Tuy nhiên nếu thơ Đờng, nhất là thơ tứ tuyệt dùng các hình ảnh ẩn dụ để hớng đến nguyên tắc diễn đạt theo kiểu “ý tại ngôn ngoại” thì các nhà thơ mới Việt Nam gắn liền với lối thơ tợng t
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Nguyễn thị vân anh
Thế giới biểu tợng trong thơ
bích khê
Luận văn thạc sĩ ngữ văn Chuyên ngành: văn học việt nam
Mã số: 60 22 34
Ngời hớng dẫn khoa học:
t.s lê thị hồ quang
Trang 2Vinh, 2009
Trang 3Lời cảm ơn:
Nhân dịp luận văn đợc hoàn thành tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình chu đáo của cô giáo - tiến sỹ: Lê Thị Hồ Quang, sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh và sự khích lệ động viên của gia đình và bạn bè
Vinh, ngày tháng nãm 2009
Ngời thực hiện:
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 43 Đối tợng nghiên cứu
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phơng pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Chơng 1 : Tổng quan về biểu tợng và thế giới biểu tợng trong thơ
Bích Khê
1.1 Khái niệm biểu tợng
1.1.1 Khái niệm biểu tợng nhìn từ góc độ văn hoá
1.1.2 Khái niệm biểu tợng nhìn từ góc độ văn học
1.1.3 Khái niệm biểu tợng trong thơ và loại hình thơ tợng trng
1.2 Khái quát về đời thơ Bích Khê và thế giới biểu tợng trong thơ
Bích Khê
1.2.1 Vị trí đặc biệt của Bích Khê trong phong trào Thơ mới
1.2.2 Những tìm tòi theo hớng tợng trng chủ nghĩa trong thơ
Bích Khê
1.2.3 Thế giới biểu tợng phong phú trong thơ Bích Khê
Chơng 2: Đặc điểm của thế giới biểu tợng trong thơ Bích Khê
2.1 Thế giới của sự giao hoà, “tơng ứng”
2.1.1 Sự hô ứng, tơng giao giữa vũ trụ và con ngời
2.1.2 Bản hoà âm của sắc màu, hơng thơm và giai điệu
4514151515
17182126
3536
4551
535357
Trang 52.2.Thế giới của cái đẹp và cái nên thơ
2.2.1 Vẻ đẹp thuần khiết của thiên nhiên
2.2.2 Vẻ đẹp lí tởng của Giai nhân
2.3 Thế giới của những biểu tợng nhục thể
2.3.1 “Nhãn quan nhục thể” trong thơ Bích Khê
2.3.2 Những biểu tợng nhục thể nổi bật trong thơ Bích Khê
2.4 Thế giới siêu thực, huyền bí
2.4.1 Một cõi chết đầy “đầu lâu”, “sọ ngời”, “nấm mộ”
2.4.2 “Một cõi trời” kì lạ và diễm ảo
Chơng 3: Nghệ thuật xây dựng thế giới biểu tợng trong thơ Bích
Khê
3.1 Sử dụng các lớp ngôn từ đa dạng, độc đáo
3.2 Các biện pháp tu từ
3.3 Sử dụng các yếu tố tiềm thức, vô thức (ảo giác, mộng, mơ )
3.4 Đặt các sự vật trong tơng quan đối lập, tơng phản
3.5 Tổ chức bài thơ theo lối tợng trng hoá
3.6 Nhạc tính trong thơ Bích Khê
Kết luận
Tài liệu tham khảo
6368727280858590
96103115121125130138141
Trang 6Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong đời sống con ngời, biểu tợng giữ một vị trí vô cùng quan trọng
Nó tồn tại ở khắp nơi, trong phong tục, lối sống cho đến tôn giáo, nghệ thuật và ngay trong bản thân chúng ta dẫu ta có nhận biết hay không Chính vì một thế giới biểu tợng sống trong và quanh chúng ta, cho nên, tất cả các ngành khoa học đang hợp lực để giải mã cho ra những ẩn ngữ do các biểu tợng đặt ra, trong đó có văn học Bởi bản chất của văn học là phản ánh hiện thực đời sống bằng hình tợng, nên hình tợng, mà cao hơn là biểu tợng, luôn dồn nén các tầng nghĩa, mở ra những khoảng trống cho tác phẩm Vì vậy, tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ ca của một tác giả thông qua việc giải mã thế giới biểu tợng là một hớng đi có ý nghĩa
1.2 Vào những năm đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc, trong đó có văn học Một trong những thay đổi lớn của nền văn học là sự xuất hiện của phong trào Thơ mới (1932 - 1945) Dù ra đời và phát triển trong khoảng thời gian không dài nhng Thơ mới đã có đóng góp hết sức to lớn cho văn học nớc nhà Chính nó đã mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại và
đã làm xuất hiện một loạt các nhà thơ mới với cá tính sáng tạo độc đáo nh: Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chơng Trong số
đó, Bích Khê là một trờng hợp khá đặc biệt Tác giả này bớc vào làng thơ rất sớm, khi còn tuổi thiếu niên và đã có nhiều bài thơ đạt đến trình độ già dặn, đợc nhiều bậc túc nho tán thởng Nhng đến năm 1936, ông không sáng tác theo lối thơ cũ mà lại đi theo lối sáng tác của thơ mới Vừa xuất hiện trên thi đàn Thơ mới, ông đã làm kinh ngạc biết bao ngời, bởi cách cảm thụ thế giới bằng cả cảm giác và trực giác, t-ởng tợng lẫn trí tuệ; bởi cách xây dựng các lớp hình tợng mới mẻ bằng một thứ
Trang 7ngôn ngữ quái đản, biến hoá, bất ngờ, táo bạo; và bởi lối diễn đạt mới lạ, giăng mắc, mê hoặc, ám ảnh Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, thơ Bích Khê vẫn cha đợc nhìn nhận, đánh giá và nghiên cứu một cách
đúng mức, thoả đáng
1.3 Việc sử dụng biểu tợng trong thơ không phải là một điều mới lạ Trong văn học phơng Đông, mà cụ thể là từ thời đại thơ Đờng của Trung Quốc (khoảng thế kỉ VIII), các nhà thơ đã biết sử dụng hệ thống hình ảnh ẩn dụ theo những mối quan hệ khác nhau để xây dựng thành tứ thơ Điều này ở Việt Nam đã có sự kế thừa, đặc biệt là văn học thời trung đại Tuy nhiên nếu thơ Đờng, nhất là thơ tứ tuyệt dùng các hình ảnh ẩn dụ để hớng đến nguyên tắc diễn đạt theo kiểu “ý tại ngôn ngoại” thì các nhà thơ mới Việt Nam (gắn liền với lối thơ tợng trng) trở đi, lại thờng dùng biểu tợng để mở ra một khoảng chân không, trống trải mời gọi sự tởng tợng của ngời đọc và xem đó nh là một phơng thức nghệ thuật mới để thể hiện những vấn đề của cuộc sống Nh vậy, việc tiếp cận đề tài theo hớng đi này không chỉ cho thấy đợc các lớp ý nghĩa đằng sau những biểu tợng trong thơ Bích Khê mà qua đó còn thấy đợc xu hớng vận động và phát triển của lịch sử văn học, qua nỗ lực tìm kiếm những phơng thức nghệ thuật phù hợp để thể hiện những vấn đề mới của cuộc sống và con ngời hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
Từ trớc đến nay, trong các công trình nghiên cứu về Bích Khê, vấn đề biểu ợng nghệ thuật trong thơ ông ít nhiều đã đợc đề cập đến Sau đây, trên cơ sở điểm qua quá trình nghiên cứu về thơ ông, chúng ta sẽ điểm lại những bài viết, những công trình đề cập hoặc có liên quan đến biểu tợng
t-Nhìn trên tổng thể, lịch sử nghiên cứu thơ Bích Khê có thể chia làm ba giai
đoạn: trớc năm 1945, từ năm 1945 đến năm 1975 và từ năm 1975 đến nay
2.1 Trớc năm 1945
Trang 8Bích Khê từng sáng tác thơ ca theo thể hát nói và Đờng luật ở giai đoạn đầu rồi sau đó mới chuyển sang lối thơ mới, in trên các báo Tiếng dân, Tiểu thuyết thứ Năm, Ngời mới Đơng thời ông chỉ mới kịp in tập Tinh huyết do Trọng Miên xuất
bản tại Hà Nội (1939) Tập thơ gồm 4 phần với tổng số 34 mục bài Do đó, thời kỳ này ngời ta bàn về thơ ông cha nhiều Có thể kể đến mấy bài viết của các tác giả
nh Hàn Mặc Tử, Trọng Miên, Hoài Thanh, Hoài Chân Hàn Mặc Tử trong bài tựa
Bích Khê - thi sĩ thần linh đã thực sự rung động, đồng cảm, nhập thân và nhiệt
thành đánh giá cao Bích Khê “Bích Khê là ngời có tài, có sẵn cái tài đã lâu, chỉ gặp cơ hội là phát triển, là bao nhiêu anh hoa đều tiết lộ ra ngoài” [40, 10] và không hết lời ca ngợi tài năng của ông “bắt cái vô hình trở nên hữu hình, khiến cái chết trở nên sống, cho sự vật câm không còn là câm nữa” [40, 20]
Cùng với Hàn Mặc Tử, Trọng Miên trong Lời bạt Tinh huyết, cũng đã có
những cảm nhận, khái quát ngắn gọn và đánh giá cao Bích Khê cả về nguồn cảm xúc và thi tứ đạt đến tột đỉnh mọi sắc độ: “Tinh huyết vang dội một nỗi đau khổ
tuyệt vọng phủ qua màu sắc truỵ lạc ồ ạt nh muốn chảy tràn vào đờng gân, mạch máu của tôi Nhạc và lệ, đẹp và dâm, cuồng và ánh sáng, Bích Khê hoà hợp thành một dòng Tinh huyết tân kỳ” [dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn, 54, tập1, 134]
Tiếp đến, Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam (1942) thì lại tỏ ra ngập
ngừng, e dè khi làm quen thơ Bích Khê Ông viết: “Tôi đã đọc không biết đọc mấy chục lần bài Duy tân, tôi thấy trong đó có nhiều câu thật đẹp Nhng tôi không dám
chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó hình nh vẫn còn gì nữa còn các bài khác hoặc cha xem hoặc mới đọc có đôi ba lần Mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng nh cha đọc” [67, 279] Dù thế nào thì đây cũng là những lời đánh giá thật sự thành thực của Hoài Thanh về thơ Bích Khê
Nh vậy, trong khoảng thời gian này, mặc dù ngời ta bàn về ông cha nhiều
nh-ng nhìn chunh-ng, nhữnh-ng nh-ngời đơnh-ng thời đã sớm nhận ra và đánh giá cao tài nănh-ng của Bích Khê
Trang 92.2 Từ 1945 đến 1975
2.2.1 ở miền Bắc, dới chế độ Xã hội chủ nghĩa
Những năm sau cách mạng, Bích Khê rơi vào một nghi án chính trị, tác phẩm của ông bị phê phán mạnh mẽ, bị coi là phản động có lợi cho địch, một phần tử
“tờrốtkít” Chính điều này đã giam hãm Bích Khê và thơ Bích Khê trong một thời gian dài Ngót 15 năm sau khi Bích Khê tạ thế (1946) tên tuổi cũng nh sự nghiệp của ông trôi vào dĩ vãng
2.2.2 ở miền Nam, dới chế độ Việt Nam cộng hoà
Do đặc thù của hoàn cảnh xã hội ở miền Nam, đến những năm 60 của thế kỉ
XX, việc nghiên cứu và giảng dạy văn học lãng mạn trong đó có phong trào Thơ mới đã đợc chú trọng Và Bích Khê cũng đợc biết đến nh một thiên tài thơ ca có những đóng góp lớn vào nền thi ca hiện đại Việt Nam Ngời mở đầu cho giai đoạn nghiên cứu này là Đinh Cờng với bài viết Cuộc đời và thi nghiệp Bích Khê đăng
trên tạp chí Văn hoá á Châu số 22 tháng 1 năm 1960 Năm 1963, Đinh Cờng có tiếp bài Nhạc và hoạ trong thơ Bích Khê, tác giả chỉ ra: “Bích Khê đã phát ra một
rung động mới mẻ và thờng dùng những biểu tợng để diễn tả những hình ảnh và những ý tởng khác lạ có đủ ma lực để gợi ra hay làm sáng tỏ đối tợng” [53, 164]
Và đến năm 1966, trên báo Văn, một tập san Văn học nghệ thuật có uy tín đợc xuất bản ở đô thị miền Nam trớc năm 1975, đã cho ra một số báo đặc biệt để tởng niệm Bích Khê: số 64 ra ngày 15/8/1966 Trên tập san này đã giới thiệu 8 bài viết đặc sắc của các tác giả là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học nh: Đôi nét về cuộc đời Bích Khê của Quách Tấn; Bích Khê có khuynh hớng chính trị không; Nhân nhớ Bích Khê và thơ bích Khê bàn về thơ tợng trng của Tam ích; Ngời em Bích Khê của
Lê Thị Ngọc Sơng
Trang 10trong các tiểu luận phê bình nh ý Văn 1 của Tam ích (1967), Thi nhân tiền chiến
(quyển hạ 1969), Đời Bích Khê của Quách Tấn (1971) Nhìn chung trong các bài
viết này, các tác giả đều tập trung nghiên cứu đời và thơ Bích Khê, đặc biệt là thơ Tuy các ý kiến của các bài viết nhiều khi cha thống nhất nhng nhìn chung, họ đều khẳng định Bích Khê là “nhà thơ của sáng tạo và cách tân, là ngời gieo hạt giống thơ cho mùa sau” (Trần Hoài Anh)
2.3 Từ 1975 đến nay
Sau khi nớc nhà độc lập, đặc biệt sau 1986, cũng nh Thơ mới nói chung, Bích Khê và thơ Bích Khê đợc nhìn nhận lại một cách khách quan và công bằng hơn Hàng loạt những bài viết với những kiến giải, phân tích khá sâu sắc và thấu đáo nối tiếp nhau xuất hiện Năm 1988, tập Thơ Bích Khê do Sở văn hoá thông tin Nghĩa
Bình phát hành, di sản thơ ca của thi nhân đã có dịp đến với ngời đọc tơng đối đầy
đủ
Ngoài ra, còn có một số công trình khác có giá trị nh: Bích Khê, khuôn mặt
độc đáo trong phong trào Thơ mới (Lê Hồng Khánh, 1990), Bích Khê, con chim yến của thời gian (Võ Tấn Cờng, 1995), Bích Khê- sự nhận thức ngôn từ (Đỗ Lai
Thuý, 1997)
Trong bài viết Bích Khê sự nhận thức ngôn từ– , in trong tập tiểu luận Mắt thơ (1997) của Đỗ Lai Thuý cũng đề cập đến biểu tợng trong thơ ông Theo tác giả,
Trang 11biểu tợng chính là ẩn dụ, biểu tợng trong thơ Bích Khê là những “biểu tợng phức”,
đó là một “phức thể các ấn tợng, những cảm giác hồi tởng, chiêm bao, huyễn tởng, tiềm thức và vô thức trùm lên không gian và thời gian có chức năng gợi nghĩa chứ không phải để miêu tả” [200]
Tiếp đến năm 2005, Nhà xuất bản Văn học đã cho ra đời cuốn 70 năm đọc thơ Bích Khê su tầm 59 bài thơ và 16 bài viết của nhiều tác giả đọc thơ Bích Khê
hơn 70 năm qua, nhằm mục đích để trân trọng và bảo tồn “một loại di sản văn hoá
có giá trị” [5]
Đến tháng 2 năm 2006, một Hội thảo về thơ Bích Khê đợc tổ chức tại Quảng
Ngãi để kỉ niệm 60 năm ngày mất của thi nhân Hội thảo đã gây đợc sự chú ý, thu hút sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu và các độc giả yêu thơ, đánh dấu sự trở
về của Bích Khê trong lòng quê hơng và dân tộc Gần 300 đại biểu là lãnh đạo các tỉnh, các giáo s tiến sĩ, các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học, nhà báo của nhiều tỉnh thành đã về dự Đây là cuộc hội thảo đầu tiên về thơ Bích Khê đ-
ợc tổ chức khá quy mô, với trên 40 tham luận của các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu có tên tuổi trong cả nớc Các tham luận: Đặc sắc thơ Bích Khê của nhà thơ Vũ
Quần Phơng, Tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê và giai đoạn phát triển thứ hai của thơ mới của nhà phê bình Lại Nguyên Ân; Bích Khê với ca trù của nhà thơ Nguyễn
Thuỵ Kha; Những đóng góp của Bích Khê vào nền thơ ca hiện đại Việt Nam của
giáo s Lê Hoài Nam v.v đều nói lên cái hay, cái đẹp trong thơ Bích Khê, cũng nh cuộc đời và sự nghiệp của ông đã cống hiến hết mình vì thi ca; đồng thời các tham luận cũng lên tiếng minh oan cho nhà thơ tài hoa nhng bạc mệnh này
Trong số đó, có nhiều bài viết đề cập và phân tích những dạng thức khác nhau của biểu tợng trong thơ Bích Khê nh ảnh hởng của Baudelaire trong thơ Bích Khê của Nguyễn Thị Đỗ Quyên ở bài viết này tác giả đã chỉ ra những điểm tơng
đồng giữa Bích Khê và Ch.Baudelaire trong quan niệm thẩm mỹ: “cái đẹp hiện diện ngay trong những cái hỗn độn xô bồ của cuộc sống” Đặc biệt là Bích Khê đã ảnh
Trang 12hởng và học tập Baudelaire “tính biểu trng”, tức là đều chủ trơng phản ánh thế giới bằng biểu tợng Đó cũng là lí do khiến Bích Khê chọn biểu tợng làm phơng tiện biểu hiện đắc lực trong thơ mình Tác giả còn cho rằng biểu tợng trong thơ Bích Khê đều là những “ mã hoá” đang cần những chìa khoá giải mã [54, tập 1, 26].
Một bài viết khác của Nguyễn Hồng Dũng, Edgar Poe, chủ nghĩa tơng trng Pháp và Bích Khê, cũng khẳng định thơ Bích Khê là “tiếng nói siêu nghĩa”, các từ
đợc dùng trong cấu trúc thơ và bài thơ bao giờ cũng ứng với tâm trạng, có sức biểu hiện cao độ, từ nghĩa một từ có thể gợi lên nghĩa của những từ khác [54, tập 1, 42]
Giáo s Lê Hoài Nam, trong bài viết: Những đóng góp của Bích Khê vào nền thơ ca hiện đại cuả Việt Nam, khẳng định về sự đóng góp của Bích Khê là “một kẻ
táo bạo trong nghệ thuật ngôn từ”, đã tạo ra đợc những hình ảnh mới mẻ đầy sức sống, mang nhiều tầng lớp ý nghĩa Từ thế giới hữu hình trớc mắt mà hình dung khám phá ra một thế giới huyền ảo khác bằng những so sánh, ẩn dụ bất ngờ táo bạo rất thú vị [54, tập 1, 66]
Ngoài ra, cũng trong tập sách này, còn có một số bài viết đề cập đến những
đối tợng cụ thể nh vấn đề nhục cảm hay là thân thể con ngời, nhng thực chất đây cũng là một trong những biểu hiện của thế giới biểu tợng Chẳng hạn, bài viết
Nhận diện Bích Khê của Lê Hồng Khánh, tác giả cũng rất đề cao cách viết về vấn
đề nhục cảm của thi nhân đợc diễn tả bằng “những hình ảnh nớc đôi” và với những
“thủ pháp phù thuỷ” [54, tập 1, 81]
Trong bài viết Vẻ đẹp hội hoạ trong thơ Bích Khê của Trần Thanh Hà, tác giả
cũng đề cập một số bài thơ có hình ảnh đẹp nhng gợi nhục dục song lại khẳng định
đó là sự tôn sùng ngợi ca cái đẹp “mỗi bài thơ là một mảng của đời là bức tranh riêng biệt để cùng tạo thành thế giới hình tợng đầy màu sắc trong thơ ông” [54, tập
1, 72]
Tác giả Lê Hoài Nam đã chỉ ra “những đóng góp của Bích Khê vào nền thơ
ca hiện đại Việt Nam”, trong đó có quan niệm về cái “đẹp” rất mới mẻ và phức tạp:
Trang 13“trong lịch sử thơ ca Việt Nam, Bích Khê là ngời đầu tiên phơi bày và ngợi ca cái
đẹp của cơ thể con ngời trong sự toàn vẹn của nó Ông không tránh né nói đến, miêu tả những bộ phận kín đáo của ngời phụ nữ, công nhiên bộc lộ những rung
động nhục dục” [54, tập 1, 63]
Còn Bích Thu, với bài viết Đi vào cõi thơ Bích Khê, tác giả cũng đề cập đến
vấn đề “phô diễn vẻ đẹp con ngời với cái nhìn nhục thể” đồng thời cũng thấy đợc
“ngời làm thơ nhân hoá với cái nhìn nhục cảm” khiến cho “thơ của thi nhân mê hoặc, ám ảnh, giăng mắc, buộc ngời đọc phải hơn một lần trở lại với thơ ông” [54, tập 2, 6]
Trong bài viết Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê, Trần Đình Sử lại chỉ ra
khá cụ thể, phân chia các bộ phận thân thể con ngời bằng ngôn ngữ nhng đó cũng chính là những phơng tiện để xây dựng những biểu tợng Ông còn viết “thân thể trong thơ Bích Khê thấm đợm hồn, cảm xúc thân thể đầy mỹ cảm” [54, tập 2, 24]
Tác giả Phạm Xuân Nguyên có bài Thi sỹ Bích Khê thi sỹ thần linh - thơ–
loã thể, cũng nói về những hình ảnh, chân dung của Nàng Đẹp nhng đó cũng chính
là những hình ảnh, những biểu tợng về thân thể con ngời [54, tập 1, 151]
Còn bài viết Tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê và giai đoạn phát triển thứ hai của thơ mới, Lại Nguyên Ân đã chỉ ra ở Tinh huyết có một số đặc điểm của chủ
nghĩa hiện đại Châu âu, rõ nhất là những biểu hiện tợng trng, siêu thực trong cách cảm nhận và thể hiện của nhà thơ đồng thời làm sáng tỏ qua một số hình ảnh nói về thân thể con ngời đợc láy đi láy lại [54, tập 1,123]
Đặc biệt, bài Những vần thơ tinh kết hạt châu trong“ ” của Nguyễn Thành Thi
đã chỉ ra nguyên nhân và cách thể hiện hình ảnh trong thơ Bích Khê “với cái nhìn con ngời và thế giới mơn trớn, đắm say nh vậy, thơ Bích Khê tạo tác cả một thế giới hình ảnh riêng” Tác giả còn chỉ ra “hình ảnh trong thơ Bích Khê trớc hết là hình
ảnh tợng trng siêu thực Chúng có thể đợc xây dựng theo lối so sánh, ẩn dụ, lối “so sánh cụt”, “ẩn dụ cụt” khiến cho chúng thành kỳ dị độc đáo quyến rũ nhiều khi
Trang 14đẹp lộng lẫy Hình ảnh trong thơ ông đợc xây dựng trên những liên tởng “kép”,
đứt đoạn, rất phức tạp, rất bất ngờ trong một trạng thái tinh thần dờng nh nửa tỉnh nửa mê sảng Theo đó nhiều hình ảnh trở thành biểu tợng phức hợp đa nghĩa và cũng theo đó tạo ra một thế giới hình ảnh thơ theo kiểu Bích Khê: thợng giới, trần gian và địa ngục đều đẹp, buồn và gợi nhục cảm nh nhau” [54, tập 2, 56-57]
Trong bài viết Một vì sao sớm tắt của Trịnh Hoàng Mai, tác giả đã chỉ ra
những hạn chế trong cách xây dựng hình tợng, trong kỹ thuật phô diễn còn chịu nhiều ảnh hởng bên trời âu Nhng đồng thời cũng không quên khẳng định những hình tợng đẹp đẽ hoành tráng trong tập thơ Tinh hoa, khẳng định tài năng của Bích
Khê đợc thể hiện trong việc xây dựng những biểu tợng, tợng trng đợc nhào nặn từ những hình ảnh cũ hay nói cách khác là lạ hoá những ẩn dụ cũ [54, tập 2, 46]
Cũng trong năm 2006, để kỉ niệm 90 năm sinh và 60 năm mất của thi nhân, trên Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 4) cũng đăng năm bài viết về thơ Bích Khê
Năm bài viết này không phải hoàn toàn mới nhng điều đó cho thấy vị trí Bích Khê
và thơ Bích Khê không chỉ tồn tại trong một phạm vi hẹp mà thực sự đã trở về trong lòng quê hơng và dân tộc Trong số bài viết này, có bài Bích Khê và cách đánh giá của Hoài Thanh của Hoàng Thị Huế Ngoài việc đề cập đến nguyên nhân vì sao
Hoài Thanh lại có sự dè dặt trong cách đánh giá Bích Khê, tác giả còn rất đề cao quan niệm và sáng tác của trờng thơ Loạn nói chung và Bích Khê nói riêng “đã có những cách tân và thể hiện khá mới mẻ, tân kì từ cách sử dụng ngôn từ giàu nhạc tính, đến hình ảnh, biểu tợng thơ” [101] Đồng thời tác giả còn ca ngợi cách xây dựng hình ảnh thơ trong thơ Bích Khê “là những biểu tợng mà lô gic thông thờng của lí trí không sáng tạo ra đợc”[102]
Ngoài những công trình trên, còn có thể kể tới những luận văn khoa học cũng đề cập đến thơ Bích Khê nh khoá luận tốt nghiệp của Vơng Hải Anh (2007) với đề tài Thơ trữ tình Bích Khê, trong đó cũng bàn về biểu tợng với t cách là một
trong những phơng thức thể hiện độc đáo của thơ Bích Khê Tác giả cũng khẳng
Trang 15định biểu tợng trong thơ Bích Khê là những biểu tợng kép - biểu tợng trùng phức
“nét độc đáo nổi bật ở hệ thống biểu tợng trong thơ Bích Khê là dung hợp rất nhiều
ý nghĩa khác nhau thậm chí đối lập nhau, các lớp ý nghĩa này liên tục gia tăng và dịch chuyển, biến hoá ngay trong một văn bản, tơng ứng với nhau trên dây chuyền của ngữ nghĩa” [74]
Luận văn thạc sĩ khoa học của Trần Thị Lam (2007) có đề tài Đặc sắc ngôn ngữ thơ Bích Khê cũng đề cập đến những biểu tợng trùng phức với t cách là một
trong những biện pháp tu từ đã tạo nên trong thơ ông một chiều sâu mĩ cảm mới,
đồng thời tạo nên “sức gợi mở lớn và khả năng dân chủ hoá mạnh mẽ trong việc tiếp nhận thơ” [104]
Đặc biệt trên Internet, có rất nhiều trang web có nhiều bài viết về Bích Khê, hay liên quan đến Bích Khê nh Trang thơ Bích Khê- nơi gặp gỡ những ngời yêu thơ Bích Khê (Bichkhe.org) có bài T duy nghệ thuật thơ Bích Khê, nhìn từ các cấp độ hình tợng thơ; Bích Khê từ Tinh huyết thần dị đến Tinh hoa thần linh (2007) của
Trần Thị Thu Hà , Trang Thuykhe.free.fr cũng có một số bài nh Thi pháp Bích Khê, Nhạc và hoạ trong thơ Bích Khê, ảnh hởng thơ Pháp trong thơ mới và thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử (2009), và các trang evăn.com.vn, NLĐ.com.vn, vietbao.vn,
Trong số này đáng chú ý nhất là bài viết trích từ luận văn thạc sĩ của cô giáo Trần Thị Thu Hà: T duy nghệ thuật thơ Bích Khê- nhìn từ cấp độ hình tợng thơ, đã
mang lại cho ngời đọc cảm xúc mới lạ về một thế giới nghệ thuật thơ đầy biến ảo
mà vẫn hết sức dung dị và vô cùng thân thuộc Đó là hình tợng cuộc đời “thơm nh sữa lúa” với “muôn màu sắc khoái lạc” và “những hơng thơm thanh khiết”, con ng-
ời chứa một trời thơng” với tình yêu cuộc sống, tình yêu nghệ thuật, thi ca; “những rung động truyền thần” với “đờng kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới” “những lời thơ lóng đẹp hạt châu trong” Quả thật đó là những hình tợng thân thiết nhng cũng rất mới lạ qua cách sử dụng một lớp ngôn từ và hình ảnh độc đáo
Trang 16Nh vậy, với việc điểm qua những công trình, bài viết liên quan đến thơ Bích Khê, chúng tôi thấy rằng, viết về ông tuy ít nhng hầu nh thời nào cũng có Có ý kiến thì đề cao khẳng định thơ ông và những cách tân về thơ; có ý kiến thì vẫn còn
dè dặt, phân vân Mặc dù còn có nhiều cách tiếp cận không giống nhau nh thế là
do khác nhau về tâm lí, về thời đại song nhìn chung, các tác giả đều khẳng định
vẻ đẹp cuộc đời và thơ Bích Khê với những giá trị mới lạ, nó nh là một “viên ngọc quý một loại di sản văn hoá có giá trị cần đợc trân trọng và bảo tồn” [53, 5]
Còn với những bài viết, những công trình có đề cập đến biểu tợng trong thơ Bích Khê, nhìn chung, cha lý giải một cách hệ thống về thế giới biểu tợng trong thơ
ông; chúng mới dừng lại ở từng khía cạnh riêng lẻ, những nhận định của các tác giả phần nhiều còn tản mác Chính vì thế, khiến cho ngời đọc trong quá trình tìm hiểu
và cảm nhận về thơ Bích Khê cha có một cái nhìn bao quát và toàn diện về những
đóng góp của ông.Trong điều kiện nh vậy, chúng tôi cố gắng đa ra một cách nghiên cứu tơng đối có tính hệ thống về thế giới biểu tợng trong thơ Bích Khê, trên cơ sở tiếp thu có lựa chọn của những công trình trớc Hi vọng luận văn này sẽ đem lại cho những ngời yêu thơ Bích Khê một cái nhìn có tính hệ thống và toàn vẹn hơn về thế giới biểu tợng trong thơ ông; từ đó thấy đợc vai trò của ông trong tiến trình vận
động của thơ ca hiện đại
3 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là Thế giới biểu tợng trong thơ Bích Khê
Trong rất nhiều công trình su tầm, tuyển chọn, giới thiệu thơ Bích Khê, chúng tôi lựa chọn t liệu Thơ mới 1932 - 1945 tác giả và tác phẩm của Nhà xuất bản Hội nhà
văn (2004) để khảo sát T liệu này gồm 75 bài thơ đợc biên soạn lại và có tham khảo các bản in có trớc (nh Bích Khê - Tinh huyết – Trọng Miên xuất bản in tại
nhà in Thuỵ Ký, Hàng Gai, H, 1939; Thơ Bích Khê, Chế Lan Viên, Hà Giao, Thanh
Mừng su tầm và tuyển chọn, Sở văn hoá thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1988; Bích
Trang 17Khê - Tinh hoa và Tinh huyết, Nguyễn Thanh Mừng biên soạn, Tủ sách thế giới văn
học, Nxb Hội nhà văn, H, 1992; Bích Khê – Tinh hoa – Lê Thị Ngọc Sơng su
tầm, Lê Hoài Nam giới thiệu, Nxb Hội nhà văn, H 1997 )
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Từ một số quan niệm và cách lý giải khác nhau về khái niệm biểu tợng, soi chiếu vào thơ Bích Khê để phác thảo đợc diện mạo thế giới biểu tợng trong thơ ông
- Chỉ ra các đặc điểm của thế giới biểu tợng trong thơ Bích Khê, trên cơ sở khảo sát, thống kê, phân tích, mô tả đặc điểm các tầng ý nghĩa của một số biểu t-ợng nổi bật
- Tìm hiểu, phân tích các thủ pháp, các phơng thức xây dựng biểu tợng để ớng tới lý giải nét độc đáo của hiện tợng văn học này
h-5 Phơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phơng pháp chủ yếu sau:
5.1 Phơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại: trên cơ sở 75 bài thơ, thống kê
và phân loại có định hớng các biểu tợng nổi bật
5.2 Phơng pháp phân tích, tổng hợp: từ các biểu tợng đã thống kê, phân loại, chỉ ra đợc ý nghĩa của nó
5.3 Phơng pháp so sánh, đối chiếu: so sánh với các nhà thơ cùng phong cách
để thấy đợc nét độc đáo trong cách sử dụng các biểu tợng của Bích Khê
6 Cấu trúc luận văn:
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn đợc triển khai thành 3 chơng nh sau:
Chơng 1: Tổng quan về biểu tợng và thế giới biểu tợng trong thơ
Bích Khê
Trang 18Ch¬ng 2: §Æc ®iÓm cña thÕ giíi biÓu tîng trong th¬ BÝch Khª Ch¬ng 3: NghÖ thuËt x©y dùng thÕ giíi biÓu tîng trong th¬ BÝch
Khª
Trang 19Chơng 1:
Tổng quan về biểu tợng và thế giới biểu tợng
trong thơ Bích khê
1.1 Khái niệm biểu tợng
Thời nguyên thuỷ, khi cha có t duy luận lí, con ngời t duy thông qua các biểu tợng Biểu tợng thời đó đợc dùng để chỉ một vật đợc cắt làm đôi: mảnh sứ, gỗ, kim loại Hai ngời (chủ - khách, ngời cho vay - ngời vay, hai kẻ hành hơng, hai ngời sắp chia tay lâu dài) mỗi bên giữ một phần Sau này, ráp hai mảnh lại với nhau, họ
sẽ nhận ra mối dây liên hệ ngày trớc “Biểu tợng chia ra và kết lại với nhau, nó chứa đựng ý tởng phân li và tái hợp, mọi biểu tợng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập
vỡ ý nghĩa của biểu tợng bộc lộ ra trong cái vừa gãy vỡ, vừa là nối kết những phần của nó bị vỡ ra” [7, 23] Điều này cũng có nghĩa là với ngời xa, biểu tợng là dùng
để chỉ một vật, gọi tên một sự vật nào đó Biểu tợng là một trong những hình thức tín hiệu mà con ngời sử dụng để giao tiếp Nh vậy, khi con ngời thoát thai khỏi loài thú, cái gọi là biểu tợng đã tồn tại nh một bộ phận cấu thành đời sống tinh thần của con ngời Về sau, khi tri thức nhân loại đã đạt đến một trình độ nhất định để có thể
ý thức đợc sự tồn tại của biểu tợng và có nhu cầu khám phá nó, lúc đó biểu tợng
đ-ợc hiểu nh là những hình ảnh tợng trng đđ-ợc cả một cộng đồng dân tộc (có khi hơn một dân tộc) cùng chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian lâu dài
Sự tạo thành biểu tợng trong tâm thức nhân loại là một quá trình vô thức,
nh-ng tự bản thân chúnh-ng thể hiện nỗ lực của con nh-ngời muốn xuyên qua bức màn mờ mịt của hiện thực, vợt lên những kinh nghiệm cảm tính cá nhân đơn lẻ để nhận thức
Trang 20về một thực tại siêu việt bị che lấp Không phải ngẫu nhiên mà khát khao khám phá những bí ẩn huyền nhiệm là khát vọng thờng trực trong bản tính con ngời.
Với con ngời hiện đại, thờng xuyên sử dụng các biểu tợng, “chúng khoác lên các ớc mơ một diện mạo, chúng xúi giục một toan tính nào đó, chúng nhào nặn một lối ứng xử, chúng khơi mào cho thành công hay thất bại” [XIII] Và biểu tợng trở nên quen thuộc trong đời sống hàng ngày cũng nh trong nghiên cứu khoa học Khái niệm biểu tợng (symbole) xuất hiện lần đầu tiên năm 1886 trong bài viết có tựa đề
quen dùng đến khái niệm này Tuy nhiên, khi bàn về khái niệm biểu tợng thì có rất nhiều cách hiểu, nhiều kiến giải khác nhau, bởi chính khái niệm này có sự vận
động, lại tồn tại trong những môi trờng văn hoá khác nhau và vai trò nó cũng khác
“tại đây” và “lúc này” Và các nhà nghiên cứu đã cố gắng nhận ra đợc cái mẫu số chung và các sắc thái ý nghĩa riêng của biểu tợng trong từng cách hiểu của mình
1.1.1 Khái niệm biểu tợng nhìn từ góc độ văn hoá
Về khái niệm văn hoá, Unesco định nghĩa: “Văn hoá là tập hợp hệ thống các biểu tợng, nó quy định thế ứng xử của con ngời và làm cho số đông ngời có thể giao tiếp với nhau, liên kết thành một cộng đồng riêng biệt” Với khái niệm này, cho thấy biểu tợng là một yếu tố quan trọng cấu thành văn hoá cộng đồng, nó vừa góp phần làm nên bộ mặt của nền văn hoá ở những đờng nét cơ bản nhất, lại vừa làm nên cái bề dày, bề sâu của truyền thống Vì lí do đó, biểu tợng là một đối tợng nghiên cứu cơ bản trong văn hoá học, không thể xác định đợc diện mạo của một nền văn hoá cũng nh mối quan hệ giữa các nền văn hoá khác nhau nếu không xác
định đợc hệ biểu tợng cấu thành nền văn hoá này
Trong Từ điển biểu tợng văn hoá thế giới, các soạn giả đã rất cố gắng đa ra
cách hiểu về biểu tợng từ góc độ văn hoá, trên cơ sở so sánh biểu tợng với một số thuật ngữ mà hay bị lẫn lộn nh: dấu hiệu (gồm biểu hiện, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ,
Trang 21loại suy, triệu chứng, dụ ngôn, ngụ ngôn luân lí) và kí hiệu Từ đó, họ đi đến kết luận: biểu tợng phong phú hơn một dấu hiệu, kí hiệu đơn thuần Và khi đề cập đến bản chất của biểu tợng thì họ cũng khẳng định “bản chất khó xác định và sống
động” bằng cách lần theo lịch sử và điểm qua một số cách hiểu nổi bật về biểu ợng, chẳng hạn nh cách hiểu của một số nhà phân tâm học nh S.Freud, C.G.Jung, R.de.Becker
t-Theo Freud, “biểu tợng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tợng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một t tởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng” [XXIV] Với cách hiểu này thì biểu tợng luôn là những tiếng nói của những ham muốn bị dồn nén (theo Freud, đó là những ham muốn tính dục), những xung đột chìm sâu trong vô thức của con ngời
C.G.Jung, môn đệ xuất sắc của Freud, với hớng đi riêng của mình cũng có rất nhiều đóng góp có giá trị trong kiến giải biểu tợng Từ lí thuyết về vô thức tập thể, G.Jung cho rằng tất cả những biểu tợng của con ngời dù phong phú đa dạng
đến đâu, đều có cấu trúc là những mẫu gốc Mẫu gốc là những vết tích tâm lí hình thành từ thời nguyên thuỷ, di truyền theo loài và tạo thành những cấu trúc tâm thần gần nh phổ biến của loài ngời Biểu tợng mẫu gốc, do đó nối liền cái phổ quát với cái cá thể Và đây là cách định nghĩa của tác giả về biểu tợng: “Biểu tợng là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh Biểu tợng không gắn bó chặt gì hết, nó không cắt nghĩa, nó đa ta ra bên ngoài chính nó đến một ý nghĩa còn nằm ở tận phía ngoài kia không thể nắm bắt,
đợc dự cảm một cách mơ hồ và không có từ nào trong ngôn ngữ của chúng ta có thể diễn đạt thoả đáng”[XXIV]
Còn R.de.Becker thì lại “ví biểu tợng với một khối tinh thể phục nguyên lại theo cách khác nhau, nguồn sáng tuỳ theo từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng Và
ta còn có thể nói nó là một thể sống, một mẫu của con ngời ta đang chuyển động và biến đổi Đến mức cứ nhìn ngắm nó, bắt nó nh là đối tợng suy ngẫm, thì cũng tức là
Trang 22ta đang nhìn ngắm chính cái quỹ đạo ta sắp lần theo, ta nắm bắt cái hớng vận động
đang lôi kéo con ngời ta đang đi tới”[XXV] Với cách hiểu này, thì biểu tợng phụ thuộc vào chủ thể tiếp nhận, tức là nó chỉ tồn tại ở bình diện chủ thể nhng trên cơ
sở bình diện khách thể Và cũng do bản chất sống động và biến đổi của biểu tợng,
để nắm bắt đợc nó ngời đọc phải tìm đợc “quỹ đạo” phải thực sự “sống” với nó thì mới có thể hiểu đợc nó
Nghiên cứu biểu tợng văn hoá không thể không bàn đến chức năng của nó Cũng trong công trình này, vấn đề chức năng của biểu tợng đã đợc J.Chevalies đề cập đến một cách có hệ thống và toàn diện Theo tác giả, biểu tợng văn hoá có các chức năng cơ bản sau: chức năng nhận thức (khám phá, thăm dò, đa dẫn đến cái ch-
a biết trong nhận thức về thực tại); chức năng biểu hiện; chức năng trung chuyển (liên kết các yếu tố của đời sống văn hoá: con ngời và vũ trụ, cái nội tại và cái siêu tại, giữa các góc độ tinh thần); chức năng giáo dục và trị liệu (điều chỉnh và hoàn thiện nhân cách con ngời trong các mối quan hệ nói trên); chức năng xã hội hoá (tạo ra đặc trng của một thời đại, một nền vă hoá, là cơ sở cho sự giao lu, thẩm thấu của các nền văn hoá); chức năng siêu nghiệm (thiết lập mối liên thông giữa các năng lực đối kháng tinh thần và từ đó vợt lên mở đờng cho sự tiến bộ của ý thức) Chức năng của biểu tợng thơ ca là sự hiện thực hoá các chức năng của biểu tợng văn hoá thông qua nghệ thuật ngôn từ Từ đó, họ khẳng định vai trò của biểu tợng
“một thế giới không có biểu tợng thì sẽ ngạt thở: nó sẽ tức thì giết chết đời sống tinh thần của con ngời”[XXXII]
Trên đây là một số kiến giải về biểu tợng mà các soạn giả Từ điển biểu tợng văn hoá thế giới trích dẫn, những kiến giải này phần nào đã làm sáng tỏ đợc bản
chất của biểu tợng trong đời sống văn hoá Tuy nhiên, họ cũng không đa ra đợc một
định nghĩa, một khái niệm về biểu tợng mang tính cụ thể, xác định, bởi họ quan niệm “không có cách gì định nghĩa đợc biểu tợng Tự bản chất của nó, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm” [XIV]
Và họ còn khẳng định “việc hiểu biểu tợng phụ thuộc vào một sự tiếp nhận trực tiếp
Trang 23nào đó của ý thức nhiều hơn là vào các môn học thuần lí Lối phân tích bằng cách cắt vụn và đập nhỏ ra không thể nắm bắt đợc sự phong phú của biểu tợng, trực giác không phải bao giờ cũng đạt đợc điều đó; phải tổng hợp và đồng cảm hết mực nghĩa là chia sẻ và cảm nghiệm một cách nhìn nào đó về thế giới Mỗi biểu tợng
là một vũ trụ vi mô, một thế giới toàn vẹn Không thể nắm bắt đợc cái ý nghĩa toàn vẹn bằng cách tích luỹ các chi tiết theo lối phân tích: cần có cái nhìn gần nh là nhất lãm” [XXVII] Nh vậy, ta cũng thấy rằng, để định nghĩa và hiểu thấu đáo đợc biểu tợng là điều không phải dễ dàng
Các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong hành trình phát triển của mình
có sự gặp gỡ nhau ở biểu tợng Biểu tợng là chiếc cầu nối văn hoá, văn học, tín ỡng, tôn giáo, tâm lí học , bởi rằng đây là những lĩnh vực khác nhau những hình thái khác nhau phản ánh thế giới tâm linh con ngời Khó mà hiểu sâu sắc biểu tợng trong riêng một lĩnh vực nào đó nếu không đặt nó trong mối quan hệ liên tởng đối chiếu rộng rãi với các lĩnh vực khác
ng-1.1.2 Khái niệm biểu tợng nhìn từ góc độ văn học
Thế giới biểu tợng trong văn chơng vô cùng phong phú Từ những sự vật nhỏ
nh chiếc gơng, ngọn đèn cho đến những sự vật lớn nh núi sông, biển ; từ cái bình thờng nhất: khăn, nón, áo cho đến cái sang trọng giá trị nhất: ngọc, vàng, bạc ; từ thực vật: hoa sen, hoa lan, hoa huệ, cây liễu, cây đa cho đến các động vật: con cò, con kiến, con quạ ; từ những thi liệu văn học bình dân: cái giếng, hạt ma đến những thi liệu văn chơng bác học: phụng hoàng, loan, phợng ; và những cái có thể xem là ghê rợn: sọ ngời, máu, hồn ; từ những bộ phận thân thể của con ngời, kể cả những bộ phận kín đáo nhất tất cả đi vào văn chơng một cách hết sức
tự nhiên và đều có thể trở thành biểu tợng Những hình ảnh đó đều nhằm một mục
đích: làm thế nào để thể hiện tốt nhất, sâu sắc nhất tâm t, tình cảm, thế giới tâm trạng của con ngời
Trang 24Nh ta đã biết, chất liệu trực quan ban đầu của biểu tợng không phải là ngôn
từ mà là các vật thể, hành động, trạng thái cụ thể nhng có khả năng biểu hiện một
ý nghĩa rộng hơn chính bản thân nội dung trực tiếp của hình thức cảm quan cụ thể
ấy Và khi đi vào văn học, chúng trở thành những hình ảnh, hình tợng và cao hơn là những biểu tợng Nh vậy, hình tợng, biểu tợng trong văn học chính là sự chuyển hoá các hệ biểu tợng này vào hình thức âm thanh ngôn ngữ Chúng là phi vật thể nhng lại có khả năng gợi ra cái bản thể sự vật hiện tợng, hành động dựa trên sự kích thích của trí tởng tợng độc giả Nhng cũng dới góc độ văn học, ta cũng cần thấy rõ
đợc nét khác biệt giữa hình tợng và biểu tợng
Trớc hết, hình tợng là phơng tiện cơ bản để khái quát hiện thực Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Hình tợng nghệ thuật là sản phẩm của phơng thức
chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của nghệ thuật Bất cứ hiện tợng nào của đời sống đợc nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật, đều là hình tợng nghệ thuật” [122] Tác giả Sơn Tùng trong bài viết Hình t- ợng nghệ thuật trong văn học cũng khẳng định: “hình tợng nghệ thuật là một hình
thức đặc biệt phản ánh hiện thực khách quan, thể hiện cái bản chất, cái quy luật trong những hình tợng cụ thể, những nhân vật cá biệt Nó là một bức tranh sinh
động, tổng hợp hoàn chỉnh về đời sống và con ngời do nhà văn sáng tạo ra để đem lại cho ngời đọc một ấn tợng và một cảm xúc sâu sắc về đời sống và con ngời, làm cho ngời đọc nhận thức đợc chân lí của đời sống, nâng cao đợc t tởng và tình cảm ”[75, 74]
Nh vậy, hình tợng là một hình thức, một phơng tiện để phản ánh hiện thực, tuy nhiên, không thể đồng nhất một cách máy móc cái đợc thể hiện trong tác phẩm với hiện thực khách quan Bởi vì, khác với phản ánh thông thờng, phản ánh nghệ thuật không phải là sự sao chép, chụp ảnh hiện thực mà là một sự phản ánh năng
động, sáng tạo đầy tính chủ quan Và nghệ thuật cũng không thể ôm trùm, chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ quá trình của nó, vì hiện thực là cái gì vô cùng đa diện,
Trang 25phức tạp biến hoá vô cùng, luôn vận động và biến chuyển Phản ánh nghệ thuật cũng chỉ chiếm lĩnh đợc vài khía cạnh nào đó của chân lí khách quan, nhng với vai trò sáng tạo cao độ của chủ thể, hiện thực đợc chiếm lĩnh kia đợc nhào nặn tái tạo thành một sinh thể có sức sống nội tại, một “tiểu vũ trụ” với chiều sâu vô tận những quy luật, những quá trình sinh hoá không ngừng Hiện thực trong tác phẩm không còn là hiện thực khách quan nữa mà thấm đẫm chủ quan nghệ sĩ Và khi đó, ngời ta ngầm định mỗi tác phẩm là một thế giới mang tính biểu tợng, chấp nhận những quy luật riêng, những nguyên tắc, những tỉ lệ riêng của cái mô hình về đời sống đó Chỉ với hình thức mang tính biểu tợng nh thế, văn học nghệ thuật mới có thể chiếm lĩnh
đợc những chân lí phổ quát ở dạng sinh động cụ thể, cảm tính Nh vậy, ở đây, tính biểu tợng là một đặc trng mang bản chất của hình tợng nghệ thuật làm cho hình t-ợng là sự phản ánh hiện thực nhng không bao giờ là chính bản thân hiện thực
Vậy thì, giữa biểu tợng và hình tợng nghệ thuật có mối liên hệ gì với nhau hay thực chất chúng là một? Trong giới nghiên cứu, có ý kiến cho rằng sự khác nhau cơ bản giữa hình tợng và biểu tợng là ở tần số lặp lại, hình tợng xuất hiện nhiều lần thì đợc gọi là biểu tợng, Hồ Lê đã cho rằng biểu tợng là “tập hợp vững chắc của nhiều hình ảnh khác nhau” [dẫn theo Bùi Công Hùng, 31, 70] Cũng có ý kiến ngợc lại, những hình tợng thể hiện chủ đề chính của tác phẩm thì gọi là biểu t-ợng Nhìn chung, những ý kiến đó, cha cho thấy rõ mối quan hệ giữa chúng, và trong thực tế, nhiều khi các thuật ngữ này bị dùng lẫn lộn Tác giả Thái Thị Phơng Chi cho rằng: “biểu tợng và hình tợng là hai cấp độ khác nhau Biểu tợng thuộc cấp
độ bản thể và hình tợng là cấp độ biểu hiện của biểu tợng ấy trong một ngữ cảnh cụ thể Biểu tợng là chung, là tiềm ẩn, hình tợng là cá thể, là biểu hiện Biểu tợng phổ biến, khả biến, hình tợng độc đáo đơn nhất, sống động không lặp lại” [8, 20] Tác giả Bùi Công Hùng không những chỉ ra điểm khác nhau mà còn thấy đợc mối quan hệ giữa chúng: “biểu tợng có phần mơ hồ biến đổi, một phần nào thuộc vào vô thức, tiềm ý thức, đến từ bản năng của cơ thể con ngời Biểu tợng cũng góp phần lớn chuyển sang hình ảnh Hình tợng định hình in trên bề mặt bài thơ, câu thơ
Trang 26Muốn tìm hình tợng đó thì chỉ cần đọc bài thơ, câu thơ là tìm đợc Còn biểu tợng có khi còn lại, có khi đã biến mất, hoà vào hình tợng rồi” [31, 69]
Quả thật, giữa hai cấp độ này vừa có điểm khác nhau, vừa có mối quan hệ với nhau, biểu tợng sẵn có là tài sản chung của mọi ngời, hình tợng khai thác biểu tợng trong nghệ thuật qua quá trình chuyển nghĩa, bổ sung ý nghĩa cho biểu tợng Hình tợng là biểu tợng từ bình diện văn hoá chuyển sang bình diện chủ thể, cá thể, hiện tại C.Jung nhận xét: “Tác phẩm hiện ra trớc mắt chúng ta là hình tợng đợc chế tác theo nghĩa rộng nhất của từ này Hình tợng này có thể phân tích đợc chừng nào chúng ta có khả năng nhận biết biểu tợng trong nó Ngợc lại khi ta không đủ sức khám phá ý nghĩa biểu tợng của nó, vậy là ta thừa nhận ít nhất đối với chúng ý nghĩa tác phẩm chỉ là ở cái nó nói ra một cách rõ rệt, hay nói cách khác nó đối với
ta chỉ có thế” [55, 77] Nh vậy, những hình tợng nghệ thuật có ý nghĩa tợng trng thì cũng chính là biểu tợng
Tuy nhiên, theo Trần Đình Sử, không phải hình tợng nghệ thuật thực sự nào cũng có ý nghĩa tợng trng Hegel nói: “Hình tợng với t cách là tợng trng mà biểu hiện ra là một tác phẩm nghệ thuật đợc sáng tạo, một mặt vừa cho thấy đặc điểm của nó, mặt khác lại bộc lộ một ý nghĩa phổ biến sâu rộng hơn cái sự vật cá biệt đ-
ợc miêu tả ra Do đó hình tợng tợng trng giống nh là một câu đố đòi hỏi chúng ta
đi tìm kiếm cái ý nghĩa nội tại đằng sau hình tợng” Học giả Mỹ Laorenxơ Perine trong bài Âm thanh và ý nghĩa của thơ thì định nghĩa gọn hơn: “Tợng trng là cái vật
nào đó có một ý nghĩa rộng lớn hơn chính nó” [dẫn theo Trần Đình Sử, 65, 60]
Nh vậy, mặc dù ở hai cấp độ khác nhau nhng những hình tợng nghệ thuật nào có ý nghĩa tợng trng vẫn đợc xem là biểu tợng Biểu tợng là loại hình tợng thiên
về ý nghĩa tợng trng, cái ý nghĩa vợt thoát ra ngoài mặt cảm tính cụ thể của hình ợng Nói cách khác, cái cảm tính, cụ thể ở đây đóng vai trò “ám thị” gợi thức sự cảm nhận về một hiện tợng mang tầm phổ quát Biểu tợng là một sự khái quát đầy năng động cho ta chiếm lĩnh thực tại trong chiều sâu bản chất của nó mà không làm mất đi sự cảm thụ sống động tinh tế nh ấn tợng tơi mới về hiện thực Biểu tợng
Trang 27t-nghệ thuật phải trải qua sự nhào nặn, tinh chế, mài giũa của ngời t-nghệ sĩ và phải
đạt đến trình độ cao trong khái quát hiện thực, chạm đến những miền mơ hồ sâu xa trong tâm thức nhà văn và gợi nó ra dới một hình thức cảm tính, nó phải có khả năng nhận thức, lây lan tạo sự cộng hởng mạnh mẽ trong lòng ngời đọc
Ngoài ra, nét đặc trng của biểu tợng còn thể hiện trong cấu trúc, trong phơng thức xây dựng nên nó Khi ngữ cảnh trực tiếp của tác phẩm càng mơ hồ thì ý nghĩa tợng trng của hình tợng càng cao Bởi vậy, so với các loại hình tợng khác, biểu tợng
đợc nuôi sống trong một “dung môi” đặc biệt Ngữ cảnh thờng bị làm cho mờ nhoè, những chi tiết hình ảnh cụ thể đợc tổ chức nhằm cố định hoá, vĩnh viễn hoá những
ấn tợng của nhà văn về cuộc sống ở đây, tính ớc lệ ngay từ đầu đã đợc tô đậm, đợc nhấn mạnh tạo nên một thế giới mang tính biểu trng cao độ Có thể nói, biểu tợng
là sự thể hiện rõ nhất tính mơ hồ đa nghĩa của văn học, nó thu hút ngời đọc đi vào một cuộc tìm tòi bất tận về ý nghĩa cuộc đời
Nh vậy, khi nói đến tính mơ hồ đa nghĩa, cái tính chất tạo nên sự mê hoặc, sức thu hút kì lạ của văn học, nói đến tính nghệ thuật của một tác phẩm văn học, cái địa hạt riêng của cuộc sống mà chỉ văn học mới chạm tới đợc, thì chúng ta không thể không xét đến biểu tợng nh một phơng thức biểu hiện đặc biệt của văn học
Cuộc sống với muôn vàn sắc thái, trạng huống, là nguồn cảm xúc vô tận ùa phả vào tâm hồn nghệ sĩ vốn dĩ nhạy cảm tinh tế Thế giới khách quan rộng lớn bao nhiêu thì đời sống sáng tác của ngời nghệ sĩ phong phú, đa sắc bấy nhiêu Hơn nữa, lăng kính nghệ thuật của ngời nghệ sĩ không lặp lại, họ là những cá thể riêng, những cá tính riêng Và cách nhìn, cách cảm cách xử lí ngôn ngữ của họ còn bị chi phối, ảnh hởng mạnh mẽ từ văn hoá dân tộc Điều này phần nào lí giải vì sao cùng một biểu tợng lại có cách hiểu khác nhau ở từng đất nớc, ở từng ngời nghệ sĩ
1.1.3 Khái niệm biểu tợng trong thơ và loại hình thơ tợng trng
Trang 281.1.3.1 Biểu tợng trong thơ dân gian, thơ cổ điển và thơ hiện đại
Trong lịch sử văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, biểu tợng từ chỗ xuất hiện một cách tự phát, dần dần đợc ý thức nh một thủ pháp, một hình thức biểu hiện nghệ thuật quan trọng Và khi nói về biểu tợng, các thể loại khác nhau đã
có nhiều cách tiếp cận về nó Tuy nhiên, do phạm vi hạn hẹp của một luận văn nên chúng tôi chỉ khảo sát, tìm hiểu về khái niệm biểu tợng trong các loại hình thơ, chủ yếu trên cứ liệu thơ Việt
1.1.3.1.1 Biểu tợng trong thơ dân gian
Trong thơ dân gian, đặc biệt là trong ca dao, biểu tợng rất phong phú và đa dạng Đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về các loại biểu tợng trong ca dao, nh trăng, các loại hoa (hoa đào, hoa hồng, hoa sen ) và các con vật Và qua
đó, họ đã chỉ ra những vẻ đẹp, những ý nghĩa tinh tế, sâu sắc của đời sống tâm t tình cảm, cảnh đời, đạo lí sống của ngời bình dân xa
Đề cập đến biểu tợng nghệ thuật trong ca dao Việt Nam, Nguyễn Thị Ngọc
Điệp cho rằng “đó là một loại hình ẩn dụ, đợc tạo nên bằng ngôn ngữ, rất phong phú về khả năng biểu cảm, mang đậm đà tính dân tộc” [328] “Biểu tợng ca dao chính là những kí hiệu, hay nói đúng hơn, là những siêu kí hiệu (tức là kí hiệu của
kí hiệu) Trớc hết, toàn bộ hệ thống ngôn ngữ của một dân tộc là một hệ thống kí hiệu Mỗi kí hiệu có hai mặt: cái biểu đạt (signifié) và cái đợc biểu đạt (signifiant), liên hệ với nhau qua một quan hệ võ đoán Cái biểu đạt (CBĐ) là mặt vật chất của
kí hiệu, nghe đợc, nhìn đợc Còn cái đợc biểu đạt (CĐBĐ) là mặt tinh thần im lặng
ở bên trong CBĐ đóng vai trò biểu hiện (cũng nh hình thức), qua đó, CĐBĐ bộc lộ
ra ngoài, tự truyền đạt ra ngoài (cũng nh nội dung) Từ trong hệ thống kí hiệu vừa nêu lại có những thành tố đợc dùng làm kí hiệu lần thứ hai để chỉ ra một ý nghĩa nào đó ở bên ngoài nó (mà mọi ngời quy ớc với nhau) Lúc đó ta có những biểu t-ợng văn học” [52, 329]
Trang 29Biểu tợng trong ca dao là những hình ảnh rất gần gũi quen thuộc trong đời sống hàng ngày của ngời bình dân, nh con cò, thuyền, bến
Cây đa cũ, bến đò xa
Bộ hành có nghĩa nắng ma cũng chờ
Hay là:
Thuyền ơi có nhớ bến không Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Những hình ảnh này xuất hiện với tần số rất lớn, là nguồn thi liệu quen thuộc, phong phú của ngời dân Việt Nam xa Trong ca dao, biểu tợng nh là một loại công thức truyền thống, chủ yếu đợc tạo nên bởi các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn
dụ, hoán dụ Những hình ảnh đợc sử dụng trong các phép tu từ này xuất hiện nhiều lần đến mức khi thoát ra khỏi văn cảnh cụ thể, ngời ta vẫn nhận ra ý nghĩa biểu trng của chúng
Nguồn gốc của biểu tợng trong ca dao Việt Nam, đợc định hình từ ba nguồn mạch: những biểu tợng xuất phát từ phong tục tập quán của ngời Việt Nam, từ quan niệm dân gian, tín ngỡng dân gian (nh trầu cau, cây đa, vuông tròn ); những biểu
tợng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc (nh Truyện Kiều, Lu Bình - Dơng Lễ ); những biểu tợng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày của nhân
dân (con cò, chiếc cầu, vờn ) [Theo Nguyễn Thị Ngọc Điệp,52, 331] Các biểu
t-ợng đợc hình thành từ nhiều con đờng khác nhau tạo nên sự đa dạng và phong phú cho hệ thống biểu tợng, hệ thống thẩm mĩ ca dao
1.1.3.1.2 Biểu tợng trong thơ cổ điển
Bớc sang thế kỉ X, dân tộc ta mới giành đợc quyền độc lập tự chủ, đánh dấu một sự phát triển mới trong văn học, nền văn học viết đợc hình thành Văn học viết trung đại Việt Nam gồm hai bộ phận: bộ phận văn học chữ Hán và bộ phận văn học
Trang 30chữ Nôm Nói về biểu tợng trong văn học trung đại Việt Nam, nhìn chung khá phong phú Nó bắt nguồn chủ yếu từ hai nguồn gốc: từ văn hoá dân gian và từ những thi liệu văn chơng bác học Trung Quốc.
Kế tục dòng văn học dân gian đã có từ rất lâu, văn học viết thời trung đại mà
rõ nhất là thơ vẫn tìm về những biểu tợng đã có trong dân gian đậm đà tính dân tộc
Đó là những biểu tợng rất dân dã, gần gũi với ngời bình dân nh biểu tợng con vật
H-ơng có biểu tợng quả cau, miếng trầu “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi (Mời”
trầu); trong thơ Tú Xơng có biểu tợng con cò “Thân cò lặn lội khi quãng vắng Eo
Trì thanh phát cỏ
Không những thế, những biểu tợng trong thơ cổ điển còn xuất phát từ những thi liệu văn chơng bác học, những điển tích, điển cố Chẳng hạn nh điển tích về triều đại vua Nghiêu Thuấn:
Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn.
Chừng ấy ta đà phỉ sở nguyền
(Nguyễn Trãi)Hay là điển tích về tình bạn tri âm, tri kỉ Bá Nha, Tử Kì:
Giờng kia treo cũng hững hờ
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn
(Nguyễn Khuyến).
Đó còn là những biểu tợng mang nhiều tính chất ớc lệ tợng trng, nh khi nói
về loài vật thì tác giả trung đại thờng hay nhắc đến nhóm Tứ linh “Long, Ly, Quy,
nhân, quân tử là “tùng, trúc, mai” (hay gọi là nhóm Đông thiên tam hữu)
Trang 31Nh vậy, ta thấy rằng, văn học trung đại Việt Nam ảnh hởng khá rõ rệt hệ thống biểu tợng của văn học Trung Quốc, điều này là hệ quả tất yếu của hơn một nghìn năm bị đô hộ, bị đồng hoá về văn hoá Hơn nữa, do tính chất quy phạm của văn học trung đại, “biểu tợng thơ Việt Nam trung đại mang tính chất vô ngã” (Đỗ Lai Thuý) nên nó đã chi phối đến phơng thức phản ánh hiện thực, chi phối đến cách xây dựng biểu tợng, khiến biểu tợng trong thơ cổ điển còn mang nét chung chung.
1.1.3.1.3 Biểu tợng trong thơ hiện đại
Vào thập niên 30 của thế kỉ trớc, nền thi ca Việt Nam đã thoát khỏi khuôn khổ truyền thống nhờ tiếp cận nền thi ca Pháp, và đã chịu ảnh hởng của nhiều trờng phái nh thơ lãng mạn, thơ của nhóm Thi Sơn, thơ tợng trng, thơ siêu thực Thơ mới lãng mạn Việt Nam ra đời vào lúc thơ lãng mạn thế giới kết thúc đã một trăm năm, thơ tợng trng đã qua mấy chục năm và thơ siêu thực, hiện đại đang thịnh hành, nh-
ng hầu nh đã thâu tóm cả chặng đờng phát triển 100 năm của văn học Pháp ở góc nhìn tiếp biến các trờng phái sáng tác Con ngời Việt Nam vừa mới thoát khỏi vòng trói buộc phong kiến trung đại, đã bắt gặp sự đồng điệu giữa tâm hồn mình với chủ nghĩa lãng mạn phơng Tây Từ sự đồng điệu đó, họ đã mở lòng tiếp nhận bài học giải phóng cá tính, giải phóng cái tôi và đang tin tởng, tôn thờ tự do cá nhân, đồng thời tiếp thu tất cả các chủ nghĩa, các trờng phái cùng một lúc rồi hoà trọn vào vốn văn hoá, văn học truyền thống bằng tài năng của mình, mỗi ngời một vẻ góp phần thúc đẩy rất nhanh quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam
Khi bàn về biểu tợng, Đỗ Lai Thuý đã thừa nhận: “biểu tợng là ẩn dụ, nhng loại ẩn dụ đặc biệt: một vật thể hoặc một hành động của thế giới bên ngoài đợc dùng để chỉ những điều khó nắm bắt đợc, của thế giới bên trong, theo nguyên tắc của sự tơng tác” [73, 199] Nh vậy, xét về nghĩa của biểu tợng của thơ dân gian hay thơ cổ điển với thơ hiện đại cơ bản giống nhau, nhng trong thơ hiện đại quả đã có những cách tân nghệ thuật độc đáo Chẳng hạn nh trong thơ xa, ngời ta thờng lấy vẻ
đẹp thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con ngời (“Mặt hoa da phấn ;”
Trang 32Những ng
thì, ngợc lại, trong Thơ mới, lại lấy con ngời làm mẫu mực, “làm thớc đo” cho thiên nhiên (“Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần”- Xuân Diệu) Nếu nh “dân gian
dùng biểu tợng để chỉ cái vô hình hoặc cái không thể nói ra bằng nghĩa tờng minh Biểu tợng thơ Việt Nam trung đại mang tính chất vô ngã Các nhà thơ mới vừa cải tạo lại các biểu tợng cổ truyền, vừa sáng tạo ra các biểu tợng mới Đặc điểm biểu t-ợng thi ca của họ là đều ấm nóng cảm xúc cá nhân về cái vô tận hoặc kinh nghiệm tâm linh Tuy nhiên, ở những nhà khơi dòng lãng mạn, đều là những biểu tợng
đơn Nó nặng về phản ánh cái tôi bên ngoài, cái tôi xã hội” Chẳng hạn nh: ông đồ
của Vũ Đình Liên, Con hổ trong Nhớ rừng của Thế Lữ [73, 200] Đặc biệt, ở
những nhà thơ có khuynh hớng tợng trng, siêu thực, biểu tợng xuất hiện đậm đặc, với lại những biểu tợng này mang ý nghĩa phức tạp hơn, nó dung hợp nhiều ý nghĩa khác nhau, thậm chí đối lập nhau, các lớp ý nghĩa này liên tục gia tăng và dịch chuyển, biến hoá ngay trong một văn bản Đó chính là những biểu tợng kép mà Đỗ Lai Thuý gọi là “biểu tợng phức” [73, 200], chúng có chức năng gợi nghĩa chứ
không phải mô tả Thơ Bích Khê tràn đầy những biểu tợng phức nh vậy: Sọ ngời,
Đồ mi hoa, Ngũ Hành sơn Lí do không phải là lúc này thế giới đã trở nên phức
tạp mà cái nhìn thế giới của thơ đã trở nên phức tạp Thơ tợng trng đã phát hiện ra cái tôi bên trong, cái tôi tâm linh bí ẩn Từ nay, thơ xuất phát từ thế giới hiện thực
để đi vào thế giới phi hiện thực, thế giới của vô cùng Hay đúng hơn thơ là sự giăng mắc, đi về giữa hai thế giới Biểu tợng thi ca, bởi vậy, phải chuyển từ đơn sang phức
Với biểu tợng, văn học phát huy cao độ vai trò tích cực của chủ thể tiếp nhận Việc sử dụng biểu tợng đặt ra những yêu cầu cao đối với ngời đọc, đòi hỏi họ không chỉ có năng lực rung cảm mà còn phải có một vốn tri thức văn hoá nhất định mới có thể tiếp nhận Điều đó đồng nghĩa với việc phải nâng “tầm đón nhận” của công chúng lên một tầm cao hơn Vì thế xu hớng văn học ngày càng hớng tới sự
Trang 33tôn trọng vai trò của độc giả, biểu tợng ngày càng trở thành một phơng thức biểu hiện quen thuộc trong văn học.
Thơ mới 1932 – 1945 càng về sau thì nó không còn là một dòng thuần nhất,
từ thơ lãng mạn mà một số nhà thơ đã có những tìm tòi theo hớng tợng trng, siêu thực Và trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề biểu tợng trong thơ tợng trng
1.1.3.2 Biểu tợng trong thơ tợng trng
Trong giao lu với văn học nớc ngoài, thơ mới Việt Nam chịu ảnh hởng của thơ ca phơng Tây, trong đó có thơ tợng trng là một thực tế không thể phủ nhận Các tác giả thơ tợng trng nh Ch.Baudelaire, A.Rimbaud, P.Veclaine thậm chí cả nhà thơ lãng mạn và tợng trng Mĩ Edga Poe đã để lại dấu ấn khác nhau trong sáng tác của một bộ phận của các nhà thơ mới Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài
Chân đã khẳng định : “Có thể nói, hầu hết các nhà thơ không nhiều thì ít, đều bị
ám ảnh vì Baudelaire ngời đầu tiên đã khơi nguồn thơ ấy” [32]
Chủ nghĩa tợng trng là một khuynh hớng văn học phổ biến rộng rãi ở Châu
âu vào những năm 70, 80 của thế kỉ XIX : họ phủ nhận lí trí, cho đó là nguồn gốc
đa lại một lối sống con buôn vị kỉ, một thứ văn minh vật chất bẩn thỉu Thích nói
đến những “giai điệu chủ quan”, họ cho rằng mọi hiện tợng trong vũ trụ tồn tại nh
là những dấu hiệu tợng trng cho bản chất huyền bí của tạo vật, mà chỉ riêng nhà thơ mới có những thiên bẩm kì diệu để thâm nhập và biểu đạt đợc những hình ảnh tợng trng ấy Thơ là một thứ “siêu cảm giác, không thể giải thích đợc” Không cần có những hình tợng rõ nét, thơ, do đó đợc quan niệm nh một bản hoà âm huyền ảo Họ còn cho rằng thơ không phải là những cảm xúc trực tiếp mà quan trọng là phải gợi
ra đợc cảm xúc Họ a thích ý niệm hơn là cảm xúc, mộng tởng hơn là cuộc sống, nhạc tính thuần tuý hơn là bài ca Do đó, thơ tợng trng thờng dùng các biểu tợng và
sự ám gợi liên tởng thay cho phát ngôn trực tiếp
Trang 34Nếu nguyên tắc thơ lãng mạn là miêu tả trực tiếp sự vật và bộc lộ trực tiếp nỗi lòng đem lại một thế giới nội tâm tràn đầy xúc cảm, suy tởng mang bản sắc cá tính thì Baudelaire và các nhà thơ tợng trng lại chủ trơng phản ánh thế giới bằng biểu tợng Mallarmé chủ trơng không miêu tả trực tiếp, rành mạch rõ ràng ở trong bài thơ, mà ông diễn tả theo phép loại suy tức là quan hệ giữa hai sự vật Giống nhthi pháp của Baudelaire nhìn nhận sự vật bằng biểu tợng, xây dựng những tợng trng của một thế giới đầy bí ẩn, với ý nghĩa của hai từ “tợng trng” nghĩa là “cái vật nào
đó có một ý nghĩa rộng lớn hơn chính nó” [65, 60], là từng bớc gợi ra một vật thể
và nh thế là phơi bày một tình cảm hay nói ngợc lại Đó là hình thức lựa chọn một vật thể để từ đó rút ra một tình cảm Quá trình này không đợc làm lộ liễu mà phải thông qua “ám thị, tránh bớt các lời giải thích, lời trình bày trực tiếp ý nghĩ và tình cảm” [65, 60] Nói cách khác, Baudelaire và các nhà thơ tợng trng tôn trọng điều bí
ẩn của thơ nên tránh dùng những từ ngữ miêu tả mà chỉ gợi lên ý nghĩa, ngôn ngữ của lãng mạn là biểu cảm, ngôn ngữ của tựơng trng là biểu ý Biểu tợng ở đây đợc dùng nh là một phơng tiện biểu hiện đắc lực của thơ ca Do đó, lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca Pháp đã xuất hiện một quan niệm thật mới lạ về thơ qua cái nhìn vũ trụ và cuộc đời:
Thiên Nhiên là một ngôi đền trong đó những cột sinh linh Thỉnh thoảng phát ra những ngôn ngữ mơ hồ
Con ngời đi trong thiên nhiên qua những rừng biểu tợng Chúng quan sát con ngời với cái nhìn thân quen
Nh một phản hởng dài hỗn độn từ xa Trong một thể thống nhất tối tăm và sâu thẳm Mênh mông nh đêm tối và nh ánh sáng
Hơng thơm, màu sắc và thanh âm tơng ứng
(Tơng ứng, Baudelaire)
Trang 35Có thể nói, đến chủ nghĩa tợng trng, biểu tợng mới đợc sử dụng một cách thực sự có ý thức Biểu tợng nh là một phơng tiện “khải thị” thế giới (khải thị tức là một cái nhìn, một sự cảm nhận bằng tất cả các giác quan, một sự cảm nhận mang tính đột xuất, bất ngờ) Với quan niệm về sự tồn tại của một thế giới siêu nghiệm
mà con ngời chỉ có thể cảm nhận qua mối tơng giao của các giác quan, vợt khỏi kinh nghiệm cảm tính thông thờng, các nhà tợng trng chủ nghĩa đã sáng tạo ra một loạt những biểu tợng có ý nghĩa “khải thị” mà khi thâm nhập vào đó, rung động cùng nó, chúng ta khám phá ra thế giới xuất hiện trong một dạng thức mới mẻ với cái nhìn thấu suốt, một cảm nhận thế giới trong một trạng thái hợp nhất toàn vẹn
Nó khơi dậy trong con ngời những năng lợng tiềm ẩn, cho con ngời phút chốc đợc sống trong sự hội nhập với cái toàn thể bình thờng vẫn bị ngụy tởng của cái tôi che lấp Biểu tợng không đơn thuần là một kiểu tín hiệu, một vật thay thế thông thờng, biểu tợng là một hình thức nhận thức đặt ra yêu cầu rất cao đòi hỏi chủ thể phải thực sự nhập cuộc bằng tất cả con ngời mình trong ý nghĩa toàn vẹn nhất
Biểu tợng còn đợc xây dựng bằng các chất liệu tiềm thức, vô thức Chủ nghĩa tợng trng xem thơ nh một thứ siêu cảm giác, không giải thích đợc, xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là tợng trng cho một thế giới không nhìn thấy đợc
Do đó, chủ nghĩa tợng trng thờng dùng thủ pháp làm nhoè mờ đờng viền cụ thể của
sự vật, đồng thời vật thể hoá những gì thuộc về lĩnh vực ý niệm Cũng chính vì thế
mà họ hay nói đến mộng, mơ, bởi vì, một mặt thế giới ấy có vẻ cụ thể dễ tri giác, mặt khác trở nên trừu tợng hơn cả sự hình dung bình thờng của chúng ta về nó Mộng, mơ không phải bao giờ cũng là một cái gì đó viển vông, vô bổ mà nhiều khi
nó trở thành một yếu tố then chốt nâng những sự phản ánh hiện thực tầm thờng lên thành nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứng của nhiều thi nhân Nói về mộng, mơ, tức là họ xem trọng những gì nh bất giác đến từ trực giác, từ vô thức, họ thích “thác lời” những linh hồn của thế giới bên kia hoặc thích trò chuyện với chúng; ý niệm thực tại ở họ gồm cả cõi sống lẫn cõi chết và cái đợc nói nhiều hơn lại là cõi chết Trong cái nhìn đầy mộng và mơ nh thế, mọi sự vật hoàn toàn bị thay đổi biến hoá,
Trang 36thiên nhiên cũng trở nên tuyệt đẹp với những hình ảnh khêu gợi, có những hình ảnh
ma quái, ghê sợ chập chờn, tồn tại nó thu hút con ngời vào một thế giới ảo giác, phi thực tế Mộng, mơ nh một ma lực xô thi sĩ đến đến bến bờ của ảo ảnh, của một thế giới khác xa với thế giới thực tại Nguyễn Hng Quốc đã nhận xét rất đúng “Trừ Bích Khê, Hàn Mặc Tử & nhóm Xuân thu nhã tập, tất cả các nhà thơ trong phong trào Thơ mới đều là những ngời cực kì tỉnh táo” [60, 174], điều đó cũng có nghĩa là cả Bích Khê, Hàn Mặc Tử, và nhóm Xuân thu nhã tập đều xem “mộng” là nguồn cảm hứng cho thơ ca của mình
Nói về biểu tợng trong thơ tợng trng thì âm nhạc cũng đợc xem nh một loại hình biểu tợng đặc biệt mang giá trị tự thân Tính nhạc là đặc trng cơ bản của ngôn ngữ thơ, nhng biểu hiện của nó ở mỗi loại hình thơ ca là không giống nhau Trong thơ cổ điển, do sự kiểm soát chặt chẽ của tính quy phạm nên nhạc điệu trong thơ cổ
điển chỉ có một vang ngân hạn chế trong khuôn khổ qui định, mang chức năng của yếu tố phụ trợ cho việc cảm hoá lòng ngời đợc tốt hơn Đến thơ lãng mạn, cùng với
sự giải phóng cá thể, là sự cải tạo chất nhạc của thơ Đó không phải là thứ nhạc trầm bổng, réo rắt do sự phối hợp bằng trắc tạo nên mà do tiếng lòng, do hơi thở, nhịp tình cảm đem lại Nhạc trong văn học lãng mạn đợc quan niệm “là tiếng ngời, ngữ điệu ngời, giọng điệu ngời” [65, 54] Thơ lãng mạn phát hiện ra nhạc điệu nh-
ng phải đến các nhà thơ của trờng phái tợng trng (Pháp) thì nhạc tính trong thơ mới
đợc đề cao và đợc coi “trớc hết mọi điều” (Paul Valery) P.Verlaine đề xớng: câu thơ phải giàu nhạc tính, trớc hết là sự hoà điệu các âm thanh:
Âm nhạc nữa và mãi mãi
Sẽ làm cho thơ anh trở nên bay bổng
Mà ngời ta cảm thấy một linh hồn đang trốn chạy Tới những vùng trời khác và những tình yêu khác
Trang 37“Thơ đi vào tâm hồn ngời đọc trớc hết là do câu thơ có đợc những “động rung âm nhạc” chứ không phải do vần trong bài thơ, nói một cách kháclà do tính biến hoá không cùng của nhịp điệu, do tính mới lạ của câu thơ có số âm tiết lẻ, do
sự lựa chọn và sự hoà hợp tạo thành sức vang của thanh âm” [27, 29] ở quan niệm này ta thấy các nhà thơ tợng trng rất đề cao vai trò của Nhạc trong thơ Với chủ tr-
ơng sáng tạo ra một lối thơ chứa đựng những rung cảm sâu xa của con ngời phát ra
từ đáy tâm linh, từ trong vô thức của ngời làm thơ, các nhà thơ tợng trng đã coi âm nhạc nh là một cứu cánh có thể đa đợc dòng suy tởng vào cõi xa xăm, huyễn ảo mà không vớng bận vào ngôn từ, tạo ra những “ám thị” Nhng âm nhạc mà thơ tợng tr-
ng tìm kiếm “không phải là thứ âm nhạc hùng hồn, sôi nổi mà êm dịu nhng có sức rung động sâu xa Nhạc điệu đó đôi khi ta không cảm thấy rõ rệt, tuy nó vẫn có, nó thấm dần vào lòng ta, len lấn, lê thê khiến ta bâng khuâng ngây ngất Đó là thứ nhạc điệu làm cho độc giả đi vào cõi mộng Thơ phát ra thứ âm nhạc này có giá trị
nh những câu thần chú” [73, 207] Nó là mạch ngầm có tính ám thị để dẫn dụ ngời
đọc vào miền cảm xúc bên trong Nhạc đã trở thành một biểu tợng mang tính quan niệm để biểu đạt ý tởng của nhà thơ: khát vọng vơn đến cõi thanh cao, nâng tâm hồn đạt đến “siêu thăng”
Nh vậy, biểu tợng là phơng tiện chủ yếu của thơ tợng trng Và khi đi vào khám phá tác phẩm của một tác giả tợng trng chủ nghĩa nào đó, chúng ta cần đặc biệt chú ý tới thế giới biểu tợng Bởi đó là cơ sở quan trọng để lí giải tính chất độc
đáo, đa nghĩa của nó
1.2 Khái quát về Bích Khê và thế giới biểu tợng trong thơ Bích Khê
1.2.1 Vị trí đặc biệt của Bích Khê trong phong trào Thơ mới
1.2.1.1 Cuộc đời tài năng và bất hạnh
Trang 38Bích Khê tên thật là Lê Quang Lơng, còn bút hiệu khác: Lê Mộng Thu, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại quê ngoại là làng Phớc Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi Ông sống chủ yếu ở quê nội là Thu Xà, một thị tứ thuộc huyện T Nghĩa cùng tỉnh.
Gia đình Bích Khê có cả thảy tám anh em, Khê là em út Đó là một gia đình vốn có truyền thống ngâm vịnh, nên từ ông cố ông nội, cha cho đến anh em Khê ít nhiều đều có làm thơ văn Trong số những anh chị em đó thì ngời chị kế Ngọc Sơng
là ngời có ảnh hởng đến ông nhiều nhất, Ngọc Sơng vừa là một ngời chị, một ngời bạn văn chơng, một ngời gần gũi với Bích Khê trong những lúc hạnh phúc cũng nh
đau khổ nhất
Cuộc đời của Bích Khê gặp nhiều bất hạnh Trong con đờng lập nghiệp lại hết sức lận đận: hai lần mở trờng dạy học ở Phan Thiết đều không thành công (Tr-ờng Hồng Đức – 1934, Trờng Quảng Thuận – 1939)
Còn trong tình yêu, Bích Khê cũng có nhiều mối tình với Song Châu, Bích Thuỷ, Ngọc Kiều Nhng tất cả đều dang dở Điều đáng nói là nguyên nhân chủ yếu lại do Bích Khê Dờng nh nhà thơ muốn giữ mãi vẻ đẹp của những mối tình
đầy mộng ảo để khao khát, để ngỡng vọng hơn là tiến tới thực tế của một cuộc hôn nhân Những mối tình không thành nhng bóng dáng của những ngời đàn bà đi qua
đời thi nhân thì in dấu và trở thành mạch cảm hứng trong sáng tác của ông Niềm hạnh phúc trọn vẹn không thể tìm thấy trong thực tế lại đợc khúc xạ vào thơ thành những giấc mộng tình yêu
Năm 22 tuổi, khi tuổi đời đang căng tràn sức sống và hoài bão, khi cuộc sống mới thực sự bắt đầu Bích Khê biết mình mắc một trong tứ chứng nan y: bệnh lao phổi Bất chấp mọi cố gắng chạy chữa của gia đình, bệnh phổi vẫn không ngừng hành hạ ông Sự xót xa về tình đời đen bạc, nỗi đau đớn về thân bệnh, ám ảnh về cái chết nên Bích Khê thờng xuyên rơi vào trạng thái đau buồn Cũng nh Hàn Mặc
Tử, ông là kẻ đứng chông chênh giữa hai bờ sống và chết Cái chết hiện hình trong những cơn ho, cơn đau, trong thể trạng héo mòn Trạng thái ấy khiến Bích Khê
Trang 39luôn nhìn thế giới và nghệ thuật ở hai chiều phân cực: hạnh phúc và đau khổ, sinh thành và huỷ diệt, thiên đờng và địa ngục Bản thân nhà thơ cũng sống trong trạng thái đi về giữa hi vọng và tuyệt vọng, khao khát và chán chờng Để mong làm dịu bớt nỗi đau nhân thế, nỗi đau bệnh tật ấy, thi nhân đã tìm đến với thiên nhiên Ông
có một khoảng thời gian dài sống giữa thiên nhiên, vui thú hải hồ, có những ngày tháng ngắm cảnh núi ấn sông Trà, có lúc bồng bềnh trên mặt nớc nay ghé Phú Thọ, mai Cổ Luỹ, Sa Kỳ hởng thụ cảnh gió mát trăng thanh Thiên nhiên từ đây trở thành ngời bạn, niềm an ủi, cũng là nguồn thi tứ dạt dào trong tâm hồn nhà thơ
Bích Khê nổi tiếng thông minh từ nhỏ, mời hai tuổi làm thơ Đờng luật bắt
đầu gặt hái đợc những thành công Năm 15 tuổi (1931) Bích Khê đã có thơ đăng ở mục Văn Uyển bên cạnh các bậc túc nho nổi tiếng, trên báo Tiếng Dân và sau còn
in ở Phụ nữ Tân Văn Nhng đến năm 1938 thì ông chuyển hẳn sang lối thơ mới ở lãnh địa này, thiên tài Bích Khê cũng đợc bộc lộ Trớc lời khiêu khích của Hàn Mặc
Tử, ông đã thề rằng “trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thờng, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến làm thi sĩ nữa và không đợi đúng sáu tháng, chỉ trong vòng ba tháng thôi, chàng đã viết đợc một tập thơ, viết bằng máu huyết tinh tuỷ và châu lệ, và tất cả say sa, đắm đuối của một tâm hồn thi sĩ” [40, 9] Bích Khê luôn khao khát tiến tới một cuộc duy tân táo bạo nhất cho thơ ca của mình Vào những năm cuối đời, mặc dù luôn bị bệnh tật hành hạ nhng ông vẫn dồn tất cả cho thơ, và
đây là những ngày ông sáng tác nhiều nhất
Bích Khê qua đời ngày 17 tháng 1 năm 1946 khi cha đầy 30 tuổi Căn bệnh lao phổi hiểm nghèo đã cớp đi một con ngời tài hoa, nhiều hoài bão, một tài năng thơ đang ở độ chín, để lại nhiều tiếc thơng trong lòng ngời thân và bạn bè
Số mệnh chỉ cho Bích Khê sống một đời ngời ngắn ngủi, vẻn vẹn có 30 năm (1916 – 1946) nhng đời thơ của Bích Khê còn ngắn ngủi hơn Kể từ khi ông có tác phẩm xuất hiện trên báo chí cho đến khi ông lìa cõi đời, thời gian tính ra chỉ khoảng hơn 10 năm Trong thời gian đó thi nhân đã để lại một sự nghiệp văn chơng
Trang 40không đồ sộ nhng có thể đủ để tự hào bởi những dòng thơ bất tử Tinh huyết (1939)
là tập thơ duy nhất đợc in trong sinh thời tác giả Sau khi mất còn để lại các tập thơ cha in thành sách là: Mấy dòng thơ cũ (1931 – 1936), Tinh hoa (1938 – 1944),
Đẹp (1939)
Những ngời cùng thế hệ với Bích Khê có Nam Cao cuộc đời chỉ dừng mãi ở tuổi 36, Thâm Tâm ở tuổi 33, Thạch Lam ở tuổi 32, Vũ Trọng Phụng ở tuổi 27, Nguyễn Nhợc Pháp ở tuổi 24 Đó là những ngời mà tác phẩm của họ có sức sống lâu bền hơn tấm thân vật chất của ngời sinh ra nó Bích Khê cũng không thoát khỏi mệnh số đa đoan của con ngời tài hoa bạc mệnh
1.2.1.2 Bích Khê và Trờng thơ Loạn
Ra đời tại Bình Định, Trờng thơ Loạn đã thu hút những tài năng nghệ thuật
đặc biệt, tạo ra một dòng thơ lạ lẫm, kì dị khiến cho nhiều ngời phải giật mình sửng sốt Toà thơ của họ vụt cao chót vót nối tầng cao nhất của thiên đờng với tận cùng
địa phủ, từ đó tạo ra thứ ánh sáng huyền hoặc, buộc ngời ta phải ngớc nhìn, vừa trầm trồ chiêm ngỡng, vừa hốt hoảng hoang mang
Trờng thơ Loạn ra đời trên cơ sở nhóm thơ Bình Định Nhóm thơ này lại đợc hình thành từ nhóm Thái Dơng Văn Đoàn Nhóm Thái Dơng Văn Đoàn là một tập hợp đông đảo học sinh, trí thức Nam Trung bộ sống ở thành phố Quy Nhơn, bao gồm những ngời yêu thơ, tập làm thơ, mộng thành thi sĩ và có những ngời đã thành danh nh Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Hoàng Diệp, Xuân Khai, Viết Lãm, Phú Sơn, Trọng Minh Chính từ thi đàn này đã hình thành nhóm thơ Bình Định (1936) với 4 gơng mặt Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên và Yến Lan (họ còn đợc gọi là Bàn Thành Tứ Hữu, nhóm Tứ Linh) Về sau, trong nhóm thơ Bình Định có sự phân hoá khuynh hớng sáng tác và quan điểm thẩm mĩ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan lập ra Trờng thơ Loạn Bài Tựa tập Điêu tàn và bài Tựa tập Thơ Điên đợc xem
nh lời tuyên ngôn nghệ thuật lúc khai trơng Trờng thơ trớc thi đàn thơ mới ở Nam