1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới biểu tượng trong thơ r tagore

100 2K 39
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới biểu tượng trong thơ R. Tagore
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học nước ngoài
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 287,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó đợc phản ánh trong văn học nghệ thuật của dân tộc ấy, nó không phải là cái định sẵn có tính huyền bí mà nó dần dần hình thành trong quá trình lịch sử xã hội, giới ảnh h- thích cho chú

Trang 1

Trờng đại học vinh

Trang 2

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận

đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo, có phơng pháp của Thầy giáo – Tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh; sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong tổ Văn học nớc ngoài và sự khích lệ động viên của gia đình và các bạn đồng nghiệp

Nhân dịp khóa luận đợc hoàn thành, chúng tôi xin gửi tới Thầy cô, gia đình

và tất cả bạn bè lời cảm ơn chân thành nhất Rất mong nhận đợc ý kiến nhận xét của độc giả với tình cảm trân trọng và biết ơn

Vinh, tháng 5 năm 2006Ngời thực hiện:

Hoàng Đinh Thuỳ Dung

Trang 3

Mục Lục Trang

Lời cảm ơn 1

Mở đầu 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 7

3 Phạm vi và đối tợng khảo sát 8

4 Phơng pháp nghiên cứu 8

5 Lịch sử vấn đề 8

6 Giới thuyết khái niệm “Biểu tợng” 10

7 Cấu trúc luận văn 13

Nội dung 14

Chơng 1: Những biểu tợng mang màu sắc tôn giáo 14

1.1 ảnh hởng của tôn giáo ấn Độ đối với t duy nghệ thuật R.Tagore 14

1.1.1 Tôn giáo ấn Độ – cái nhìn bao quát 14

1.1.2 Tôn giáo ấn Độ và Văn học ấn Độ 17

1.1.3 Màu sắc Tôn giáo ấn Độ và Thơ R.Tagore 21

1.2 Biểu tợng tôn giáo trong thơ R.Tagore 24 1.2.1 Thiên đờng của thần linh 26

ơ 1.2.2 Suy ngẫm về “Thiên đờng” 34

1.2.3 Hình ảnh “Thần Chết” 37

Chơng 2: Một thế giới thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tởng 42

2.1 Thiên nhiên ấn Độ – nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca 42

2.2 Biểu tợng thiên nhiên trong thơ R.Tagore 45

2.2.1 Vũ trụ bao la 47

Trang 4

2.2.2 Hoa cá trÇn gian 59

2.2.3 C¶m quan vÒ thêi gian mang tÝnh biÓu tîng 74

Ch¬ng 3 : Nh÷ng cèt truyÖn mang ý nghÜa tîng trng 81

3.1 Giíi thuyÕt kh¸i niÖm 81

3.2 Cèt truyÖn mang ý nghÜa biÓu tîng trong th¬ R.Tagore 84

3.2.1 Sö dông nh÷ng cèt truyÖn t«n gi¸o trong th¬ ca truyÒn thèng 85

3.2.2 S¸ng t¹o nh÷ng cèt truyÖn míi tõ chÊt liÖu hiÖn thùc 92

kÕt luËn 98

Tµi liÖu tham kh¶o 100

Trang 5

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 ấn Độ để lại dấu ấn khá đậm nét trong mỗi chúng ta về một đất nớc giàu đẹp, một bán đảo rộng lớn Xứ đó là một tam giác mênh mông với dãy hoành sơn Himalaya – “xứ tuyết phủ , bông sen trắng” “ ” ở phía Bắc; với châu thổ “đất vàng” phì nhiêu, màu mỡ – là hai lu vực sông ấn (Indux) và sông Hằng (Gange)

ở phía Nam Nhắc đến ấn Độ ngời ta nghĩ ngay đến một đất nớc của huyền thoại,

nhất thế giới, ấn Độ xứng đáng đợc nhân loại tiếp nhận, ngợi ca Một trong những yếu tố làm nên diện mạo riêng biệt của nền văn minh ấn Độ – nền văn minh “cổ nhất”, phong phú đa dạng là văn học

Văn học ấn Độ hình thành và phát triển qua 3 thời kỳ, với nhiều thành tựu đặc sắc Từ những sáng tác sơ khai, thần thoại sơ khai và kết tinh trong tập Vêđa – một tác phẩm thánh kinh, “một di chúc nên thơ” (R.Tagore) đến sự

ra đời của sở thi vào khoảng thế kỉ X trớc Công nguyên với Ramayanna và Mahabrahata đợc sánh ngang với Iliát và Ôđixê của Hi Lạp – La Mã, đặc biệt là

sự xuất hiện của nền văn học viết phát triển ngay trong những năm đầu công nguyên Theo chiều dài lịch sự dân tộc, lịch sử văn hoá - văn học, nhiều tên tuổi với nhiều đóng góp quan trọng đã đợc ghi nhận Đó là Bhasa - nhà thơ xuất sắc nhất thời cổ đại ấn Độ Ông sống vào thế kỉ thứ III đợc xem là nhà thơ trữ tình, một triết gia nổi tiếng; là Kalidasa ngời đợc xem là kì công thứ nhất của tạo hoá trong văn học ấn Độ; là Kabir gơng mặt xuất sắc nhất của thơ ca trung đại ấn

Độ; là Tuxidax ngời đặt nền móng cho văn xuôi ấn Độ trung đại Và đặc biệt là R.Tagore - ngời đợc xem là “kì công thứ hai của ấn Độ sau Kalidasa”, là một tài

năng nghệ thuật kiệt xuất của ấn Độ

Trang 6

Rabindranath Tagore (1861 – 1941) sinh ở Bengan, mảnh đất đợc xem là giàu đẹp và trù phú bậc nhất của ấn Độ Quê hơng ông chính là nơi phát sinh nhiều cuộc biến động lịch sử sâu sắc Đồng thời, đây cũng là nơi ngôn ngữ phát triển sớm và nền văn học có truyền thống nhân đạo chủ nghĩa rực rữ nhất trong toàn ấn Độ Dờng nh mạch nguồn truyền thống ấy đã tuôn chảy trong con ngời của Tagore ngay từ lúc mới sinh ra, kết tinh thành những món quà tuyệt vời dâng tặng dân gian, cất thành những lời thơ đẹp lung linh nh giọt sơng đợc ánh sáng mặt trời dịu dàng chiếu sáng Tài năng của R.Tagore thể hiện rất sớm Ông bắt

đầu làm thơ lúc 8 tuổi, đọc sách cổ bằng tiếng Xăngcơrit, 11 tuổi tự học tiếng Anh, R.Tagore đã dịch đợc kịch Macbét ra tiếng Bengan Năm 15 tuổi ông đã…viết bài đăng tạp chí, xuất bản tập thơ đầu tay “Bông hoa rừng” dài 1600 câu …

sức sáng tạo của R.Tagore vô cùng lớn lao, dồi dào và liên tục Điều này thể hiện trên cả phơng diện chất lợng và sự khổng lồ về số lợng Trớc khi từ giã trần thế, R.Tagore đã để lại cho đời 52 tập thơ, 47 vở kịch, 12 quyển tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, diễn văn, bút kí, chính luận và rất nhiều bức hoạ, bản nhạc, lời ca …

Đó là những di sản vô giá của nhân dân ấn Độ và thế giới

Với t cách là một nhà thơ, R.Tagore đợc cả thế giới biết đến nh “là ngôi

thởng Nôben văn học năm 1913 là vơng miện huy hoàng nhất, là vòng nguyệt quế vinh quang nhất R.Tagore có đợc trong sự nghiệp sáng tác của mình Sự ghi nhận

ấy đã phần nào rút ngắn khoảng cách giữa hai nền thơ Phơng Đông và Phơng Tây Cũng từ đó, ấn Độ - theo quan niệm của các sự gia Phơng Tây bấy giờ, là nơi

sống trong cảnh giã man cho tới khi các dân tộc Châu Âu anh em trong dòng

nghệ thuật với bán đảo đó mà dân chúng mới

Trang 7

đang sống tìm đợc chỗ ẩn náu, từ những ngày xa nhất, lúc mà con ngời bắt đầu

1.2 Luôn đi về phía trớc đối lập với mọi sự im lặng, bảo thủ và sự tối tăm, thơ ca là ánh sáng, là sự phát hiện, là tơng lai Và bản chất của thơ ca là sự sáng tạo, đồng thời đòi hỏi khả năng sáng tạo của ngời cầm bút Thơ là sản phẩm sáng tạo của tâm hồn và trí tuệ con ngời, là nhu cầu trong đời sống linh của mỗi ngời Nêrkraxốp cho rằng: “thơ ca là vinh dự của sự sáng tạo có đ ợc của mỗi ngời” với

R.Tagore, xin mợn ý kiến của Maiacốpxki – ngời mở đầu cho nền thơ ca Xô Viết: “chính ng ời sáng tạo ra những quy tắc thi ca mới là thi sĩ” Quả vậy nhìn

lại sự nghiệp sáng tác R.Tagore, chúng ta hãnh diện gọi ông là “nhà thơ trữ tình

lao động nghệ thuật thực sự bền bỉ, có ý thức trách nhiệm của một tài năng thơ ca bẩm sinh, R.Tagore không ngừng sáng tạo, tìm tòi, khai phá Để chiếm lĩnh…cuộc đời, thiên nhiên và ngay cả địa hạt tâm hồn

- đợc xem là lãnh địa của những dòng cảm xúc tế vi, của những suy t, trăn trở

Trang 8

không có dáng hình vật chất Đọc tuyển tập thơ R.Tagore, tâm hồn ta nh… đợc nuôi dỡng, vun xới thêm phần phong phú, tơi mới Thiên nhiên, con ng… ời và kho tàng văn hoá ấn Độ dới cảm quan của R.Tagore đến với chúng ta gần gũi, thân thiết và vô cùng thiêng liêng, siêu thực, chứa đựng nhiều bí ẩn, tâm linh …

Thơ là tiếng nói của tâm hồn

trạng, t tởng bằng những hệ thống hình ảnh rất riêng, mới lạ và đặc sắc Có phải vì thế chăng, khi khẳng định rằng, chìm đắm trong biển thơ R.Tagore cũng đồng nghĩa với sự đồng điệu giữa tâm hồn bạn đọc và thế giới biểu tợng trong lòng cảm xúc suy tởng R.Tagore? Tìm hiểu thơ R.Tagore, phải chăng là sự giãi mã những hình ảnh mang tính biểu tợng của hồn thơ xúc cảm mãnh liệt với cuộc đời?

1.3 Thơ R.Tagore đã đa vào hệ thống các trờng học Việt Nam – từ bậc PTCS đến bậc Đại học (Bài: “Mây và Sóng ” – trích trong tập “Trăng non”; Bài:

Bài thơ 28

“ ” – trích trong tập “Ng ời làm vờn”) Để hiểu rõ, hiểu cặn cẽ, hiểu sâu

những tác phẩm ấy là một công việc không dễ dàng đối với cả ngời dạy và ngời học Đề tài chúng tôi nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn, nhằm góp phần tìm ra một hớng đi trên con đờng tìm tòi, tiếp cận thơ R.Tagore, trên cơ sở khám phá thế giới biểu tợng thơ ca của ông

2 Mục dích, nhiệm vụ của đề tài

2.1 Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của chúng tôi là khảo sát, tìm hiểu thế giới biểu tợng trong thơ R.Tagore

2.2 Với mục đích ấy đề tài có nhiệm vụ:

- Khảo sát thống kê, chỉ ra các loại biểu tợng trong thơ R.Tagore

- Phân tích chỉ ra các tầng ý nghĩa của thế giới biểu tợng ấy

- Trong chừng mực nhất định, chỉ ra nét riêng biệt trong cách sử dụng biểu tợng của R.Tagore so với một số tác giả khác

Trang 9

3 Phạm vi và đối tợng khảo sát

3.1 Phạm vi khảo sát của đề tài là thế giới biểu tợng trong thơ R.Tagore Nói cách khác điểm xuất phát trên con đờng tìm hiểu tâm hồn thơ R.Tagore của chúng tôi là cái nhìn tỉ mỉ hơn từ hệ thống hình ảnh mang tính biểu tợng trong gia tài thơ phong phú, có giá trị cao của R.Tagore

3.2 Đối với nền văn học ấn Độ nói chung và thời kỳ văn học phục hng ấn

Độ nói riêng, R.Tagore đợc xem là “ngôi sao sáng” (J.Nerhu) Tác phẩm của ông không chỉ đợc dịch và giới thiệu ở Châu á mà còn có mặt tại nhiều nớc Châu Âu Riêng ở Việt Nam thơ R.Tagore đợc dịch cha nhiều, lại dựa trên nhiều văn bản khác nhau (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung ) Do giới hạn bởi khả sử dụng…văn bản bằng tiếng nớc ngoài, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát trên bản dịch trong “R.Tagore, tuyển tập tác phẩm” (Tập 1) nhà xuất bản Lao động, TTVH NN

Đông – Tây Tuyển tập đợc dịch bởi; Lu Đức Trung, Đỗ Khánh Hoan, Cao Huy

Đỉnh, Đào Xuân Quý, Phạm Hồng Dung, Phạm Bích Thuỷ, Nguyễn Mai Liên, Nhật Chiêu

Trang 10

quan trọng, mở ra một hớng phát triển tích cực cho nền văn học nớc nhà Sau này, những sáng tác của R.Tagore có ảnh hởng lớn lao đối với những nhà văn, nhà thơ cùng thời và hậu thế.

5.2 R.Tagore làm thơ từ rất sớm Những sáng tác đầu tay hồn nhiên, chân chất nh chính thế giới trẻ thơ của thi nhân vậy Và ngay từ lúc đó, từ những bài thơ về “Trời m a, lá rụng” của cậu bé R.Tagore đã đợc công chúng yêu văn học

miềm quê Bănggan đón đọc Đặc biệt là giải thởng Nôben 1913 đã khẳng định giá trị đích thực của thơ R.Tagore trên bầu trời văn học ấn Độ Ngàn lời ca đẹp lung linh dành tặng R.Tagore Ông đợc xem là “ngôi sao sáng của ấn Độ phục h-ng”, là “nhà thơ trữ tình bậc nhất” (Êrenbua), là sự “hoà hợp giữa ngônngữ và tâm hồn Bănggan nh hoa sen nở thơm ngát trong ánh bình minh” (Nirala)

Trớc và sau năm 1913, hàng loạt tác phẩm của R.Tagore đã đợc dịch và giới thiệu ở nhiều nớc Phơng Tây nh: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, với các dịch giả:…W.Yeats, Edward, R.Ernest, Đặc biệt, tập “Thơ Dâng” là đ… ợc chú ý nhiều hơn cả ở Liên xô đã có tới 4 bản dịch, ở Pháp bản dịch của Andregít đã đợc tái bản

107 lần kể từ lần xuất bản đầu tiên năm 1950 …

5.3 Thơ R.Tagore ra mắt công chúng Việt Nam vào năm 1924 với “Bàn phiếm về văn hoá Đông Tây” của tác giả Thợng Chi Thơ R.Tagore đợc dịch ra Việt văn bởi các tác giả Xuân Diệu, Đỗ Khánh Hoan, Cao Huy Đỉnh, Đào Xuân Quý Đến nay, hàng loạt công trình nghiên cứu đã xuất hiện và đề cập …

đến nhiều vấn đề khác nhau trong thơ ông Có thể kể đến: Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong thơ R.Tagore của Lu Đức Trung (TCVH số 8/1985), Thiên

trong phạm vi đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học có Thủ pháp tợng trng trong thơ R.Tagore của Nguyễn Thi Ngân và Biểu tợng tôn giáo trong thơ R.Tagore

của Hồ Thị Xuân Thuỷ …

Trang 11

Nhìn lại các công trình nghiên cứu đã xuất hiện, có thể thấy rằng, đó đây

đã có một số ý kiến đề cập đến lối biểu tợng trong thơ R.Tagore Đào Xuân Quý viết: “Ông thích dùng lối biểu t ợng nh trong kinh thánh hoặc nh trong kinh Phậ, mựơn một câu chuyện để nói chuyện mình.” Nguyễn Văn Hạnh đã xem việc sử

dụng các biểu tợng là một đặc điểm thi pháp cơ bản trong thơ R.Tagore “Những hình ảnh thiên nhiên, những câu chuyện kể trong thơ R.Tagore là một thứ “ngôn ngữ” đặc biệt, chuyển tải dòng cảm xúc suy tởng của thi nhân về muônmặt của kiếp nhân sinh” {9}.Chúng tôi xem đây là những ý tởng mang tính gợi mở để thực hiện đề tài này

6 Giới thuyết khái niệm

Con ng

6.1 Thế nào là biểu tợng?

Bàn về khái niệm biểu tợng có khá nhiều nhà ngôn ngữ học đề xuất cách hiểu của mình Có ngời cho rằng: “Biểu t ợng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật hay đồ vật biểu thị một điều trừu tợng Đó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó” (Peto Larause) Hay từ góc độ ngôn ngữ, nhà phân tâm

học Thuỵ Sỹ C.G.Jung lại phát biểu: “Biểu t ợng là một danh từ, một tên gọi hay một đồ vật tuy đã quen thuộc với ta hàng ngày nhng còn gợi thêm những ý nghĩa

đây, biểu tợng đợc hiểu theo hai cách: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp

Xét ở góc độ nghĩa hẹp, biểu tợng đợc hiểu nh: Lá cờ là biểu tợng của Tổ Quốc, Con Rồng là biểu tợng của uy vũ, quyền lực thiêng liêng, tối cao, Ly là hình ảnh của sự tốt lành, ma thuận gió hoà …

Theo nghĩa rộng, Biểu tợng là một thứ xác định toàn bộ hiện thực trừu ợng, nằm ngoài tầm với của các giác quan trong hình thức một hình ảnh hay một vật thể

Trang 12

t-Cùng định nghĩa về biểu tợng, nói một cách ngắn gọn, Larơnxơ Perine cho rằng: Biểu tợng là một hình ảnh tợng trng, tức là hình ảnh có nghĩa rộng hơn

Biểu t

cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động

đều phải khái quát đợc một phạm vi rộng lớn sự vật, hiện tợng của đời sống

Cũng phải thấy rằng, khác ngời văn minh, ngời nguyên thuỷ cha có t duy luân lý Họ “t duy” bằng và qua các biểu tợng Điều này phù hợp với một giai

đoạn ngời – giai đoạn liên kết tự do các ý tởng Và với một quan niệm tôn giáo, hay nói đúng hơn là một ma thuật về tôn giáo, ngời nguyên thuỷ gọi (tên) tức là gợi Họ đồng nhất tên gọi của vật với vật đợc gọi, tên của thần với chính bản thân của vị thần đó Ma thuật của ngôn từ hoặc chữ viết sau này ra đời là vì vậy

Từ khi chuyển sang giai đoạn trừu tợng hoá, số đếm và nhất là chữ viết (một trong những biểu thị đầu tiên của nền văn minh) xuất hiện, ngời nguyên thuỷ

đã mất dần khả năng sử dụng biểu tợng Tuy nhiên, phải thấy rằng, chữ viết đầu tiên – chữ tợng hình đợc xây dựng, hình thành bởi t duy của ngời xa

Trang 13

Đây là quán tha hồ muôn khách đến

Họ – những chủ nhân của một hệ thống ngôn từ – biết “Lọc trong cảm trăm ngàn nghìn quặng chữ Mới thu về một chữ mà thôi Những chữ ấy làm cho rung

cá tính riêng biệt Lăng kính nghệ thuật của ngời nghệ sĩ không phải là một, không lặp lại nhau Hơn nữa, cách nhìn, cách cảm, cách xử lý ngôn ngữ của họ còn bị chi phối, ảnh hởng mạnh mẽ từ nền văn hoá dân tộc, đợc bản sắc văn hoá chính quốc định hớng Ăngghen từng nói về nguyên nhân cơ bản rằng: “ Sự phát triển của mỗi dân tộc đều có những đặc trng mang tính dân tộc và lịch sử của mình Tính dân tộc có tính lịch sử và bản thân nó cũng rất lịch sử Trong quá trình phát triển một dân tộc, những đặc điểm và tâm lý mang tính dân tộc đợc xây dựng, chúng phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Nó đợc phản ánh trong văn học nghệ thuật của dân tộc ấy, nó không phải là cái định sẵn có tính huyền bí mà nó dần dần hình thành trong quá trình lịch sử xã hội, giới ảnh h-

thích cho chúng ta băn khoăn rằng, vì sao cùng một biểu tợng nhng đất nớc này lại hiểu khác đất nớc kia, ngời nghệ sĩ này lại có cách lí giải này không giống nghệ sĩ khác Theo Cao Bá Quát, những biểu t… ợng gốc là “Kho trời chung ” của tất cả mọi ngời, nhng cũng không của ai cả Ng… ời nghệ sĩ phải biết chiếm lấy cái mênh mông không giới hạn ấy cho riêng mình, thành “Vô tận của mình” mà không làm thiệt hại đến ai cả, thậm chí còn làm phong phú thêm vốn hiểu biết của

Trang 14

ngời khác “Nhà thơ phải biết nắm lấy cái riêng biệt, và từ đó, nếu cái riêng biệt

là chân chính, nhà thơ biểu hiện cái khái quát” (F.Gớt).

Trở lại với R.Tagore vĩ đại của chúng ta, nhà thơ tiêu biểu cho văn học thời kì phục hng ấn Độ, ông đã có một phơng thức nghệ thuật rất riêng để chuyển tải nguồn cảm xúc ngọt ngào, thi vị, đậm chất nhân văn tới loài ngời Những hệ thống hình ảnh biểu tợng mà R.Tagore sử dụng đã mang lại cho chúng

ta một cái nhìn đầy đủ và sâu sắc hơn về chính bản thân nhà thơ nói riêng và về

đất nớc và con ngời ấn Độ nói chung

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn của chúng tôi gồm ba chơng:

[Chơng 1: Những biểu tợng mang màu sắc tôn giáo

Chơng 2: Một thế giới thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tợng

Chơng 3: Những cốt truyện mang ý nghĩa biểu tợng

Ngoài ra còn có danh mục tài liệu tham khảo gồm 25 tài liệu

Chơng 1 Những biểu tợng mang màu sắc tôn giáo

1.1 ảnh hởng của tôn giáo ấn Độ đối với t duy nghệ thuật R.Tagore 1.1.1 Tôn giáo ấn Độ- một cái nhìn khát quát

Nhắc đến ấn Độ, ngời ta nghĩ ngay đến đất nớc của thần thoại, của cổ tích, của những điều thần kỳ, huyến bí ấn Độ cổ đại là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của Tôn giáo – một hình thái ý thức xã hội, phản ánh thế giới quan một cách h ảo hoang đờng Tôn giáo trở thành một nhu cầu tự nhiên của nhân dân ấn

Độ Đâu đâu trên mảnh đất giàu đẹp ấy cũng có sự tồn tại, ngự trị của tôn giáo Ngời ấn Độ sinh ra, dờng nh đã đợc đặt sẵn trong mình ý niệm tôn giáo Tôn giáo

Trang 15

là tài sản hữu sinh của mỗi một ngời dân ấn Độ Và, “đã là tâm hồn ấn Độ thì hình nh mặc nhiên phải là tâm hồn ấn Độ Ngời ấn Độ coi Tôn giáo nh một thuộc tính của con ngời, sinh ra cùng lúc với con ngời Ngời không Tôn giáo nh ngời không giới tính, nh một thể xác không linh hồn ” … [19,2001]

Tôn giáo cổ nhất ấn Độ mà chúng ta đợc biết là những tín ngỡng mang tính sơ khai về linh hồn, về vật tổ Theo nhiều nhà nghiên cứu đây là tôn giáo mà ngời Aryan thấy dân tộc Naga theo khi họ mới xâm chiếm ấn Độ Hiện nay, Tôn giáo đó còn sót lại ở một vài nơi xa xôi hẻo lánh của ấn Độ Ngời Naga lựa chọn cho mình một thế giới thần linh phong phú đa dạng, nh: thần đá, thần cây, thần cọp, thần sông Có thần Thiện và cũng có thần ác …

Từ những tín ngời đầu tiên cho đến nay, ngời ấn Độ đã sáng lập ra nhiều tôn giáo Họ tự hào khi trong số mời Tôn giáo lớn nhất thế giới có đến bốn Tôn giáo đợc khởi nguồn từ đất nớc họ sinh sống Đó là: Đạo Balamôn, Đạo Gienơ,

Đạo Phật và Đạo Hindu Ngoài ra còn có các đạo khác nh: Đạo hồi, Đạo thiên chúa, Đạo xích…

Đợc coi là Tôn giáo đầu tiên trên thế giới, với sự ra đời của bộ thánh kinh Vêđa, Đạo Balamôn, xâm nhập đời sống nhân dân ấn Độ với Thuyết luân hồi (Sambara), nghiệp báo (Kama) Điểm nổi bật của đạo Balamôn là giáo lý khuyên răn con ngời phải sống chịu đựng, nhẫn nhục, không kêu ca phàn nàn về những gì

mà bản thân mình trải qua Và mục đích cuối củng của họ là đợc “giải thoát” Bởi với họ “Kiếp ngời là tạm bợ, nỗi đau khổ ở trên đời là tạm thời, cuộc đời là h ảo” Suy nghiệm về hiện tại nghèo khổ, Đạo Balamôn cho rằng nguyên nhân chính là

do kiếp trớc họ phạm nhiều tội ác, lỗi lầm, kiếp này chịu nghiệp báo Tính tích…cực của t duy này là việc tránh cho con ngời phạm sai lầm, gây tội ác Thế nhng, mặt khác, quy luật (Dhama) về sự hình thành, tồn tại và biến hoá của vạn vật đã kìm hãm tinh thần đấu tranh của tầng lớp dới, duy trì và bảo vệ quyền lợi của giai

Trang 16

cấp thống trị Hệ quả của giáo lý này là cuộc sống khổ cực của không ít ngời dân lao động nghèo trên đất nớc ấn Độ lúc bầy giờ

Đối nghịch với t duy, giáo lý Đạo Balamôn là Đạo Giennơ (Jain) Sự xuất hiện của Đạo Giennơ trớc hết, nhằm chống lại chế độ đẳng cấp và Đạo Balamôn, chủ trơng không tế lễ, coi vạn vật vừa có vật chất vừa có linh hồn Với họ, duy nhất chỉ có những linh hồn cao cả nhất, hoàn hảo nhất mới đợc “giải thoát” vĩnh viễn, gọi là Achat (Arhat) Kiên trì lối sống khổ hạnh, từ chối mọi lạc thú, không

bị chi phối bởi khách quan là lối sống đ… ợc đông đảo ngời dân ấn Độ lựa chọn, thực hiện

Đạo Phật (Buddism) do Xitdacta (563 – 483 TCN), hiệu là Thích Ca Mâu

Ni (Sakya Muni) sáng lập Giáo lý Đạo Phật cho rằng, tội ác trong xã hội là do dục vọng của con ngời sinh ra Cuộc đời là bể khổ, con ngời bị kiếp luân hồi và nhân quả chi phối Con đờng để giải thoát khỏi những tội lỗi, đau khổ là phải tu hành, phải tiêu diệt hết dục vọng để kiếp sau lên chốn Niết Bàn (Nirvana), nơi cực lạc Điểm tiến bộ của t… tởng, giáo lý này là chủ trơng bình đẳng chúng sinh, phản đối chế độ đẳng cấp mà Đạo Balamôn vẫn duy trì Tuy nhiên, về căn bản, chủ trơng nhẫn nhục vô vi, không dùng bạo lực mà dùng sự thoả hiệp, hoà hoãn

để đối kháng với áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị lại mang tính chất tiêu cực,

là những hạn chế của Đạo Phật…

Theo dòng chảy thời gian, qua nhiều biến đổi và cải cách, Đạo Balamôn đã biến thành Đạo Hinđu (hay còn gọi là ấn Độ giáo thịnh hành trong thời kỳ phong tiến và tồn tại cho đến ngày nay) Những tín đồ của Đạo Hinđu cũng thờ Bò cái, cũng tin luật Kama và thuyết Samhara nh đạop Balamôn, cũng tiếp thu một phần giáo lý của đạo Phật Nh… ng họ thay những thần cũ trong các kinh Vêđa bằng những thần mới Các thần của ấn giáo có quyền uy rất lớn, có khả năng tri và hành phi phờng Những ngời theo ấn giáo đã “Tam vị nhất thể hoá” các vị thần t-

Trang 17

ợng Brahama- Vishnu – Siva; đồng thời ngợi ca thần Vishu thành vị thần đạo

đức giáng thế…

Có thể thấy rằng, chính vị trí quan trọng đặc biệt của tôn giáo trong đời sống hàng ngày của nhân dân ấn Độ từ xa xa đến nay đã chi phối mạnh mẽ tới t duy và t tởng, nhận thức của họ Coi trọng đời sống tâm linh, coi nhẹ các cá biệt

cụ thể, ngời ấn luôn hớng tới cái tuyệt đối, luôn luôn chiêm nghiệm, hớng nội ở

họ còn bộc lộ rõ nét khát khao tìm hiểu khám phá, chinh phục và chiếm lĩnh cái mới lạ, trừu tợng, vô hạn Tìm hiểu văn hoá - văn học qua từ những ph… ơng diện tôn giáo hoá cũng là một cách thức thú vị và sâu sắc Để tồi từ đó, chúng ta có một cái nhìn tích cực về vị trí quan trọng của tôn giáo đối với đời sống của nhân dân và mối quan hệ giữa tôn giáo và Văn hoá - Văn học ấn Độ

1.1.2 Tôn giáo ấn Độ và Văn học ấn Độ

Cha có một con số chính xác để xác nhận sự ra đời của văn học ấn Độ- một nền văn học sinh tồn và phát triển trong một nền văn minh lâu đời, có giá trị trờng tồn cùng năm tháng, Văn hoá - Văn học ấn Độ có bề dày lịch sử và đạt nhiều thành tựu rực rỡ trong tiến trình đi lên của văn hoá nhân loại Cho đến nay, trải qua một chặng đờng dài hình thành, phát triển gần 5000 năm mà ngọn nguồn của nó là nền văn minh Sông ấn (Indus), Văn hoá ấn Độ tạo nên một bản sắc riêng biệt và có sức sống mãnh liệt Các nhà nghiên cứu Văn hoá ấn Độ trên thế giới cho rằng, đây là một nền văn hoá phong phú, đa dạng, phức tạp vào loại bậc nhất trong văn hoá nhân loại Và nét nổi bật của nó là sự thống nhất giữa các mặt

đối lập Trong đó, Tôn giáo – Triết học – Văn hoá luôn thống nhất, quyện hoà làm một

Trang 18

Vào khoảng 3000 năm trớc công nghiên, những sáng tác có tính chất văn học đầu tiên mà chủ nhân của nó là ngời Đravidian xuất hiện Đó là những sáng tác sơ khai, phản ánh những nhận thức hồn nhiên của ngời ấn Độ cổ xa về vũ trụ

và thế giới tự nhiên xung quanh

Khoảng 1500 năm trớc công nguyên, cùng với sự xuất hiện của ngời

Aryan, xã hội ấn Độ cổ đại bớc vào thời kỳ phát triển, Tôn giáo và đẳng cấp đã manh nha phát triển Thần thoại ấn Độ đã kết tinh trong tập Vêđa (Vêđa: từ gốc

là Vid; tiếng Xăngcơrit có nghĩa là “hiểu biết”, sự hiểu biết sâu xa về mọi mặt,

“hiểu biết thật sự là hiểu biết có thể đa ta tới sự tự do”) Đây đợc xem là một tác phẩm thánh kinh, “một di chúc nên thơ” (R.Tagore) của ấn Độ Vêđa cũng nh các bộ kinh khác là sự ghi chép lại Sruti (bí mật đợc khải lộ) mà các Rishi (thi nhân thấu thị) đã nghe đợc Màu sắc tôn giáo linh thiêng huyền bí đã đợc t duy, trí tởng tợng, năng khiếu thẩm mỹ của ngời ấn Độ xa bao trùm lên những sáng tác văn học đầu tiên ấy Chúng ta tìm thấy một hệ thống các vị thần trong tập Vêđa, thể hiện trình độ cao của t duy ngời Aryan nh: Hệ thống tần vũ trụ, thiên nhiên ( Suria – Thần Mặt trời, Vâyu – Thần Gió, Anhi – Thần Lửa ); Hệ…thống thần sáng tạo và thuỷ tổ của loài ngời (Visuakacma- Ngời sáng thế, Purusa- Thuỷ tổ loài ngời, Manu- Ngời nguyên thuỷ ); hệ thống thần tình cảm, tình yêu:…Thần Kama…

Từ thế kỳ X đến thế kỷ VII trớc Công nguyên, xã hội ấn Độ bớc vào thời

kỳ phát triển mới, gọi là thời kỳ hậu Vêđa Tôn giáo, đẳng cấp ngày càng có ảnh hởng sâu rộng trong đời sống xã hội nói chung và thực tiễn văn học nói riêng Thần thoại đã bị tôn giáo hoá, mất dần tính chất nguyên thuỷ, ngày càng trở lên siêu linh, huyền bí Đây là thời kỳ của hệ thống thần thoại bộ ba thần tợng: Brahma (Thần sáng chế) Vishnu (Thẩn bảo vệ)- Shiva (Thần huỷ diệt)

Sau giai đoạn Vêđa là thời kỳ của Sử thi hay còn gọi là anh hùng ca (Itihâsa) Lúc này, xã hội bộ tộc ấn Độ bắt đầu có sự tan rã Sợi dây huyết thống

Trang 19

không đủ sức để kết nối xã hội một cách thống nhất Chiến tranh xuất hiện giữa các bộ tộc Sử thi là bức tranh sinh động phản ánh đời sống t tởng của nhân dân

ấn Độ qua những cuộc xung đột, những cuộc chiến tranh giữa các chủng tộc ấy Mặt khác, Sử thi còn là những bài ca vĩ đại ngợi ca những chiến công hiển hách, khí phách hào hùng của các anh hùng lý tởng Đặc biệt, Sử thi … ấn Độ mang đậm màu sắc tôn giáo, Cả nhân loại biết đến “Mahabaharata”, biết đến “Ramayanna”

nh là “Iiat”, nh là “Ôđixê” của Thần lhoại Hy Lạp

“Mahabharata” đợc xem là sử thi vĩ đại nhất trong hệ thống sử thi nhân loại Tác phẩm gồm 110.000 Sloka (câu thơ đôi), khai thác đề tài từ cuộc chiến tranh trong dòng họ Baharata tranh giành quyền lợi, đất đai Đợc xem là “bách khoa toàn th” về đời sống văn hoá, chính trị và xã hội ấn Độ cổ đại, tác phẩm chứa đựng những sự kiện lịch sử, những tập quán sinh hoạt, những tín ngỡng tôn giáo của toàn thể dân tộc ấn Độ suốt từ chân núi Himalaya hùng vĩ cho tới

vịnh Bănggan tràn ngập ánh nắng Bên cạnh đó, “ Mahabharata” còn xuất hiện những đoạn bình luận về linh hồn, thể xác, về sự giải thoát “Bất cứ cái gì tách…khỏi linh hồn đều không hiện hữu, bất cứ cái gì mang những tác phầm linh hồn

đều không khi nào ngừng hiện hữu ” Đây là những biểu hiện sinh động của sự…chi phối giữa tôn giáo và văn học nghệ thuật

Cùng với “Mahabharata”, sử thi “Ramayanna” cũng là một biểu hiện của

sự thâm nhập giữa tôn giáo, triết học và văn học Ngời ấn Độ thờng nói:

này “bao la nh ấn Độ Dơng tràn đầy ánh sáng mặt trời mọc rực rỡ Đó là tác phẩm chan chứa những âm điệu du dơng, toát ra một bầu không khí yên lành và một tình yêu thơng vô bờ bến ” … [20,64]

Trang 20

Ngay từ nguồn gốc sự ra đời của tác phẩm, “Ramayanna” đã đợc bao phủ bởi tấm màn thần thánh Đợc xem là ngời có công đầu su tập, chỉnh lý những truyện kể, những trờng ca tự sự, những huyền thoại lu truyền trong dângian, Valmiky – một đạo sỹ thông minh, có trí nhớ kỳ lạ, ăn nói lu loát đợc thần Narađa kể cho nghe về kỳ tích của chàng Rama Sử thi “Ramayanna” ra đời với một thế giới nhân vật đa dạng: Con ngơì, Thần thánh, ma quỷ …

Rama – nhân vật trung tâm của tác phẩm – là hoá thân thứ bảy của thần Vishnu (Đấng Tối Cao của đẳng cấp võ sĩ quý tộc ở miền Tây ấn Độ) Đây là kiểu mẫu đạo Hinđu và cũng là khát vọng “Giải thoát” của nhân dân ấn Độ

“Chàng có sức mạnh và tài năng của thần Biển và thần Núi” Hay Sita- hình t… ợng mẫu mực của mẫu ngời phụ nữ ấn Độ cổ đại, cũng xuất thân từ thần thánh, con của thần Đất Rồi những nhân vật loài vật nh… quỷ Ravân, khỉ Hamuman…

-đều đợc hình tợng hoá sinh động và chân thực Will Durant đã

nêu lên tầm khái quát của tác phẩm này nh sau: “Nó còn là một tác phẩm …ghi lại các truyền thống triết học, tôn giáo, đọc đức của dân tộc ấn Độ Ngời ấn

Độ coi trọng nó nh những ngời theo Đạo thiên chúa đọc cuốn sách Đời các vị thánh vậy Ngoài việc thởng thức một cách thú vị về văn chơng, họ xem đó là một thánh kinh, đọc xong họ tin rằng sẽ đợc Thánh thần phù hộ và chuộc đợc mọi tội lỗi …[20,64]

Văn học trung đại ấn Độ tiếp nối những tinh hoa của thần thoại, sử thi với những tên tuổi nh: Kabir, Tulsi Da Tulsi Da viết không nhiều song lại có một vị…trí khá đặc biệt trong tiến trình văn xuôi ấn Độ Tác phẩm xuất sắc nhất của ông

là “Hồ truyền kỳ Rama”, đợc viết dựa theo cốt truyện của sử thi “Ramayanna”

Ông nói: “Chỉ có mỗi một thợng đế là Rama, đấng sáng tạo ra trời đất và cứu tội cho nhân loại Vì th… ơng dân trung thành, một vị thần, thần Rama đã đầu thai một

ông vua vì chúng ta mà sống trên cõi trần ” … [27,384]

Trang 21

Kabir xuất thân là một thợ dệt ở Bănggan, nhng ông rất am hiểu thánh kinh Vêđa và kinh Coran của đạo Hồi Thân phụ ông là ngời Hồi giáo còn thân mẫu

ông là con gái một ngời theo đạo Hindu, Kabir là một tín độ thờ thần Rama, coi Rama là vị thần chung cho nhân loại Là một nhà thơ trữ tình bậc nhất của thơ ca trung đại ấn Độ, là đại diện cho tiêu biểu của thơ ca sùng tín, theo ông, “ai yêu chúa ngời ấy sẽ hiểu về chân lý” Với tập “Bijak”, Kabir đề cao lòng khoan dung tôn giáo, nhấn mạnh sự cần thiết phải hoà hợp giữa các tôn giáo “Luân lý của

ông giản dị nhất thế giới”; giữ đạo công bằng và hởng hạnh phúc trong tay:

Anh không thấy cái thực tại ở trớc cửa,

mà lang thang đi tìm hết rừng này tới rừng khác

( )

Anh phải cơng cờng và tìm ngay trong bản thể anh, vì chỉ ở

Băng qua dòng Sông Hằng lững lờ trôi trong những ngày xuân ấm áp, cảnh bình minh tơi sáng, sờn đồi xanh tơi, dãy nói Himalaya hùng vĩ, t tởng và nhận thức của nhân dân ấn Độ, xa vẫn có một vị thế quan trọng trong t duy sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ Tôn giáo vẫn đồng hành cùng văn học, vẫn bổ sung, tác

động qua lại với nhau Có thể khẳng định rằng, chính sự thâm nhập của triết học – tôn giáo đối với văn học đã tạo nên nét riêng biệt cho nên văn học ấn Độ Cho

đến tận hôm nay, màu sắc tôn giáo ấy vẫn thấm đợc trong những hình ảnh, nhân vật, giọng điệu của biết bao tác phẩm văn ch… ơng

1.1.3 Màu sắc tôn giáo ấn Độ và thơ R.Tagor

R.Tagore xuất hiện trên văn đàn dân tộc vào một thời điểm đợc xem là khá

“nhạy cảm” Bấy giờ, văn hoá ấn Độ đang rơi vào một cuộc khủng hoảng trớc làn sóng xâm lăng của văn hoá Phơng Tây và có nguy cơ bị đồng hoá Những cuộc kiếm tìm con đờng phục hng văn hoá ấn Độ đã hình thành nên hai quan điểm:

Trang 22

hoặc khớc từ mọi ảnh hởng của văn hoá Phơng Tây, quay về với văn hoá dân tộc, tuyệt đối hoá quá khứ; hoặc xây dựng một nền văn hoá ấn Độ theo mô hình văn hoá Phơng Tây, vứt bỏ truyền thống R.Tagore đã đề xuất một con đ… ờng, một phơng hớng mới và đó thực sự là một đóng góp quan trọng của ông đối với quá trình phục hng văn hoá dân tộc Bắt nguồn từ nguyên lý hoà hợp trong triết học,

ông chủ trơng phục hng văn hoá ấn Độ theo nguyên tắc kế thừa tinh hoa của văn hoá dân tộc và cả tinh hoa văn hoá Phơng Tây R.Tagore đã đứng giữa trung gian

Đông phơng và Tây phơng trong lĩnh vực văn học, thu hẹp khoảng cách hai nền Văn hoá - Văn học ấy Nói cách khác, đấy chính là tinh thần hoà hợp giữa Phơng

Đông và Phơng Tây

Tinh thần ấy đã góp phần đa văn hoá ấn Độ hội nhập vào nên văn hoá hiện đại

Từ thế kỷ XI đến thứ kỷ XVII, văn học ấn Độ phát triển mạnh mẽ dòng văn chơng sùng tín – văn chơng dâng tất cả lòng ngỡng mộ, tình yêu chân thành nồng nhiệt của tín đồ lên Đấng Tối Cao Từ Vêđa đến Upanishađ, tiếp đến là Tulsi Das, Kabir và Tagore mạch nguồn ấy cuộn chảy Tôn giáo tràn ra trong…thơ R.Tagore bởi tôn giáo gắn chặt trong huyết quản, trong từng hơi thở với không chỉ riêng thi nhân mà ở bất kỳ một ngời ấn nào

Màu sắc Tôn giáo trong thơ R.Tagore biểu hiện ở nhiều khía cạnh nhng có

lẽ độc đáo và giàu ý nghĩa nhất là hệ thống những hình ảnh: Chúa, Ngời, Thợng

đế, Thầy Thế nh… ng, điều đáng nói ở đây không phải là hình thức biểu hiện Trong t duy của R.Tagore, “các dáng dấp, các màu sắc huyền diệu kia chỉ là cái

vỏ bề ngoài nh áo cà sa khoác trên vai ngời trần tục, cốt lõi của hiện thực đợc bao bọc, viễn giác bên ngoài một lớp huyền ảo” [21,849]

Trớc hết, chúng ta không thể phủ nhận màu sắc Tôn giáo ấn Độ in đậm trong thơ R.Tagore Theo Mác , “ấn Độ có hai tôn giáo Tôn giáo hởng lạc và tôn giáo khổ hạnh tự dày vò thân thể Tôn giáo của vũ nữ và tôn giáo của tăng lữ”

Trang 23

[21,547] Âm hởng của sự đấu tranh giữa tình yêu và tôn giáo, giữa Đạo và Đời, xung đột giữa khổ hạnh và luyến ái trong thần thoại Kama d… ờng nh vẫn còn v-

ơng đọng trong tập “Ngời làm vờn” Hình ảnh vũ nữ thiên thần Mêcara và Đạo sĩ Visuamitra trong thần thoại, phải chăng đã gợi tứ cho bài thơ 23 tập “Ngời thoáng hiện” ? Và truyền thuyết về nàng Uốcsavavi – vũ nữ của Thiên đờng từ dới biển lên cùng với hình ảnh nhân vật “nàng” trong bài 11, tập “Ngời thoáng hiện” có nét đồng điệu? R.Tagore đã chọn những truyện thần thoại cổ … ấn Độ làm chủ

đề và biểu tợng, ông khoác cho chúng một dáng dấp chủ thể…

Chính bởi những chi tiết ấy mà không ít ngời cho rằng thơ R.Tagore là thơ tôn giáo Có ngời còn đặt ra cho R.Tagore câu hỏi: ông thuộc về Tôn giáo nào? Balamôn hay Kitô giáo? R.Tagore đã lên tiếng Ông nói: “Tôi không …

thuộc tôn giáo nào cả mà cũng chẳng nghiêng về một đức tin đặc biệt nào Có

điều, khi Thợng đế sinh ra tôi, thì chính ngời đã trở thành tôi rồi Ngày ngày,

Ng-ời triển khai con ngNg-ời tôi trong cuộc đNg-ời và nâng niu con ngNg-ời tôi với nhiều sinh lực và vẻ đẹp khác nhau trong thế giới này Chính sự hiện hữu đã mang lại trong

nó lòng yêu thơng vĩnh cửu rồi ” … [24,191] T tởng của R.Tagore trong lời ông nói và đặc biệt trong thơ ca là câu trả lời thiết thực và trọn vẹn nhất cho những câu hỏi trên Đến với thơ R.Tagore, chúng ta đợc sống trong một thế giới sắc màu lung linh, siêu thực, h ảo Những cũng chính ở đấy mà chúng ta nhận ra đợc một cuộc sống trần gian gần gũi, quen thuộc Và ông gọi không gian tâm linh ấy,…màu huyền nhiệm của Tôn giáo ấy là “Tôn giáo con ngời” (The Religion of Man)

Thơ R.Tagore, dù viết về đề tài nào, về Đức tin, Chúa trời, về thiên nhiên hoa lá cỏ cây, về ngời phụ nữ, về trẻ em hay về tình yêu cuối cùng cũng vì điểm…xuất phát đầu tiên và là mục đích chính: Con ngời – Cuộc đời Với R.Tagore,

đây chính là nguồn năng lợng của sự sống, là nguồn cảm hứng vô biên của thơ ca,

Trang 24

của sáng tạo Tác động ngợc trở lại, thơ ca cũng phải có nhiệm vụ cao cả là gột rửa bao nhiêu bụi bặm cuộc đời, thăng hoa giá trị con ngời, cải tạo cuộc sống, cải biến những ô trọc của xã hội đơng thời Nira Chanhđhri – nhà nghiên cứu văn học ấn Độ đã xác định rõ hơn bản chất đặc biệt của thơ tôn giáo này: “Thơ tôn giáo của R.Tagore là thơ sùng kính, không phải là thơ thần bí, nó tìm cách đa Chúa lên mặt đất này nh một con ngời đồng thời nh một hiện thân thần thánh chứ không phải đa tâm trí con ngời ra ngoaì cõi đời để đặt dới chân Chúa” [16,251] R.Tagore với cái nhìn hiện đại và sâu sắc đã mang đến cho nhân dân ấn Độ, cho những con ngời nơi đất nớc ông sinh sống với một cái nhìn tích cực, tiến bộ về khái niệm Tôn giáo, về những thế lực vô hình đang tồn tại nơi đây

Thơ của R.Tagore trở thành thơ của con ngời hành động, của tinh thần nhập thế, thơ của sự đấu tranh và vơn lên, chống lại những bất công, phi lý giữa

dòng chảy xô bồ, tấp nập của đời sống thờng nhật Nhẹ nhàng nhng thâm trầm, lắng đọng và sâu sắc, cái tôi của khát vọng giải phóng, cởi bỏ mọi ràng buộc, trả con ngời về bản chất Tình yêu : Tình yêu và ý thiện, Tình yêu và cái đẹp Chân – Thiện – Mỹ tạo nên sức quyến rũ và hấp dẫn trong thơ R.Tagore Bởi thế, chỉ…

có thể hiểu đợc thơ R.Tagore khi chúng ta “nhìn bằng cặp mắt nhà thơ, nghe bằng tai nhà thơ, nói bằng lời nói nhà thơ ” (V Biêlinxki), cảm nhận thơ R.Tagore bằng nhịp đồng cảm của trái tim yêu thơng và dâng tặng cuộc đời

Bằng sự kính trọng và cảm phục, Nadim Hitnet đã thay lời cho biết bao thế

hệ độc giả yêu thơ R.Tagore khi ông nói: “Tôi rất yêu thơ R.Tagore và nhạc Bát (Bach) ( ) Tôi biết họ có điểm thần bí, nh… ng cái có nhiều nhất là lòng yêu cuộc sống, lòng tin cuộc đời ( ).R.Tagore vẫn là nhà thơ lớn trong các thi sĩ lớn…nhất ” …

1.2 Biểu tợng Tôn giáo trong thơ R.Tagore

Cũng nh tất cả các nhà văn, nhà thơ có tinh thần lao động nghệ thuật thực

sự nghiêm túc, nỗ lực, R.Tagore đã tạo ra cho mình một phong cách riêng độc

Trang 25

đáo, đặc biệt “Trong tâm hồn của R.Tagore có một con chim không giống những loài chim khác, xa nay cha từng thấy Ông đã thả con chim ấy vào trong nghệ thuật và mọi ngời đều thấy đó là con chim của R.Tagore” (Raxum Gamzatov) Với một nền văn học mang đậm màu sắc huyền bí, h ảo của tôn giáo và văn học

ấn Độ thì không dễ gì có thể tạo đợc một “tiếng hót” quyến

rũ, sinh động và vang mãi trong tâm trí ngời nghe Nhng R.Tagore bằng trí tởng ợng siêu hình, bằng t duy nghệ thuật siêu việt, và hơn tất cả là “Một trái tim nồng nàn, gắn thật chặt với hiện thực cuộc sống”, những tác phẩm của

t-ông có sức sống mãnh liệt và trờng tồn

Nh đã nói ở trên, màu sắc tôn giáo của thơ R.Tagore không phải là thứ tôn giáo thần bí, ru ngủ con ngời trong mê muội R.Tagore đề ra một thứ tôn giáo khác hẳn với những thứ tôn giáo từ khởi thuỷ đến nay của ấn Độ Ông gọi đó là

“Tôn giáo Con ngời” (The Religion of Man), “Tôn giáo của Nhà thơ” (The Religion of an Artist) T tởng của “con ngời” ấy của “nhà thơ” ấy về một thế giới thần linh, về một đời sống tinh thần mang màu sắc duy tâm chủ nghĩa của nhân dân ấn Độ đợc bộc lộ qua một thế giới hình ảnh mang ý nghĩa biểu tợng R.Tagore trăn trở, giải mã những điều mà ông tâm đắc và suy tởng, chiêm nghiệm

về “Chúa”, về “Thợng đế” về “Thiên đờng”, về “cõi chết” và “thần chết” Hệ…thống các hình ảnh mang ý nghĩa biểu tợng này xuyên suốt trong các tập thơ của R.Tagore chuyển tải t tởng, quan niệm của ông về cuộc đời và con ngời Mọi khát vọng của nhân loại nằm ngay trong những bài ca của R.Tagore R.Tagore là ngời

đầu tiên trong các “vị thánh” không phủ nhận cuộc sống mà từ cuộc sống phát nên lời Bằng giọng thơ triết luận, t duy hớng nội, những mẫu niêm luật mới, hình tợng mới và một văn phong tự nhiên, gần gũi với ngôn ngữ nhân dân nhng cũng

đủ để diễn đạt những cảm xúc tế vi nhất của mình, nhà hiền triết đợc xem là “ngời

ấn Độ nhất của ấn Độ” này đã mở ra, “khai sáng”, “chỉ đờng” cho biết bao thế

hệ ngời dân ở đất nớc thơ mộng với dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ

Trang 26

Đóng góp của R.Tagore với văn học ấn Độ giai đoạn này vô cùng quan trọng, mở ra một hớng mới cho dòng chảy của văn học sùng tín Đức tin trong trái tim R.Tagore bộc lộ trên từng trang viết của ông không phải là một niềm tin h ảo,

mờ nhoà trớc quyền thế vô sonmg xa nay ngời ngời phong tặng “Chúa” Màu sắc tôn giáo in dấu trong thơ R.Tagore có ý nghĩa tích cực, khởi nguồn từ hiện thực cõi đời trần gtian Có ngời xem ông là Lêonardo da Vinci

của thời Phục hng ấn Độ Nhng “Ông không phải là ngời chỉ biết mơ mộng, nhàn rỗi mà ca hát về vẻ đẹp thiên nhiên và bí ẩn của đời sống con ngời”

1.2.1 Thiên đờng của thần linh

Thơ R.Tagore xuất hiện hình ảnh “ ngời ra đi tìm Chúa với khát vọng cháy bỏng” Bằng sự hoá thân của cái tôi trữ tình nhà thơ, R.Tagore đã đi đến tận cùng chiều sâu của khát vọng, của những ớc mơ về “Chúa”, về “Thợng đế” Thực…chất đó là thủ pháp nghệ thuật hoá khát vọng mãnh liệt đến với cuộc đời Vị Chúa

ở đây không phải là một đấng h vô, xa xăm, ảo ảnh mà là hiện thực cuộc sống, là cuộc đời, là một trạng huống tâm lý của cuộc đời

Với R.Tagore “Chúa”, “Thợng đế” hay “Ngời” là những cách gọi khác…nhau về một “Ngời không nhìn thấy” Bao phủ bầu sơng khói siêu hình, những tên gọi ấy về thực chất là những biến thoái khác nhau của cuộc đời trần thế Tâm hồn nhạy cảm và chiều sâu suy t của R.Tagore đã nâng chúng lên, vợt ra khỏi những bấu víu tầm thờng của cuộc đời thực dụng để trở thành những biểu tợng nghệ thuật tơi mới, sinh động, giàu sức biểu đạt nh… ng vẫn không xa rời thực tế, không xa lạ với ngời đón nhận và tiếp thu

Khảo sát tuyển tập thơ R.Tagore chúng tôi nhận thấy tần số xuất hiện những hình ảnh Chúa, Thợng đế, Ngời rất lớn, đến 114/271 bài (riêng tập “Thơ…dâng”, 78/103 bài viết về hiện tợng thẩm mĩ này) Nh vậy, xét một cách tổng quát, đây là một hình ảnh trung tâm, một biểu tợng nghệ thuật và có ý nghĩa hết

Trang 27

sức đặc biệt Dờng nh nó đã trở thành một ám ảnh nghệ thuật, một điểm sáng thẩm mỹ trong t duy nhà thơ đầy tài năng , giàu sức sáng tạo R.Tagore

Từ trớc tới nay, ‘Chúa” sống trong lòng ngời bởi ý niệm về một đấng cao siêu, vô hình, vô ảnh, về một sáng tạo ra con ngời nơi trần thế và vĩnh hằng con ngời chẳng thể nào chiếm giữ Thì đây, R.Tagore đã cùng Chúa vợt qua bao

núi cao, đèo sâu, vực thẳm để tiếp giáp với cuộc đời, để đến với mọi ngời, trở thành “Chúa đời”, gắn bó, gần gũi Chúa, theo R.Tagore trớc hết là cuộc sống

đang biến chuyển từng ngày, từng giờ Chúa ở trong từng hơi thở, từng dấu

chân, từng nụ cời hạnh phúc

Vì vui riêng Ngời đã làm tôi bất tận

Thân này thuyền nhỏ mong manh đã bao lần Ngời tát cạn rồi lại

đổ đầy cuộc sống mát tơi mãi mãi…

( )

trái tim nho nhỏ trong tôi ngập tràn vui sớng.

Thốt nên lời không sao tả xiết…

(Bài 1- “Thơ dâng”)

Đâu đâu nơi này, “qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng” là tình yêu bất diệt, là niềm hạnh phúc vô biên vô tận Tình yêu ấy không giới hạn, và ngày ngày con ngời vẫn mở lòng đón nhận, dẫu là những điều nhỏ nhoi, dẫu là những niềm vui thật bình dị trong cái hữu hạn của “hai bàn tay bé nhỏ vô cùng”, của kiếp ngời hữu hạn

Tặng vật Ngời ban vô biên vô tận nhng để đón xin, tôi chỉ có hai bàn tay bé nhỏ vô cùng.

Thời gian lớp lớp đi qua, Ngời vẫn cha ngừng đổ sót, song lòng tôi thì hãy còn vơi

(Bài 1 “Thơ dâng”)

Trang 28

Chúa là chúa đời, là đặc ân đáng kính của bất cứ một con ngời nào đang sống trên dơng gian Lời Chúa vang vọng đâu đây, phải chăng cũng là tiếng nói của cuộc sống cất lên những giai điệu thân quen ? Và có phải vì thế mà ngời nghệ

sỹ không cỡng lại đợc sức mạnh của cõi đời, của vẻ đẹp trần thế? Đề rồi, có những rung cảm tinh tế, dạt dào trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, thôi thúc thi nhân cầm bút mà không do một quyền uy nào khác Lời “Chúa ban” không phải là một mệnh lệnh uy hiếp con ngời mà là tiếng kêu yêu thơng, trân trọng, là niềm hãnh diện đợc đón nhận lòng nhân ái:

Khi Ngời ban lệnh cất lời ca, tôi thấy tim mình nh rạn nứt, Vì hãnh diện khôn cùng, Ngời nhìn mặt Ngời, mắt tôi ứa lệ

(Bài 2 – “Thơ dâng”)

“Thơ chỉ tràn ra khi cuộc sống trong tim đã ứ đầy (Tố Hữu) “Thơ là tiếng nói tri âm đi tìm những tâm hồn đồng điệu” Đáng sợ biết bao nếu tâm hồn của…ngời nghệ sỹ cằn cỗi, khô cạn, tê cứng trớc những biến thái tế vi của dòng đời” Hãy xúc động hồn thơ cho ngòi bút có thần” Bởi thế, đợc ngợi ca một cuộc sống

đáng ngợi ca, tôn vinh “Ngời” là một niềm hạnh phúc tuyệt đích, biến những “Lỗi

điệu”, “đục khàn” trong niềm cảm xúc của thi nhân thành “hoà khúc dịu êm” Đó

là một món quà kỳ diệu, nâng bổng, thăng hoa tâm hồn thi nhân Và cũng chính

từ đó, từ những lời ca dịu ngọt, những ngôn từ “làm Ngời vui thích”, đã đa con ngời vợt qua khoảng cách giữa họ với cuộc đời, với Ngời.:

Lời tôi ca vơn cánh rộng dài bay đến nhẹ vuốt chân Ngời, bàn chân trớc kia nào dám ớc mơ chạm tới

(Bài 2 “Thơ dâng”)

Trang 29

Bài thơ nh một bức thông điệp về sự kiếm tìm hạnh phúc Đừng mải mê với những hành lý nặng trịch trên vai để kiếm tìm hạnh phúc ở một nơi xa xôi, hạnh phúc ngay giữa cuộc đời này, ở mỗi góc đờng, hè phố, nơi ngọn gió đang vi vu vuốt tóc mềm của hàng cây ven hồ, nơi ruộng đồng ngày qua ngày vun xới Và hạnh phúc có trong chính bản thân mỗi ngời Hãy yêu và sống hết mình cho…những điều dù bình dự, đơn sơ để nhận đợc chính từ cuộc sống những món quà vô giá Với những nghệ sỹ, hơn ai hết, họ càng phải gắn chặt

với đời, hiểu đờim hiểu ngời bằng tấta cả trái tim rạo rực yêu thơng Rời xa mạch sống của cảm hứng sáng tạo “Tiếng hát”ngời nghệ sỹ sẽ chìm tắt và ô nghiữa R.Tagore đã tìm thấy chomình một điểm tựa vững vàng, chắc chắn, một

thế giới hữu hình với vô vàn ớc mơ và khát vọng Ông gạt bỏ mọi ý nghĩa về một

vị Chúa đfầy uy lực xa nay ngự trị trong lòng kính Chúa của nhân dân ở R.Tagore cũng là lòng sùng kính Chúa nhng thi nhân của chúng ta đã cất tiếng hát “vơn cánh rộng dài bay đến nhẹ vuột chân Ngời” Chúa ở đây không chỉ là một cảm nhận vô cùng thiêng liêng mỗi lúc ông thành kính đặt bàn tay lên trái tim mình, mà giờ đây run rẩy, ngột ngạt trong niềm vui sớng vì thị giác đợc bớc chân Ngời ngay cuộc sống hàng ngày

Ngay từ những bài thơ mở đầu tập “Thơ dâng” R.Tagore đã khắc họa một hình ảnh “Chúa” thân thiện, gần gũi Ông xem “Ngời là bạn, là Thợng đế của lòng tôi” “Mỗi nhà thơ đều cần có một ngôn ngữ làm trung gian riêng biệt cho…mình Không phải toàn bộ ngôn ngữ ấy đều do anh ta làm ra mà vì bản thân anh

ta sử dụng nó Vì có bàn tay kỳ diệu của cuộc sống đụng vào và nó đã biến thành một thứ công cụ do chính anh ta sáng tạo ra” [24,191] Đọc thơ R.Tagore chúng ta bắt gặp trong đó âm hởng của những bài Kinh cầu tự Thơ ông thiên về những suy

t, chiêm nghiệm và triết lí Thoáng qua, không khó hiểu khi một số ý kiến cho rằng thơ R.Tagore là thơ tôn giáo Thế nhng, bằng cách lý giải kín đáo, tế nhị và rất đỗi tự nhiên, chân thực, sáng tạo R.Tagore đã “kéo Chúa từ cõi vĩnh hằng

Trang 30

xuống mặt đất” đặt Ngời lên trên cõi trần chứ không phải dâng đời đặt dới chân Ngời Nh vậy, xét về bản chất, màu sắc tôn giáo trong thơ R.Tagore chỉ tồn tồn ở hình thức và phơng tiện biểu hiện, ở lớp vỏ bên ngoài Ông kết hợp hài hoà giữa hiện thực và h ảo Hiện thực và h ảo là sự đan cài thống nhất, tinh tế để tạo ra một thế giới biểu tợng mang yếu tố tôn giáo hoá Cõi mơ trong thơ R.Tagore bao giờ cũng thế, bắt nguồn và gắn kết cùng cõi thực Vì vậy, Chúa còn là những gì quanh

“Ngời” là sự lam lũ, khổ nhọc, cơ cực của ngời nông dân lao động”

Ngời ở nơi kia nơi nông dân đang vật lộn cùng đất cứng nơi công nhân đang xẻ đá làm đờng

Ngời đang ở đó, cùng họ đổ mồ hôi dới ma lũ, dới mặt trời,

áo quần lấm lắp, bẩn dơ

(Bài 11 “Thơ dâng”) Cùng chung lng đấu cật, cùng san sẻ những mệt mỏi, nặng nề và vất vả của công việc đồng áng, “Chúa” theo bớc chân của những ngời lao động vinh quang

đảm bảo một cuộc sống no đủ, an lành Xúc động biết nhờng nào là hình ảnh một

vị Chúa “manh quần tả tơi, tấm áo đơn sơ đang cùng đi với những ngời tay trắng, khốn cùng, hèn mọn” Xoá bỏ mọi ranh giới, mọi phân biệt về đẳng cấp, trong lao

động, con ngời tìm ra chân lý – chân lý về một cuộc sống phong phú về cả vật chất lẫn tinh thần, giải thoát khỏi những bế tắc khi họ cố gắng tìm tòi giải thích về

Trang 31

nguồn gốc của sự nghèo khó ở một khía cạnh nào đó, sự lý giải của R.Tagore…trong những bài thơ này là một liều thuốc an thần cho những ngời lao động nghèo một nắng hai sơng trên ruộng đồng

Chúa, trong ý nghĩa biểu đạt của thơ R.Tagore còn là tình yêu thơng bao dung và độ lợng trong bài số 45 – “Thơ Dâng”:

Bớc chân Ngời đã dẫm lên tim tôi đang ôm nặng những nỗi buồn dài dặc;

khi niềm vui trong tôi ngời sáng

ấy là do chân Ngời vàng óng chạm vào

Ngời đến mang theo ánh sáng niềm tin, niềm hy vọng, xoá bỏ mọi u phiền, mọi bất công và đầy rẫy những khổ đau trong cuộc sống Tình yêu Ngời dành cho con ngời và mọi vật trên cõi đời này đầy nhân ái bao la Bàn tay của Ng… ời mang phép nhiệm màu, biến những “nỗi buồn dài dặc” thành niềm tin yêu sự sống

Thế nhng, Chúa cũng không phải là quyền năng tối thợng khiến cho con ngời tạm bằng lòng với những gì mình đã có Tin yêu Chúa, để nhận ra rằng

“Chúa là tình thơng nhân ái và chúa cũng là khát vọng không ngừng vơn lên”:

Khi phòng tôi đã trang hoàng, tiếng sáo, tiếng cời ở đó ngân vang Xin cho tôi luôn luôn cảm thấy

là cha mời đợc ngời vào nghỉ bên trong

(Bài số 79- “Thơ dâng”)

Và nữa “Chúa” hay “Thợng đế” không trú ngụ ở một vài nơi xa xôi, mờ ảo Ngời ở ngay bên cạnh chúng ta, là mái ấm gia đình của gia đình của bản thân của mỗi ngời R.Tagore đã mang đến cho con ngời giá trị đích thực của hạnh phúc

“Thợng đế” chính là ngời vợ” đang ngủ êm đềm, nàng nằm một phía giờng ôm con nhỏ bên ngực” là “đứa nhỏ oe khóc trong mơ rồi rúc đầu vào ngực mẹ”, giản

dị, gần gũi nhng thật quý giá Đó đây, vẫn còn d ba tiếng thở dài than vãn: “Tại sao tôi bộc của ngời phải lang thang tìm kiếm chúng ta ?” (Bài 75 – “Ngời làm

Trang 32

vờn”) Câu hỏi là hiện thực nhức nhối của không ít ngời muốn làm đạo sĩ, từ giã gia đình đi tìm Thợng đế Thi sĩ của chúng ta nhẹ nhàng và kín đáo giúp họ tìm về với bản ngã của chính mình.

Độc đáo và chân thành là hình ảnh một “Thợng đế” trong cuộc chuyện trò của đôi trai gái Rồi từ đó, chúng ta chợt nhận ra rằng, trong thơ Tagore, Chúa còn là biểu tợng của tình yêu đôi lứa, là nguời con gái với bao mơ mộng va thiết tha muốn chăm sóc chàng trai , mặc dù chàng hoài nghi về ngời con

gái ấy :

Bàn tay ngời vuôt ve thân tôi là bàn tay của ngời Bất Tử Mắt ngời chứa điều huyền bí của đêm khuya …

( Bài số 60 – “ Tặng phẩm ngời yêu ”) Bằng giọng điệu mến thiết tha , R.Tagore đã tiếp tục sử dụng biểu tợng nghệ thuật mang màu sắc tôn giáo này , khi ông xem Chúa là đứa con bé bỏng của ngời

mẹ và Ngời Mẹ cũng chính là Chúa đời của đúa con Tình mẫu tử chứa chan gay nhiều xúc động đợc đặt trong câu thơ văn xuôi , tựa hồ nh câu chuyên kể :

Và mỗi một buổi sáng khi mẹ lấy đất sét nặn ra hình ảnh Chúa đời của Mẹ

thì Mẹ đã nặn đi năn lại con rồi Con đã ở nôi bàn thờ nơi thờ các vị thần

Và khi thờ thần đó , đồng thời mẹ cũng thờ con

Hay trong tập “Những con chim bay lạc”, hình ảnh Chúa xuất hiện ở những câu thơ ngắn gọn nhng cô đọng và hàm súc R.Tagore nh đi đến tận cùng của khái niệm, chiết xuất tất cả những gì mà mình thấu hiểu, dâng cho con ngời và cuộc

đời:

Trang 33

Trong cái chết thì nhiều biến thành một Trong sự sống một biến thành nhiều Tôn giáo chỉ là một

Khi Chúa không còn.

(Bài số 84)và:

Quyền lực lớn lao của Chúa

Là ở trong làn gió xuân mát mẻ Chứ không phải trong bão táp phong ba.

(Bài số 151)Theo R.Tagore muốn giải phóng đất nứơc trớc hết phải giải phóng con ng-

ời, giải phóng cho bản chất tự nhiên của con ngời là Tình yêu và ý thiện Bản chất

tự nhiên đó là hiện thân của Thợng đế Thợng đế không phải thần tợng mà là một

ý niệm trừu tợng, cao siêu, đại toàn, duy nhất mà hiện ra thành muôn hình vạn trạng Thợng đế trớc hết là Con ngời, Tình yêu và cuộc sống Chúa là tự do và là con đờng đi đến sự tự do:

Ngời đã cho chúng tôi đợc sống.

Xin hãy cho chúng tôi đợc giữ cái vinh dự này Bằng tất cả sức mạnh và ý chí của chúng tôi Bởi vinh quang của Ngời đặt trên cái vinh quang của chúng tôi tồn tại

Cho nên, nhân danh Ngời, chúng tôi chống lại cờng quyền muốn cắm lá cờ lên tâm hồn chúng tôi…

(Bài 61 – “Thơ”)Xuyên suốt các tập thơ, dù xuất hiện ít nhiều khác nhau, hệ thống hình ảnh mang màu sắc tôn giáo có ý nghĩa biểu tuợng về “Chúa”, “Thợng đế”, “Ngời”,.đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khá trọn vẹn quan niệm của Tagore Đó

Trang 34

là vị Chúa Đời, là cuộc đời Đến với không gian tâm linh ấy, tâm hồn độc giả ờng nh cũng đợc thanh lọc, bồi đắp niềm tin gắn bó với cuộc đời Thật hiếm khi R.Tagore bộc lộ trực tiếp tình cảm của mình nh thế này Bởi với ông, Chúa đời là sức mạnh có thực và lớn lao:

d-Tôi đã chịu ơn vị Chúa đời.

Và tôi sẽ ra đi

Với những lời cảm tạ

( Bài số 120 – “Thơ”)

Kết hợp linh hoạt giữa tín ngỡng truyền thống, tôn giáo ấn Độ và cách cảm nhận, cách lí giải riêng của mình, R.Tagore đã tạo nên những hình ảnh mang tính biểu tợng đặc sắc trong thơ Thiên đờng hiện hữu trong không gian qua thời gian hữu hạn của cuộc đời Huyền bí trong quan niệm tôn giáo, xa lạ và mơ hồ trong t-ởng tợng của con ngời, Thiên đờng trở thành một khái niệm thật bí ẩn và không

dễ gì với tới Trong hình dung của ngời ấn Độ, thiên đờng là chốn hạnh phúc đích thực và chỉ có những ai chân tu, phải thực sự khổ luyện, hành xác và phải đánh

đổi bằng cái chết mới có thể vơn tới R.Tagore dờng nh thấu hiểu mọi ớc mơ, khát khao ấy của ngời dân ấn Độ Nhà thơ đã mang họ đến Thiên đờng, hiện thực hoá mơ ớc của họ Thế nhng điều đáng nói ở đây là cách hiểu về thiên đờng của R.Tagore Thiên đờng trong thơ R.Tagore là thiên đờng nơi mặt đất, nằm ngay trong tầm tay của mỗi con ngời Ông kéo nhân dân ra khỏi những u mê, mê muội

để nhận ra chân lí về một thiên đờng có thật

Trang 35

Thời bấy giờ, xã hội mà ông sống là là một nhà tù ngột ngạt, một bầu không khí chết chóc, đói khổ, bệnh hoạn Ông biết thế nhng ông không quay lng lại với cuộc đời và tin rằng con ngời có thể thay đổi nó, làm chủ nó R.Tagore yêu cuộc sống, lạc quan, tin tởng và hoà mình vào cuộc sống Cuộc sống ấy, xã hội

ấy, đất nớc ấy sẽ là Thiên đờng khi có tự do Tự do là cốt lõi

điều tơi đẹp trong cuộc sống quý giá này :

Vì lẽ mỗi độ xuân về hoa nở tng bừng, ong bay từng đám chen cành rộn ràng Thiên đờng nhỏ bé nơi có hai ngời bất tử chúng tôi nơng sống lại chật hẹp vô cùng…

Nơi trần gian ấy, thiên đờng cũng chính là niềm hạnh phúc đơn sơ, mộc mạc, chân thành của chàng trai, cô gái đơng tuổi thanh xuân Đợc ở bên nhau, ấm

áp trong bàn tay xiết chặt, nồng nàn mắt trong mắt, và một thoáng lặng yên

“không quờ tay với khoảng không để kiếm điều ngoài hi vọng”, “không bóp nghẹt niềm vui”, không tham vọng ảo ảnh đấy là Thiên đ… ờng :

Tay xiết trong tay, mắt vờn theo mắt, từ đó lịch sử tâm tình đôi ta bắt đầu Đêm ấy là đêm trăng đầu Xuân, hoa Benna thơm ngọt

bài ca.

Tình yêu chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc Và mỗi nhân vật trong thơ R.Tagore có một cách thể hiện riêng để cuối cùng cũng gặp nhau ở một chốn

Trang 36

Thiên đờng cao đẹp Chàng trai trong bài thơ số 28 (“Ngời làm vờn”) luôn khát khao đợc dâng hiến tình yêu thơng vô biên trờng cửu của mình cho cô gái – “nữ hoàng” của lòng mình Lấy vũ trụ, thiên nhiên làm thớc đo, chàng trai cố giãi bày tình cảm của mình dẫu biết đó là một thế giới bí ẩn Mợn một loạt những hình ảnh mang tính biểu tợng nh : vầng trăng, bônghoa, biển cả, viên ngọc chàng trai…những mong “lột trần đời mình từ đầu đến cuối để em rõ, để em hay, không che

đậy, không giấu diếm”, những mong “đập ra trăm mảnh”, “bứt khỏi cành để cài lên mái tóc em” Nh… ng cái “em” cần không phải là hình thức bên ngoài Những gì “anh” trao tặng (viên ngọc,bông hoa) rõ ràng không là điều “em” mong muốn

và cũng không phải là “giấy thông hành” để đến đợc với tình yêu Đặt sự vật nhiều chiều vào trong nghi vấn để khám phá, hớng về cái vô hạn của vũ trụ để thấy thế giới tâm linh là cách thức kết cấu nên bài thơ văn xuôi độc đáo này Thiên đòng mà chàng trai nhận ra chất chứa biết bao bí ẩn, vô bờ, không giới hạn của ngời mình yêu, chất chứa những khát khao hoà hợp, khám phá của một tình yêu vĩnh cửu

Sẽ có rất nhiều, rất nhiều những định nghĩa về Thiên đờng nếu chúng ta khảo sát toàn tập thơ R.Tagore Bởi lẽ, Thiên đờng đối với nhà thơ chính là cuộc sống trên mặt đất Mà với R.Tagore, đâu đâu nơi trần gian này cũng là tình yêu, là niềm hạnh phúc, là niềm hi vọng, tin yêu Với ngời lính, Thiên đờng là nơi nghỉ chân sau những đem dài hành quan mệt mỏi Với chàng trai, nơi nào có ngời con gái mình yêu nơi ấy là Thiên đờng Với những tâm hồn nhạy cảm trớc mọi biến thái của đất trời, Thiên đờng là đồng cỏ hoang sơ, là “con đờng quanh co uốn khúc, trong chỗ hoang vu, quạnh quẽ” ( Bài “Những bông hoa nhài đầu tiên”-

“Trăng non”) Với ng… ời mẹ, Thiên đờng của mình chính là đứa con :

Khi mẹ hát cho con nhảy múa

mẹ mới thực sự hiểu vì sao có nhạc trong cành lá,

và vì sao nớc lại gửi những bản đồng ca,

Trang 37

(Bài “Bao giờ và vì sao” – “Trăng non”)Còn với đứa trẻ, em tìm thấy Thiên đuờng của mình tròng vòng tay dịu dàng yêu thơng củaMẹ, trong ánh mắt khích lệ động viên của ngời :

Bé thích đặt đầu mình vào trong lòng mẹ

Và mắt bé không bao giờ chịu ròi xa Mẹ bao giờ ( )

Bé biết rằng trong góc nhỏ trái tim Mẹ

Có chứa một niềm vui vô tận, vô cùng

( Bài “Cung cách của bé”)Ngẫm nghĩ về “Thiên đờng” của thơ R.Tagore, trong một công trình nghiên cứu của mình, TS Nguyễn Thị Bích Thuý viết rằng: “ ẩn dụ, tợng trng một cõi “Chân phúc” mang hơi thở ấm áp của cuộc đời là Thiên đờng, R.Tagore lại

“cuộc đời hoá” các khái niệm: sự hoài nghi, sự dối trá, sự mù quáng, tham lam và gông cùm xiềng xích của kẻ bóc lột thành địa ngục trần gian, thành cuộc đấu tranh của cái thiện chống cái ác, của cái cao thợng và thấp hèn, của sự lựa chọn giữa cuộc sống hữu ích và vô ích ” … [23] Đây có lẽ là đánh giá tổng quát nhất về tính biểu tợng của những hình ảnh viếtvề Thiên đờng của nhà thơ thiên tài ngời

ấn - R.Tagore Thơ R.Tagore có tác dụng thanh lọc hoá tâm hồn con ngời phải chăng là vì những ý nghĩa sâu xa, tích cực ấy?

ở ấn Độ, vấn đề “Sự sống và cái chết” đợc đặt ra rất sớm Vào khoảng

1500 năm Trớc công nguyên, bằng một trình độ cao trong t tởng nhận thức, trong

Trang 38

thế giới quan, tập Vêđa xuất hiện đánh dấu một bớc ngoặt của lịch sử t tởng ấn

Độ Thần thoại ấn Độ chia thành ba hệ thống cơ bản, trong đó có hệ thống Thần tình cảm (Kama) Hệ thống này bao gồm Thần Tình yêu ( Kama) và

Thần Chết (Yama) Vậy là, bên cạnh Thần tình yêu – một biểu hiện quan trọng nhất của cuộc sống, là Thần Chết Sống và Chết là hai mặt song hành trong tự nhiên, trong cảm thức dân gian

Trong tôn giáo thần bí, thần chết thờng gắn liền với Diêm vơng, Địa ngục, quỷ sứ, vạc dầu, với một bộ mặt, hình hài ghê rợn Thần Chết th… ờng xuất hiện bất chợt nh một bóng đen rồi vụt biến để bắt linh hồn con ngời Với hình hài ấy,

sự xuất hiện của Thần Chết thực sự là nỗi ám ảnh trong đời sống tinh thần nhân dân ấn Độ

Trong thơ R.Tagore, Thần Chết hiện lên gần gũi, ấm áp, thân tình trong nhiều hình bóng Có khi Thần Chết là ngời bạn, có khi là ngời yêu, có khi là một

vị hôn phu đang ôm hoa chờ ngoài cổng Biểu tợng Thần Chết vì vậy đã chứa

đựng một quan niệm, một t tởng triết lí của R.Tagore về Sự sống và cái chết

Vấn đề sự sống và cái chết trong thơ Tagore đã trở thành một cảm hứng sáng tạo gắn với những chiêm nghiệm, suy t của nhà thơ về cuộc đời trần thế, về kiếp nhân sinh Đặc biệt là sau khi chứng kiến những cái chết của những ngời thân, R.Tagore càng suy ngẫm nhiều hơn, sâu sắc hơn về những khía cạnh này

Về thực chất, R.Tagore quan niệm nh thế nào về Thiên đờng, về sự sống, về thần chết? Những vấn đề vốn dĩ thuộc về phạm trù tôn giáo – triết học này biểu hiện

ra sao trong thơ ông? Hãy cùng tìm hiểu hệ thống những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tợng về Thần Chết để lí giải những câu hỏi này!

Sự sống – cái chết là một chặng đờng đầy ý nghĩa của mỗi con ngời “Vào hôm khi Thần chết đến gõ cửa”, “tôi” thảnh thản chào và mãn nguyện trao cho Thần chết “tất cả trái nho thơm dịu của hững ngày mùa thu, của những đêm mùa hè, những gì kiếm đợc, những gì chắt chiu trong suốt cuộc đời cực nhọc”

Trang 39

(Bài số 90 – “Thơ dâng”) Bởi “Tôi” biết cái chết là lẽ tất nhiên của quy luật cuộc đời Biết sống một cuộc sống ý nghĩa, hiến dâng và trao tặng muôn ngời, khi

đối mặt với Thần chế, con ngời chấp nhận nh khát khao sự sống Với họ, cái chết

là cách để “làm cuộc đời tràn đầy lần cuối” R.Tagore đón nhận cái chết trong tthế ung dung, bình thản nh đi trên chiếc cầu bắc sang sông , từ bờ này sang bờ khác, thậm chí ông còn có những câu thơ diễn tả sự bình thản áy rất hóm hỉnhvà

di dỏm Đó là tâm trạng của nhân vật “Tôi” trongbài số 99 ( “Thơ dâng” ) :

Thần chết ạ, lúc nào mà thấy vui vui thì đến với ta nhé,

âm thầm thôi và ngồi xuống đây chơi

Sêcxpia – một tác gia nổi tiếng nớc Anh cũng từng suy ngẫm về cái chết Mợn lời nhân vật Hămlét trong vở kịch cùng tên, ông cho rằng: “Chết là ngủ.

khiếp Tốt nhất là sự dũng cảm để đối mặt với lẽ sinh tồn, đón nhận mọi khổ đau trong cuộc sống và vững vàng vợt trên “những sóng gió của biển khổ để mà diệt chúng đi.”

Trong quá trình phát triển của xã hội, cùng với sự chi phối ngày càng sâu sắc của tôn giáo, sự phân chia đẳng cấp, quan điểm về cái chết dần thay đổi Ngời

Ân xem cái chết nh một nỗi ám ảnh thờng trực, một nỗi sợ hãi vô biên Cái chết trở thành một dây trói vô hình trong đời sống tinh thần con ngời, nhu nhợc hoá khả năng đấu tranh của họ R.Tagore sống trong giai đoạn ấy Thế nhng, nhà thơ

đã vợt ra khỏi ranh giới và sự ảnh hởng sâu rộng của quan niệm tôn giáo Cái nhìn mới mẻ nh đã phân tích trên đây là minh chứng xác thực cho t tởng biện chứng, khoa học của nhà thơ khi nói về mối quan hệ giữa sự sống và cái chết Không xa lạ đối với sự sống, chấp nhận quy luật của tạo hoá, con ngời đón nhận cái chết với niềm tin mãnh liệt :

Trang 40

Lúc lâm chung cũng vậy, ngời lạ mặt ấy lại hiện ra nh đã từng quen thuộc với tôi từ lâu.

Bởi yêu cuộc đời nên tôi hiểu tôi cũng yêu cả sự chết

( Bài số 95 – “Thơ dâng” )Chấp nhận cái chết là một lẽ, R.Tagore còn tuyên chiến, thách thức với cả cái chết Tử thần đang đứng trớc mặt thôi nhng thi nhân không sợ hãi, hốt hoảng :

Và cái chết đã chơi trò ú tim trêm khắp cả thế gian, nhng chúng sẽ qua thôi,

chỉ cời giễu cuộc đời trong chốc lát…

( Bài số 37 – “Thiên nga” ) R.Tagore hoàn toàn có ý thức trách nhiệm đối với đời nên ông quan niệm

về cái chết cũng thật nhẹ nhàng Yêu cuộc đời, yêu con ngời tha thiết, quyết liệt

và một đời sống vì cuộc đời nhng thi nhân cũng yêu cái chết không kém “Đời

ng-ời chỉ sống một lần Phải sống sao cho không hổ thẹn về những ngày đã sống hoài sống phí” (N.Oxtrôpxki) Viết về sự sống và cái chết, mặc dầu bảo phủ bởi màu…sắc tôn giáo truyền thống nhng R.Tagore đã có những cách điệu bất ngờ, sáng tạo Qua những hình ảnh và cách diễn đạt đặc sắc của mình, R.Tagore đã bộc lộ quan niệm về sự sống và cái chết tởng nh mâu thuẫn nhng lại thống nhất, hỗ trợ,

bổ sung cho nhau Cảm ơn một tâm hồn nhạy cảm và những lí giải vấn đề bằng những suy t triết lí, nhân đạo đã giúp chúng ta yêu thêm sự sống và cái chết

Với một hệ thống hình ảnh mang nét đặc trng của Tôn giáo Ân Độ nh : Hình ảnh Chúa, Thợng đế, Ngời, Thầy, Hình ảnh hoa sen, hình ảnh Thiên đờng và Thần Chết R.Tagore đã đ… a chúng ta sống lại không khí linh thiêng của tôn giáo

Ân Độ Rồi từ đó, không phải là những lời giáo huấn khô khan, không phải là thuyết giảng xa vời thực tế, R.Tagore tiếp thêm sức mạnh cho mỗi chúng ta để đi tới những miền mơ ớc, thúc giục chúng ta sống ý nghĩa bằng hành động và việc làm cụ thể dâng đời Văn học có khả năng biến đổi con ngời

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w