Y.Kawabata là một nhà văn bậc thầy, một trong những tiểu thuyết giaxuất sắc nhất của thế giới với bộ ba tác phẩm đoạt giải Nobel văn học năm 1968: Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn cánh hạc.. Trong
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh Khoa NG÷ v¨n
Trang 2Trêng §¹i häc Vinh Khoa NG÷ v¨n
Trang 4Mục lục
Trang
Mở Đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phơng pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc khóa luận 9
Chơng 1: Thể loại tiểu thuyết trong sáng tạo nghệ thuật của Y.Kawabata 10
1.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Y.Kawabata 10
1.1.1 Y.Kawabata - “Ngời lữ khách u sầu” 10
1.1.2 Con đờng đến với văn học của Y.Kawabata 13
1.2 Thể loại tiểu thuyết trong đời văn Y.Kawabata 19
1.2.1 Sơ lợc về thể loại tiểu thuyết trong văn học Nhật Bản truyền thống 19 1.2.2 Tiểu thuyết Y.Kawabata - một cái nhìn phác thảo 23
1.2.3 Bộ ba tiểu thuyết (Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô) - đỉnh cao của tiểu thuyết Y.Kawabata 27
Chơng 2: Một thế giới biểu tợng phong phú, đa dạng trong tiểu thuyết Y.Kawabata 30
2.1 Giới thuyết chung về biểu tợng 30
2.1.1 Biểu tợng và biểu tợng văn hóa 30
2.1.2 Từ biểu tợng văn hóa đến biểu tợng trong văn học 34
2.1.3 Sử dụng phơng thức biểu tợng trong sáng tác văn học Nhật Bản truyền thống 36
Trang 52.2 Thế giới biểu tợng trong tiểu thuyết Y.Kawabata - một cái nhìn
định lợng 39
2.2.1 Sự phong phú và đa dạng của hệ thống biểu tợng 39
2.2.2 Nguồn gốc, đặc trng của biểu tợng 42
2.3 Giải mã một số biểu tợng từ góc nhìn văn hóa học 48
2.3.1 Cuộc hành trình về Xứ tuyết 48
2.3.2 Chén trà Shino 56
2.3.3 Ngời con gái 63
2.3.4 Cố đô 69
Chơng 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tợng với phong cách tiểu thuyết Y.Kawabata 75
3.1 Một số thủ pháp nghệ thuật đặc sắc khi xây dựng biểu tợng của Y.Kawabata 75
3.1.1 Tạo ý nghĩa biểu tợng trên cơ sở tơng phản, đối lập 75
3.1.2 Sử dụng phép lặp mang ý nghĩa biểu tợng cho chi tiết 78
3.1.3 Lựa chọn tiêu đề tác phẩm là một biểu tợng 83
3.2 Phơng thức biểu tợng - một đặc điểm của phong cách tiểu thuyết Y.Kawabata 85
3.2.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật và phong cách tiểu thuyết 85
3.2.2 Sử dụng biểu tợng - một thể hiện của sự kết hợp Đông - Tây trong tiểu thuyết Y.Kawabata 87
3.2.3 Biểu tợng với nghệ thuật kể chuyện của Y.Kawabata 91
3.2.4 Biểu tợng với tính chất mở của tiểu thuyết Y.Kawabata 94
Kết luận 99
Tài liệu tham khảo 101
Trang 6Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa học là một hớng đi có nhiềutriển vọng Trong xu hớng toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề văn hóa rất đợc quantâm, thậm chí đợc xem là cốt lõi nền tảng phát triển bền vững của một quốcgia Không có nền văn học nào không nảy sinh từ một nền văn hóa nhất định,bởi “văn hóa đợc đề cập đến nh là một tập hợp của những đặc trng về tâm hồn,vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm ngời trong xã hội
và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phơng thứcchung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [UNESCO, 2002,Wikipedia.org] Văn hóa, với “tọa độ” bao quát của nó, có thể xem là một hệquy chiếu đa diện để xem xét một hiện tợng văn học trong cái nhìn biệnchứng Một mặt, nó giúp nhận diện dấu ấn tinh thần thời đại trong sáng tạo cánhân Mặt khác, chính vì đợc nhìn nhận trên một nền tảng sâu rộng, những
đóng góp mới và cá tính độc đáo của nhà văn lại càng trở nên sáng rõ Vì vậy,chúng tôi đã lựa chọn con đờng này để đi vào thế giới biểu tợng trong tiểuthuyết Y.Kawabata
Biểu tợng, trong sức dồn nén năng lợng biểu đạt ý nghĩa khổng lồ của
nó, là nơi cất giữ, tiềm ẩn nhiều giá trị văn hóa nhân loại qua hàng ngàn nămlịch sử Không phải ngẫu nhiên mà nhà sử học Pháp Guy Schoeller lại chorằng: “Sẽ là quá ít, nếu nói rằng chúng ta sống trong một thế giới biểu tợng,một thế giới biểu tợng sống trong chúng ta” Giá trị của biểu tợng ngày càng đ-
ợc khẳng định trong nhiều lĩnh vực của đời sống và văn học nói riêng, nghệthuật nói chung có thể xem là lĩnh vực tinh thông khi lựa chọn biểu tợng làmphơng thức cấu trúc hình tợng Với biểu tợng, văn học mở ra khả năng vô tậntrong việc khám phá vũ trụ, tự nhiên, con ngời, đặc biệt là chiều sâu vô thức,bản năng Tiếp cận tiểu thuyết của Y.Kawabata từ thế giới biểu tợng, bởi vậy,
là một việc làm cần thiết
Y.Kawabata là một nhà văn bậc thầy, một trong những tiểu thuyết giaxuất sắc nhất của thế giới với bộ ba tác phẩm đoạt giải Nobel văn học năm
1968: Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn cánh hạc Trong sáng tác của mình, Y.Kawabata
đã xây dựng đợc một thế giới biểu tợng phong phú, đa dạng và mang đậm bảnsắc văn hóa Nhật Bản Tìm hiểu thế giới biểu tợng trong tiểu thuyếtY.Kawabata không chỉ để thấy một tài năng văn chơng vĩ đại mà còn là một
Trang 7cánh cửa đi vào khám phá chân dung tinh thần xứ sở hoa anh đào - vốn là một
địa hạt còn nhiều bí ẩn với phần đông ngời Việt Nam
So với M.Basho và Y.Buson, Y.Kawabata là đại diện văn chơng NhậtBản đầu tiên đợc đa vào chơng trình văn học THPT (lớp 12, sách giáo khoa
chỉnh lý hợp nhất) với truyện ngắn Thủy nguyệt Tuy nhiên, tác phẩm này, nh
nhiều giáo viên và học sinh nhận xét là một tác phẩm “hay nhng khó đọc”.Bản thân cảm nhận ấy đã chỉ ra rằng: nếu chỉ soi xét tác phẩm trên từ góc độ
cấu trúc văn bản quen thuộc thì khó lòng nắm bắt đợc giá trị của nó Thủy
nguyệt là một truyện ngắn đầy tính biểu tợng và ý nghĩa của tác phẩm cũng
đ-ợc gợi ra, phần lớn, từ những biểu tợng có mặt trong đó Đề tài này không
nhằm đi sâu vào lý giải ý nghĩa biểu tợng trong Thủy nguyệt Tuy nhiên, với
việc khai thác thế giới biểu tợng trong tiểu thuyết Y.Kawabata, chúng tôi hivọng đã cung cấp một cách tiếp cận hữu ích cho việc học văn bản cụ thể trongnhà trờng
1 Lịch sử vấn đề
Là một trong những nhà văn xuất sắc nhất thế kỷ XX, Y.Kawabata đợctuyển dịch tác phẩm và giới thiệu rộng rãi trên thế giới ở Nga, năm 1971,Nxb Matxcơva đã cho xuất bản tuyển tập tác phẩm của Kawabata với nhan đề
Kawabata - sinh ra bởi vẻ đẹp nớc Nhật Đến năm 1975, Nxb này lại một lần
nữa cho in cuốn Y.Kawabata - sự tồn tại và khám phá cái đẹp, từng có cả tình
yêu và lòng căm thù Việc dịch tác phẩm của Y.Kawabata ở Nga đã tạo điều
kiện cho bạn đọc không chỉ ở Nga sớm tiếp xúc với hiện tợng văn chơng độc
đáo này
Tại Việt Nam, tác phẩm của Y.Kawabata đợc biết đến lần đầu tiên vào
năm 1969 với bản dịch Xứ tuyết của Chu Việt Cùng năm này, Tạp chí Văn
(Sài Gòn) đã cho ra số đặc biệt về Kawabata Trong đó, có đăng hàng lọattruyện ngắn cùng nhiều bài giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của ông Nhngphải hai mơi năm sau, vào năm 1989, bạn đọc mới đợc biết đến tiểu thuyết thứ
hai của ông thông qua bản dịch Tiếng rền của núi của Ngô Quý Giang Từ đó,
tác phẩm của Kawabata liên tiếp đợc giới thiệu ở Việt Nam Năm 1990, Giang
Hà Vị dịch Ngàn cánh hạc, Vũ Đình Phong dịch Ngời đẹp say ngủ Năm
1997, Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel của Nxb Văn học có
đăng ba truyện ngắn của ông Đến năm 2001, Nxb Hội nhà văn cho ra đời
Tuyển tập Kawabata gồm 4 tiểu thuyết: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền
của núi, Ngời đẹp say ngủ Gần đây nhất, năm 2005, Trung tâm Văn hóa ngôn
Trang 8ngữ Đông - Tây đã xuất bản Tuyển tập tác phẩm Y.Kawabata gồm khá đầy đủ các sáng tác của ông trên cả ba thể loại: 6 truyện ngắn, 46 Truyện trong lòng
bàn tay và 6 tiểu thuyết cùng một số bài nghiên cứu nổi bật về con ngời - sự
nghiệp Kawabata trong nớc và trên thế giới Đây là cuốn sách có ý nghĩa tổnghợp quan trọng với bạn đọc nói chung và những ai quan tâm nghiên cứu vềY.Kawabata nói riêng
2.2 Năm 1968, Y.Kawabata đợc trao tặng giải thởng Nobel văn học.Lời giới thiệu của Viện Hàn lâm Thụy Điển có thể xem là nghiên cứu sơ giản
đầu tiên về hiện tợng văn học tài năng này Trong đó, tiến sĩ Anders - Sterling
đã chỉ ra những đặc sắc cơ bản của sáng tác Kawabata, nhất là về phơng diệntiểu thuyết Những nhận định ấy, dù không bàn đến một cách trực tiếp nhng
đã gợi ý cho chúng tôi rất nhiều khi tim hiểu thế giới biểu tợng trong tiểuthuyết Y.Kawabata Chẳng hạn: “Ngời ta đặc biệt ngợi ca Kawabata nh mộtngời thấu hiểu một cách tinh tế tâm lý phụ nữ”, hay “ông là kẻ tôn thờ cái đẹpmong manh và ngôn ngữ hình ảnh u buồn của hiện hữu trong cuộc sống củathiên nhiên và thân phận con ngời” [12, 958] Cũng ngay sau khi Kawabatadành đợc vị trí danh dự, Mishima Yukio - ngời cùng đợc đề cử Nobel với ông
- đã tôn xng Kawabata là “Vĩnh viễn lữ nhân” Lời tôn vinh ấy là gợi ý chohàng loạt những nghiên cứu về Kawabata sau này Nó trở thành tên gọi chomột kiểu biểu tợng thờng thấy trong sáng tác của Kawabata: nhân vật hànhtrình
Y.Kawabata nhận đợc nhiều sự quan tâm đánh giá của các nhà nghiêncứu trên thế giới, đặc biệt là các nhà Đông phơng học ngời Nga Trong bài viết
“Kawabata - con mắt nhìn thấu cái đẹp”, tác giả N.T.Phedorenko đã kể lạicuộc gặp gỡ đặc biệt với Kawabata Qua cuộc gặp ấn tợng này, bằng sự amhiểu sâu sắc bản sắc văn hóa Nhật từ vờn đá tảng đến mĩ học Thiền, tác giả đãnhìn nhận Kawabata trong mối liên hệ với nguồn cội xứ sở và từ đó thấy đợc:
“T tởng về cái đẹp bên trong, về giá trị vĩnh hằng của nó trong đời sống conngời và trong nghệ thuật luôn luôn quyến rũ nhà văn, ám ảnh đầu óc ông, ănsâu vào tiềm thức ông trong suốt con đờng sáng tạo” [12, 1048] Cái đẹp làmột trong những ý nghĩa biểu tợng quan trọng nhất với sáng tác của Kawabatanói chung và tiểu thuyết của ông nói riêng
Nhà nghiên cứu Donald Keene khi viết về Xứ tuyết đã chỉ ra rằng: “Ngời
ta cần phải đọc Kawabata một cách cẩn thận, không chỉ riêng với Xứ tuyết mà
còn với tất cả các tác phẩm quan trọng khác của ông, vì văn phong ông có thể
Trang 9khó nắm bắt, lại dựa vào những khả năng độc đáo để tạo sự mơ hồ, cho dù lốitruyền đạt biểu cảm đợc cung cấp đầy đủ bởi chính ngôn ngữ Nhật Bản” [12,1058] Sự khó nắm bắt hay mơ hồ trong tác phẩm của Kawabata phần nhiều là
do việc sử dụng phơng thức biểu tợng trong biểu đạt nội dung, t tởng
Tại Nhật Bản, ngời ta dành những lời ngợi ca nồng nhiệt cho sáng táccủa Kawabata Nhà văn vô sản Anônô Xuêtuti đã rất chú ý đến chức năng
“thanh lọc” tâm hồn con ngời trong tác phẩm Kawabata khi viết trong cuốn
“Các nhà văn Nhật hiện đại” rằng: “Mỗi lần đọc tác phẩm của Kawabata, tôilại cảm thấy các âm thanh xung quanh tựa hồ nh lắng đi, không khí bỗng trởnên trong trẻo, còn tôi thì hòa tan vào trong đó Tôi không biết có tác phẩmnào khác có sức tác động mạnh mẽ đến nh thế không? Và sở dĩ có hiện tợng
nh vậy có lẽ bởi vì trong các sáng tác của Kawabata không có gì vẩn đục haydung tục” Oe Kenzaburo, trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học năm 1994,cũng nhắc tới Y.Kawabata nh một niềm tự hào của văn chơng Nhật Bản Ôngviết: “Một mặt, Kawabata khẳng định mình đi theo truyền thống của triết họcThiền và cách thức cảm thụ cái đẹp xuyên suốt nền văn học cổ điển phơng
Đông Vậy nhng, mặt khác, ông đã vợt khỏi bản thân mình để phân biệt cáitrống rỗng là đặc trng cho những tác phẩm của mình và chủ nghĩa H vô phơngTây” Đây là một sự hé lộ về nguồn gốc và đặc trng của thế giới biểu tợngtrong tác phẩm Kawabata
ở Việt Nam, những nghiên cứu về Y.Kawabata là cha nhiều Về cơ bản
đều mang tính chất vỡ vạc “Ysunari Kawabata - cuộc đời và tác phẩm” của
tác giả Lu Đức Trung (in trong Bớc vào vờn hoa văn học châu á) đợc xem là
chuyên luận đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về Kawabata Nh tên gọi của nó,chuyên luận chủ yếu giới thiệu khái quát cuộc đời và sự nghiệp văn học củaKawabata chứ không tập trung vào một khía cạnh nào cả Tuy nhiên, tác giả
đã điểm qua hầu hết những tiểu thuyết nổi tiếng của Kawabata và có nhiềucảm nhận khá tinh tế, gần gũi với việc tìm hiểu về biểu tợng Ví nh: “Cốt
truyện Xứ tuyết đơn giản nhng mang ý nghĩa sâu thẳm Đó là bản giao hởng
ngân vang trong lòng một nỗi u buồn, hoài niệm về một cành hoa tuyết đã tan,
một mối tình đã mất” [22, 295] hay “Ngàn cánh hạc đợc viết để phản ánh sự
suy vi của trà đạo, nuối tiếc cái đẹp đang phai tàn Một vật nhỏ gây cho chúng
ta ấn tợng nhớ mãi, đó là chén trà Shino bị đập vỡ” [22, 296] và “ Cố đô cũng
nh Xứ tuyết và Ngàn cánh hạc phần kết thúc đều đọng lại một ấn tợng u buồn,
cô đơn ” [22, 297]
Trang 10Nhà văn hóa Hữu Ngọc, trong Dạo chơi vờn văn Nhật Bản có bài viết
“Du khách u buồn Kawabata và Xứ tuyết” Tác giả đã đa ra một nhận định
mang tính gợi mở quan trọng cho chúng tôi khi đi tìm biểu tợng đặc sắc trongtiểu thuyết Kawabata: “Sáng tạo của Kawabata thấm nhuần ý thức tha hóa vàmất mát, sự tìm kiếm một cái đẹp thuần túy, siêu nhiên thờng gặp ở một phụnữ hay một ngời tế nhị nữ tính” [18, 103 - 104] Điều này một lần nữa đã đợcThụy Khuê khẳng định trong nghiên cứu: “Từ Murasaki đến Kawabata” introng “Yasunari Kawabata - Tuyển tập tác phẩm” Nhận định về “thế giớiKawabata”, Thụy Khuê viết: “Nhật Bản trong Kawabata phải là ngời phụ nữ”[12, 998] Trong chuyên luận này, dù không gọi tên biểu tợng nhng tác giả đã
có sự lý giải về ý nghĩa của các chi tiết lửa, tuyết và tấm gơng Đó là những cơ
sở ban đầu khi chúng tôi đi sâu tìm hiểu ý nghĩa các biểu tợng này trong tiểuthuyết Kawabata Tuyển tập về Kawabata cũng giới thiệu bài viết của dịch giả
- nhà nghiên cứu Nhật Chiêu: “Yasunari Kawabata - Ngời cứu rỗi cái đẹp”.Trong đó có một so sánh rất thú vị: “Marcel Proust đi tìm thời gian đã mất.Kawabata đi tìm cái đẹp mất đi trong khoảnh khắc và cũng tái sinh trongkhoảnh khắc” [12, 1060] Cái đẹp trong sự vô thờng của nó là một trongnhững ý nghĩa biểu tợng nổi bật của tiểu thuyết Kawabata
Tác giả Đào Thị Thu Hằng là ngời đầu tiên thực sự đi sâu khám phánhững tầng vỉa bí ẩn trong sáng tác của Kawabata qua bài viết “YasunariKawabata giữa dòng chảy Đông - Tây” và đặc biệt là qua công trình “Văn hóaNhật Bản và Yasunari Kawabata” xuất bản năm 2007 Công trình này đã đem
đến cho ngời đọc một cái nhìn khái lợc về cuộc đời, sự nghiệp của Kawabatatrong bối cảnh văn hóa Nhật Bản bấy giờ Tác giả đi sâu vào nghệ thuật kểchuyện - một hớng tiếp cận từ góc độ tự sự học, từ đó đã có khá nhiều lý giảisắc bén về sáng tạo văn học Kawabata nói chung Trong nghiên cứu này, đángchú ý là việc chỉ ra hai kiểu nhân vật tiêu biểu mà theo chúng tôi trở thành cặpbiểu tợng độc đáo trong tác phẩm Kawabata là “lữ khách đi tìm cái đẹp” và
“ngời phụ nữ trong trắng” (chúng tôi gọi là “ngời con gái”)
Điểm lại quá trình giới thiệu, nghiên cứu Y.Kawabata trong phạm vi tliệu có đợc, chúng tôi nhận thấy:
- Cho đến nay, Y.Kawabata đã không còn là hiện tợng xa lạ với bạn
đọc Việt Nam Tên tuổi Kawabata cùng với văn chơng Nhật Bản đã thu hút sựchú ý của nhiều độc giả Thành quả ấy là sự ghi nhận công lao dịch thuật, giớithiệu cũng nh nghiên cứu của nhiều tác giả trong nhiều năm qua
Trang 11- Tuy nhiên, việc nghiên cứu Y.Kawabata còn khá khiêm tốn Nhữngcông trình, bài viết về sáng tác của ông chủ yếu đều đi từ góc độ cảm nhận -phê bình và tự sự học Y.Kawabata là một nhà văn thuần túy Nhật Bản Tácphẩm của ông luôn mang đậm dấu ấn của một nền văn hóa lâu đời và đặc sắc
xứ Phù Tang Ông đợc mệnh danh là “nhà văn Nhật Bản nhất” Nghiên cứuKawabata, vì vậy, không thể không gắn với nguồn cội văn hóa nơi ông sinhthành và chịu ảnh hởng đậm nét Hớng tiếp cận tiểu thuyết nói riêng và sựnghiệp sáng tạo nghệ thuật của Kawabata nói chung từ góc nhìn văn hóa học
là mảng quan trọng, song còn khá mờ nhạt
- Biểu tợng là một phơng diện quan trọng trong sáng tác của Kawabata.Nghiên cứu về Kawabata, phần lớn các tác giả đều có đề cập đến tính biểu t-ợng trong tác phẩm của ông Song, tất cả chỉ dừng lại ở mức độ đơn lẻ, tảnmạn Cha có công trình nào đi sâu khám phá biểu tợng trong sáng tác củaY.Kawabata với t cách là một thế giới phong phú, đa dạng và mang tính hệthống Bởi thế, cha thấy hết đợc ý nghĩa của biểu tợng trong việc cấu trúc tácphẩm cũng nh sự hình thành phong cách nghệ thuật của Kawabata
Do vậy, việc nghiên cứu biểu tợng trong sáng tạo nghệ thuật củaY.Kawabata là vấn đề cần đợc tiếp tục triển khai trên một cái nhìn tổng thể vàsâu sắc hơn
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khám phá thế giớibiểu tợng trong tiểu thuyết Y.Kawabata - một phơng diện đặc sắc góp phầnlàm nên phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn
3.2 Với mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất, khảo sát, thống kê, phân loại để chỉ ra đợc sự hiện hữu củamột thế giới biểu tợng phong phú, đa dạng trong tiểu thuyết Y.Kawabata
Thứ hai, từ góc nhìn văn hóa học, đi sâu giải mã ý nghĩa một số biểu ợng nổi bật để thấy đợc những đóng góp mới mẻ của Y.Kawabata trong khi kếthừa truyền thống
t-Thứ ba, phân tích một số thủ pháp nghệ thuật thờng gặp khi xây dựngbiểu tợng của Y.Kawabata Từ đó cho thấy, phơng thức biểu tợng là một ph-
ơng diện quan trọng cấu thành nên phong cách tiểu thuyết nói riêng và phongcách nghệ thuật của Y.Kawabata nói chung
Trang 124 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu của đề tài là thế giới biểu tợng trong tiểuthuyết Y.Kawabata
4.2 Tiểu thuyết Y.Kawabata hiện đã đợc dịch ở Việt Nam 6 tác phẩm:
Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Ngời đẹp say ngủ, Tiếng rền của núi, Đẹp và buồn Do hạn chế về thời gian, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát chủ yếu
trong ba tác phẩm đoạt giải Nobel: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô (ngoài ra
có thể đối sánh với các tiểu thuyết còn lại của Kawabata), in trong tuyển tậptác phẩm Y.Kawabata do Nxb Lao động xuất bản năm 2005
5 Phơng pháp nghiên cứu
Đi vào thế giới biểu tợng trong tiểu thuyết Y.Kawabata, chúng tôi sửdụng phơng pháp tổng quan là soi xét các vấn đề từ góc nhìn văn hóa học H-ớng khai thác này mở ra khả năng lớn trong việc khám phá sâu nhiều tầng vỉacủa biểu tợng - vốn là một địa hạt luôn luôn tiềm ẩn nhiều ý nghĩa
Để giải quyết tốt các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng kếthợp các phơng pháp cụ thể: phơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại; phơngpháp phân tích; phơng pháp so sánh
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chơng:
Chơng 1: Thể loại tiểu thuyết trong sáng tạo nghệ thuật củaY.Kawabata
Chơng 2: Một thế giới biểu tợng phong phú, đa dạng trong tiểu thuyếtY.Kawabata
Chơng 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tợng với phong cách tiểu thuyếtY.Kawabata
Trang 13Chơng 1 Thể loại tiểu thuyết trong sáng tạo nghệ thuật
của Y.Kawabata 1.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Y.Kawabata
1.1.1 Y.Kawabata - Ng“ ời lữ khách u sầu”
Y.Kawabata là hiện tợng kì diệu bậc nhất và có lẽ cũng khó hiểu bậcnhất của văn học Nhật Bản thế kỷ XX
Năm 1968, với giải thởng Nobel cao quý đoạt đợc cho bộ ba tiểu thuyết
trác tuyệt: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc và Cố đô Y.Kawabata đã chính thức ghi
danh văn học Nhật Bản vào văn chơng mọi thời đại Tôn vinh Y.Kawabata tại
lễ trao giải, Tiến sĩ Andess - Sterling, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã nhận định:
“(Ông) tiêu biểu cho một khuynh hớng rõ rệt nhằm nâng niu gìn giữ mộtphong cách dân tộc thuần khiết” Bởi vậy, cùng với R Tagore (nhà văn châu
á đầu tiên đoạt giải Nobel), Y.Kawabata đã góp phần quan trọng khai mởcánh cửa bí ẩn về văn hoá phơng Đông, bắc nhịp cầu tới đông đảo bạn đọc vàcác nhà nghiên cứu phơng Tây
Tuy nhiên, Y.Kawabata không phải là một nhà văn dễ đọc và cuộc đờicủa ông vẫn luôn là một ẩn số lớn với tất cả những ai yêu mến quan tâm,không ngoại trừ dân chúng Nhật Bản Ngời Nhật đã sung sớng tột cùng nhngcũng rất ngạc nhiên khi nghe tin Y.Kawabata đoạt giải Nobel văn học bởingay tại đất nớc “mặt trời mọc” tác phẩm của ông vẫn đợc xem là khó hiểu,
đầy rẫy sự mơ hồ, khó nắm bắt Chịu ảnh hởng đậm nét của mĩ học Thiền - cốtlõi của mĩ học Nhật Bản, trong sáng tác của mình từ những truyện ngắn đầu
tay đến Truyện trong lòng bàn tay và đỉnh cao là tiểu thuyết, Y.Kawabata luôn
khao khát hớng tới, kiếm tìm cái đẹp trinh trắng trong sự mong manh, bébỏng, yếu đuối, vô thờng Cái đẹp, theo đó không tách khỏi nỗi buồn cô đơnvì vẻ đẹp sẽ không đầy đủ nếu thiếu nỗi buồn Vì thế, tác phẩm của ông luôntoát lên âm hởng u buồn của một “lữ khách lang thang đi tìm cái đẹp”
Mishika Yukio đã phong tặng Y.Kawabata là “vĩnh viễn lữ nhân” (Eien
no tabibito) Nhng, nếu nhà văn đã tự nguyện làm một du khách lang thang thìcuộc đời, định mệnh lại chọn ông là một du khách u buồn Nỗi buồn nh một
ám ảnh dai dẳng, đeo đuổi suốt cuộc đời Y.Kawabata và in dấu sâu sắc trong
sự nghiệp nhà văn Ngay cả khi tìm về với bên kia thế giới, Y.Kawabata vẫn
chỉ là một lữ nhân cô độc, lặng lẽ và khó hiểu Năm 1933, trong tác phẩm Con
mắt mạt kỳ (“The eyes of the dying”), Y.Kawabata đã từng tuyên bố: “Dù thế
Trang 14gian này có nặng nề đến đâu, tự sát cũng không làm cho con ngời thông sáng.Ngời tự sát dù cao thợng đến đâu vẫn không phải là con ngời hoàn hảo” Vậy
mà, con ngời cao quý ấy lại cũng đã đột ngột lìa bỏ thế giới vào ngày 16 tháng
4 năm 1972 trong một căn phòng đầy khí ga bên bờ biển Kamakura Sự qua đời
đau xót ấy đã để lại nỗi mất mát và hụt hẫng không thể diễn tả trong lòng đông
đảo ngời dân Nhật Bản và thế giới Tất cả đều lặng im bất lực trớc câu hỏi lớn
“vì sao” Ngời ta chỉ có thể tìm về với bản thể phức tạp của nhà văn để phần nào
gỡ mối mâu thuẫn ấy, bởi cái chết của Y.Kawabata dờng nh chỉ là một sự khéplại tất yếu, tự nhiên của bớc đi số mệnh
Ngời Nhật, trong đánh giá của nhiều nhà văn hoá học, không có triết lísống mà chỉ có triết lí chết, hay nói cách khác đó không phải là hai vấn đề táchbiệt Họ tôn thờ cái chết theo kiểu Samurai, bởi đó là biểu hiện trực tiếp và caonhất của sự sẵn sàng hi sinh tính mạng vì “cái trong sạch của đạo đức”, vì danh
dự Hoa anh đào - quốc hoa của ngời Nhật Bản, một trong những ý nghĩa biểutrng sâu xa của nó là về cái chết Hoa rụng vào lúc đơng phô sắc nhất, rực rỡnhất - là biểu tợng của cái chết cao đẹp Chỉ có ngời Nhật mới nhận thấy trong
sự ngắn ngủi, mong manh của hoa anh đào nguồn gốc của cái đẹp Có phải sinh
ra từ vẻ đẹp Nhật Bản” nên Y.Kawabata đã lựa chọn cho mình cái chết NhậtBản nhất? Nhà văn đã lên đờng cho một cuộc hành trình mới?
Năm 1899, Kawabata chào đời ở một làng quê gần thành phố Osakatrong một gia đình thầy thuốc yêu thích nghệ thuật Nhng số phận bi thảm, ch-
a đầy bốn tuổi, cậu bé Kawabata phải chịu đựng sự qua đời của hai ng ời thânyêu nhất là bố và mẹ Bốn năm sau, ngời bà và ngời chị duy nhất cũng ra đi,Kawabata chỉ còn biết nơng dựa vào ông nội Vậy mà, chẳng đợc bao lâu, 15tuổi, Kawabata bất hạnh mất nốt ngời thân cuối cùng.Tuổi thơ với vô vàn mấtmát và nớc mắt đã trở thành những chấn thơng tâm hồn ẩn ức tinh thần nhứcnhối trong suốt cuộc đời Y.Kawabata Ông đến với nghệ thuật nh một nỗ lựcmãnh liệt để hoá giải tình yêu tha thiết cuộc đời và khao khát cái đẹp vô biêntrong một nỗi buồn sâu thẳm Vì vậy, dù đợc mệnh danh là “chuyên gia tanglễ” trong cuộc đời và cái chết nh một chi tiết nghệ thuật ám ảnh trong sáng táccủa mình, Y.Kawabata và tác phẩm của ông vẫn không dẫn ngời đọc tới bớc
đờng tuyệt vọng Hay nói nh Trịnh Công Sơn: “Hãy đi đến cuối cùng củaniềm tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp nh một bông hoa” Bởi,Y.Kawabata là “lữ khách u sầu” nhng là “lữ khách u sầu” trên con đờng đi tìmcái đẹp
Trang 15Trong thiên tuỳ bút Đời tôi nh một nhà văn (Bungeku teki Jijoden),
Kawabata gợi lại những kỉ niệm tang tóc đã ghi dấu trên tâm hồn mình:
“Không bao giờ tôi trút đợc ám ảnh rằng mình là một ngời lang thang u sầu.Luôn luôn mơ mộng tuy rằng chẳng bao giờ chìm đắm hoàn toàn trong mơ,
mà vẫn luôn thức tỉnh giữa khi mơ ”
Từ những cái chết và sự điêu tàn, Kawabata lên đờng với hành trangtrống trải nhng trái tim đầy yêu thơng: “Tình yêu đối với tôi là sợi dậy độcnhất giữ đời tôi lại” (Chuyển dẫn [12, 1072]) Kawabata đã yêu quý cuộc đờibằng lòng nhiệt thành của một tín đồ với niềm lặng im Với niềm tin về tình yêu
ấy, Y.Kawabata đã kiếm tìm không mệt mỏi cái đẹp tiềm ẩn, thanh tao củacuộc sống ngay cả khi cuộc sống mà ông đang nếm trải vừa đi qua sự điêu tànkhủng khiếp của chiến tranh Kawabata nói: “Sau cuộc chiến bại không lâu,chính tôi biết rằng kể từ đây tôi chỉ ca hát về nỗi buồn của Nhật Bản ở Nhật,nỗi buồn là một chữ thân thuộc với cái đẹp, nhng vào thời gian đó, tôi thấy viết
về nỗi buồn thì dờng nh nhũn nhặn và thích đáng hơn là viết về cái đẹp”
Đotxtoievxki đã từng nói: “Cái đẹp cứu rỗi thế giới” Còn Y.Kawabata,bằng cách sáng tạo ra cái đẹp, níu giữ cái đẹp đã cứu vớt tâm hồn mình và hơnthế còn cứu vớt tình yêu cuộc sống của nhiều thế hệ
1.1.2 Con đờng đến với văn học của Y.Kawabata
Khao khát kiếm tìm cái đẹp và giá trị cuộc sống trong một nỗi buồn nặngtrĩu,Y.Kawabata đã đến với nghệ thuật nh một định mệnh.Viết văn với Y.Kawabata là một mối lơng duyên đặc biệt bởi trong những năm đi học,Kawabata say mê hội hoạ và mơ ớc trở thành hoạ sĩ Nhng đến năm 11 tuổi,
ông lại quay sang ham thích văn học và quyết định thử duyên phận trong môitrờng văn học Kawabata đã chọn nghề cầm bút hay chính sức hấp dẫn đặc biệtcủa nghệ thuật ngôn từ đã lôi cuốn ông? Câu hỏi đó đợc trả lời đầy thuyết phụcbằng sự nghịêp và những thành công rực rỡ của nhà văn Y.Kawabata
Y.Kawabata đã chính thức bớc vào vờn văn Nhật Bản bằng tác phẩm
đầu tay - Nhật kí tuổi mời sáu Tác phẩm đợc viết bởi những xúc động chân
thành và sự thôi thúc bên trong của nỗi cay đắng mồ côi mà cậu bé Kawabataliên tiếp gánh chịu đã định hình phong cách sâu lắng và u buồn của nhà vănsau này
Thời đi học, Kawabata đọc say sa các tác phẩm của nhà văn Scandinavie
và các tác giả Nhật thuộc nhóm Sirakaba - là nhóm chủ trơng chống lại khá
Trang 16kiên quyết cái tầm thờng của chủ nghĩa tự nhiên và cố đi tìm những phơngtiện biểu hiện mới Ông cũng thích đọc các tác phẩm của Akutagana Riunoske
và các nhà văn khác của Nhật Sau này khi làm quen với các nhà văn Ngatrong thời kỳ văn học Nga đang có ảnh hởng mạnh mẽ tới các nớc phơng
Đông, ông đặc biệt quan tâm tới Chekhov và L.Tolstoi
Năm 1920, Kawabata ghi danh vào học văn khoa tại Đại học Hoàng giaTokyo Đầu tiên ông theo học văn học Anh nhng cuối cùng lại tốt nghiệp với
đề tài về tiểu thuyết Nhật Bản Ngã rẽ ấy dờng nh cũng cộng hởng với xu hớng
“trở về với truyền thống” trong văn nghiệp Y.Kawabata
Kawabata sống và viết văn vào thời kỳ đầy biến động của nớc Nhật.Năm 1868, vua Minh Trị lên ngôi khởi xớng “đổi mới’ đất nớc với tinh thần
“học hỏi phơng Tây, đuổi kịp phơng Tây, vợt lên phơng Tây” Và quả tình, chỉtrong vòng ba mơi năm, tính đến lúc Kawabata ra đời (1899), nớc Nhật đã đổithay căn bản Một nớc Nhật công nghiệp với nền kinh tế thị trờng phát triển
đến chóng mặt Nhà thơ R.Tagore khi đến thăm Nhật Bản vào năm 1916 đãviết: “Châu á thức dậy khỏi giấc ngủ hàng thế kỷ, Nhật Bản nhờ những mốiquan hệ và va chạm với phơng Tây đã chiếm một vị trí danh dự trên thế giới.Bằng cách đó, ngời Nhật đã chứng tỏ rằng họ sống bằng hơi thở thời đại chứkhông phải bằng những thần thoại hão huyền của quá khứ” (Chuyển dẫn [22,283])
Sự đổi mới về kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học nghệthuật Nhật T tởng triết học phơng Đông, đặc biệt là Trung Quốc và ấn Độ đã
ảnh hởng sâu đậm đến văn hoá Nhật truyền thống nay không còn độc tôn trớccơn lốc t tởng tự do dân chủ phơng Tây: Anh, Mĩ, Pháp, đặc biệt là t tởng dânquyền của J Rutxo Nhiều trờng phái ra đời làm nên một diện mạo đa sắc màucho văn học Nhật Bản: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tợngtrng, chủ nghĩa tự nhiên, Văn học Nhật cha bao giờ trẻ trung, phong phú vàtáo bạo đến thế Nhng lối sống công nghiệp hoá cũng đã huỷ hoại không ítbản sắc và truyền thống nớc Nhật Kunikida Doppo - một nhà văn xuất sắc củaNhật Bản bấy giờ đã đau buồn viết trong hồi kí: “Xã hội đầu độc và huỷ hoạitâm hồn tôi Con ngời chỉ nhìn thấy những gì bề ngoài Còn cái đẹp và chân
lí bên trong, tạo hoá không hề rung động anh ta” (Chuyển dẫn [22, 258])
Trởng thành trong bối cảnh ấy, con đờng đến với văn học củaY.Kawabata là cuộc hành trình lựa chọn, kiếm tìm, trăn trở để tìm đến đợcchân lí cuộc sống và cái đẹp Tác phẩm của Y.Kawabata và quá trình sáng tác
Trang 17của ông đã phản ánh sâu sắc sự xung đột dai dẳng giữa văn minh phơng Tâyvới truyền thống văn hoá Nhật Bản xảy ra trong xã hội.
Trớc sự xâm thực của lối sống mới và văn hoá phơng Tây, Kawabata đãmiệt mài trên lộ trình tìm về với cái đẹp của bản sắc dân tộc Không phải vô
cớ khi ông đợc ngời dân xứ sở hoa anh đào ngợi ca là nhà văn “Nhật Bảnnhất” Kawabata say mê, am hiểu văn học phơng Tây nhng từ trong bản thể vàsâu thẳm cội nguồn sáng tác, ông vẫn là một nhà văn đậm chất phơng Đông
Đến hiện đại từ truyền thống, tác phẩm của Y.Kawabata mang đậm dấu ấncủa mĩ học truyền thống Nhật Bản Năm 1921, cùng với bạn bè ở trờng Đại
học Tổng hợp Tokyo, Kawabata đã sáng lập tạp chí Trào lu mới (Sintio) và đề xớng trờng phái Tân cảm giác trên văn đàn Nhật bộn bề các khuynh hớng
nghệ thuật những thập niên đầu thế kỷ XX Chịu ảnh hởng của chủ nghĩa duy
cảm và chủ nghĩa trực giác từ phơng Tây, trờng phái Tân cảm giác đề cao vai
trò trực giác trong việc cảm thụ cái đẹp Đó là sự cảm nhận trực tiếp, là nhữngrung động tình cảm cùng tần số với cái đẹp mà nếu dùng lí trí để mổ xẻ sẽ làmtổn thơng đến nó Tuy nhiên, trong số các nhà văn theo trờng phái này sángtác của Y.Kawabata vẫn có vị trí riêng Bởi nhẽ, ngoài việc chịu ảnh hởngquan điểm và kĩ thuật viết của các nhà văn nớc ngoài, việc đề cao trực cảmtrong sáng tác Kawabata dờng nh còn bắt nguồn sâu xa từ lối t duy duy cảmcuả ngời phơng Đông (vốn dĩ đối lập với kiểu t duy lí trí của ngời phơng Tây)
Năm 1923, Kawabata tham gia ban biên tập tạp chí văn học quan trọng
nhất thời bấy giờ là tờ Bungei Shunjui (Văn nghệ Xuân Thu) và chuyên viết
phê bình, nhận xét Năm 1924, sau khi tốt nghiệp trờng tổng hợp Tokyo, ông
tham gia xuất bản tạp chí Bungei Jindai (Văn nghệ Thời đại) Ông không tham
gia một công việc chuyên môn hành chính nào khác mà chuyên tâm sáng tácvăn học Sáng tác theo chủ nghĩa duy cảm mới, nhng ngòi bút của ông không
bị cám dỗ bởi sự hào nhoáng, quái đản, phi lí mà chủ trơng giữ vững di sảnvăn học và truyền thống mĩ học dân tộc Kawabata trong một bài tiểu luận đãviết: “Bị lôi cuốn bởi những trào lu hiện đại phơng Tây, đôi lúc tôi cũng thửlấy đó làm mẫu Nhng về gốc rễ, tôi vẫn là ngời phơng Đông và không bao giờ
từ bỏ con đờng ấy”
Và quả tình, thế giới nghệ thuật của Y.Kawabata không tách rời quan
điểm thẩm mĩ truyền thống Nhật Bản Từ truyện ngắn đầu tiên - Vũ nữ IZu (1925) đến cuốn tiểu thuyết cuối cùng Đẹp và buồn (1963), Kawabata đều thể
hiện nhất quán quan niệm về cái đẹp của mình Cái đẹp và nỗi buồn, tình yêu
Trang 18và thiên nhiên, sắc đẹp và nữ tính trở thành cảm hứng chủ đạo trong tác phẩmcủa ông Cảm thức thẩm mỹ Nhật Bản gắn liền cái đẹp với bốn nguyên lí cơbản là mono no aware, sabi, wabi và yugen Aware là “nỗi buồn sự vật” đựơcdùng để “gợi tả vẻ đẹp tao nhã, nỗi buồn dịu dàng pha lẫn cảm thức vô th ờngcủa Phật giáo” [4, 121] Sabi là cảm thức về sự sâu thắm, u uẩn và huyền diệucủa vạn vật Wabi là nguyên lí cho rằng cái đẹp cao nhất nằm trong sự đơn sơ
và thanh tịnh Còn yugen là vẻ đẹp của điều nói bỏ lửng Thấm nhuần t tởng
về cái đẹp bên trong và giá trị vĩnh hằng của nó trong đời sống và nghệ thuật,Kawabata đã sáng tạo những tác phẩm đậm tinh thần Nhật Bản nhng vẫnmang hơi thở hiện đại “Tất cả những phát hiện nghệ thuật có đợc trong cáctác phẩm của ông nh những yếu tố mang tính cá nhân độc đáo, bất ngờ, đềuxuất phát từ những ngọn nguồn xa xa của văn học Nhật, từ cội nguồn văn hoádân tộc” [12, 1048]
Đọc văn Y.Kawabata, ngời đọc bắt gặp một sự đồng điệu với thi phápchân không trong mĩ học Thiền Chính Y.Kawabata đã từng nói: “Tác phẩmcủa tôi thờng đợc miêu tả nh là tác phẩm của chân không” (Chuyển dẫn [12,1061]) Cái chân không đó là sự trống vắng thờng thấy trong thơ Haiku, trongtranh thuỷ mặc, trong sân khấu Noh, trong vờn đá tảng và đều khởi nguồn từ
mĩ học Thiền Thiền thờng dựa vào suy ngẫm bên trong, bộc lộ cái sức mạnh ýchí của mình đến độ trở thành “vô ngã” Mĩ học Thiền sử dụng ít lời nhất, ítphơng tiện biểu cảm nhất trong sáng tác nghệ thuật Nghệ thuật cần tạo ra sựhoà nhập giữa nội tâm và ngoại giới Thế giới thiên nhiên, con ngời trong tácphẩm Kawabata thờng hiện ra trong một vẻ đẹp mơ hồ, sự tri nhận nó thờngbất ngờ và đứng trên ranh giới giữa sự khả giải và bất khả giải, cảm nhận đợc
rõ ràng mà vẫn không thể nào cắt nghĩa Seidensticker nhận xét: “Tôi cho rằngnên xếp Kawabata vào dòng văn chơng mà ta có thể dò đến tận những bậc thầyHaiku của thế kỷ XVII Haiku là những bài thơ nhỏ cố gắng gợi cho ngời tanhững bất ngờ nhận biết cái đẹp bằng cách phối hợp những điều tơng phản hoặckhác xa nhau Thơ Haiku cổ điển hoà lẫn cái động và sự bất động với nhau mộtcách độc đáo Cũng theo lối ấy, Kawabata cho các giác quan pha lẫn với nhaukhông chút ngần ngại” (Chuyển dẫn [12, 1062]) Trong diễn từ đọc tại lễ nhậngiải Nobel 1968, Y.Kawabata đã dành phần lớn dung lợng bài nói để lý giải về
mĩ học Thiền, và nhấn mạnh “ Trong những lời này (trao đổi của Myoe vàSaigyo - Kawabata dẫn) có thể nhận thấy t tởng của Nhật Bản, hay đúng hơncủa phơng Đông, về “H vô”, “Không tồn” Và trong những tác phẩm của tôi
Trang 19các nhà phê bình cũng tìm thấy cái H vô đó Nhng cái H vô này hoàn toànkhông phải cái mà ngời ta thờng hiểu ở chữ “chủ nghĩa h vô” (nihilism) củaphơng Tây Tôi nghĩ, đó là do những cội rễ tinh thần của chúng ta khác nhau”[12, 975].
Kawabata sáng tác trên nhiều thể loại văn học và ở phơng diện nào ôngcũng gặt hái đợc những thành công đáng nể Phần truyện ngắn đợc đánh giárất cao và đợc dịch ra nhiều thứ tiếng Tại Vịêt Nam, truyện ngắn Y.Kawabata
đợc dịch khá nhiều, nổi bật nh: Cánh tay, Vũ nữ IZu, Thuỷ nguyệt, Tiếng gieo
xúc xắc, Về chim và thú, Truyện ngắn Thuỷ nguyệt đợc đa vào chơng trình
ngữ văn THPT giảng dạy là một trong những tác phẩm xuất sắc Trớc đó,
1925, Vũ nữ IZu ra đời đã đợc xem là kiệt tác đầu tiên của Kawabata Những
truyện ngắn này đều đánh dấu tâm huyết và tài năng riêng biệt của Kawabatathời kỳ theo đuổi trờng phái Tân cảm giác Nh đã nói, đây là giai đoạnKawabata đặc biệt chịu ảnh hởng của các trờng phái văn học phơng Tây.Ngoài chủ nghĩa siêu thực, dòng ý thức, thậm chí ngời ta còn nhận thấy dấuvết của Tân phân tâm học trong một số truyện ngắn của ông Nhng tâm thứctrở về với truyền thống đã níu giữ tác phẩm của Y.Kawabata không trợt dài
đến độ lai căng mà vừa đủ mang không khí buổi giao thời Phải chăng đó làmột lối ứng xử thông minh trớc sự giao tranh của hai luồng văn hoá gần nh đốilập bấy giờ trên nớc Nhật
Tên tuổi Y.Kawabata gắn liền với một thể tài tự sự do ông khai sinh
-“truyện trong lòng bàn tay” Thể loại độc đáo này đợc Kawabata viết rải rác từnăm 1921 đến năm 1972 và đợc chính ông đánh giá là “đó là những truyện màtôi hài lòng nhất” Cái độc đáo của truyện nằm trong sự đối lập giữa dung lợng
và giá trị nội dung, t tởng của tác phẩm Mỗi truyện chỉ vài trang (thậm chícha đến một trang) nhng hàm ẩn nhiều triết lí sâu xa về vũ trụ và con ngời.Thể loại này tạo nên tính đặc biệt có một không hai của văn học Nhật so vớivăn học thế giới khi sóng đôi cùng thể thơ Haiku truyền thống Kawabata từngphát biểu: “Rất nhiều nhà văn, khi còn trẻ, đã làm thơ, còn tôi, thay vì làm thơ,lại viết truyện - trong - lòng - bàn - tay Linh hồn thơ ca những ngày tuổi trẻcủa tôi nằm trong chúng” (Chuyển dẫn [10, 43])
Nhng có lẽ đỉnh cao trong sự nghịêp viết văn của Y.Kawabata là mảngthể loại tiểu thuyết Kawabata là một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp với mốc
vinh quang rực rỡ là giải thởng Nobel 1968 cho bộ ba Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn
Trang 20cánh hạc Về phơng diện này, xin đợc bàn sâu hơn ở mục tiếp theo của khoá
luận
Nhìn lại văn nghiệp của Y.Kawabata phong phú, đồ sộ và thành công ở
nhiều thể loại Điều gì làm nên điều kì diệu ấy cho văn học Nhật và thế giới?Xin mợn lời của Tiến sĩ Andess - Sterling, trong lời giới thiệu giải Nobel vănchơng danh giá năm 1968: “Ông là ví dụ tiêu biểu cho kiểu đắm mình trọnvẹn không ngừng nghỉ vốn luôn luôn là một điều kiện của thiên hớng văn ch-
ơng” và “Lời tuyên dơng của viện Hàn lâm đã nhắc tới nghệ thuật tự sự bậcthầy của ông, bằng sự nhảy cảm lớn lao, đã biểu hiện tinh tuý tâm hồn NhậtBản” [12, 957 - 960]
Trang 211.2 Thể loại tiểu thuyết trong đời văn Y.Kawabata
1.2.1 Sơ lợc về thể loại tiểu thuyết trong văn học Nhật Bản truyền thống
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự
cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian
và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời,những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạtgiai cấp tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [8, 328]
Nghiên cứu tiểu thuyết với t cách một thể loại văn học hiện đại nhất,M.Bakhtin nhận định: “Tiểu thuyết là thể loại văn chơng duy nhất đangbiến chuyển và còn cha định hình” [3, 23] Trong sự đối sánh với các thểloại tự sự khác (ngụ ngôn, anh hùng ca, truyền thuyết), tiểu thuyết là thểloại có khả năng tổng hợp nhiều nhất khả năng nghệ thuật của các thể loạikhác với một phơng thức biểu đạt riêng biệt: nhìn cuộc sống từ góc độ đờit; tái hiện cuộc sống đậm chất văn xuôi; xây dựng nhân vật là con ng ời nếmtrải thay vì nhân vật hành động; gia tăng yếu tố ngoài cốt truyện; xoá bỏkhoảng cách trần thuật Xem xét tiểu thuyết từ các ph ơng diện đó thì NhậtBản có thể xếp vào hàng những quốc gia có nền tiểu thuyết hiện đại đầutiên trên thế giới
Năm 2000, báo chí Pháp kỉ niệm sinh nhật 1000 năm tác phẩm “tiểuthuyết đầu tiên của loài ngời”, một trong 4, 5 kiệt tác mọi thời của nhân
loại: Truyện Genji Genji monogatari (Nguyên thị vật ngữ), tức Truyện
Genji là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của văn học Nhật Bản ra đời vào
khoảng 1004 - 1011, của nữ sĩ tài ba Murasaki Shikibu (978 - 1014) Nhà
nghiên cứu N.T Phedorenko nhận xét: “Genji monogatari của Murasaki
Shikibu là đỉnh cao của văn xuôi dân tộc, là tài sản vô giá của nghệ thuậtvăn chơng Nhật, là mẫu mực ngôn ngữ hoàn chỉnh nhất của thời kỳ cổ điển.Chính trong thiên tiểu thuyết này, ngôn ngữ Nhật với tính biểu cảm phi th -ờng của nó đã đạt tới đỉnh cao, xứng đáng đợc xếp vào hàng những ngônngữ văn học phát triển nhất của thế giới” [12, 1047]
Tác phẩm kể về mối tình của hoàng tử Genji dài khoảng 3000 trang,
gồm 54 chơng và hơn 400 nhân vật Sự xuất hiện của Genji monogatari là
một hiện tợng kỳ diệu trong văn học Nhật Bản và thế giới Nó là sự hoàquyện hoàn hảo giữa tính cổ điển do sự chng cất thuần tuý tinh hoa văn hoá
Nhật và tính hiện đại trong bút pháp, kỹ thuật viết truyện tân tiến “ Genji
monogatari là con đờng mới của tiểu thuyết” (Nhật Chiêu, [4, 111]) Nhà
Trang 22phê bình Olga Kenyon, gần mời thế kỷ sau, đã ghi nhận hiện tợng này nhsau: “Phụ nữ chính là mẹ của tiểu thuyết thế mà các nhà phê bình nam giớitừng dạy chúng ta rằng cha đẻ của tiểu thuyết là Defoe và Richardson Nh ng,trớc họ rất lâu, chính phụ nữ đã bắt đầu phát triển thể loại tiểu thuyết Tác
phẩm đầu tiên mà chúng ta đợc biết là Truyện Genji do bà Murasaki viết vào
thế kỷ XI ở Nhật Đó là tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của thế giới, có cảm hứngphi thờng và độc đáo vô song” (Chuyển dẫn [4, 111])
“Truyện Genji” ra đời vào thời đại Heian - thời đại thái bình kéo dài
400 năm trong lịch sử Nhật Bản Văn chơng Heian, với hai yếu tố “dân tộc” và
“nữ lu” đã phát tiết một vẻ đẹp huy hoàng cha từng có Thơ văn nữ lu thời
Heian mà đỉnh cao là Genji monogatari đã đánh dấu sự có mặt thật sự của một
nền văn hoá bản địa xứ Phù Tang trong sức ép ảnh hởng của văn chơng Trung
Quốc thời bấy giờ Y.Kawabata trong Diễn từ Nobel đã khẳng định: “Thời kỳ
Heian đã đặt nền móng cho truyền thống vẻ đẹp Nhật Bản, và trong suốt támthế kỷ đã ảnh hởng đến nền văn học Nhật Bản, xác định tính chất của nó
“Genji monogatari là đỉnh cao văn xuôi Nhật Bản tất cả mọi thời đại” [12,
973] Tôn thờ cái đẹp mong manh và u buồn ẩn chứa trong cuộc sống và conngời, tình yêu và thân phận, tác phẩm của Y.Kawabata sau này dờng nh thấm
đẫm và khơi nguồn từ không khí diễm tình và đa cảm của văn chơng nữ lubuổi ấy
Bớc qua thời Haien, Nhật Bản chìm dài trong cảnh chiến tranh liênmiên từ thế kỷ XIII đến mãi 1868 Văn học hớng về đề tài võ sĩ đạo, chất anhhùng, tinh thần cao thợng thay thế yếu tố nữ tính, đồng thời hớng về tâm linh
đậm màu sắc thiền học, chất chứa niềm bi cảm (Aware), biểu hiện nội uhuyền (Yugen) trầm lắng Gần cuối thế kỷ XVII, văn đàn Nhật Bản xuất hiện
một cuốn tiểu thuyết gây chấn động mới: Koshoku ichidai otoko (Hiếu sắc nhất đại nam), tức Ngời đàn ông đa tình của Ihara Saikaku (1641 - 1639).
Ihara Saikaku là tiểu thuyết gia lớn nhất thời Edo - thời kỳ văn học đợc mệnhdanh là “Văn chơng phù thế” Văn chơng phù thế, mà Saikaku là ngời dẫn
đầu, là văn chơng của “những ngọn sóng trần gian”, chỉ biết đên “Con ngời tại
thế” mà quay lng lại với thần linh xa cũ Tiểu thuyết Ngời đàn ông đa tình đã
khơi nguồn cho hàng loạt sáng tác “Phù thế thảo tử” của Saikaku, ảnh hởng
đến cả thời đại và trở thành linh hồn của thời phục hng Nhật Bản
Cuốn tiểu thuyết gồm 54 chơng tơng ứng với Genji, nhng độ dài chỉ có
200 trang Truyện kể về 50 năm tình ái của chàng Yonoshukê, một thanh niên
sống thời đô thị phát triển Mô phỏng cách viết của Genji monogatari nhng
Trang 23Saikaku đã nêu bật đợc bản chất của thời đại thơng nghiệp, con ngời ngàycàng hớng về đời sống dung tục trần thế, khao khát dục vọng Tình yêu trongthế giới Murasaki kiếm tìm là tâm hồn con ngời và cỏ hoa Tình yêu trong thếgiới Saikaku săn đuổi là nhục thể và những cái bóng của nó Đa tình, hay
“hiếu sắc” là chủ đề đặc biệt làm nên danh tiếng của Saikaku và cũng là yếu tốtừng làm cho ngời ta loại trừ ông trong thời gian dài Thế gian xuất hiện trớcmắt Saikaku là một thế gian đa tình mà con ngời chính là nhan sắc của cuộc
đời chứ không chỉ có hoa, trăng
Tiểu thuyết Saikaku còn khai thác thành công đề tài rất mới là tiền tài yếu tố thực tiễn của đời sống thị dân gọi là “Choninmono” (tính nhân vật).Nghệ thuật tiểu thuyết Saikaku nổi bật với tính chất hiện thực trào lộng Chính
-đặc điểm ấy đã làm dậy lên một phong trào khôi phục ông vào cuối thế kỷXVIII sau khi ông đã bị lãng quên gần hai thế kỷ “Bằng cách trộn lẫn tràotiếu với trang nghiêm Saikaku đã sáng tạo ra một phong cách hiện thực châmbiếm đầy chất thơ để có thể miêu tả cả phơng diện vui thú lẫn buồn phiền củacõi phù thế” (Hibbett, chuyển dẫn [4, 245]) Tên tuổi Saikaku, vì thế, trở thành
“một hiện tợng kỳ lạ trong văn học Nhật, tơng tự với hiện tợng Rabelais trongvăn học Pháp Về một tiếng cời chói lọi mà cả hai đã ném vào đời sống” [4,234]
Tiểu thuyết Nhật Bản sau Saikaku đợc nhắc đến cùng hai tên tuổi:
Akinari với Vầng trăng trong mơ và Ikaku với Gót chân giang hồ Ueda
-akinari (1734 - 1809) là bậc thầy lớn nhất của văn xuôi Nhật thế kỷ XVIII.Vừa ngoài ba mơi tuổi, với hai tiểu thuyết đầu tay, Akinari đã nổi tiếng là ngời
kế vị Saikaku Nhng, dù đang thành công trên con đờng “phù thế thảo tử”Akinari bất ngờ dừng lại và chuyển sang nghiên cứu văn học cổ điển và hớng
ngòi bút của mình vào thể truyền kỳ Vầng trăng trong ma (Ugetsu
monogatasi: Vũ Nguyệt vật ngữ) là tập truyện đợc xây dựng bởi những câuchuyện mang tính kỳ ảo hoặc siêu nhân Tuy nhiên, thế giới nghệ thuật củaAkinari không phải là một thế giới ma quái Cái ảo của cái biến cố chỉ là lớp
ảo che đậy sự thật tâm lý con ngời Đó là một thực tại đợc ảo hoá, một khônggian đợc bôi xoá để không còn ranh giới giữa mộng và thực, tự nhiên và siêu
nhiên Học giả Nhật Chiêu đã đánh giá: Vầng trăng trong ma đợc sáng tạo
bằng một phong cách văn chơng cao nhã và đầy những tởng tợng mới mẻ dùvẫn nối tiếp dòng mạch văn chơng của cái ảo trong truyền thống Có thể gọi
đó là phong cách “Tân cổ điển” [4, 252 - 253 ]
Trang 24Tippensha Ikaku (1765 - 1831) lại đợc tôn là ngời sáng tạo ra nhữngtrang văn xuôi của tiếng cời, giàu chất hoạt kê nhất trong văn chơng Nhật
Bản.Thuộc loại sách gọi là Kokkeibon (hoạt kê bản), Gót chân giang hồ là một tác phẩm tràn ngập tiếng ngời và thờng đợc so sánh với cuối Pickwich
Papers (1837) của Dickens
Ngoài Saikaku, Akinari, và Ikaku, các tiểu thuyết gia nổi tiếng khác củathời Edo là: Ejima kiseki (1667 - 1736), Santo kyoden (1761 - 1816),Takizawa Bakin (1767 - 1848), Sikitei samba (1775 - 1822), Ryutei tanchico(1783 - 1842), Tamenaga shumsui (1789 - 1842) Tác phẩm của họ thờng đivào khai thác đề tài thơng nhân sa đoạ và chuyện tình buông thả Vì thế, sáchcủa họ phần lớn bị xếp vào hàng dâm th và bị chính quyền bấy giờ ra sác lệnhcấm lu hành.Theo G.B Sasom: “Tuy vậy, điều mà các nhà cầm quyền lầm t-ởng là suy đồi thì chỉ đem lại sự vui tơi Đó là một hiện tợng hiếm trong lịch
sử Nhật Bản” [19, 256]
Nh vậy, tiểu thuyết Nhật Bản trớc 1868 mặc dù cha thực sự phong phúnhng đã trở nên giàu có nhờ những kiệt tác quý giá không chỉ với nền văn họcdân tộc mà còn với cả nhân loại Song có thể nói, sân chơi chuyên nghiệp củatiểu thuyết Nhật Bản phải đợi đến cuộc duy tân Minh Trị 1868 và hệ quả mà
nó mang lại Luồng gió văn minh phơng Tây thổi tới và những hơi thở hiện đạicủa hàng loạt trào lu văn học đang thịnh hành bấy giờ đã làm lung lay thànhtrì t tởng truyền thống của ngời Nhật Cuộc giao tranh giữa hai luồng văn hoá
Đông - Tây đã tạo nên dấu ấn đậm nét nhất trong văn học Nhật Bản nói chung
và tiểu thuyết nói riêng Nhiều trờng phái xuất hiện tạo niên diện mạo đa âmsắc cho văn học Nhật
Chủ nghĩa hiện thực hình thành rõ nét với tên tuổi của Tshubouchi
shoyo (1859 - 1935) cùng tác phẩm Bản chất của tiểu thuyết (Shietsu shintri)
xuất bản năm 1885 Từ đó, nhiều sáng tác kiểu mới ra đời khác hẳn với loạitiểu thuyết bác học phong kiến quý tộc trớc đây
Các trờng phái khác lần lợt có mặt trên văn đàn Trong tác phẩm của họ
đã bắt đầu quan tâm đến số phận con ngời, bi kịch cá nhân, đặc biệt là tâmtrạng bi quan, thất vọng của con ngời trớc sự kéo dài dai dẳng của xung đột hailuồng văn hoá Đại biểu cho những trờng phái này là Kitamura Tokôku (1868 -1894), nữ văn sĩ Higuchi Ichiyo (1872 - 1896), Kunikiza Doppo (1871 - 1908),Tayama Katai (1871 - 1930), Mori Ogai (1862 - 1922), và Natsume Soseki(1867 - 1916) Chủ đề ấy trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm nghệ thuật củaNhật Bản mà sáng tác của Y.Kawabata là hiện tợng tiêu biểu
Trang 251.2.2 Tiểu thuyết Y.Kawabata - một cái nhìn phác thảo
Y.Kawabata không chỉ viết tiểu thuyết, nhng về một phơng diện nào đó,tiểu thuyết chính là thể loại đã đa tên tuổi nhà văn lên hàng danh giá Và tiểuthuyết của Y.Kawabata, tác phẩm nào cũng có thể làm vinh dự cho một ngờicầm bút
Cha kể đến hàng loạt truyện ngắn và bộ Truyện trong lòng bàn tay, sự có
mặt của hơn chục cuốn tiểu thuyết xuất sắc đã khiến Y.Kawabata trở thành một
“tỷ phú” văn chơng Tên những tiểu thuyết của ông vẫn đợc nhắc đến nh một
niềm huyền thoại: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951), Tiếng rền của núi (1952), Cố đô, (1961), Ngời đẹp say ngủ (1969), Đẹp và buồn (1960).
Khá nhiều cuốn cũng đợc các nhà phê bình đánh giá cao nhng cha đợc
dịch ra tiếng việt nh Hoàng đoàn ở Asacusa (Asacusa kurenai dan, theasakusa crimson gang, 1930); Cao thủ Cờ Gô (Meijin, master ofgo, 1954); Cái hồ
(Mizuumi, the lake, 1954)
Tiểu thuyết của Kawabata là những vẻ đẹp riêng giữa một phong cáchchung đã định hình rõ nét, là những “dòng riêng” giữa “nguồn chung” Từ tiểuthuyết đầu tiên đến những trang bản thảo cuối cùng còn dở dang, ngời đọc đềutìm thấy một Kawabata trầm lặng, cô độc, chìm đắm trong suy tởng và miênman kiếm tìm cái đẹp, giá trị vĩnh hằng của đời sống và thân phận Vì thế, vănphong Kawabata không ồn ào, không khoa trơng, kiểu cách Đó là thứ ngônngữ giản dị bậc nhất, trong sáng bậc nhất cũng dồn chứa nhiều nhất sức nặngcủa ý nghĩa biểu đạt Với Y.Kawabata ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại Nhật Bản
đã đạt đến hàng mẫu mực của phong cách dân tộc: ngắn gọn, súc tích, sâu xa,mang tính biểu tợng và ẩn dụ kỳ diệu Anono suekiti khi nghiên cứuY.Kawabata đã nhận xét: “mỗi lần đọc các tác phảm của Kawabata tôi lại cảmthấy các âm thanh xung quanh tựa hồ lắng đi, không khí bổng trở nên trongtrẻo, còn tôi thì hoà tan vào trong đó và sở dĩ có hiện tợng nh vậy có lẽ bởivì trong sáng tác của Kawabata không có gì vẫn đục hay dung tục” (Chuyểndẫn [12, 1052]) Bằng một nghệ thuật điêu luyện ngng đọng tinh tuý thi pháp
“chân không”, Kawabata đã đa tiểu thuyết Nhật Bản lên đến đỉnh cao của việcdiễn tả thế giới nội tâm mơ hồ, bí ẩn mà không quên phản ánh sâu sắc khôngkhí đầy màu sắc mâu thuẫn của thời đại
Tiểu thuyết Kawabata không rõ nét trong việc xây dựng cốt truyện vàluôn mơ màng trong việc kiếm tìm giới hạn hay kết thúc câu chuyện Suốtthiên truyện ngời đọc chỉ bắt gặp những mảng đan chéo các tâm trạng, những
Trang 26suy tởng và bức tranh cuộc sống hiện thực, cuộc sống hiện lên dới đôi mắt củamột kẻ lữ hành cô độc, trầm lắng Đó có thể là cuộc hành trình trên thực tế và
cũng có thể chỉ là cuộc hành trình trong tâm tởng Từ Shimamura trong Xứ
tuyết; Kikuzi trong Ngàn cánh hạc, Shingo trong Tiếng rền của núi, Ogi trong
Đẹp và buồn, Takichiro trong Cố đô đến Eguchi trong Ngời đẹp say ngủ tất
cả đều là hiện thân của một “lữ nhân u sầu” đi tìm cái đẹp đã mất
Trên bớc đờng ấy, Kawabata đã đau xót nhận ra sự suy vong của nhữnggiá trị truyền thống trớc sự cám dỗ, phù phiếm, xô bồ, ồn ã của cuộc sống hiện
đại Tiểu thuyết của ông ngoài việc phản ánh gay gắt xung đột Đông - Tây, đãchỉ ra đợc sự tha hoá, cô đơn, và nỗi ám ảnh về cái chết của con ngời trong bối
cảnh xã hội ấy một cách thấm thía Tiếng rền của núi là một nỗi ngậm ngùi
trong bất lực, một tiếng thở dài nặng trĩu của một tâm hồn nhạy cảm và cô
độc: Shingo Tiếng núi chính là tiếng rạn vỡ bên trong của đời sống cá nhân,gia đình trớc sự thực dụng, tàn nhẫn của con ngời Tiếng núi cũng chính làtiếng gọi ám ảnh về một cái chết đang kề cận hay là một thông điệp về mộtcái chết đơn độc trong tâm cảm những ngời đang sống? Shingo đã nghe thấytiếng núi trong một nỗi sợ hãi mơ hồ vì đó là lúc ông đối diện gần nhất vớichính nỗi đau trong quá khứ, khao khát trong hiện tại và cảm thức rõ rệt nhất
sự cô đơn đến tuyệt đối trong gần suốt cuộc đời mình Dới bề ngoài của mộtcuộc đời thành công Shingo đã âm thầm đi từ thất vọng này sang thất vọngkhác Niềm đồng cảm duy nhất ông còn bắt gặp là cô con dâu Kikuko nhng
đồng thời ông cũng phải đau đơn bất lực trớc sự dày vò mà chính con trai ôngmang lại cho niềm hy vọng mong manh ấy Shingo sống trong bi kịch củakhao khát tình yêu và tuyệt vọng
Tác phẩm Kawabata phần lớn đều mang âm hởng ấy Trong kiệt tác
cuối cùng của đời mình Ngời đẹp say ngủ, Kawabata đã gửi gắm tất cả tình
yêu về cái đẹp và tuổi trẻ cũng nh niềm đau xót trớc cái bóng của sự chếtkhông thể cỡng lại đợc với một văn phong hiện đại nhng không kém phần tinh
tế Tuy nhiên điều đáng nói là giữa nổi đau ấy, ngời ta vẫn thấy nỗi bật hơnhết là niềm trân trọng, sự nâng niu đặc biệt và ý thức gìn giữ cái đẹp - nh một
điều bất tử của cuộc đời Những cô gái ngủ mê khoả thân là hiện hữu của cái
đẹp vừa gần gũi vừa xa xôi, nh một tấm gơng trinh bạch rọi chiếu, thấu suốtthế giới tâm cảm đầy khao khát và bất lực
Đẹp và buồn - nh tên gọi một cuốn tiểu thuyết của Kawabata - là hai nét
chủ đạo trong cảm hứng nghệ thuật của ông Đi sâu vào nỗi buồn ta sẽ tìm
Trang 27thấy vẻ đẹp của niềm thanh tịnh và tinh khiết Cũng nh trở về với cái đẹp ta sẽxót xa hơn bao giờ hết trớc sự mong manh, phai tàn của nó Nhng đó là hai địahạt mà con ngời luôn luôn không biết đến lời chối từ, cũng là lý do làm nênsức hấp dẫn đặc biệt và giá trị song tồn cùng thời gian của tiểu thuyếtY.Kawabata.
Kawabata từng cho rằng mục đích của nhà nghệ sỹ không phải tìm cáchlàm cho mọi ngời kinh ngạc sửng sốt bằng cái li kỳ quái dị, mà ở chỗ biếtdùng chỉ vài phơng tiện ít ỏi mà nói lên đợc nhiều nhất, biết dùng ngôn từ vàmàu sắc để truyền đạt các cảm xúc và kinh nghiệm nhìn đời của mình Quảtình, tiểu thuyết Kawabata rất ít nhân vật, thiếu tình tiết kịch tính, vắng bónghành động Tất cả không gian rộng lớn của tác phẩm đều dành cho suy tởng
và cảm giác Nhng Kawabata không kỳ công trong việc đi sâu khai thác, khắchoạ rõ nét tâm trạng nhân vật Ngợc lại, thế giới nội tâm của nhân vật bao giờcũng có một giới hạn, một giải phân cách nhất định với bạn đọc và với bảnthân nó Vì thế, cảm giác về sự mô hồ, khó nắm bắt cũng nh sự khó lý giải vàkhông tìm ra hồi kết cho câu chuyện là tâm lý chung của ngời đọc khi tiếp xúcvới tiểu thuyết Y.Kawabata Tuy vậy, chẳng ai phân vân về điều đó bởi cái mà
độc giả nhận đợc là một khoảng trống cần thiết để tự trả nghiệm và từ đó thấuhiểu đầy đủ nhất giá trị cái đẹp trong sự vô thờng của nó Đó là chân lý nằmngoài ngôn từ mà tiểu thuyết Kawabata mong muốn biểu đạt
Thời trẻ Kawabata cũng từng viết những tiểu thuyết theo đơn đặt hàngcủa các nhà xuất bản hay các tạp chí Tuy nhiên, Kawabata tuyệt nhiên không
đa chúng vào tuyển tập và ông quan niệm rõ ràng đó là “tác phẩm đại chúng”giúp ông nuôi dỡng đam mê với “nghệ thuật thuần tuý” trong thuở hàn vi.Những tiểu thuyết đích thực của Y.Kawabata đã làm rạng danh cho tiểu thuyếtNhật Bản nói riêng và văn chơng Nhật Bản nói chung trên diễn đàn văn họcquốc tế
1.2.3 Bộ ba tiểu thuyết (Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô) - đỉnh cao của tiểu thuyết Y.Kawabata
Tiểu thuyết Y.Kawabata đạt đến đỉnh cao với bộ ba tác phẩm: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951) và Cố đô (1961)
Năm 1968, viện Hàn Lâm Thuỵ Điển trang trọng chào mừng tác giảNhật Bản đầu tiên đứng vào hàng những nhà văn “bậc thầy” thế giới cho batiểu thuyết trên Với chỉ ba cuốn tiểu thuyết ấy thế giới đã có thể hình dung về
Trang 28một nền văn học Nhật đầy tiềm năng và ẩn tàng một nền văn hoá Phơng Đônggiàu có, lôi cuốn.
Xứ tuyết là cái tên đợc nhắc đến nhiều nhất trong văn nghiệp Kawabata
và đợc xem là hiện tợng văn xuôi trữ tình quan trọng nhất lúc bấy giờ Bắt tay
từ năm 1934 nhng mãi đến 1947 tác phẩm mới đợc viết xong Sự chậm trễ ấykhông phải bởi Kawabata lời biếng lao động mà trên thực tế ông đã chẳng có
từ trớc một bản thảo đề cơng nào cả Thậm chí sau khi đã viết chơng cuốicùng vào năm 1947 ông vẫn cảm thấy cần viết thêm nữa về mối quan hệ củahai cô gái Komako và Yoko, nhng ông đã quyết định đề cuốn tiểu thuyết dừnglại ở đó Điều ấy, xét ra lại là một lẽ tất nhiên phù hợp với không khí câuchuyện và những con ngời có mặt trong ấy
Shimamura, một tay chơi tài tử, đã để lại phía sau gia đình, vợ con vàcuộc sống tấp nập ở Tokyo để tìm về với xứ tuyết Ngay từ đầu, nhân vật củaKawabata đã ở trong trạng thái rời bỏ thế giới thực tại xung quanh Xứ tuyết
nh một miền không gian khác biệt, thanh sạch, cất giữ vẻ đẹp và nổi buồn.Nhng, cho đến sau cùng của cuộc hành trình, Shimamura vẫn chẳng thể hiểuthêm điều gì về thế giới của hai ngời con gái xứ tuyết đã làm say đắm lòngchàng Duy chỉ có cảm thức về sự mất mát, tan vỡ là hiển hiện rõ ràng, nhng
lý do vì sao thì ngay nhân vật cũng mơ hồ không thể diễn tả nổi
Xứ tuyết đánh dấu nghệ thuật miêu tả tâm lý phụ nữ tuyệt diệu của
Kawabata Nhà nghiên cứu Donald Kane đã nhận xét rằng: “Nếu ông khôngviết thêm một tác phẩm nào khác, thì hình ảnh Komako sẽ vẫn mang lại cho
ông danh tiếng của một chuyên gia tâm lý học về phụ nữ” [12, 1054].Kawabata tự lý giải “Đặc biệt với những tình cảm quy cho Komako, cái mà tôi
đã miêu tả thì không phải là gì khác ngoài nổi buồn của chính tôi Tôi nghĩchính điều này đã lôi cuốn độc giả” Tình yêu cháy bỏng và vẻ đẹp quyến rũcủa Komako, sự thanh khiết và sâu thẳm bí ẩn của Yoko là niềm mê hoặckhông chỉ với Shimamura mà còn với cả nhân loại về phụ nữ Nhật Bản
Xuất hiện năm 1951, Ngàn cánh hạc ngay lập tức đã nhận giải thởng của viện Hàn Lâm nghệ thuật Nhật Bản Ngàn cánh hạc không đơn giản là
một cuốn tiểu thuyết về tình yêu, đó là nỗi đau xót về một giá trị tinh thần caoquý của dân tộc đang rơi vào tha hoá và dung tục: Trà đạo Mối tình truyềnkiếp và vô luân của bà Ota với cha Kiriji và chính chàng là hình ảnh của sựsuy vong dẫn đến niềm tuyệt vọng của nghi thức trà đạo thiêng liêng trong lối
Trang 29sống mới Giữa sự rạn vỡ ấy, hình ảnh cô gái Inamusa và chiếc khăn thêu ngàncánh hạc là điểm sáng lấp lánh mời gọi của cái đẹp thuần khiết Nhât Bản.
Cố đô ra đời năm 1961 đã hoàn thiện nốt cái chân kiềng vững chãi, làm
nên đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp Kawabata Cố đô mang đến một không
khí xa cũ và cổ điển của đền đài, núi non lễ hội truyền thống và vẻ đẹp trinh
bạch của hoa, của tuyết Cố đô còn làm sáng lên vẻ kiều diễm và thanh quý của Kimono Nhật Cố đô là một niềm hoài vọng, một tình yêu mặn mà, sâu
lắng với bản sắc văn hoá ngàn năm của quê hơng, xứ sở Mang hơng vị của
một tiểu thuyết khảo cứu phong tục, Cố đô cũng đồng thời là một tiểu thuyết
tâm lý sắc sảo khi xây dựng rất thành công số phận cuộc đời và tâm trạng củangời con gái Chieko Sự chia ly đã khởi nguồn từ khi Chieko cất tiếng khócchào đời và kết thúc tác phẩm vẫn là cuộc chia tay trong im lặng với ng ời emgái Chính điều đó đã tạo nên nỗi u sầu cho vẻ đẹp toàn bích của xứ sở Kyoto -nơi lu giữ linh hồn Nhật Bản
Kawabata từng nói: “Mời bốn năm trớc tôi đã phác thảo trong đầu tác
phẩm có nhan đề Bài ca phơng đông, trong đó tôi muốn tạo nên những bài ca
kiệt xuất của chính mình Trong đó tôi sẽ hát, theo cách của mình, bằng hình
ảnh của những tác phẩm kinh điển phơng đông Có thể tôi sẽ chết trớc khiviết tác phẩm này, nhng tôi muốn ít nhất cũng đợc hiểu rằng tôi muốn viết
nó Tôi đã lĩnh hội đợc bớc đầu về văn học phơng Tây hiện đại và chính tôicũng đã bắt chớc nó, nhng về cơ bản tôi vẫn là một ngời phơng Đông”(Chuyển dẫn [12, 1100]) Và dù cha thành hiện thực, âm hởng thuần tuýNhật Bản và vẻ đẹp phơng Đông đã ngân lên ở rất nhiều sáng tác của
Y.Kawabata mà đỉnh cao là ba khúc ca tuyệt mỹ: Xứ tuyết; Ngàn cánh hạc và
Cố đô.
Trang 30Chơng 2 Một thế giới biểu tợng phong phú, đa dạng
trong tiểu thuyết Y.Kawabata
2.1 Giới thuyết chung về biểu tợng
2.1.1 Biểu tợng và biểu tợng văn hóa
Có một điều kỳ lạ nhng tất yếu là cuộc sống luôn luôn chỉ có thể tồn tạitrong mâu thuẫn Khi xã hội ngày càng tiến xa theo công nghệ “số hóa” thìcon ngời lại lặng lẽ quay về với biểu tợng - thế giới khỏi nguyên từ cõi vôthức, tâm linh, kết tinh hỗn hợp suy tởng và lý trí - hoàn toàn xa lạ với đờisống kĩ thuật Một xu thế hợp thời? Hay, một vấn đề có tính quy luật xuất phát
từ bản chất của biểu tợng?
Biểu tợng trong tiếng Việt là tên gọi xuất xứ từ thuật ngữ “Représentation”
hoặc “Symbole” trong tiếng Pháp Từ điển tu từ - phong cách - thi pháp học
của Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “Trong tiếng Việt, những thuật ngữ biểu tợng,biểu trng, biểu hiệu, tợng trng là những từ gần nghĩa dùng để dịch từ Symbole,
có ý nghĩa cơ bản là: một dấu hiệu (tín hiệu, kí hiệu) mang tính quy ớc hàmchỉ một đặc trng, một phẩm chất, một sáng tạo hay hẹp hơn là có khả năng gợi
ra một đối tợng khác, một sự vật khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó
và đợc cộng đồng chấp nhận [11, 21 - 22] Quan niệm trên chấp nhận sự gầngũi, tơng đồng giữa cấc khái niệm biểu tợng, biểu hiệu, biểu trng, tợng trng
Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên trong khi lý giải biểu tợng đã chỉ rõ: “Trong triết học
và tâm lý học, biểu tợng là Biểu tợng nh là thuật ngữ của mĩ học, lý luận vănhọc và ngôn ngữ học còn đợc gọi là tợng trng” [8, 24] ở đây, có sự phân biệtbiểu tợng và tợng trng về mặt cấp độ Theo đó, tợng trng đợc hiểu là biểu tợngtrong giới hạn phạm vi mĩ học, lý luận văn học và ngôn ngữ học Nó là cấp độhẹp của khái niệm biểu tợng
Từ điển biểu tợng văn hóa thế giới đã khu biệt nội hàm của thuật ngữ
biểu tợng với các thuật ngữ gần kề: biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ, loạisuy, triệu chứng, dụ ngôn, ngụ ngôn luân lý Tác giả khái quát: “Tất cả nhữnglối diễn đạt bằng hình ảnh đó có điểm chung đều là những dấu hiệu và khôngvợt qúa mức độ của sự biểu nghĩa” Từ đó khẳng định: “Biểu tợng cơ bản khácvới dấu hiệu, ở chỗ dấu hiệu là một quy ớc tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái
đợc biểu đạt vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tợng giả định có sự đồng chất
Trang 31giữa cái biểu đạt và cái đợc biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức”.[5, XIX] Nh vậy, khi tiếp cận biểu tợng về mặt thuật ngữ, hầu hết các tác giả
đã đặt khái niệm này bên cạnh các thuật ngữ liên đới để trừu xuất ra bản chấtcủa biểu tợng trong những ranh giới phân biệt đợc
Triết học và tâm lý học Mácxít cho rằng: “biểu tợng là khái niệm chỉ
một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác , cho ta hình
ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật v o giácào giácquan ta đã chấm dứt” [8, 23] Biểu tợng ở đây đợc xem là một giai đoạn củaquá trình nhận thức mà kết quả là một ấn tợng còn đọng lại Biểu tợng, theo
đó gạn lọc tính cụ thể và trực tiếp tác động của sự vật để ngng tụ kết tinh tínhcốt lõi và khái quát hóa cảm giác thành ấn tợng trừu tợng hơn
Đề cao sức mạnh của vô thức trong chiều sâu đời sống tâm linh con
ng-ời, biểu tợng trở thành đối tợng đợc các nhà Phân tâm học quan tâm đặc biệt
Theo Freud: “biểu tợng diễn đạt một cách gián tiếp bóng gió và ít nhiều khó
nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tợng là mối liên kết thốngnhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một t tởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm
ẩn của chúng Khi ta nhận ra chẳng hạn trong một hành vi, ít nhất là có haiphần ý nghĩa mà phần này thế chỗ cho phần kia bằng cách vừa che lấp vừabộc lộ phần kia ra, ta có thể gọi mối quan hệ giữa chúng là có tính biểu tợng “[5, XXIV] Trong ý kiến của Freud, biểu tợng đợc xét trong mối liên kết haimặt: cụ thể - trừu tợng, rõ rệt - tiềm ẩn Và, nếu quan điểm Mácxít xem biểu t-ợng là một giai đoạn của nhận thức, nghiêng hẳn về lý trí thì Freud đề cao sựchi phối của vô thức, “ham muốn” ở đây phần nhiều đợc hiểu là ham muốntính dục
Định nghĩa về biểu tợng là một công việc khó khăn thậm chí khó lòng
mà giải quyết thấu đáo bởi nó đợc soi xét từ nhiều góc nhìn; vả lại, tự bản thân
nó là một cấu trúc động Do vậy, trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ giới thuyếtmột số đặc tính của biểu tợng có ý nghĩa trực tiếp tới việc nghiên cứu đối tợng,
dựa trên diễn giải của các soạn giả Từ điển biểu tợng văn hóa thế giới
Biểu tợng tồn tại giữa những cặp phạm trù có tính chất đối lập nhng lạiquan hệ với nhau hết sức biện chứng: cái cụ thể và cái trừu tợng; cái trực cảm
và cái logic; tính cá nhân và tính cộng đồng; tính ổn định và tính gợi mở; tính
độc lập và tính tơng tác
Đi tìm bản chất của biểu tợng, phân biệt với hàng loạt khái niệm tơngliên, các tác giả không nằm ngoài mục đích khẳng định tính trừu tợng, khái
Trang 32quát của biểu tợng Biểu tợng không dừng lại đơn thuần là dấu hiệu mà vợtkhỏi khuôn khổ của sự biểu đạt để ngng kết nhiều ý nghĩa Tzvetan Todorov
đã chỉ ra rất đúng rằng: “Chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái
đ-ợc biểu đạt; hoặc giản đơn hơn cái đđ-ợc biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt”
Và ông dẫn lời nhà thần thoại học Creuzer: biểu tợng bộc lộ “tính không thíchhợp giữa tồn tại và hình thức sự ứ tràn của nội dung ra ngoài dạng biểu đạtcủa nó” Nhng sẽ là sai lầm nếu quá đề cao tính khái quát, và cho rằng sự trừutợng hóa sinh ra biểu tợng Trên thực tế, biểu tợng tràn đầy những biểu hiện cụthể sinh động Biểu tợng, trớc khi là sự ngng đọng các cảm giác để tạo ra ấn t-ợng trừu tợng thì đã khởi nguyên từ thực thể hữu hình, có thực, vận động vàbiến đổi trong không gian Điều thú vị là khi đã hình thành một ý niệm có sứckhái quát lớn biểu tợng lại đợc trả về trong đời sống phong phú, đầy biến độngcủa nó Dĩ nhiên, ngay khi phát triển, chuyển nghĩa đa dạng thì mọi ý nghĩa đ-
ợc biểu đạt đều xuất phát từ một đặc điểm nào đó của cái biểu đạt
C.G.Jung cho rằng: “biểu tợng không bó chặt gì hết, nó không cắtnghĩa, nó đa ta ra bên ngoài chính nó đến một ý nghĩa còn nằm ở tận phíangoài kia, không thể nắm bắt, đợc dự cảm một cách mơ hồ, và không có từnào trong ngôn ngữ chúng ta có thể diễn đạt thỏa đáng” Giá trị của biểu tợng
đợc tìm thấy trong sự giao thoa giữa cái rõ ràng và cái mơ hồ, cái hiện hữu vàcái tiềm ẩn, cái miêu tả đợc và cái khó diễn tả thành lời Càng đi sâu khámphá, ngỡ là nắm bắt đợc cái tinh thần cơ bản của biểu tợng ta lại càng đén gầnhơn cảm giác rỗng không, mông lung và bất lực Con đờng đến với biểu tợng,nhiều khi chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của vô thức tâm linh Tuy nhiên, nókhông phủ nhận lý trí và tính hợp lý - logic của sự tồn tại biểu tợng, bởi xét
đến cùng biểu tợng là sản phẩm của lịch sử - thời đại và dân tộc Sự quy phạm
đó làm nên tính ổn định tơng đối của biểu tợng Nhng, cảm nhận biểu tợngtrong từng hoàn cảnh cụ thể lại là công việc mang tính cá nhân, bởi vậy “đặctính của biểu tợng là mãi mãi gợi cảm đến bất tận: mỗi ngời thấy ở đấy cái mànăng lực thị giác của mình có thể nhận ra, thiếu sự thâm thúy thí sẽ chẳngnhận ra đợc gì cả” [5, XXVI]
Các biểu tợng tồn tại trong thế vừa độc lập vừa tơng tác lẫn nhau Tính
độc lập khiến biểu tợng xây dựng một thế giới đa dạng, phong phú, sinh động
và phát triển không ngừng Nhng cũng nh các nền văn hóa đặt cạnh nhau, giữacác biểu tợng luôn nảy sinh mối tơng tác nào đó, có thể xuất phát từ nguồngốc hay đăc trng của mỗi biểu tợng Sự tơng tác diễn ra mạnh mẽ với các biểu
Trang 33tợng thuộc cùng nền văn hóa và cùng đại diện cho một nét văn hóa đặc sắc.Chẳng hạn biểu tợng “cố đô” mà chúng tôi chỉ ra trong mục 2.3.4 của đề tài làmột kiểu hợp thể biểu tợng do sự cộng hởng của hàng loạt biểu tợng có mặttrong tác phẩm: hoa anh đào, chùa chiền, kimono, núi non, cây cối và thậmchí có những chi tiết nhỏ cũng ngầm ẩn một ý nghĩa biểu tợng nào đấy về một
cố đô xa cũ, thanh khiết và ngọt ngào Dĩ nhiên, trong sự đồng điệu ấy mỗibiểu tợng vẫn tồn tại riêng biệt, tỏa một hơng sắc độc đáo không ngừng kíchthích, lôi cuốn sự khám phá
“Vì không cách gì định nghĩa đợc một biểu tợng Tự bản chất của nó,
nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ýniệm” [5, XIV] Cho nên, công việc mà chúng tôi đang làm chỉ là một hớngtiếp cận, và phần nhiều cũng xuất phát từ cảm quan cá nhân, dựa trên văn bảnnghệ thuật Tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa, ở đây, chúng tôi mợn cách
định nghĩa của Từ điển tu từ - phong cách - thi pháp học về biểu tợng văn hóa.
Theo đó, “biểu tợng văn hóa là những biểu tợng thuộc lễ nghi, phong tục, tậpquán, nếp sống, nếp suy nghĩ của một cộng đồng dân tộc” Nh vậy, biểu tợngvăn hóa trớc hết là một sản phẩm mang tính dân tộc nhng điều này cũngkhông loại trừ việc một số biểu tợng vợt lên trên giới hạn không gian, ngônngữ, màu da đạt đến tính nhân loại, trở thành biểu tợng văn hóa thế giới
2.1.2 Từ biểu tợng văn hóa đến biểu tợng trong văn học
Từ biểu tợng văn hóa đến biểu tợng trong văn học là sự phát triển từ cấp
độ hình ảnh lên hình tợng nghệ thuật
Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm biểu tợng đi vào văn học còn đợc
còn đợc gọi là tợng trng, từ đó định nghĩa: “Theo nghĩa rộng, tợng trng là hìnhtợng đợc biểu hiện ở bình diện kí hiệu, là kí hiệu chứa tính đa nghĩa của hìnhtợng Mọi tợng trng đều là hình tợng nhng phạm trù tợng trng nhằm chỉ cáiphần mà hình tợng vợt khỏi chính nó, chỉ sự hiện diện của một nghĩa nào đóvừa hòa hợp với hình tợng, vừa không đồng nhất hoàn toàn với hình tợng” [8,390]
Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tợng nghệ thuật nhng đó khôngphải là sự phản ánh mang tính chất sao chép, phôtô đời sống Hiện thực đi vàovăn bản nghệ thuật đã đợc điển hình hóa cao độ và thấm đẫm màu sắc chủquan của lăng kính nghệ sĩ Đó là hiện thực mang tính quan niệm Bằng hìnhtợng, nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng sáng tạo ra một “thế giới thứ
Trang 34hai” - thế giới mang đậm tính biểu tợng Biểu tợng, do vậy, trở thành một đặctrng cốt lõi của phuơng thức phản ánh trong nghệ thuật Chính tính biểu tợng
đã tạo nên sự đa nghĩa cho hình tợng văn học, theo một phuơng diện nào đó đã
mở ra kết cấu mở cho mọi văn bản văn học Ngợc lại, chính văn học nghệthuật đã làm giàu có hơn thế giới biểu tợng : “Sự trừu tợng hóa khoét rỗngbiểu tợng và đẻ ra kí hiệu, nghệ thuật, ngợc lại, chạy trốn kí hiệu và nuôi dỡngbiểu tợng” [5, XIX] Tất nhiên, không phải mọi hình tợng đều trở thành biểu t-ợng, biểu tợng thiên về các ý nghĩa nằm ngoài, vợt khỏi tính cụ thể cảm tínhcủa hình tợng, chạm tới miền vô thức sâu thẳm trong tâm cảm nhà văn, đánh
động và thức dậy mọi linh cảm của ngời đọc Biểu tợng, vừa là cứu cánh màngời đọc hớng tới vừa là nỗi ám ảnh khắc khoải về một ấn tợng sâu đậm màngời viết muốn trình bày Lý luận văn học hiện đại chỉ rõ quá trình phát triển
từ văn bản đến tác phẩm văn học và đề cao vai trò của nguơi đọc nh một chủthể tiếp nhận tích cực, năng động, “đồng sáng tạo” cùng nhà văn Thiết nghĩ,
điều đó có đợc trớc hết là bởi bản thân một sáng tác văn học đã là một thế giớihình tợng nghệ thuật giàu tính biểu tợng
Biểu tợng văn học bắt nguồn từ biểu tợng văn hóa vì vậy nó cũng là mộthiện tợng lịch sử, chịu sự chi phối của ngôn ngữ, tâm lý, quan niệm của dântộc và thời đại Tuy nhiên, bên cạnh việc thể hiện ý thức chung của xã hội,cộng đồng, biểu tợng văn học chịu sự chi phối đậm nét của quan niệm nghệthuật, cảm quan nghệ sĩ và phong cách cầm bút của mỗi cá tính sáng tạo riêngtây Mỗi biểu tợng văn học đều đợc đặt trong một khoảng trời, một bầu khôngkhí đặc sánh chất cá nhân của ngời nghệ sĩ Cho nên, việc khám phá chiều sâu
ý nghĩa biểu tợng văn học không thể tách khỏi “dung môi” mà nó tồn tại,nghĩa là phải đặt nó trong thế giới nghệ thuật của nhà văn để nhìn thấy nét độc
đáo và nội dung tiềm ẩn bên trong Song, cũng nh biểu tợng nói chung, biểu ợng văn học còn có giá trị tự thân và nội tại của nó Điều này khiến ý nghĩabiểu tợng văn học mở rộng trên nhiều bình diện, cấp độ, từ đó tạo cho văn họcmột vẻ đẹp vô tận và song hành cùng thời gian
t-Nh vậy, từ văn hóa đến văn học, biểu tợng đã trải qua một quá trình vừachng cất, thanh lọc, vừa bồi đắp, sắc thái hóa để mang giá trị điển hình trong ýnghĩa trọn vẹn của từ đó
2.1.3 Sử dụng phơng thức biểu tợng trong văn học Nhật Bản truyền thống
Trang 35Sử dụng biểu tợng trong sáng tác văn học là phơng thức nghệ thuật vừa
xa cũ vừa hiện đại Nền văn học nhân loại từ khi khai sinh ra thể loại văn họcdân gian đầu tiên là thần thoại đã chọn biểu tợng nh một lẽ tự nhiên đến tấtyếu để biểu đạt khát vọng của con ngời Và kì diệu thay, mọi sự biến thiên củavăn học thế giới có vẻ nh chẳng làm mai một đi chút nào giá trị của phơngthức biểu tợng mà ngợc lại Thế kỷ XIX, với sự xuất hiện của chủ nghĩa tợngtrng ở phơng Tây, biểu tợng trở thành công cụ đắc lực trong việc xây dựngmột thế giới siêu nghiệm mà con ngời chỉ có thể cảm nhận trong mối tơnggiao các giác quan, vợt khỏi cảm tính thông thờng Thế kỷ XX với sự pháttriển của dòng văn học phi lý, giá trị biểu tợng đạt đến những nấc thang mớitrong khả năng chuyển tải ý nghĩa chìm ẩn của văn bản và trở thành sợi dâyliên kết vô hình quý giá giữa văn bản - ngời đọc Càng tiến gần đến xã hội đ-
ơng đại, văn học càng cậy nhờ vào phơng thức biểu tợng, nhng xu thế trầmtĩnh, lắng sâu chứ không ồn ào Nói điều này để thấy rằng, việc sử dụng biểutợng không phải là lãnh địa riêng của bất kỳ một nền văn học dân tộc nào Tuynhiên, với mỗi mảnh đất gieo trồng khác nhau thì một loại hạt giống sẽ chonhững đặc tính riêng biệt bên cạnh cái lõi chung Văn học truyền thống NhậtBản cũng không phải là một trờng hợp ngoại lệ
Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868 đợc chia làm bốn giai đoạnchính: Thời Nara (thế kỷ VIII), thời Heian (thế kỷ X - XII), thời trung đại (thế
kỷ XIII - XV) và thời Edo (thế kỷ XVII - 1868) Mỗi thời đều có thể nhìn thấynhững mốc son đánh dấu bằng tên tuổi cuả các nhà thơ, nhà văn xuất chúngvới những tác phẩm để đời Và, một dấu ấn đậm nét trong chiều dài sáng tác
ấy là việc sử dụng ngày càng tinh tế phơng thức biểu tợng Đặc biệt, phù hợpvới khuynh hớng hớng tâm của văn học Nhật, biểu tợng phát huy mọi khảnăng u việt trong việc biểu đạt những quan niệm và ý tứ sâu xa
Manyoshu (Vạn diệp tập) là kiệt tác của thời Nara và là ngọn hải đăng
của thơ ca Nhật Bản Ngay tiêu đề của tập thơ đã mang tính biểu t ợng màOsawa đã từng nhận xét: “hay đến độ ngời ta so sánh với lá Một câu thơ haycũng nh một chiếc lá: thơ tự nhiên tuôn ra dới ngòi bút thi nhân một cách dễdàng, cũng nh lá tự nhiên đâm ra trên cành không chút gò bó” (Chuyển dẫn[4, 37])
Thời Heian đợc mệnh danh là thời của cái đẹp Thật vậy, trong nhữngsáng tác thơ văn Heian ngời đọc đều tìm thấy một vẻ biểu tợng độc đáo, ý nhị
Trang 36về cái đẹp Tiểu th ánh trăng - “thủy tổ của vật ngữ”, theo lời ngợi ca của Murasuki - tác giả Truyện Genji - là một biểu tợng tuyệt diệu về cái đẹp Tiểu
th ánh trăng là cái đẹp, là lý tởng không với tới đợc bởi luôn tồn tại một khoảngcách diệu vợi giữa nàng và thực tại cuộc sống Sinh thời Y.Kawabata đã say mêcuốn truyện này từ nhỏ và xem nó nh “một sự tôn thờ cái trinh bạch của phụ nữ
và lời ngợi ca nữ tính vĩnh cửu” (Chuyển dẫn [4, 88])
Thời đại Heian còn là thời của cái đẹp bởi nó đã sản sinh ra cuốn tiểuthuyết vĩ đại nhất của văn học Nhật Bản, một kiệt tác của văn học thế giới:
Genji monogotari Truyện Genji là một trong những tác phẩm cổ điển hiếm
hoi, đợc xem là cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của nhân loại vì đã đi sâu vàothế giới bên trong của con ngời qua những cảm thức mơ hồ nhất: say mê, mơmộng, tuyệt vọng, u buồn đặc biệt là niềm bi cảm đối với thời gian Thờigian gắn liền với niềm mất mát, với cảm thức mono no awre:
Ta bắt đợc em rồi Phù du ơi phù du nhng em biến đi đâu hay em cha từng có trong tay ta bao giờ.
Sự vô thờng của cuộc sống vừa là nỗi buồn vừa là vẻ đẹp Vô thờng là
đẹp Genji monogotari là tiếng hát về niềm biểu đạt đầy nghịch lý ấy.
Biểu tợng ăn sâu vào tiềm thức tiếp nhận văn học của ngời Nhật đếnmức nó là cách trang trọng để gọi tên những tác gia kiệt xuất Thời trung đạivới Saigyo “nhà thơ của hoa anh đào”, Myoe “nhà thơ của trăng” và thời Edovới tên tuổi lừng danh của M.Bashô gắn liền với thể thơ Haiku truyền thống
Mở đầu diễn từ nhận giải Nobel, Y.Kawabata đã trân trọng dẫn thơ của Saigyo
v Myoe nhào giác đại diện của tinh thần thơ Nhật Bản Và, kết thúc diễn từ, ôngtrích dẫn lời của thiền s Saigyo: “ Khi ta nói về hoa, thì ta đâu nghĩ đó lànhững bông hoa hiện thực Khi ta ngợi ca trăng, ta đâu nghĩ đó là mảnh trăngthờng tình Hãy hình dung khi chúng ta có cảm hứng và những câu thơ tuôn
ra Cầu vồng rực rỡ đậu xuống, và hình nh bầu trời trống rỗng bỗng đổi màu.Mặt trời rực rỡ chiếu sáng và bầu trời trống rỗng đợc chiếu sáng Nhng bảnthân bầu trời không tự nhuộm màu và cũng không tự chiếu sáng” Trongnhững lời này, có thể nhận thấy đậm nét màu sắc Thiền, t tởng phơng Đông về
“H vô”, “Không Tồn” Đó chính là lý do làm nên vẻ đẹp riêng cho biểu tợng
Trang 37trong văn học Nhật, và cũng là lời lý giải cho việc sử dụng rộng rãi, quenthuộc biểu tợng trong khi sáng tác của các nhà văn xứ Phù tang.
M.Bashô là ngời đã đa thể thơ Haiku của Nhật Bản lên đến đỉnh cao của
tính thẩm mĩ và cũng nh vậy đã giúp biểu tợng tìm đúng giá trị của mình Oku
no hosomichi (Những con đờng nhỏ hẹp ở Oku) của Bashô là một trong số ít
tác phẩm trọng đại nhất của văn chơng Nhật Bản Tập thơ là những cảmnghiệm sâu sắc của tác giả về nỗi vô thờng và vĩnh cửu của cuộc sống Cái vẻ
đẹp huyền diệu mơ hồ, dễ tan vỡ của cuộc đời đợc Bashô diễn tả qua nhữngbiểu tợng sống động, gợi cảm Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu nhận định: “Chủ
đề của Con đờng sâu thẳm là cuộc hành trình đi tìm cái kỳ diệu của cuộc
sống, đó cũng chúnh là cái đẹp, đó là cái đã bị con ngời đánh mất trong xã hộihiện đại của Edo, của những thành phố đông đảo mà rỗng không Một lần nữa,nhà thơ quay về với thiên nhiên, với một nền văn hóa dung dị và thuần pháccòn giữ đợc trong lòng phơng Bắc xa xôi” [4, 269]
Tóm lại, có thể thấy biểu tợng đã thực sự trở thành một phơng thức biểu
đạt truyền thống trong văn học Nhật Bản Tới lợt mình, Y.Kawabata đã làmcho truyền thống ấy đạt đến vẻ đẹp rực rỡ, tuyệt mĩ nhất qua thế giới biểu tợngphong phú, đa dạng trong sự nghiệp văn học đồ sộ, giàu có, mà tiểu thuyết làmột minh họa tiêu biểu
2.2 Thế giới biểu tợng trong tiểu thuyết Y.Kawabata - một cái nhìn
định lợng
2.2.1 Sự phong phú và đa dạng của hệ thống biểu tợng
hiện
Xứ tuyết 1 Xứ tuyết - Xứ tuyết
- Tuyết
21118
2 Cuộc hành trình - Chuyến đi lên Xứ
tuyết của Shimamura
- Qua đờng hầm dài
Trang 386 C¸i chÕt - C¸i chÕt cña Yoko
3 Ngêi con g¸i - Chieko
- Naeko
Trang 39Đa ra bảng thống kê này, với chúng tôi cũng là việc vạn bất đắc dĩ, bởi
sự mô hình hóa nào đó dù sơ giản nhất cũng cơ hồ làm xơ cứng thế giới linh
động của biểu tợng Do vậy, ở đây chúng tôi chỉ chỉ ra tên gọi những biểu ợng nổi bật trong ba tiểu thuyết đợc khảo sát, các biến thể dễ nhận thấy củachúng và số lần xuất hiện của một số biểu tợng mà theo chúng tôi con số ấycũng có ý nghĩa nhất định
t-Trong bảng trên, các biểu tợng đợc sắp xếp theo tiêu chí có mặt ở trongtác phẩm Sự tổ chức này không nằm ngoài dụng ý chỉ ra tính đặc thù của hệthống biểu tợng trong tiểu thuyết Y.Kawabata Ngời viết muốn nói đến tínhchỉnh thể trong cấu trúc biểu tợng ở từng tác phẩm Mỗi tiểu thuyết là mộtbiểu tợng lớn đợc cấu thành bởi hàng loạt biểu tợng nhỏ, giữa chúng vừa cótính cá thể vừa có điểm tơng đồng nhng nhìn chung đều đợc xuyên suốt bởimột sợi dây t tởng ngầm định Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các biểutợng ở các tác phẩm khác nhau thì hoàn toàn biệt lập với nhau Ngợc lại, cácbiểu tợng ấy hoặc do ám ảnh bởi những ẩn ức riêng t hoặc chịu sự chi phốimãnh liệt của tiềm thức văn hóa, luôn tìm thấy điểm gần gũi và tạo thành mộtthế giới biểu tợng phong phú, đa dạng và mang đậm cốt cách nghệ thuậtY.Kawabata
Để tiện cho việc phân tích chúng tôi tạm phân chia thành các dạng thứccơ bản sau:
- Biểu tợng thiên nhiên:
+ Tuyết+ Dải Ngân Hà+ Hoa anh đào+ Núi
- Biểu tợng cuộc hành trình:
+ Hành trình về xứ tuyết của Shimamura+ Con tàu qua đờng hầm dài lên xứ tuyết+ Cuộc du ngoạn cảnh xuân và cố đô
- Biểu tợng không gian văn hóa:
+ Xứ Tuyết+ Cố đô (Phố cổ, chùa chiền, lễ hội)
- Biểu tợng đồ vật:
+ Chiếc gơng (tấm kính)
Trang 40+ Chiếc chén trà Shino (Chiếc chén Oribe; chiếc bình Shino; cặpchén Raku, chiếc chén Shino, chiếc chén Karatsu).
+ Kimono+ Chiếc khăn thêu ngàn cánh hạc
- Biểu tợng là một hiện tợng:
+ Lửa (đốm lửa, đám cháy)+ Vết son môi của bà Ota+ Cái bớt ngực của Chikako+ Cái chết
- Biểu tợng ngời con gái:
+ Komako và Yoko trong Xứ tuyết
+ Cô gái với chiếc khăn thêu ngàn cánh hạc và Fumiko trong
Ngàn cánh hạc.
+ Chieko và Naeko trong Cố đô.
2.2.2 Nguồn gốc, đặc trng của biểu tợng
Biểu tợng, nh đã trình bày, sinh ra từ cội rễ văn hóa dân tộc và cắm sâumạch nguồn vào đó để nuôi dỡng không gian biểu cảm vô tận Biểu tợng nghệthuật trong tiểu thuyết Y.Kawabata một mặt có nguồn gốc từ truyền thống vănhóa Nhật bản, mặt khác là những sáng tạo độc đáo của cá nhân nhà văn
Trong số những biểu tợng mà chúng tôi đã chỉ ra, phần lớn đều cónguồn cội từ bản sắc văn hóa xứ Phù Tang Điều này cũng là một biểu hiệncủa khuynh hớng tìm về với truyền thống của Y.Kawabata Lu giữ tinh thầndân tộc trong những biểu tợng văn hóa quen thuộc, Kawabata đã thổi mộtluồng sinh khí mới, sống động nhịp đập thời hiện đại khiến cho mỗi biểu tợnghiện lên vừa lạ vừa quen, vừa xa cũ vừa mới mẻ, bởi vậy mà không ngừng hấpdẫn ngời đọc, ngay cả ngời dân bản địa Ngời ta vẫn nhìn thấy rất rõ trongnhững ấn tợng quen thuộc nét bút và tâm hồn của một nghệ sỹ thiên tài
Thần thoại Nhật Bản khi kể về buổi bình minh sơ khai dân tộc có mộtchi tiết rất thú vị: Cháu nội của Nữ thần Mặt Trời là Ninigi - no - Mikoto đợc
cử xuống trông coi trái đất, và để làm hiệu cho sứ mạng nhà Trời của mình,chàng mang theo ba bảo vật: một hòn đá quí, một thanh gơm và một cái gơng
do chính Nữ thần trao tặng Có lẽ vì thế mà chẳng có nơi đâu nhng xứ sở mặttrời mọc lại sản sinh ra một nền mĩ học của đá, một truyền thống võ sỹ đạoSamurai và một quan niệm thẩm mĩ chiếc gơng soi độc đáo đến vậy Tìm về