhân dân sáng tạo ra
Tiếp đó, GS Trần Văn Giàu lại tự nhận lãnh về mình một nhiệm vụ vô cùngkhó khăn, trước đó chưa ai đủ sức làm: biên soạn một bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam
Tự mình, ông cũng thấy đây là việc rất khó, nhưng không thể từ nan Đây là lời ông tự
bạch khi tập I của bộ sách ra đời: “Đơn thương độc mã đi vào lĩnh vực lịch sử tư
tưởng, ít ra là trong những bước đầu, thật là đáng lo, đáng sợ, không phải không có lúc nào chùn chân ( ) Ở đây vấn đề thì rất hấp dẫn, việc làm lại rất khó khăn, cái gì cũng khá mới lạ, chỉ có một cái quen thuộc là phương pháp luận, nhưng các nguyên
9
Trang 10lý của phương pháp luận ứng dụng vào lịch sử tư tưởng Việt Nam thì sao là đúng, chắc chắn phải vào việc một hồi lâu mới biết rõ được”.
Cứ theo cách đó, sau nhiều năm miệt mài khảo cứu, cuối cùng bộ sách gồm 3
tập “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam đã ra đời” Đánh giá về bộ công trình đồ sộ
này, David G Marr, một trong những sử gia nổi tiếng thế giới và là chuyên gia hàng
đầu về Việt Nam viết: “Trong số các công trình đã xuất bản bằng mọi thứ tiếng trên
thế giới thì đó là bộ sử tốt nhất về tư tưởng Việt Nam” Thiết nghĩ, lời nhận xét trên
đây của một sử gia phương Tây lớn như David G Marr đã đủ nói lên chân giá trị của
công trình mà Trần Văn Giàu “đau thiết” hơn 20 năm để hoàn thành, không cần phải
bình luận gì thêm Cũng với hai bộ công trình này, GS Trần Văn Giàu đã được Nhànước ta trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I, năm 1996
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, ông về sống ở Thànhphố Hồ Chí Minh Mặc dù tuổi cao, sức khoẻ cũng không còn được như trước nữa,nhưng ông vẫn tiếp tục miệt mài khảo cứu, suy ngẫm, hoàn thiện những công trình đã
ấp ủ từ trước đó và công bố những công trình mới Học trò nhiều thế hệ, từ nhữngngười từng được ông kèm cặp, nay đã trở thành những học giả danh tiếng, cho tới lớpsinh viên mới chập chững vào nghề, đọc sách ông viết và tự nhận là môn sinh giántiếp của ông, vẫn kéo nhau về xin gặp ông để được nghe ông nói, thấy ông cười, đượcông chỉ dẫn cho nhiều điều Học giả nước ngoài, dù với nhiều quốc tịch và chính kiếnkhác nhau, nhưng nếu nghiên cứu về Việt Nam thời cận – hiện đại mà chưa được gặp
ông - để phỏng vấn, để tham bác và tranh luận, thì vẫn còn tự coi như chưa “đắc
đạo”…
Các công trình được tuyển chọn và công bố trong tập I và II của bộ sách “Tác
phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh” đương nhiên là những công trình tiêu
biểu nhất của ông Mặc dù hai tập sách đã rất đồ sộ (với tổng cộng 3.558 trang),nhưng đó cũng chỉ thể hiện được một phần nhỏ những cống hiến học thuật mà TrầnVăn Giàu đã dâng tặng cho Cách mạng, Dân tộc và Nền khoa học xã hội và nhân vănViệt Nam
10
Trang 11Như đã nói ở trên, Trần Văn Giàu khởi nghiệp trước tác từ rất sớm ở lĩnh vực
lý luận-chính trị Ngoài các tài liệu tuyên truyền, huấn luyện, ông cũng biên soạn khánhiều sách triết học, kinh tế chính trị, khảo luận văn chương Nhưng sử học chính làlĩnh vực mà tại đó ông đã khẳng định rõ ràng nhất đóng góp to lớn và uy tín học thuậtbao trùm của mình
Ảnh hưởng và uy tín của Trần Văn Giàu trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử ViệtNam cận – hiện đại được khẳng định trước hết không phải bởi vì số lượng khổng lồcác công trình ông đã công bố, mà chính là ở cách tiếp cận và thái độ nghiêm túc nghềnghiệp ông thể hiện nhất quán trong tất cả các công trình đó Không nghi ngờ gì, rằngTrần Văn Giàu là một sử gia mác-xít Chất mác-xít – nói như lời của một học trò củaông, GS Trần Quốc Vượng, đã “ăn” vào máu thịt ông
Điều cần nói rõ ở đây là: thế giới quan mác-xít được thể hiện theo một cách rấtriêng trong phương pháp mà Trần Văn Giàu tiếp cận và nghiên cứu lịch sử Chắc chắn
là ông thuộc vào thế hệ những trí thức Tây học đầu tiên tự nguyện tiếp nhận phươngpháp tư duy mác-xít một cách hoàn toàn duy lý, khoa học và đối xử học thuyết Mác –Lênin một cách khoa học - đúng như Mác từng đòi hỏi Nhờ thế mà trong khi vậndụng phương pháp luận mác-xít vào nghiên cứu lịch sử dân tộc, ông đã giảm thiểuđược tối đa những khuyết tật do bệnh giáo điều, máy móc vốn là căn bệnh khá trầmkha của giới sử gia mác-xít không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước thuộc phe XHCNtrước đây Quả thực, ông đã nghiền ngẫm rất nhiều trong việc vận dụng lý thuyết vềhình thái kinh tế-xã hội và học thuyết đấu tranh giai cấp vào việc phân kỳ lịch sử ViệtNam, và chính ông cũng sớm nhận ra rằng không thể cứ nhất nhất phải “gò” giai đoạnnày hay giai đoạn khác của lịch sử dân tộc vào hình thái kinh tế – xã hội này hay hìnhthái kinh tế-xã hội kia
Nguyên tắc quan trọng nhất trong nhận thức và trình bày lịch sử của Trần VănGiàu là tôn trọng sự thực Đó là cách viết sử mà ông gọi là “việc có ngày tháng, người
có tên tuổi” Sách ông viết, từ Chống xâm lăng, Giai cấp công nhân Việt Nam (hai
bộ) đến Miền Nam giữ vững thành đồng và Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam cứ
ngồn ngộn tư liệu, tư liệu từ nhiều phía, khai thác từ nhiều nguồn Ông lại vốn rất cẩntrọng trong sưu tầm và sử dụng sử liệu, luôn luôn phê phán, so sánh, định rõ độ xác tín
11
Trang 12của chúng Tư liệu ông đã dùng thường phải có chú dẫn rõ ràng Phần nào chưa rõ,còn nghi ngờ, ông cũng nói rõ để người đọc thận trọng, tự kiểm chứng Công trình củaông, dù ăm ắp những tư liệu nhưng người đọc không hề thấy nhàm chán, mà ngược lại
bị cuốn hút mạnh mẽ do cách ông biện giải rất hùng hồn, mạch lạc Vì thế mà khôngchỉ người học sử, nghiên cứu sử ở trong nước mà cả học giả nước ngoài cũng ham đọcsách của ông Ông là học giả Việt Nam đương đại được trích dẫn nhiều nhất trong cáccông trình của người nước ngoài viết về lịch sử Việt Nam cận đại Lật xem phần danhmục tài liệu tham khảo ở cuối các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoàinổi tiếng như David G Marr, William J Duiker, Jayne S Werner, Huỳnh Kim Khánh,Alexander B Woodside, Stein Tonnesson, Daniel Hemery, Pierre Brocheux, MartinMurray, Bernard B Fall, Shawn F McHale, Furuta Motoo, Wilfred Lulei, vv bao giờcũng có một vài đầu tài liệu của Trần Văn Giàu Không hẳn những học giả nói trênkhi tham khảo sách của ông đều nhất trí với các luận điểm của ông Dù ý kiến họ cókhác hoặc trái hẳn với quan điểm của ông – trong khoa học thì điều đó cũng là chuyệnbình thường thôi, thì họ đều tỏ ra nể trọng ông Không ít người ca ngợi ông chẳngkém gì học trò ông tôn vinh ông ở trong nước
Hai bộ sách của ông viết về lịch sử phong trào công nhân Việt Nam là nhữngcông trình được tham khảo và trích dẫn nhiều nhất ở cả trong nước và nước ngoài.Người ta tham khảo hai bộ sách này trước hết vì nó sống động và ngồn ngộn tư liệu,như đã nói ở trên Nhưng điều làm cho các bộ sách này được đánh giá cao, tham khảorộng rãi còn chính là vì phương pháp, cách tiếp cận mà Trần Văn Giàu thể hiện trongcác công trình nghiên cứu này Ở nước ngoài và nhất là ở Việt Nam có nhiều người đãtìm cách trình bày, lý giải các quá trình, sự kiện của lịch sử cận – hiện đại Việt Namtheo những cách khác nhau Tuy nhiên, trong phần lớn các công trình được phát hànhbằng nhiều thứ tiếng ở nhiều nước ấy đều có chung cách nhìn, cách trình bày khiếncho lịch sử chỉ còn là lịch sử của các chính đảng, các lãnh tụ, các tôn giáo và cácnhóm élite đủ loại Chỉ có trong các công trình nói trên của Trần Văn Giàu thì lịch sửmới thực sự được trình bày như là “sự nghiệp của quần chúng nhân dân”, trong đódiện mạo, hình hài, tâm tư, nguyện vọng, hoạt động của quần chúng đã được tái hiệnsinh động và cụ thể Cách viết sử ấy của Trần Văn giàu rõ ràng đã có ảnh hưởng mạnh
12
Trang 13mẽ đến nhận thức luận và các tiếp cận của nhiều học giả trong và ngoài nước Ở ViệtNam, kế tiếp công trình của ông đã xuất hiện một số nghiên cứu khác rất có giá trị vềcông nhân, nông dân, phụ nữ vv được thực hiện theo cách tiếp cận này Ở nước ngoài,phải đợi tới giữa những năm 90 của thế kỷ trước mới xuất hiện một vài nghiên cứutheo hướng “bottom up”, trong đó cuốn sách đồ sộ của David G Marr về Cách mạngtháng Tám Vietnam 1945: the Quest for Power là công trình tiêu biểu nhất.
Ngày nay, việc áp dụng các cách tiếp cận của nhân học, xã hội học và folklorehọc vào nghiên cứu và trình bày lịch sử theo kiểu “bottom up” đang ngày một trở nênthịnh hành trong giới sử gia nhiều nước, và đã bắt đầu có dấu hiệu trở thành xu hướng
cực đoan, “thấy cây mà không thấy rừng” Chính trong bối cảnh này bộ sách Giai cấp
công nhân Việt Nam của Trần Văn Giàu lại càng khẳng định được giá trị có tínhphương pháp luận của nó Trong khi viết sử, dù lấy phong trào quần chúng làm đốitượng chính, Trần Văn Giàu không bị sa vào một thứ "dân tuý" nào đó Ông vẫn duytrì được cái nhìn đa diện, đa chiều, không cực đoan, không thiên lệch Nghiên cứu vềcông nhân mà chỉ ra cái ranh giới chính trị-xã hội vừa rõ ràng, vừa mong manh giữahai lớp người, một lớp là “thầy”, lớp kia là “thợ”; chỉ ra được mối tương tác giữachính thể, đoàn thể quần chúng và giai cấp công nhân, thì ở Việt Nam chỉ có Trần VănGiàu làm được, còn ở nước ngoài Joseph Buttinger và Martin Muray mới chỉ gợi rađược một vài ý tưởng mà thôi
Bộ sách khác của Trần Văn Giàu cũng rất nổi tiếng cả ở trong nước và ở nướcngoài chính là bộ công trình gồm ba tập Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế
kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám mà ông công bố trong khoảng thời gian
1973-1993 Đây chính là bộ công trình mà ông Dụng công, Dụng tâm, Dụng trí nhiều hơn
cả để hoàn thành Vốn chuyên viết giáo trình, khảo cứu và dựng lại lịch sử các phongtrào quần chúng, khi bắt đầu bước sang lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng ViệtNam, Trần Văn Giàu biết rất rõ rằng ông đang tự mình đảm nhận một nhiệm vụ rấtkhó khăn, phức tạp
Tháng 11/1986, Trần Văn Giàu sáng lập ra Hội Khoa học Lịch sử Tp.HCM, làchủ tịch đầu tiên và chủ tịch danh dự trọn đời của hội Từ năm 1990, Trần Văn Giàu
và đại tướng Võ Nguyên Giáp được tôn vinh là chủ tịch danh dự của Hội Khoa học
13
Trang 14Lịch sử Việt Nam Và nhân dịp kỉ niệm 90 tuổi của mình, Trần Văn Giàu đã lập nêngiải thưởng Trần Văn Giàu nhằm cổ vũ và khích lệ tinh thần dấn thân khoa học chocác nhà khoa học trên hai lĩnh vực tư tưởng triết học và khoa học lịch sử.
Để ghi nhớ những đóng góp của Trần Văn Giàu Đảng và Nhà nước ta cũng đãphong tặng cho ông nhiều danh hiệu cao quý như danh hiệu Nhà giáo nhân dân(1992), Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996), Anh hùng Lao động (2003) và nhiều huânchương, huy chương khác
Trần Văn Giàu mất ngày 16/12/2010, để lại bao nhiêu niềm thương tiếc trongngành sử nói riêng và cả nước nói chung Sống trọn một thế kỉ, hầu như cả đời TrầnVăn Giàu đã cống hiến cho cách mạng, cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp khoa họccủa nước nhà Trần Văn Giàu xứng đáng là một vĩ nhân và là một tấm gương mẫumực cho chúng ta noi theo
Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng Lao động Trần Văn Giàu, tác giả củanhững công trình được tuyển chọn và giới thiệu trong tập I và tập II của bộ sách quý
“Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh” do Trung tâm KHXH&NV Quốc gia(nay là Viện KHXH Việt Nam) ấn hành năm 2003 không chỉ là một học giả lớn màchính là một nhân cách lớn Nét đặc sắc nhất trong nhân cách Trần Văn Giàu là ở chỗcon người ông chính là sự hoà quyện nhuần nhuyễn của một người chiến sĩ yêu nước,nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhà giáo mẫu mực và nhà học giả uyên thâm Nhưng
có lẽ nói như thế vẫn còn chưa đủ Bất cứ ai được gặp ông, dù chỉ thoáng qua hayđược sống và làm việc gần gũi với ông, đều nhận ra rất rõ rằng Trần Văn Giàu trướchết là một nhân sĩ Nam Bộ điển hình Chất Nam Bộ toát ra từ trong giọng nói, nétcười, trong cách cư xử hàng ngày – vừa nhân hậu, bao dung nhưng cũng rất quyết liệt,thẳng thắn, vừa rất nghiêm khắc nhưng lại chân tình, nồng ấm có pha một chút gì đórất hóm hỉnh, vui vui, vừa cao ngạo mà lại rất dung dị Và tố chất Nam Bộ ấy cũngthẩm thấu vào mỗi công việc ông làm, từ hoạt động cách mạng cho tới nghiên cứukhoa học, trong mỗi ý tưởng và trên từng trang viết
Lộ trình bão tố gập ghềnh của đời ông, từ một trí thức Tây học, con nhà giàu,trở thành nhà cách mạng chuyên nghiệp, tù nhân, lãnh tụ, rồi cuối cùng thành học giả,
14
Trang 15thành người viết sử, là lộ trình của nhiều niềm đau nhân thế Cha ông mất khi ông cònbiệt xứ, nhiều năm sau trốn mật thám trở về lặng lẽ lạy mồ cha ở một khu ruộng giữađêm vắng vẻ Rồi mẹ ông cũng lặng lẽ ra đi khi ông còn bôn ba khắp các chiếntrường Người vợ hiền thục của ông phôi pha cả tuổi thanh xuân mòn mỏi đợi chồng,
có lúc đã phải vào chùa đi tu để tránh sự gièm pha ác độc của dư luận … Nhưng đómới chỉ là “những niềm đau nhỏ” Còn những nỗi buồn, những niềm đau lớn hơn đãbám đuổi, ám ảnh ông suốt nhiều năm tháng Có thấu hiểu những nỗi niềm của lòngông ta mới phần nào thấy được nghị lực phi thường của ông, mới hiểu được rằng ôngkhông chỉ là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một học giả, người Thầy lớn, mà cònchính là một nhân cách lớn
1.2 Đôi nét về tác phẩm “Giai cấp công nhân Việt Nam”:
Tác phẩm Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời nhân dịp kỉ niệm 40 năm Cách
mạng tháng Mười vĩ đại Năm 1957, Trần Văn Giàu đã tập hợp những bài nghiên cứu
về sự hình thành của giai cấp công nhân, sự biến chuyển của công nhân Việt Nam từgiai cấp “tự mình” đến giai cấp “cho mình” Những bài viết này được đăng trên tạpchí Học tập, cơ quan lý luận và chính trị của Đảng lao động Việt Nam Từ những bàiviết đó, tác giả đã sắp xếp, bổ sung, sửa chữa một ít thành sách và được nhà xuất bản
Sự thật xuất bản dưới nhan đề Giai cấp công nhân Việt Nam
Trong lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm có 6 chương viết về những nội dungchính sau:
- Thời gian hình thành của giai cấp công nhân Việt Nam, của giai cấp tư sản dântộc Việt Nam
- Những tầng lớp bóc lột, những cách bóc lột phức tạp mà các loại công nhânkhác nhau phải chịu hồi ấy
- Những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam; ưu và nhược điểm của nó;
sự phân bố địa lý và nghề nghiệp của giai cấp công nhân
- Tính chất giai cấp của các chính đảng như Thanh niên cách mạng đồng chí hội,Tân Việt cách mạng đảng
15
Trang 16- Phong trào công nhân có phải là phong trào mới mẻ từ 1924 trở đi hay nó đã có
từ lâu, có truyền thống tốt và lại bền bỉ, hướng lên, hơn tất cả các phong tràokhác?
- Những điều kiện chính trị của phong trào công nhân từ 1919 đến 1929
- Những giai đoạn trong phong trào công nhân trước năm 1930 và quan hệ của
nó với phong trào dân tộc nói chung
- Có phải rằng ở Việt Nam chính phong trào công nhân đấu tranh là nguồn gốc
cơ bản của sự thành lập Đảng cộng sản chăng, hay là như có người đã viết,phong trào công nhân và phong trào cộng sản là hai phong trào riêng biệt nhau
từ lâu, “đến năm 1930 mới tạm thời gặp nhau”?
Chủ tịch Tôn Đức Thắng khi đọc tác phẩm trong lần xuất bản đầu tiên có nhậnxét như sau:
Đây là công trình nghiên cứu khá công phu, nếu tôi không lầm thì vì chưa có aiviết về Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, cho nên việc nghiên cứu gặp nhiều khókhăn Tác giả đã rất cố gắng
- Quyển “Giai cấp công nhân Việt Nam” nói rõ sự hình thành và phát triển củagiai cấp công nhân Việt Nam, nó bốc trần được những luận điệu lừa dối của chủ nghĩa
đế quốc, cái mà chúng nó gọi “sứ mạng khai hóa cái dân tộc lạc hậu” là điều gian trá.Nhưng tác giả chưa tả hết tình cảnh bị bóc lột mà giai cấp công nhân Việt Nam đãphải chịu
- Có đế quốc là có bóc lột, có đế quốc bóc lột là có công nhân; có công nhânbóc lột thì có công nhân đấu tranh Tác giả đã phát hiện được nhiều cuộc đấu tranh màchúng ta chưa nghe nói, nhưng quyển “Giai cấp công nhân Việt Nam” mô tả chưa đủquá trình đấu tranh ấy với tất cả khó khăn của một cuộc bãi công trong điều kiện thựcdân thắng thế
- Trước có giai cấp công nhân và công nhân đấu tranh, sau mới có tổ chức củagiai cấp công nhân, tổ chức làm cho công nhân đấu tranh mạnh lớn nữa, và giai cấpcông nhân trở thành trụ cột cho sự đoàn kết rộng rãi của dân tộc Điều đó nói lên rằng,
16
Trang 17giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, rằng nó là đại biểu chân chính nhất củadân tộc.
- Trong lần xuất bản thứ hai, từ sự đóng góp của đọc giả và sự hỗ trợ của tổ sửViệt Nam, mà sách đã thêm hai chương mới là chương đầu và chương cuối Chươngđầu nói về công nghiệp và công nhân Việt Nam trước khi nước ta bị Pháp xâm chiếm.Chương cuối nói về cao trào công nhân và nông dân từ 1-5-1930 đến Xô Viết Nghệ
An, là giai đoạn của phong trào công nhân sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau đổithành Đảng Cộng Sản Đông Dương) được thành lập Như vậy tác phẩm có támchương
- Bên cạnh việc bổ sung thêm hai chương, các chương khác của quyển Giai cấpcông nhân Việt Nam cũng đã bổ sung những tài liệu mới và các vấn đề mới, chủ yếulà: nghiên cứu sơ lược các thể lệ lao động, nghiên cứu sơ lược vấn đề cố nông và nửa
vô sản ở nông thôn Bắc, Trung, Nam, nghiên cứu sơ lược vấn đề thủ công nghiệp vàthủ công Việt Nam
Tìm thêm nhân chứng bằng cách trực tiếp đi đàm luận với một số các lão côngnhân ở Hồng Gai, Cẩm Phả, Hải Phòng, Nam Định, Bến Thủy để biết rõ hơn tình hìnhsinh hoạt, lao động, đấu tranh của công nhân; qua lời kể của các lão đồng chí biết rõthêm một số điểm về lịch sử của phong trào cộng sản trước năm 1930
Tìm thêm những hồ sơ của phủ Toàn quyền Đông Dương, phủ Thống sứ Bắc
Kỳ và sử dụng một số hồ sơ, tài liệu mà Sở bảo tồn vừa mới tập hợp lại được
Như vậy, có thể nói, những thiếu sót trong lần xuất bản đầu tiên đã được khắcphục, bổ sung trong lần xuất bản thứ hai đã làm cho tác phẩm hoàn thiện hơn và trởthành một nguồn sử liệu đáng quý, cung cấp những tư liệu khi nghiên cứu về giai cấpcông nhân Việt Nam
17
Trang 18CHƯƠNG II: NỘI DUNG CHÍNH CỦA TÁC PHẨM 2.1 Chương thứ nhất: Công nghiệp và công nhân Việt Nam trước khi nước ta bị thực dân Pháp xâm chiếm:
Trong chương này, trước tiên tác giả đặt vấn đề: “Trước khi có tiếng súng xâm
lăng của chủ nghĩa thực dân ở Đà Nẵng năm 1858, thì tình hình kinh tế và xã hội Việt Nam có những đặc điểm gì? Đã có ít nhiều quan hệ tư bản hay chưa? Đã có giai cấp
tư sản và vô sản hay chưa? Đó là những vấn đề có liên can sâu sắc đến sự nghiên cứu
về lịch sử của giai cấp công nhân” 7 Đó là những câu hỏi để tìm tiền đề hình thànhgiai cấp công nhân Sau khi đặt vấn đề tác giả đi vào những mục cụ thể để trả lời
những câu hỏi đó, tác giả đã làm rõ những quan điểm như: “tình trạng lưu tán của
nông dân trong lúc thành thị hầu như chưa có, tình hình của công nghiệp và công nhân dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn, và, đánh giá những yếu tố tiền tư bản chủ nghĩa Việt Nam hồi giữa thế kỷ XIX cho đến khi Pháp chiếm Hà Nội lần thứ hai (1883) Chúng tôi cũng chú ý đến những cuộc đấu tranh của những người thợ trong giai đoạn ấy chống với triều đình mặc dầu lúc ấy để chống với triều đình, họ không thể gây một phong trào riêng, họ chỉ có thể đứng dưới cờ của một nhóm phong kiến nào đó”
Cụ thể trong chương thứ nhất này tác giả đưa ra các luận điểm bằng nhữngchương mục nhỏ như sau:
1 Trong lúc chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu, ở Pháp, thì, vàogiữa thế kỷ XIX, nền kinh tế Việt Nam còn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu;
2 Thương nghiệp lạc hậu lại còn bị thụt lùi (tác giả chứng minh bằng các mụcnhỏ: a Tình hình các thành thị hồi giữa thế kỷ XIX; b Tình trạng thương mại của ViệtNam hồi giữa thế kỷ XIX);
3 Tình hình công nghiệp và công nhân ở Việt Nam giữa thế kỷ XIX ( bao gồmcác mục nhỏ: a Công nghiệp tại gia: nghề thủ công của nông dân, b Thủ công nghiệp
lẻ tẻ ở các lang các chợ, c hình thức tác hợp tư bản đã xuất hiện chưa?, d Có tính chất
18
Trang 19tư bản của tư nhân: công nghiệp khai thác mỏ và những đặc điểm của nghề làm mỏtrong thời kỳ lịch sử này, đ Những công nghiệp và công trường của nhà nước);
4 Tình hình công thương Việt Nam từ sau khi mất Nam kỳ đến khi Hà Nội thấtthủ lần hai;
5 Trong giai đoạn lịch sử này, chưa có thể nói rằng có phong trào công nhân,nhưng đã thấy những nhóm, những lớp công nhân tham gia các cuộc đấu tranh và khởinghĩa của nhân dân chống lại triều đình Huế
Phần một tác giả đã nêu lên quan điểm của mình: “Trong lúc Chủ nghĩa tư bản
phát triển mạnh ở Châu Âu, ở Pháp thì vào giữa thế kỉ XIX nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu” 8 Để làm rõ cho quan điểm này tácgiả đã so sánh hai nền kinh tế giữa một bên là châu Âu và một bên là phía ta trongcùng thời điểm Xét về phía các nước bên châu Âu thì nhiều nước đã tiến lên conđường tư bản chủ nghĩa từ thế kỉ XV, XVI Thế kỉ XVIII, XIX là thời kì phát triểnmạnh của Chủ nghĩa tư bản phương Tây mà điển hình là nước Anh với sự xuất hiệncủa máy tư động vào sản xuất, đến giữa thế kỉ XIX cả Anh và Pháp sự sản xuất bằngmáy thắng hẳn sự lao động bằng chân tay theo lối thủ công nghiệp hay thủ côngxưởng Tất cả những điều mà tác giả đưa ra chứng tỏ rõ ràng vào thời điểm này nềnkinh tế phương Tây thật sự phát triển tột bậc Giai cấp công nhân hiện đại hình thànhvới sự phát huy của nền đại công nghiệp tiến lên tư bản độc quyền, tư bản tài chính.Giai cấp công nhân trở thành lực lượng chính trị độc lập và được bắt đầu vũ trangbằng chủ nghĩa Mác9 Trong khi đó cũng cùng thời gian này ở nước ta lại trái ngượchoàn toàn vẩn là một nền nông nghiệp lạc hậu đang lúc suy đốn Tác giả chứng minhcho sự suy đốn này bằng những ý sau:
• Công nghiệp chưa có gì nhiều hầu hết nhân dân sống về nghề ruộng rấy Thunhập tài chính của triều đình phụ thuộc vào thuế đinh và thuế điền chứ không phải docôn thương mà ra Mặc dù công thương nghiệp cũng có nhưng rất ít không đáng kể
19
Trang 20• Tô nhân dân đóng cho nhà nước hầu hết là tô hiện vật còn hình thức tiền bạccủa địa tô chưa xuất hiện.
• Phân hóa nông dân rõ rệt, hiện tượng chủ yếu của xã hội lúc này là hiện tượnglưu tán do nhiều nguyên nhân như cường hào thôn tính đất, thiên tai, dịch họa, chiếntranh…bõ ruộng hoang tha phương cầu thực, trằm trọng nhất dưới thời các vuaNguyễn, thành thị chưa đáng kể, công thương kém cõi và còn bị những luật lệ lổi thờikiềm chế
Kết lại cho phần một nhỏ này tác giả đã giải thích cho nguyên nhân của sự lạchậu về kinh tế Việt Nam thời gian này là do sự kiêm tính đất đai nhưng đây khôngphải là nguyên nhân xâu xa nhất Mà nguyên nhân chính đó là nông nghiệp mâu thuẫnvới chế độ ức thương, nền nông nghiệp bắt đầu có tính chất thương mại mà nhàNguyễn thì ngăn cản sự phát triển của thương mại nhất là cấm bán lúa làm trở ngạicho sự thành lập tất yếu của thị trường dân tộc, làm trở ngại cho sự tiến triển củanông, công, thương, trở ngại cho việc lập thành thị Tất cả những điều này cho thấynền kinh tế nước ta thời gian này rõ ràng là vẫn mang tính chất nền kinh tế nôngnghiệp lạc hậu được chứng minh bằng những luận điểm rất thuyết phục
Sang phần hai tác giả tài hiện lại bức tranh của thương nghiệp Việt Nam “đã
lạc hậu nay còn bị thụt lùi” Để làm rõ quan điểm này tác giả dùng hai dẫn chứng sau:
Thứ nhất: Phác họa tình hình thành thị vào giữa thế kỉ XIX Nếu dân thành thị
tăng mà dân thôn quê giảm thì đó là trạng thái biểu hiện cho sự phát triển của tư bảnchủ nghĩa và ngược lại nếu thành thị chưa có mà số dân lưu tán tăng lại không đượcgiải quyết bằng sự làm ăn trong thành thị thì xã hội ấy còn chưa vào tư bản Căn cứvào đây nếu xét từ Nam ra Bắc thì thành thị nước ta không đáng kể gì trong thời giannày Miền Nam có Chợ Lớn, Gia Định nhưng rồi do chiến tranh cũng trở nên xơ xác.Miền Trung thì Hội An và Đà Nẵng cũng tiêu điều, ra tới miền Bắc thì Phố Hiến, NamĐịnh, Quảng Yên không hơn gì miền Trung, chỉ còn có Hà Nội và Lạng Sơn là tấpnập Tất cả điều này là do công thương nghiệp chưa phát triển, người dân phiêu tánchưa tìm được việc làm trong thành thị mà chỉ đi từ làng này sang làng khác, từ tỉnh
20
Trang 21này sang tỉnh khác rốt cuộc cũng trong phạm vi làng và làm dân ngoại tịch rơi từ tayđịa chủ này sang địa chủ khác chứ không được trang bị bằng quá trình công nhân hóa.
Thứ hai: Tình trạng của thương mai Việt Nam vào giữa thế kỉ XIX Phía triều
đình: về ngoại thương không cho dân xuất cảng hoàng hóa, cấm đóng tàu bè vượtbiển, việc mua bán với ngoại quốc chỉ có triều đình mới được làm, khi tàu ngoại quốccập cảng quyền mua hàng hòa cũng phải là triều đình mua trước còn lại mới bán chodân, từ chối thông thương với bên ngoài với lý do truyền đạo, do thám nước ta Cònnội thương thì xem là nghề thấp nhất trong xã hội, rất ít người Việt chuyên nghề buônbán mà tập trung hầu hết vào tay Hoa kiều, thuyền bè của nhân dân bị nhà nước trưngdụng tới nổi dân phải làm thủng thuyền mình Về nhân dân thì sự đình đốn của thủcông nghiệp ảnh hưởng ngược lại tới thương mại làm đình đốn cả nền thương mại.Như vậy từ những điều này đã chứng tỏ rằng thường nghiệp nước ta thời kì này ngàycàng lạc hậu trầm trọng
Sang phần ba tác giả phác họa bức tranh “công nghiệp và công nhân Viện Nam
vào giữa thế kỉ XIX” Đó chính là những hình thức của công nghiệp Việt Nam dưới
triều Nguyễn trước 1858 Có những hình thức sau đây của công nghiệp:
Nghề thủ công ở nước ta một phần do truyền thống lâu đời, một phần nửa là do
sự học hỏi Trung Quốc, tiến sớm hơn và tiến cao hơn về mặt sức sản xuất và sự giaodịch với phương Tây phần nào cũng ảnh hưởng tới công nghiệp nước ta Cho tới thờiNguyễn thủ công nghiệp nước ta đã đạt tới một trình độ cơ bản như sau:
• Công nghiệp tại gia, nghề thủ công của nông dân: Là hình thức công nghiệpphổ biết nhất nước ta thời kì này, công nghiệp chưa phải là một nghề nghiệp độc lập
mà vẩn dích liền với nông nghiệp bà đây chỉ là nghề phụ
• Thủ công chuyên nghiệp lẻ tẻ ở các làng, các chợ: đã tách ra khỏi nôngnghiệp hay đúng hơn đây là nghề chính và sản phẩm làm ra không còn phục vụ chochính người sản xuất nữa mà đã bán cho người có nhu cầu tiêu dùng Người sản xuấtmón hàng công nghiệp có thể đồng thời là người làm ra nguyên vật liệu nhưng giờ thìthường đi mua những nguyên vật liệu từ nơi khác và thể hiện rõ nhất là sự xuất hiệncác làng nghề
21
Trang 22• Hình thức hợp tác tư bản đơn giản: trong số khá đông của những người tiểuthủ công thì những nhà công thương đã tới mức hợp tác tư bản đơn giản, hợp tác tưbản đơn giản này tuy còn ít song nó tiêu biểu cho khả năng phát triển tư bản.mà điểnhình là hình thức phường hay ty Người không vào phường vẫn có thể tìm được việclàm vì tổ chức này không chặt chẻ như phương Tây.
• Công nghiệp có tính chất tư bản của tư nhân thể hiện rõ ờ ngành khai thác mõtuy nhiên vào thời kì này thì ngày càng sụt lùi, quy mô không lớn kĩ thuật thô sơ.Triều đình cho tư nhân thầu mõ rồi thu lợi bằng sản vật và hầu hết những người thầu
mõ là Hoa kiều, sản lượng khai thác còn thấp
• Công nghiệp và công trường nhà nước: Nhà nước có những công xưởng củamình như sở đúc tiền, sở in mà đáng kể nhất là sở làm vũ khí, trong đó nổi bật là nghềđóng thuyền Triều đình không chỉ tự đóng mà còn học hỏi cách làm thuyền của nướcngoài, đồng thời trưng dụng thợ khéo các nơi Ngoài ra triều đình còn có các xưởngdệt, mộc, làm đồ đồng…Nhưng sản phẩm làm ra chủ yếu không phải để xuất khẩu mà
là cung cấp cho hoàng cung, về sau mới lập Chiêu thương cuộc để xuất nhập cảng
Như vậy nhìn qua bức tranh mà tác giả đã khắc họa chúng ta thấy rằng tìnhhình công nghiệp và công nhân Việt Nàm vào giữa thế kỉ XIX vẩn chưa là gì so vớiphương Tây cả kĩ thuật nước ta còn thô sơ, Tuy đã có sự nhá nhem của những hìnhthức tư bản chủ nghĩa nhưng tất cả cụng là một bức tranh gần như điệu tàn còn lạc hậu
và triều đình phải chịu trách nhiệm trong việc chậm phát triển này
Sang phần thứ tư, tác giả đã phác họa hình ảnh “tình hình công thương nghiệp
Việt Nam từ sau khi ta mất Nam Kì tới khi Hà Nội thất thủ lần thứ hai” 10 Tuy bứctranh này có nhiều sự thay đổi nhưng không có sự chuyển biến quan trọng
Từ khi Pháp chiếm Nam kì đến khi thất thủ Hà Nội lần 1: Không có sự thay đổinào đáng chú ý mặc dù có đặt nhà nuọi tằm, mua thuyền máy… nhưng vẩn cự tuyệtkhi những nước khác tới xin đặt lãnh sự, giao thương
22
Trang 23Từ sau khi thất thủ Hà Nội lần 1 tới lần 2: có nhiều sự đổi mới nhưng chủ yếu
là do người Pháp ngăn trở Ngoài Bắc lập sở thương chính Pháp – Việt, thương mại từNam ra Bắc và ngược lại được tự do và có nhiều bước tiến Thương mại với nướcngoài tiến bộ nhiều nhất từ xưa tới nay, nền kinh tế Việt Nam bị lôi cuốn vào nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa thế giới Tuy nhiên Pháp ngăn cản triều đình giao tiếp buôn bánvới nước ngoài mà hầu như mọi quyền hành nội ngoại thương đều do Pháp nắm
Tuy bức tranh công thương nghiệp trong giai đoạn này có nhiều sự tiến bộ màchúng ta cần ghi nhận nhưng xét cho cùng nền kinh tế nước ta trong khi Pháp nắmmọi quyền hành thì thật chất tất cả những lợi nhuận đều được chuyển về Pháp, Nềnkinh tế Việt Nam nhìn chung vẩn là nền kinh tế phụ thuộc và vẩn còn lạc hậu
Bước sang phần năm- phần cuối cùng, tác giả nêu lên quan điểm của mình để
tổng kết lại toàn bộ chương như sau: “Trong giai đoạn lịch sử này chưa có thể nói
rằng có phong trào công nhân nhưng đã thấy những nhóm, những lớp công nhân tham gia các cuộc đấu tranh và khỏi nghĩa của nhân dân chống lại triều đình Huế” 11
Theo chúng tôi nhận định luận điểm này là chính xác
Chúng ta biết rằng phong trào công nhân là một hiện lượng lịch sử, là thái độlịch sử của công nhân công nghiệp chỉ tồn tại và phát triển dưới chế độ tư bản chủnghĩa khi mà nền công nghiệp đã phát triển tới chừng mực tối thiểu nào và tập trungđược một số công nhân tối thiểu nào và trong phong trào đó giai cấp công nhân biểu
lộ rõ mọi sự hoạt động, một sức đấu tranh để cải thiện điều kiện sinh hoạt của mìnhđóng vai trò tích cực trong tiến bộ xã hội và chính trị Nếu như vậy thì rõ ràng là nước
ta chưa có phong trào công nhân vì trong giai đoạn này công nghiệp nước ta chủ yếu
là thủ công ít ỏi và phân tán
Có thể nói, đến giữa thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam vẫn là xã hội phong kiến lạchậu trong đó đã có một số cơ sở thủ công với công nghệ thấp, một số yếu tố tiền tưbản chủ nghĩa Trong đó tầng lớp công nhân và thủ công mặc dù ít ỏi nhưng cũng đã
23
Trang 24từng nổi lên chống nhà nước phong kiến, chống sự xâm lược của thực dân Pháp và tất
cả những điều này tuy chưa phải là thành tựu lớn nhưng cũng rất đáng ghi nhận
2.2 Chương thứ hai: Sự hình thành của giai cấp công nhân Việt Nam:
I Chính sách công thương của thực dân và tình hình của công nhân trong giai đoạn từ khi Pháp xâm chiếm nước ta đến cuối thế kỷ XIX:
Trong chương này sẽ trình bày về quá trình hình thành và quá trình đấu tranhcủa giai cấp công nhân Việt Nam từ khi Pháp xâm chiếm nước ta cho tới chiến tranhthế giới thứ nhất
Sự hình thành của giai cấp công nhân cũng chính là một trong yếu tố căn bảnnhất của sự hình thành dân tộc Việt Nam
Tác giả nhận định: “chính vì thời kỳ này là thời kỳ Pháp mở một số tạo tác và
công thương để hoàn thành việc xâm chiếm, mặt khác thì nó chưa có chính sách kinh
tế lâu dài, hệ thống Phải chờ đến khi Paul Doumer sang thì thời kỳ mò mẫn mới nhường chỗ cho thời kỳ khai thác có hệ thống Do đó công nghiệp ở Việt Nam có sự đổi mới, nhưng đổi mới với một chừng mực nhất định làm cho tầng lớp vô sản công nghiệp bắt đấu nảy nở, nhưng trong vòng thế kỷ XIX thì số lượng tầng lớp vô sản chưa vương lên thành giai cấp vô sản, dù là giai cấp tự nó Tuy nhiên, phong trào Cần vương, tầng lớp vô sản ấy đã tham gia khá mạnh vào cuộc chiến đấu chống kẻ xâm lăng” 12
2.2.1 Giai đoạn đầu ở Nam kỳ trước 1883:
Trong khoảng thời gian từ khi Pháp đánh chiếm Gia Định đến 1882 – 1883,công nghiệp mới chập chững những bước đi đầu Một số công việc nảy sinh xuất hiệnmột nhóm công nhân ở Sài Gòn đó là sự thành lập cơ sở đóng tàu “Ba son” do Pháplập đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng 1864, tập hợp được nhiều thợ và cu li Năm
1866, Pháp đã làm nơi tạm trú để sửa chữa tàu thuyền, ngoài ra xây dựng chợ ở gầnngã ba sông Rạch sõi ( tức là khu chợ cũ Sài gòn lúc bấy giờ) họ vét kinh, lấp các ao
hồ vũng lầy xung quanh để xây dựng nhà cửa,
24
Trang 25Qua những đợt tàu thuyền ra vào Sài Gòn người ta có thể đoán được công nhânbến tàu đã là một số khá quan trọng ví như năm 1862, có 11 tàu châu Âu và 140 tàunước khác đến Sài gòn Đó là những ví dụ để cho thấy được công nhân dần dân đượcthành lập.
Năm 1862, Pháp xây dựng thành phố Sài Gòn Năm 1859, dân ta bỏ đi nhưngđến 1864 thì lại đông đúc, có thêm 6000 Hoa kiều và 200 Ấn kiều, phần lớn nhữngngười này họ đều buôn bán, ở Chợ lớn đã bắt đầu có nhiều xưởng xây lúa, nấu dầudừa Sài gòn và Chợ lớn con số dân lên đến 10 vạn dân với nhiều ngành nghề đa dạngnhưng cũng lẻ tẻ như thợ nề, thợ may, thợ da, bên cạnh đó, Sài gòn đã có báo chữPháp và chữ Việt, có một số nhà in,v.v
Đến lúc này đây Pháp cũng có chú ý đến công nghiệp nhưng chưa sâu sắc lắm.Pháp cho xây dựng nhiều nhà máy như nhà máy sợi, nhà máy cưa nhưng lại thất bại.Theo tôi, nghĩ do Pháp chưa tìm hiểu kỹ đất nước Việt Nam lúc bây giờ người ViệtNam chỉ chú trọng về nông nghiệp hơn là về công nghiệp, và chưa có điều kiện pháttriển nên trở nên thất bại Chúng đã bắt đầu trồng thứ cây công nghiệp mới, nhưng lạithất bại Do Pháp chưa hiểu được vấn đề đất đai nơi đây Vì vậy mà lúc này đây thìchưa có công nhân đồn điền
Số công nhân đông đúc thuộc ngành kiến trúc tạo tác và xuất khẩu gạo, xaygiã, Số liệu chứng minh cho sự đông đúc của công nhân: năm 1867, Sài Gòn xuấtkhẩu 192.997 tấn gạo Năm 1877, xuất khẩu 510.495 tấn gạo
Sự phồn thịnh tương đối của Sài Gòn – Chợ Lớn chủ yếu là ở chỗ xuất khẩugạo; số công nhân đông nhất là thuộc các ngành kiến trúc tạo tác và các ngành dínhdáng đền nghề xuất khẩu gạo Bấy giờ khó tìm được các cuộc đấu tranh của công nhânViệt Nam ở Nam kỳ thuở đó Tuy là công nhân có đấu tranh, nhưng thực tế chưa có gìđáng gọi là phong trào công nhân, chẳng qua là một bộ phận của một phong tràokháng chiến chung của nhân dân lục tỉnh Ví dụ những cuộc đấu tranh tiêu biểu : vụđầu độc các võ quan Pháp ở Sài gòn (4/1861), bốn vạn công nhân đào kenh vòng Sàigòn, Chợ lớn cũng đấu tranh
25
Trang 26Những cuộc đấu tranh đó xảy ra do tình trạng công nhân bị đối xử tàn bạo, bịbóc lột nặng nề, bắt đi sưu dịch, điều kiện làm việc khó khăn, làm mà có lợi cho thực
dân, không làm lợi được cho dân tộc, cuộc sống khắc khổ Rồi hiện tượng “bán mọi
bòn bon” có nghĩa là bắt những người tình nghi chống Pháp, những nhà ái quốc lục
tỉnh bỏ vào bao, cột lại rồi đưa ra Chợ Sài Gòn bán như những bao lúa, bao ngô Việcbán người như vậy có mục đích đưa người sang những nơi thuộc địa của Pháp để làmđồn điền trên đảo Buốc– bông thuộc miền Tây Ấn Độ Dương, nên gọi là: “bọn mọibòn bon”, gây ra sự căm phẫn bất mãn căm ghét của nhân dân với chế độ bán ngườinhư những món hàng qua lại Thủ khoa Huân cũng bị bắt trong đợt này Về sau thìkhông còn tình trạng bỏ người vào bao nửa mà chỉ đưa sang các nước thuộc địa khác
2.2.2 Giai đoạn thứ hai từ năm 1883-1884 đến 1897-1898:
Đây là giai đoạn xâm lược và hoàn thành cuộc xâm lược của Pháp ở Việt Nam.Bởi vì là giai đoạn ban đầu xâm lược và hoàn thành cuộc xâm lược khiến cho Pháp e
dè trong chính sách đầu tư, đang chập chững tìm hiểu thị trường Việt Nam nên chưa
có hệ thống quy củ hay nói rõ hơn là Pháp chưa có chính sách rõ rệt một phần cuộcđấu tranh của dân tộc Việt Nam khiến nền tài chính của Pháp nguy ngập
Nhưng, Pháp vẫn muốn ráo riết sử dụng những hình thức lấy chiến tranh nuôichiến tranh, đây vẫn là giai đoạn bóc lột kinh tế vô cùng ráo riết Và điều này tạo ramột số công nghệ và xí nghiệp được hình thành, qua đó làm cho công nghiệp ViệtNam chịu ảnh hưởng, chính vì thế mà công nhân lại phát triển lên nhất là ở Bắc Kỳ lànơi có nhiều nhân công, lại rẻ, có truyền thống công nghiệp nhất ở Việt Nam Ở đâylại có nhiều mỏ than, hầm mỏ Lúc trước nơi đây là của người Hoa kiều và Việt Nam.Pháp thấy đây là nơi có điều kiện tốt
Trước tiên, tìm hiểu về quá trình phát triển của công nhân Việt Nam từ 1884đến khi Toàn quyền Paul Đu-me sang
a) Xay gạo.
Đây là ngành có nhiều phát triển, riêng Nam kỳ (1895) đã có tới 200 xưởng thủcông lớn nhỏ cho ngành xuất khẩu Ngoài ra có nhà máy xay gạo chạy bằng hơi nước
26
Trang 27cho thấy được sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật Điều đáng nói là ở miền Bắc và miềnTrung lại chưa có xay gạo Sự xuất khẩu gạo lại dẫn đến nhiều ngành nghề ra đời đặcbiệt là bến tàu Sài gòn.
b) Nghề mỏ
Khi mà chiếm được Việt Nam, Pháp đã chớp nhoáng ngay đến vùng mỏ như
mỏ Hồng Gai với lượng xuất khẩu là 10.000 đến 12.000 tấn than để có được trữ lượngxuất khẩu phải đến 4000 công nhân đây là con số không hề nhỏ, hay mỏ Cái bầu Phápkhai thác từ 1891 đến 1895,Pháp bỏ vào đây 6 triệu phơrăng mỗi ngày khai thác được
300 tấn than gạch, rồi Pháp cướp mỏ than Nông Sơn (Quảng Nam), Yên Bái nhưngkhông được bao lâu rồi bị đóng cửa
Để khuyến khích cho việc tìm kiếm mỏ và khai thác mỏ than chính quyền Phápthi hành một số chính sách có lợi cho những người chủ mỏ : cứ theo nghị định tháng10/1888, mỗi tấn than phải đóng thuế 0,75 phơ răng khi sản xuất cộng với 3% khi xuấtkhẩu và đóng thêm 0,10 phơ răng tiền thống kê; gộp tất cả là 10% giá bán việc đánhthuê đối với người chủ mỏ được giảm rất nhẹ, điều đó cho thấy Pháp rất khéo léotrong việc này, chỉ thu hồi thuế 10 phơ răng mỗi hec ta
Nhưng khi mà thị trường cần nguồn nguyên liệu mạnh thì Tư bản Pháp mớiđua nhau tìm mỏ khai thác, chỉ phải trả một lần mỗi hec ta 20 phơ răng thì được sửdụng mãi không cần trả thuế đất hàng năm
c) Một số công nghiệp mới của Pháp
Trong thời gian này xuất hiện nhiều công nghiệp mới như công nghiệp nấurượu cồn, đó chỉ là nghề phụ của nông dân Việt Nam, sau này thì có chế độ mới tự donấu rượu nhưng rượu của ta và của Hoa Kiều đánh thuế rất nặng trong khi đó rượu củaPháp đánh thuế rất nhẹ, Pháp lại trở thành độc quyền rượu
Công nghiệp làm diêm, nhà máy dệt, nhà máy gạch ngói, xưởng giấy, nhà in,xưởng xà phòng, đó là những ngành công nghiệp mới được thành lập và xuất hiệnnhiều nhà máy nổi lên trong giai đoạn này Điều đó chứng tỏ Pháp đã có đầu tư vàotrong lĩnh vực công nghiệp
27
Trang 28d) Công chính
Công chính có mối quan hệ đến sự hình thành của giai cấp công nhân
Nói chung công chính chỉ phát triển dồi dào ở miền Nam Còn miền Bắc vàmiền Trung Pháp không có công trình nào đáng kể chỉ có mục đích quân sự Khi màchiếm gần hết miền Bắc từ đấy công chính mới có điều kiện phát triển như xây dựngnhiều trại lính, xây dựng đồn bốt, xây nhà cửa, sự xây dựng ấy tốn 256.500 đồng
Đặt dây điện tín, xây dựng đường xe lửa sử dụng 5000 đến 6000 công nhân,các bến tàu tiếp tục phát triển
Trong thời kỳ này Pháp tập trung dân vào làm đường sá nhất là ở miền Bắc tạo
ra công ăn việc làm cho nhiều người nhưng tiền mà Pháp trả công nhân mỗi ngày chỉ
có được độ chừng nửa bát gạo Điều đó cho thấy sự bất công của Pháp trong việc đối
xử với công nhân Việt Nam
Nhìn chung, công nghệ của Pháp lúc này là nhỏ, dung tay nhiều hơn là máy,gần với thủ công xưởng hơn là nhà máy cận đại
đ) Công nghiệp của Việt Nam trong thời kỳ này:
Nam kỳ xảy ra rất nhiều biến cố đó là sự thiếu giảm của nghề dệt do vải lụanhập từ nước ngoài vào, bền đẹp mắt hơn Những ngành thủ công khác cũng phát triểnnhư nghề mộc, lò đường trại cưa
Ở Trung Kỳ không có sự thay đổi chỉ có nghề muối gặp điêu đứng, do Phápđánh thuế muối rất nặng, không chỉ có việc đó mà Pháp còn đánh thuế thuyền và thuếhàng ví như thuyền đi từ Việt trì xuống Hưng yên xuống thì đóng thuế xuất nhậpkhẩu một lần, còn từ Việt trì xuống Hải Phòng đóng ba lần thuế Ở bắc kỳ thì ngượclại mặc dù cạnh tranh với công nghiệp Pháp thì thủ công Việt Nam vẫn phát triểnthậm chí còn đông đúc hơn, nhưng đổi lại rất là vất vả
Nhiều tư bản Việt Nam mọc lên với vài xưởng xay gạo, làm thầu, làm trạilính, tuy chưa đông nhưng cũng đã cho thấy có sự phát tiển len lõi Nhìn chung,phần lớn là thủ công, lẻ tẻ chưa phát triển mạnh
28
Trang 29Nói chung, đồn điền ở Bắc kỳ có quy mô hơn ở Nam kỳ năm 1900, diện tíchcác đồn điền của Pháp là 322.000 héc ta trong đó ở Bắc Kỳ là 198.000 hec ta còn ởNam kỳ là 78.000 hec ta Pháp không dám chiếm đất ở vùng đông dân chỉ chiếm ởvùng trung du mà thôi
Năm 1890, pháp lại cổ động cho người Pháp bên chính quốc sang làm nghềnông Pháp nói rằng, đồn điền có người Pháp làm chủ dễ dàng cai trị dân Việt hơn.Nhưng bên không thiếu đất, dân số không tăng lên mà giảm xuống khiến cho dânPháp không qua Việt Nam
Đối với Việt Nam lại là khác với một địa chủ nhà giàu cũng khó xin một đồnđiền, bởi vì đồn điền là một miếng mồi ngon của Pháp Những vùng đông dân thìPháp cho tay sai chiếm công điền công thổ Chính vì vậy mà ngày nay, số công điềncòn lại rất ít Còn ở miền trung du Bắc kỳ , do chiến tranh nên dân rút vào núi màkháng Pháp, nên pháp thừa dịp làm chủ chiếm đoạt đất, mộ người ở xa đến làm tá điềnhay cu li
Tóm lại, đồn điền của Pháp là đồn điền trồng lúa, năm 1888 thì Pháp cũng lậpđồn điền cà phe, chè, và bắt đầu thử trồng cao su trước hết là Sài gòn và nhất là thủdầu một Sự phát triển đồn điền mạnh ở Nam kỳ thì Pháp cho bắt phu ở bắc kỳ vàoNam kỳ và có điều khác lạ hơn chế độ phu đồn điền ở Nam kỳ rất khắc nghiệt, bắtđầu có thể lệ về nhân công
g) Chưa mở kỹ nghệ thì đã lo kìm hãm
29
Trang 30Nhìn chung, thì một số công nghiệp, xưởng may, xí nghiệp đã rãi rác và pháttriển chính vì vậy đã thấy có sự xuất hiện của công nhân công nghiệp.
Nhưng do chiến tranh nên một số công nghiêp bị trở ngại, mà còn do chínhsách chèn ép của của chủ thực dân vì sợ một số công nghiệp này sẽ phát triển hơncông nghiệp ở chính quốc nên Pháp đã ra sức kìm hãm, làm cho nước ta phụ thuộcvào kinh tế của pháp, có ảnh hưởng đến sự phát triển của giai cấp công nhân
2.2.3 Công nhân đấu tranh và thể lệ nhân công trước khi Đume sang Việt Nam:
a) Công nhân đấu tranh:
Từ năm 1884 đến cuối thế kỷ XIX, tuy giai cấp công nhân chưa thành một giaicấp nhưng tầng lớp giai cấp công nhân đã có tinh thần tham gia chống lại kẻ xâmlược, tiêu biểu là phong trào Cần Vương Tuy không nhiều nhưng đã có ý thức đượcđấu tranh, vì họ đều xuất thân từ nông dân làm nhiều ngành nghề khác nhau
Tiêu biểu nhiều phong trào trong giai đoạn phong trào Cần Vương: ở Hà Nội
và các thị trấn đều đứng về phong trào Cần Vương, hay ở các nơi làm đường sắt côngnhân đấu tranh khá mạnh, bắt thầu khoáng, bắt những tên cai thầu, , hoặc ở các vùngkhai thác mỏ công nhân tham gia vũ trang khá mạnh, hay nhân dân tỉnh Hà Đông Sơntây , rồi đến Sài gòn
Tóm lại, vào thời gian này có những cuộc đấu tranh nhưng vẫn còn lẻ tẻ, chưa
có phong trào nào riêng biệt của công nhân Tuy nhiên, bên cạnh thợ thủ công truyềnthống thì cũng xuất hiện, một tầng lớp công nhân mới, xuất hiện một số nhà máy, xínghiệp nhưng ít vì vậy mà Pháp chưa dám đầu tư mạnh, giai cấp công nhân chưathành hình So với trước, thì lúc này đã có một số nhà máy tư bản, đã xuất hiện một sốcông nhân kỹ nghệ thành thị Đến lúc này đã có sự phân hóa giai cấp diễn ra trong quátrình khai thác thuộc địa của pháp
b) Thể lệ nhân công : nghị quyết 1/10/1885 và nghị định 21/4/1891
Có ba bản thệ lệ nhân công trong đó có hai bản quan trọng là:
30
Trang 31Nghị quyết 1/10/1885 là của tướng De Courcy Theo nghị quyết “những người
thợ và những người mướn trong nhà không phải là công dân Pháp đều bị bắt buộc phải có một tập sổ lao động” 13 Làm như vậy, Pháp muốn chặt chẽ số công nhân
Nghị định 21/4/1891 của toàn quyền Đông Dương phát triển nghị quyết của DeCourcy Thể lệ này thêm tính chất kinh tế và xã hội rõ rệt, tính chất chính trị, đàn áplại càng rõ ràng hơn Theo nghị định những người làm công cho pháp ở thành thị hay
ở nông thôn đều bắt buộc phải có sổ công nhân dễ bề quản lý, mà khi họ bỏ việc dễdàng xứ trí họ Những thể lệ này có mục đích làm cho Pháp được hưởng lợi, mà ngoài
ra dùng thể lệ này đàn áp công nhân
II Sự phát triển của kinh tế và công nghiệp từ đầu thế kỷ XX đến đại chiến thế giới thứ nhất công nhân đã thành giai cấp tự mình
Về căn bản Pháp đã hoàn thành cuộc xâm lược, các phong trào của ta bị thấtbại Vì vậy, mà Pháp có điều kiện đầu tư vào Việt Nam, việc đầu tiên toàn quyền Đu-
me là tăng thuế để có thêm tiền trang bị kinh tế, nuôi quân, tổn phí do chiến tranh, dothuế má tăng lên cao cho nên từ 1889 đến 1901 đều thăng thu
Năm 1902, Pháp có thể bỏ ra 5.600.000 đồng của ngân sách để chi tiêu về việcgửi quan sang Trung Quốc, trang bị thiết bị đường sắt và trả bớt nợ cũ Như vậy, Pháp
có khả năng xây dựng tạo sơ sở bóc lột hơn trước ngoài những chính sách như lấychiến tranh nuôi chiến tranh, mà còn có lấy tiền người Việt để bóc lột người Việt
1 Công chính
Giao thông là điều kiện cốt yếu để tiện cho việc khai thác như lời suy nghĩ của
Đu me cho nên giao thông được đầu tư rất mạnh, nhiều tuyến đường xe lửa đã hoànthành đường xe lửa Hà Nội- Lạng Sơn, nói chung trong ba kỳ, số công nhân xe lửa
đã đông đúc, đó là một sự huy động rất lớn, rất rộng nên nơi nào cũng phải nộp hàngvạn người Nhiều công nhân được huy động để vét kinh, vét sông ở các tỉnh miềnNam Hàng vạn công nhân làm đường, làm đá, làm cầu, làm cống, đã trở nên đôngđúc, nhưng không phải ai làm những công việc đó đều là công nhân, có một số người
31
Trang 32khi làm xong thì họ trở về với mảnh ruộng của mình Họ là công nhân ăn lương, tuyrằng đa số tạm thời là công nhân.
2 Công nghiệp của tư bản tư nhân Pháp và tư bản tư nhân Việt Nam trong thời gian đầu thế kỷ XX
Nhìn chung, từ khi Đu me sang đến năm 1907, thì phần lớn hoạt động côngnghiệp đều phụ thuộc vào công chính Nhưng từ Năm 1908 cho đến 1914, thì nhữnghoạt động trên bị đình đốn, một số tư nhân lại muốn mở mang công nghiệp, số còn lạithì cũng muốn nền công nghiệp Đông Dương phải tương đối độc lập với chính quốc,nhưng chính quyền vẫn quyết định là nền kinh tế Đông Dương phải phụ thuộc vào nềnkinh tế của Pháp
Năm 1903, tổng số nhà máy là 82 cái với số vốn bỏ ra rất cao 41.650.000 phơrăng Đến 1906 thì tăng lên 90 cái với số vốn 53.000.000 phơ răng
Ở Nam Kỳ, nhiều nhà máy mọc lên, mạnh như nhà máy xay, xưởng sữa chữa
ô tô, hãng làm nha, làm cầu cống, nhà máy rượu, xưởng đóng tàu, đó là xí nghiệpcủa Pháp Còn của Việt Nam là những người tư bản họ có một nhà máy gạo, máy in,hãng làm xà phòng, lò gốm, thuộc da, đó là những thủ công xưởng khá lớn
Ở Bắc Kỳ công nghiệp lại phát triển mạnh hơn nam Kỳ xuất hiện nhiều nhàmáy như nhà máy rượu Hải Phòng, nhà máy Diêm Hà Nội, nhà máy dệt Nam Định,nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy giấy Việt Trì, v.v
Nhiều mỏ than ngày càng quan trọng như mỏ than Hồng gai, Bắc Kỳ, hai mỏnày khai thác từ lâu Những mỏ than đang tìm kiếm như Phấn Rễ ở Thái Nguyên, mỏthan Đông Triều, đạt tổng lượng cao Ngoài ra còn khai thác mỏ thiếc ở Tĩnh Túc(Cao Bằng), mỏ kẽm, mỏ bạc, mỏ vàng, mỏ bạc , nhiều loại đa dạng
Số công nhân khá tập trung, nhiều nơi ở mỏ than khác nhau Nhiều công nhânViệt Hoa làm chung với nhau
Trong sự phát triển của công nghiệp, ở Bắc Kỳ những tư sản Việt Nam cũng đãchen chân ít nhiều ngành nghề ví như công ty Dệt lụa Thái Bình, công ty Bạch Thái
32
Trang 33Bưởi, ngành làm chiếu Phát Diệm, lò gốm Bát Tràng, làm đường sá, xe lửa, làm cầukiếm được nhiều tiền hơn do đứng ra làm thầu, hay sự xuất hiện của các công ty HoaKiều như công ty dệt chiếu Hoa kiều, các xưởng chiếu Quảng Hoa Hợp, HậuKỳ, Qua đó ta thấy được người Việt cũng đã có những xưởng thủ công tuy nhỏ yếunhưng đã có phát triển.
Ở Trung Kỳ tuy công nghiệp chậm chưa phát triến nhưng đầu thế kỷ XX, đã có
sự đổi thay sự xuất hiện một số công nghiệp mới ngoài cổ truyền : trung tâm côngnghệ Vinh- Bến Thủy, nhà máy Diêm Bến thủy, nhà máy cưa, đường xe lửa, hoặc
là đường tàu điện nói Đà Nẵng – Hội An đó là xí nghiệp của Pháp Còn của Việt Nam
ở Trung kỳ cũng có sự phát triển như đồ đồng Thanh Hóa, nước mắm, xưởng dệt, xuấtcảng muối
3 Đồn điền kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa
Thực dân Pháp khi bình định xong vùng đồng bằng, thì họ chú ý trong việckhuyến khích đám “cô long” đến cướp đất và khai khẩn Theo chế độ đặt ra từ trước,thì mỗi người Pháp ít nhất cũng 300 héc ta trở xuống còn toàn quyền thì ngược lại
Vào lúc này thì các nông dân trở về lấy lại đất của mình sau khi phiêu dạt khắpnơi, họ thấy đất bị chiếm, họ đấu tranh giành lại đất Một số chủ đồn điền trả lại đấtcho dân, nhà nước lấy thuế má đền bù cho chủ
Ta biết trước đây những vùng đất mà Pháp chiếm toàn trồng lúa, về sau mới bắtđầu trồng cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su các đồn điền phát triển nhiều thìvấn đề nhân công trở nên cấp bách, vì vậy mà chính quyền Pháp bắt phu ở Bắc kỳ vàoNam Kỳ làm đồn điền, ngoài ra còn mộ “cu li” ở Trung Quốc, Nam dương sangnhưng vẫn không đủ, một số đồn điền bị bỏ dở Tuy nhiên ta thấy được rằng lớp côngnhân đồn điền bắt đầu hình thành, con số ấy ngày càng tăng mặc dù có tỷ số ốm, chết
và bỏ trốn
4 Ngành thương mại:
33
Trang 34Ngành thương mại cũng có nhiều công nhân như công nhân vận tải, khuân vác,những người thợ, do đó mà hải cảng Sài gòn , Hải phòng phát triển thêm kho vận tải,thêm công nhân Nhiều thuyền ra vào tấp nập.
Trong vận tải, trong công thương, nhà tư sản vẫn cố gắng chen chân, tuy họchưa chiếm được vị trí kinh tế Công thương Việt Nam có sự phát triển, một số cơ sởđầu tiên của công thương được thành lập ở Nam kỳ
Kết quả của sự phát triển kinh tế là giai cấp công nhân tập trung hình thành.Năm 1906, Nam kỳ đã có 25.000 công nhân ở các cơ sở, đồn điền thương mại trong
đó có 900 thợ chuyên môn Ở Trung Kỳ có 4.500 công nhân ở các cơ sở công nghệđồn điền, thương mại trong đó có 100 thợ chuyên môn Ở Bắc kỳ có 20.000 công nhântrong đó có 800 thợ chuyên môn
Những xí nghiệp tập trung đông dân nhất là nhà máy dệt Nam Đinh, nhà máy
xi măng Hải Phòng, nhà máy rượu Hà Nội, xưởng đóng tàu Ba Son,
Đó là chưa kể nhiều công nhân lẻ tẻ và công nhân đi làm thuê cho chủ nhỏtrong gia đình, hay làm ở nhiều nơi, nhiều địa điểm khác nhau Trước chiến tranh thếgiới thứ nhất thì công nhân tập trung ít nhiều nhưng cũng lẻ tẻ với những công việckhác nhau, không kể những viên chức sở công và sở tư Chúng tôi nhận định rằngtrước chiến tranh thế giới thứ nhất giai cấp vô sản đã hình thành, mặc dù nó chưa có ýthức để phân biệt với các giai cấp khác, chưa biết đến quyền lợi của mình Đó chỉ là
“giai cấp tự mình” chưa phải là giai cấp cho mình, giai cấp này ngày càng tăng mạnh
và phát triển
5 Số lượng công nhân tăng lên trong thời đại chiến thế giới thứ nhất
Nguyên nhân:
Thứ nhất, Pháp đưa số đông thợ Pháp ra mặt trận cho nên cần nhiều nhân công.
Vì nhân công ở đây rẻ, khéo léo, đông đúc
Thứ hai, do chiến tranh mà hàng hóa Pháp bớt sang Việt Nam, các xí nghiệp
Pháp chuyển sang làm viêc cho chiến tranh Vì vậy, sau một thời gian bị đình đốn suy
34
Trang 35giảm, một số công nghiệp mới mọc lên, một số công nghiệp sẵn có thì phát triển mạnh
và đáp ứng nhu cầu thì số lượng công nhân tăng lên
III Điều kiện sinh hoạt và lao động của công nhân Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX
1 Vài điểm về sự mộ nhân công, tiền lương, giờ làm
Nhiều công nhân được làm cho những công sứ, tổng đốc, được tuyển mộ ở cáclàng các xã, số công nhân này đều do nhà nước quản lý, hoặc do tư nhân người Pháp,người Việt, tuyển mộ đến
Tiền công được trả không thấp lắm chỉ 0$20 đến 0$25 mỗi ngày Sau đó đượctăng dần lên bởi vì không ai muốn đi làm đường xe lửa vì đi dễ khó về, vì lẽ đó màPháp đã hứa hẹn nhiều đặc ân
Thực tế khi đến chỗ làm nhiều người chủ không trả lương, còn giam lương lại,bởi vì làm như vậy thì công nhân không dám bỏ trốn Họ là những người làm côngnhật, nghĩ không ăn lương, ốm thì không ăn lương Ấy vậy mà công nhân nghĩ thì bipháp bắt gông bỏ từ, lương bị xén cắt đầu cắt đuôi, những công việc khó thì bắt phảithầu làm đúng thời gian quy định thì mới được lãnh lương
Rõ ràng đó là chế độ vô cùng khắc nghiệt, điều kiện làm việc ẩm thấp, ngặtnghèo, mối lần phát gạo, muối đều tính tiền, ăn uống toàn thức ăn ẩm móc, ôi thiu, Chính vì điều đó mà nhiều người ốm đau, chết bệnh, bị ngược đãi tàn nhẫn
2 Bóc lột ở những đồn điền của người Pháp:
Làm trong điều kiện khắc khổ, mỗi tháng nhận được đồng lương ít ỏi, nhiềuruộng đất bỏ hoang khó cày cấy, mà thu hoạch lâu, tính tiền theo mỗi mẫu Người bị
ốm, chết vì đói, vì mệt thì nhiều Những đồn điền ẩm thấp, khó cày cấy, ăn không đủ
no làm thì nhiều đến nỗi kiệt sức, cuộc sống khó khăn, tiền lương vài đồng, còn bị cắtxén Bóc lột sức người dã man
3 Sự mộ nhân công đi Hải đảo là một thứ bán mọi tàn nhẫn:
35
Trang 36Pháp đưa người sang các đảo của người Anh mà mộ nhân công, bị bạc đãi quámức, họ đấu tranh và chính quyền Anh không cho Pháp mộ nhân công nữa.
Rồi Pháp tìm đến Đông Dương, vào Bắc kỳ có nhân công rẻ, lại dồi dào Đemngười Việt sang các hải đảo đối xử rất tồi tệ, tàn nhẫn, nhân công Việt kêu nài, cămphẫn, chết chóc nhiều Người Pháp thực ra là những kẻ buôn người, đem người Việtbán cho những chủ đồn điền, khi đi hứa hẹn đủ điều, đến nơi thì bị nhốt như trâu bò.Bán mỗi người 500 phơ răng, bán xong phủi tay coi như không liên quan, làm việc thìđược nuôi cơm, không có lương gì cả, y như nô lệ vậy
IV Công nhân đấu tranh từ đầu thế kỷ XX đến chiến tranh 1914-1918:
Trong chương nay trình bày về những cuộc bãi công, bỏ việc, yêu sách biểutình của công nhân ở Bắc kỳ, còn Trung Kỳ, Nam Kỳ chưa thấy các cuộc bãi côngnói lên rằng giai cấp công nhân chứa đựng khả năng lãnh đạo cách mạng mà khôngtầng lớp nhân dân nào bằng, vì nó là vô sản, bởi vì nó tập trung ý thức tự giác, vị bịbóc lột nặng nề nhất, mặc dù chỉ là một giai cấp mới
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, đấu tranh công nhân Việt Nam và ngườiHoa đóng một vai trò quan trọng, ban đầu không có ý thức về sau lại có ý thức, giữangười vô sản Trung Hoa với người Việt là một trong những yếu tố tất yếu của lịch sửthuận lợi cho công cuộc giải phóng dân tộc của ta sau này
Nếu tính sơ lược ở Bắc kỳ đã có trên 15 cuộc bãi công của công nhân, chưa kể
sự tham gia của công nhân trong các cuộc bạo động, ám sát
Năm 1900, cuộc biểu tình của công nhân làm hầm đá tại Ôn lâu, Hải Dương.Cuộc đấu tranh của công nhân bị đưa sang các hải đảo, các công nhân làm đường xelửa Yên Bái, bãi công của công nhân mỏ ở làng Nhơn, tỉnh Yên Bái, Những cuộccông nhân bãi công, chứng tỏ giai cấp công nhân đã hình thành, bắt đầu có một phongtrào công nhân, trước khi Pháp sang chỉ có một tầng lớp công nhân, sau này thànhphong trào công nhân cho thấy được sự tiến bộ vượt bậc Vai trò của công nhân đượcnêu cao, qua đó số lượng công nhân cũng ngày một tăng, quá trình đó cũng đồng thời
là quá trình công nhân Việt Nam chống Pháp, chống chính phủ thực dân
36
Trang 37V Những thể lệ lao động và nhân công đầu thế kỷ XX
Trong giai đoạn này chính quyền Đu me đã đưa ra 15 nghị định khác nhau vềvấn đề lao động và nhân công
Trong 15 các nghị định chúng ta chỉ nêu ra những nghị định quan trọng :
1 Nghị định 26/8/1899, nghị định này là cơ sở pháp lý của thực dân tạo ra để bênh
vực quyền lợi của thực dân, nghị định này căn cứ vào nghị định 21/4/1891 gồm 15điều khoản Nghị định nói lên một cách gián tiếp cho ta hiểu nhiều điều, ta cũng nhậnthấy được ít hay nhiều công nhân bãi công, mặc dù nó không rộng Nghị định này nóiđến sự bênh vực quyền lợi của Pháp, đặc điểm nó đến sự đàn áp công nhân
2 Nghị định 8/3/1910 của toàn quyền về vấn đề nhân công ngoại quốc trong những sở
canh nông và hầm mỏ Nếu nghị định 26/8/1899 nói về vấn đề nhân công trong nướcthì nghị định 8/3/1910 nói về nhân công ngoại quốc, pháp thực hiện chiêu mộ ở NamDương, Trung Hoa vào Đông Dương đều bị bắt buộc tuân theo nghị định 1899 Nghịđịnh này có 50 điều khoản, trong đó có điều khoản 2,3,4, 5,6,7,9,11,12,13,14,15 chođến 24, 30,31 là những điều khoản quan trọng Những điều khoản chứng minh nhờnhững cuộc đấu tranh của công nhân, công nhân thu gom được nhiều thắng lợi nóichung nghị định nói đến quyền lợi của lao động khác với nghị định 1899 là một nghịđịnh đàn áp công nhân
3 Bọn thực dân phản đối sự thành lập ủy ban hòa giải giữa chủ Pháp và thợ Việt Nam:
Sau 10 năm thành lập nghị định 1899, nhiều người công nhân Việt Nam phảnđối gay gắt Cho nên chính quyền Pháp cho các phòng thương mại và canh nông thảoluận cho thành lập ủy ban hòa giải chủ Pháp và thợ Việt Nam
Điều đó, khiến cho phòng thương mại và canh nông phản ứng kịch liệt để bảo
vệ quyền lợi của họ Trước sự phản đối vô cùng kịch liệt thì Pháp đã nhanh chóng rútbản dự thảo đó
37
Trang 384 Bọn thực dân và những nhà tư sản Việt Nam phản đối sự thi hành luật 1897 về tai nạn lao động:
Công nhân pháp đòi đấu tranh đòi bảo hiểm, đòi bồi thường cho thợ bị tai nạnlao động Vì thế, mà thực dân Pháp bị một thể lệ về tai nạn lao động theo tinh thần củaluật 1899
Cả Pháp và tư bản Việt Nam phản đối việc làm trên Luật 1899, bị bỏ dở lúc ấycông nhân chưa có tổ chức, đấu tranh còn kém cho nên chưa có sức mạnh cũng chưa
có ý thức để phối hợp với công nhân Pháp đấu tranh Sau khi có sự thắng lợi của cáchmạng tháng Mười Nga công nhân Việt Nam mới biết tự mình đề ra khẩu hiệu đòi bảohiểm xã hội, và giành được thắng lợi
Tóm lại, giai cấp công nhân đã được hình thành trong khoảng thời gian từ đầuthế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất Lúc này, giai cấp công nhân Việt Nammới là giai cấp tự mình và nhiều cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức phong phú
2.3 Ch ương thứ ba: Sự phát triển về số lượng của giai cấp ng th ba: S phát tri n v s l ứ ba: Sự phát triển về số lượng của giai cấp ự phát triển về số lượng của giai cấp ển về số lượng của giai cấp ề số lượng của giai cấp ố lượng của giai cấp ượng của giai cấp ng c a giai c p ủa giai cấp ấp
công nhân Vi t Nam t 1919 đ n 1929: ệt Nam từ 1919 đến 1929: ừ 1919 đến 1929: ến 1929:
Chương này nói về quá trình phát triển về số lượng của giai cấp công nhân từsau chiến tranh thế giới thứ nhất cho đến khi có Đảng
Trong chương gồm những vấn đề sau:
- Đế quốc Pháp tăng cường đầu tư vào Việt Nam
- Các đồn điền cây công nghiệp phát triển nhanh chóng
- Các ngành công nghiệp cũng tăng lên
- Giai cấp tư sản Việt Nam và công nhân Việt Nam
- Thủ công nghiệp và thợ thủ công ở Việt Nam
- Sự phân hóa giai cấp ở nông thôn và tầng lớp công nhân nông nghiệp ở làng mạc
- Vấn đề nguồn gốc xã hội của giai cấp công nhân Việt Nam
38
Trang 39I Đế quốc Pháp tăng cường đầu tư vào Việt Nam
Từ năm 1919 trở đi sự đầu tư của Pháp vào Đông Dương Cuộc đầu tư củaPháp được thúc đẩy một cách tương đối sự tiến lên của nhiều ngành kinh tế, do đó sốlượng của giai cấp công nhân Việt Nam tăng lên từ 100.000 lên 220.000 người không
kể thợ thủ công và công nhân nông nghiệp
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918 vốn của Pháp qua Việt Namquan trọng tương đương với vốn của tư nhân Vì lợi nhuận vào các nước Đông Dươngrất lớn nên Pháp đã đầu tư vào Còn trong chiến tranh thì vốn đưa quan Việt Namkhông nhiều nửa do Pháp dốc toàn bộ vào cuộc chiến tranh Từ sau chiến tranh nhất
1924, vốn của Pháp tăng lên nhanh chóng do đầu cơ đồng bạc, đầu cơ cao su, tăngcường bóc lột thuộc địa để hàn gắn vết thương chiến tranh, để thu lợi nhuận tối đa.Từnăm 1896 đến 1914, Pháp đầu tư vào Đông Dương chủ yếu vào Việt Nam 423 triệuphơ răng, từ năm 1924-1929, Pháp đầu tư mạnh vào nước ta là 4000 triệu phơ răng.Nhưng những năm tiếp theo do sự biến động của thế giới đồng phơ răng giảm mạnh,Pháp bị tàn phá nặng nề chính vì vậy Pháp đã đầu tư vào Việt Nam để rồi lấy đồngbạc đổi ra đồng phơ răng thì lợi nhuận càng to, nhờ nước ta nhân công rẻ
Trước chiến tranh 1914-1918 vốn của ngân hàng Đông Dương là 48 triệu phơrăng đến 1919, tăng lên 72 triệu phơ răng, ngân hàng cho vay, mua cổ phần và sánglập ra nhiều công ty như ngân hàng địa ốc, ngân hàng tín dụng, công ty xe lửa ĐôngDương,
Từ năm 1888 đến 1918 tổng số vốn Pháp bỏ vào Đông Dương là 490 triệuquan Năm 1929 bỏ vốn 729,1 triệu quan đến 1930 lại giảm sút chỉ còn 596,2
Phong trào đầu tư ấy đã đẩy nền kinh tế Đông Dương, kéo theo đó số lượnggiai cấp công nhân tăng lên
II Một yếu tố mới trong nền kinh tế Việt Nam, các đồn điền cao su phát triển tập trung gần mười vạn công nhân, các loại cây công nghệ khác:
1 Tư bản Pháp đổ xô vào đồn điền
39
Trang 40Trong cuộc khai thác lần thứ nhất Pháp bỏ vốn chủ yếu vào khai thác mỏ vàgiao thông vân tải, nói một cách khác Phap bỏ vốn vào công nghiệp gấp 3 lần so với
số vốn nông nghiệp
Còn sau chiến tranh thì Pháp tập trung vào đồn điền đặc biệt là cao su ở miềnNam Vì cao su đem lại lợi nhuận cao, vả lại đất đai tốt, nhân công rẻ, lợi nhuận lớn.năm 1924 bỏ vốn nông nghiệp là 52 triệu phơ răng , ba năm sau 1927, 1928, 1929 vốn
là 600 triệu nửa Diện tích cao su tăng vọt năm 1929 có 90.225 héc ta
Tổng số công nhân các đồn điền ngày càng tăng năm 1925 mới có 3.684 ngườiđến năm 1927 lên tới 18.001 người Như thế là công nhân đồn điền tăng lên nhanhchóng Đến 1930 do khủng hoảng kinh tế nên giá cao su giảm sút, thì số công nhânlàm thời vụ cũng giảm sút Qua thời khủng hoảng thì diện tích trồng cao su tăng lên
Ngoài đồn điền cao su còn có nhiều đồn điền khác như cà phê, chè, mía có quy
mô lớn số công nhân đồn điền khắp các nơi trên 10 vạn nếu lấy con số 1931 thìtrong 221.000 công nhân thì 1 phần 3 là công nhân đồn điền
Như thế sau chiến trah đồn điền trồng cây công nghiệp mọc lên và phát triểnnhiều Vì thế mà giai cấp công nhân cũng tăng lên nhanh chóng tập trung ở các đồnđiền
2 Sự khai thác đồn điền và chế độ khai khẩn đồn điền
Qua đó ta nói tới thể lệ khai khẩn đất của Pháp Đây là cuộc cướp đất trắng trợn
và ráo riết.Trước 1890, ở Đông Dương có 116 đồn điền của Pháp, toàn bộ các đồnđiền toàn là của cha cố, quân nhân giải ngũ, viên chức Từ năm 1895 -1900 là giaiđoạn cướp đất dữ đội Ở 3 miền Bắc kỳ, Trung Kỳ và Nam kỳ diện tích đất của nôngdân Việt Nam bị Pháp chiếm để làm ruộng, trồng cây công nghiệp như chè, cà phê,cao su
Số vốn mà Pháp bỏ vào các đồn điền là 1.245.333.000 phơ răng Nếu kể tiềntrợ cấp của chính phủ và tiền lời lại bỏ vốn thì số đó lên 1.500.000.000 phơ răng Chế
độ khai khẩn, cấp đất là một chế độ vô cùng bạo ngược Chúng tôi chỉ đề cập đến 3
40