Bởi thế, đi vào đề tài nghiên cứu Thế giới biểu tượng trong thơ Haiku của Matsuo Basho chúng tôi hy vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, giúp cho bản thân, đồng nghiệp, các em học
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh
-
-Nguyễn thị minh ngọc
Thế giới biểu tợng trong thơ haiku
của matsuo basho
Mở đầu luận văn, tôi xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết
ơn sâu sắc tới Phó giáo s - Tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh, ngời thầy đã tậntình hớng dẫn, khích lệ tôi hoàn thành đề tài thú vị nhng đầy khó khănnày!
Trang 2Tôi cũng xin đợc chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, côgiáo: Thầy Phan Nhật Chiêu (ĐH KHXH và NV thành phố Hồ ChíMinh), TS Nguyễn Thị Ngân Hoa, TS Nguyễn Thị Mai Liên (ĐH SPhạm Hà Nội I) đã cung cấp cho tôi nhiều t liệu quý trong quá trình thựchiện luận văn.
Xin đợc cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn ờng Đại học Vinh cùng tất cả các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảngdạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc học tập, nghiên cứu
tr-Xin đợc cảm ơn sự động viên, khích lệ của gia đình, bè bạn, những
ng-ời ủng hộ tôi về mặt tinh thần trong suốt thng-ời gian viết đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 10 tháng 12 năm 2008 Ngời thực hiện:
Nguyễn Thị Minh Ngọc
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đề tựa cho cụng trỡnh đồ sộ Từ điển biểu tượng văn hoỏ thế giới
của hai học giả người Phỏp Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, nhà sửhọc Guy Schoeller đó khẳng định: “Sẽ là quỏ ớt, nếu núi rằng chỳng tasống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng sống trongchỳng ta”[4, 02] Như vậy, biểu tượng chiếm giữ một vai trũ vụ cựng lớnlao trong đời sống của con người, từ văn hoỏ, phong tục, lối sống cho đến
cả tụn giỏo, nghệ thuật và nhất là thơ ca
Người ta đó núi nhiều về thơ ca, một thể loại văn học, nghệ thuật gắnliền với thế giới tỡnh cảm, tõm hồn và tõm linh con người Từ cụng trỡnh lý
Trang 3luận Nghệ thuật thơ ca của Arixtôt cho đến hôm nay, nghiên cứu về thơ đã
có gần hai mươi thế kỉ vận động, phát triển Tuy nhiên, vẫn có thể khẳngđịnh một nguyên lý cơ bản rằng: “Đỉnh cao của nghệ thuật thơ là biểutượng” Bởi biểu tượng, với sức dồn nén, ẩn chứa chiều sâu văn hoá tinhthần, tâm linh của cá nhân, cộng đồng trong nó, được xem là nguồn nănglượng vĩnh cửu, không có giới hạn của thơ ca
Do đó, tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ ca (của một tác giả, một thời đạihay một dân tộc) thông qua việc giải mã thế giới biểu tượng là một hướng
đi có nhiều ý nghĩa Nó mở ra khả năng khám phá chiều sâu của các tácphẩm để thấy được “dòng chảy sâu kín của ngôn ngữ biểu tượng, sự phânnhánh của nó trong vỉa tầng kí ức của chúng ta” [4, 02] Cho nên, khi lựa
chọn đề tài Thế giới biểu tượng trong thơ Haiku của Matsuo Basho
chúng tôi tin rằng mình đã chọn đúng hướng đi để giải mã một thể loại thơcòn nhiều mới lạ này
1.2 Nhật Bản là "đất nước mặt trời mọc", đất nước của hoa đạo, tràđạo, Thiền tông và của cả thi đạo Với người Nhật Bản, thơ ca không đơnthuần là một thể loại văn học mà còn là một tôn giáo Tôn giáo tinh thầnđược biểu hiện bằng ngôn ngữ và những biểu tượng đa nghĩa Trong đó, Thơ Haiku (còn gọi là Haicư hay Hài cú: có nghĩa là bài thơ chỉ có mộtcâu) là một thể thơ độc đáo, đặc sắc, một nét tâm hồn riêng mà người Nhật
vô cùng tự hào khi đóng góp nó cho nền thơ ca nhân loại Thể thơ nhỏnhắn, mơ hồ như một làn hương thoáng nhẹ, diệu kỳ này đã tích tụ cả “banghìn thế giới thơm” và luôn mời gọi sự khám phá của người đọc Mặc dùvậy, để hiểu được chiều sâu của thơ Haiku không phải là một điều dễdàng Bởi nói như nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu “Thơ ca ấy là lối đidưới lá Hoặc là một cửa động cô tịch Bạn gọi thì nó sẽ thưa Nghĩa là cửađộng sẽ mở khi có tri âm: Vừng ơi, mở ra! Có nguy cơ là cửa động vẫnđóng im lìm vì ta chưa tìm ra tiếng gọi” [5, 09] Do đó, việc chúng ta tiếpcận thơ Haiku của M.Basho, người được xem là linh hồn của thể thơ này,
Trang 4thông qua thế giới biểu tượng, sẽ mở ra con đường để ta đi vào thế giới thơHaiku còn nhiều mới lạ và đầy sức hấp dẫn
1.3 Thơ Haiku, đặc biệt là những bài thơ của M.Basho được đưa vàochương trình Ngữ văn THPT lớp 10 phân ban (cả chương trình cơ bản lẫnchương trình nâng cao) So với chương trình sách giáo khoa cải cách cũ,văn học Nhật Bản đã góp thêm hai đại diện nữa là M.Basho và Y.Busonngoài nhà văn Y.Kawabata vốn trở nên quen thuộc trong chương trình vănhọc 12 Có thể nói, đây là một nỗ lực lớn của nhóm biên soạn sách giáokhoa nhằm giúp các em học sinh hiểu sâu sắc hơn nền văn chương mộtdân tộc khá gần chúng ta về phương diện địa lý song cũng còn những khácbiệt trong phong tục, văn hóa, thơ ca Nhìn ra ngoài thế giới, ta thấy họcsinh THCS ở các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mỹ đã sớm được tiếpxúc với thơ Haiku, thơ Basho với tư cách là một đại diện tiêu biểu của nềnvăn học phương Đông Đồng thời, các em cũng tập sáng tác thơ Haiku đểrèn luyện tư duy, khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ
Như vậy, việc đưa thơ M.Basho vào chương trình Ngữ văn 10 là mộtquyết định đúng theo xu thế dạy học đổi mới, tích cực Tuy nhiên trên thực
tế, cho đến nay cả người dạy, người học đang gặp không ít khó khăn, thậmchí lúng túng trong hướng tiếp cận các bài thơ Haiku của Basho Bởi thế,
đi vào đề tài nghiên cứu Thế giới biểu tượng trong thơ Haiku của Matsuo
Basho chúng tôi hy vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, giúp cho
bản thân, đồng nghiệp, các em học sinh cùng những người yêu thơ tìm rađược con đường, cánh cửa bí mật dẫn tới một “cửa động thơ” đang cònchờ những tiếng gọi tri âm
1.4 Ngoài ra, với cá nhân người viết, lý do chúng tôi lựa chọn đề tàicòn xuất phát từ tình yêu, sự say mê dành cho thơ ca Nhật Bản và thơHaiku của Matsuo Basho Thế giới thâm trầm, bình dị, đơn sơ mà u huyềntrong những vần thơ Haiku của Basho đã có sức hấp dẫn, thu hút chúng tôi
đi vào đề tài mới mẻ và khó khăn này
Trang 52 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ hai: Dựa vào kết quả khảo sát, thống kê, phân loại để đi vào giải
mã ý nghĩa biểu trưng của các biểu tượng trong từng nhóm
Thứ ba: Qua thế giới biểu tượng đa dạng, phong phú trong thơ Haikucủa M.Basho đi đến nhận diện phong cách thơ Sofu (Tiêu phong) của ông
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích đó, đề tài có ba nhiệm vụ:
Một là: khảo sát, thống kê, phân loại thế giới biểu tượng trong thơHaiku của Basho
Hai là: giải mã ý nghĩa của các biểu tượng trong thơ Haiku của tác giảBasho
Ba là: từ góc nhìn của đặc trưng phản ánh nghệ thuật, chỉ ra những đặcsắc trong lối thể hiện bằng biểu tượng của M.Basho trong thơ Haiku
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thế giới biểu tượng trong thơHaiku của Basho qua 180 bản dịch mà chúng tôi tập hợp được từ côngtrình của ba nhà nghiên cứu, dịch giả văn học Nhật là: Nhật Chiêu, VĩnhSính, Thanh Châu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong tình hình nguồn tư liệu về thơ Haiku nói chung, thơ Basho nóiriêng ở Việt Nam còn khá ít ỏi, chúng tôi phải tập hợp tư liệu từ nhiềucuốn sách của các dịch giả khác nhau Trong đó chủ yếu là tư liệu của badịch giả đồng thời là ba nhà nghiên cứu về văn học Nhật Bản:
Trang 6+ Các bản dịch của Nhật Chiêu
+ Các bản dịch của Vĩnh Sính trong Lối lên miền Oku của M.Basho,
dịch giới thiệu và chú thích Vĩnh Sính – NXB Thế giới Hà Nội 1999
+ Các bản dịch của Thanh Châu
+ Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số bản dịch của ĐàmTrung Pháp, Đoàn Lê Giang song không đưa vào phạm vi tư liệu khảo sát
mà chỉ dùng để đối sánh khi cần thiết
4 Lịch sử vấn đề
Lịch sử nghiên cứu văn học thơ ca Nhật Bản từ góc độ biểu tượng nóichung, biểu tượng thơ Haiku Matsuo Basho nói riêng chưa có nhiều thànhtựu Vì vậy, chúng tôi sẽ khảo sát lịch sử vấn đề trên hai cấp độ chính:
4.1 Các công trình nghiên cứu về thơ Haiku và thơ Basho
Nằm trên một đảo quốc xinh đẹp, thiên nhiên mĩ lệ, con người tinh tế,nền thơ ca Nhật Bản được hình thành khá sớm với những vần thơ trữ tìnhWaka (hay còn gọi là Hòa ca hoặc Tanka) nhỏ nhắn, cô đọng trong 31 âmtiết Để rồi, từ 31 âm tiết này, người Nhật lại sáng tạo thêm thể thơ Haikuvẻn vẹn chỉ gói trọn 17 âm tiết, một thể thơ ngắn nhất thế giới song lại làmchúng ta kinh ngạc vì "nhỏ nhoi là vậy, thơ Haiku vẫn có thể chứa đựng banghìn thế giới" ”[5, 06]
Bắt đầu được sáng tác với tư cách một thể thơ độc lập tách khỏi bàiWaka từ thế kỉ XVI, được hoàn thiện, định hình dưới bàn tay của MatsuoBashô vào thế kỉ XVII, cho đến nay, thơ Haiku đã trải qua chặng đường dàisáu thế kỉ vận động, phát triển Tuy nhiên, so với nền thơ ca đời Đường -Trung Quốc, thơ Haiku nói chung, thơ Basho nói riêng được biết tới ở nước
ta khá muộn màng Bởi vì, văn học Văn học Nhật Bản mới đến được vớichúng ta trong khoảng một thế kỷ nay (từ những năm đầu thế kỷ XX đếnbây giờ), còn việc nghiên cứu và giảng dạy nền văn học này mới hơn 50năm, mà đặc biệt là vào những thập niên cuối thế kỉ XX và những năm đầucủa thế kỉ XXI
Trang 74.1.1 Lịch sử nghiên cứu về thơ Haiku ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu về thơ Haiku ở Việt Nam đang dừng lại ở một mức
độ khiêm tốn với lượng sách ít ỏi và một số gương mặt các nhà nghiên cứu,dịch giả tiêu biểu như: Phan Nhật Chiêu, Vĩnh Sính , Thanh Châu, Đoàn LêGiang, Hữu Ngọc, Lê Thiện Dũng, Nguyễn Thị Mai Liên Nhưng nhữngcông trình của các tác giả đã cung cấp cho ta một cái nhìn tương đối toàndiện về thơ Haiku trên cả hai mặt nội dung và bút pháp nghệ thuật Quy mônghiên cứu thơ Haiku bao gồm cả ba hình thức: dịch thuật, viết sách và viếtbáo
Hai công trình đáng chú ý nhất mang tính chuyên sâu về thơ Haiku là
hai cuốn sách Ba nghìn thế giới thơm của Nhật Chiêu (Nxb Văn nghệ, 2007) và Haiku, Hoa thời gian của Lê Từ Hiển và Lưu Đức Trung (Nxb Giáo dục, 2007) Ba nghìn thế giới thơm của Nhật Chiêu tập hợp gần như
đầy đủ các bài báo, tạp chí mà ông đã từng công bố liên quan đến thơ Haiku
và thơ Nhật Bản Còn Haiku, Hoa thời gian của Lê Từ Hiển và Lưu Đức
Trung là một tài liệu quý báu dành cho giáo viên, học sinh THPT và những
ai yêu thể thơ độc đáo này Cuốn sách được chia làm ba phần với ba nội
dung chính: Vài định hướng tiếp cận thơ Haiku trong chương trình THPT,
Hương sắc Haiku - những nẻo đường góp nhặt và Dạo bước vườn thơ Bên
cạnh nội dung khá phong phú, cách thức trình bày của cuốn sách Haiku,
Hoa thời gian rất sinh động với nhiều hình ảnh minh họa.
Ngoài hai công trình nói trên, nội dung nghiên cứu thơ Haiku còn được
đề cập tới trong những giáo trình về văn học Nhật Bản, các cuốn sách giới
thiệu văn hóa văn học Nhật như: Văn học Nhật Bản, từ khởi thủy đến 1868, Nhật Chiêu, Nxb Giáo dục năm 2003; Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nhật Chiêu, Nxb Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh năm 1997; Câu chuyện
văn chương phương Đông, Nhật Chiêu, Nxb Giáo dục năm 2002; Xuôi dòng văn học Nhật Bản, Nguyễn Thị Mai Liên, Nxb Đại học sư phạm năm
2003; Phác thảo những nét tương đồng và dị biệt của ba thể thơ: tuyệt cú,
Trang 8haiku và lục bát của Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn Văn học so sánh, nghiên cứu và triển vọng, Nxb SPHN năm 2005; Dạo chơi vườn văn Nhật Bản, Hữu Ngọc, Nxb Giáo dục năm 1992; Hoa anh đào và điện tử, Hữu
Ngọc, NXB văn hóa năm 1998
Thêm vào đó, có khoảng hơn 20 bài viết đăng trên báo, tạp chí, tuykhông chuyên sâu nhưng cũng cung cấp cho người đọc một số hiểu biết cơ
bản về thơ Haiku Tiêu biểu là các bài viết: Cảm nhận về thơ Haiku (Ngô Văn Phú-Tác phẩm mới, số 4/1992), Một số đặc điểm của thơ Haiku Nhật
Bản (Hà Văn Lưỡng-Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số
4/2001), Thế giới trong thơ Haiku (Hà Văn Minh - Báo Xuân Điện Bàn,
2000) Ngoài ra, trên mạng internet ta cũng thấy có đăng tải nhiều bài viết
về thơ Haiku Đáng chú ý là loạt bài Haiku một chút lịch sử của Nguyễn
Nam Trân, một nhà nghiên cứu văn học đang sống và làm việc tại Tokyo Nhật Bản trên trang web www.erct.com
-Cùng với việc giới thiệu thơ Haiku, một số nhà nghiên cứu đã dịch cáccông trình, cuốn sách về thơ Haiku ở nước ngoài Đại diện cho hướng đi
này là Lê Thiện Dũng với bản dịch tiếng Việt Hài cú nhập môn, của Haroldg Henderson, Thanh Châu với bản dịch tiếng Việt Thiền trong hội
họa (một cách cảm nghiệm thơ Haiku thông qua hội họa) của Chimyo
Horioka, Siewart W.Holmes
4.1.2 Lịch sử nghiên cứu thơ Haiku của Matsuo Basho ở Việt Nam
Quá trình nghiên cứu thơ Haiku luôn gắn liền với việc khám phá di sảntinh thần của Matsuo Basho Bởi lẽ, Basho chính là người góp phần đưathơ Haiku từ một thứ thơ tiêu khiển, hài hước lên hàng thơ nghệ thuật,đậm chất Thiền, in dấu ấn linh hồn Nhật Bản
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về thơ Haiku của Basho đi theo bahướng chủ yếu sau:
Hướng một là dịch thơ Basho kèm theo lời giới thiệu khái quát conngười cuộc đời, sự nghiệp Basho để lại Hướng đi này được hai tác giả
Trang 9Vĩnh Sính, Hàn Thủy Giang tiếp cận trên cùng một tập thơ nổi tiếng của
Matsuo Basho là Lối lên miền Oku (nguyên văn tiếng Nhật Bản là Oku no
hosomichi) Tuy một vài bản dịch thơ của hai dịch giả còn chỗ đáng bàn,
nhưng ta không thể phủ nhận cả hai là những công trình hiếm hoi mangtính toàn vẹn, đem đến cho người đọc cái nhìn khá đầy đủ về Basho trongmột tác phẩm văn xuôi pha thơ đứng vào hàng kiệt tác
Hướng hai là viết sách, viết các đề tài luận văn, khóa luận, báo cáokhoa học liên quan đến thơ Haiku của Basho Tiêu biểu có thể kể đến cuốn
sách Basho và thơ Haiku của Nhật Chiêu (NXB Văn học, 1994); luận văn thạc sĩ Chất Sabi trong tác phẩm "Lối lên miền Oku" của Matsuo Basho của
Bùi Thị Mai Anh trường Đại học sư phạm Hà Nội I, Hà Nội năm 2002;
báo cáo khoa học Cảm thức mùa trong Haiku của sinh viên Lê Thanh
Huyền K53 khoa Ngữ văn Đại học sư phạm Hà Nội năm 2005 Đây là bacông trình giá trị nghiên cứu về thơ Haiku của Matsuo Basho giúp ích rấtnhiều cho người viết trong quá trình triển khai đề tài Dù vậy, so vớinhững gì mà Basho để lại cho chúng ta, thì sự tìm hiểu của những côngtrình này chỉ mới dừng ở một số khía cạnh nhất định Và vì thế mà nhữngvần thơ của Bashô vẫn là một đối tượng thú vị để ta tiếp cận, khám phá.Hướng ba cũng là hướng phổ biến nhất là những bài báo ngắn gọn, côđọng về thơ Haiku của Basho được đăng rải rác trên các báo, trang webmạng Theo lượng tài liệu mà chúng tôi tham khảo được, từ năm 1990 trởlại đây, có khoảng bảy bài viết về Basho được đăng trên các báo, tạp chí
văn học, văn hóa như: Matsuo Basho - nhà thơ lớn của thể thơ Haiku
(Nguyễn Tuấn Khanh, tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 3 năm 1995); Dấu
ấn Thiền tông trong thơ Matsuo Basho (Đỗ Thái Thuận, Tạp chí Văn hóa
năm 1997); Basho và hài cú đạo (Nhật Chiêu, Kiến thức ngày nay, số
tháng 10 năm 1999); Basho và Huyền Quang, sự gặp gỡ với mùa thu hay
sự tương giao về cảm thức thẩm mỹ (Lê Từ Hiển, Tạp chí nghiên cứu Văn
học số tháng 7 năm 2005); Sự biểu hiện của "tĩnh" và "động" trong thơ Trần
Trang 10Nhân Tông và thơ Haiku của M.Basho (Hà Văn Lưỡng, Tạp chí nghiên
cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số tháng 1 năm 2006); Thơ Matsuo Basho
trong chương trình giáo dục phổ thông (Đào Thị Thu Hằng, Tạp chí
nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8 năm 2006)
Điều đáng ghi nhận là các bài viết trên đã có sự đối sánh nét tươngđồng và khác biệt của thơ Haiku Basho với thơ Thiền của một số tác giảvăn học Việt Nam trung đại Ngoài ra, viết về Matsuo Basho còn có một
số lượng khá lớn các bài báo tồn tại trên những trang web mạng Tuynhiên, do chưa khẳng định được tính chính xác, khoa học của các tài liệunày nên chúng tôi chỉ dùng để tham khảo chứ không đưa vào lịch sử vấnđề
4.2 Các công trình bài viết nghiên cứu thơ Haiku của Basho từ góc
độ biểu tượng
Trong quá trình khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu về thơ Haiku củaMatsuo Basho, chúng tôi nhận ra có một thực tế là hầu như chưa có mộtcông trình nào đi sâu vào tìm hiểu thế giới biểu tượng trong thơ Basho.Đây là thiếu sót đáng tiếc Bởi thơ vốn dĩ luôn đi liền với biểu tượng, thơHaiku lại càng gắn liền với biểu tượng để gợi lên cả một vũ trụ ngát hươngđời, hương Thiền qua 17 âm tiết ngắn ngủi, cô đọng đến mức không thểngắn hơn được nữa
Trả lời cho câu hỏi tại sao biểu tượng trong thơ Basho chưa được đàosâu nghiên cứu? Chúng tôi cho rằng các nhà phê bình, các tác giả đều ýthức được phần nào vẻ đẹp của thế giới biểu tượng trong thơ Basho nhưnglại không nhìn nhận vấn đề trên một cái nhìn mang tính toàn diện, với một
sự khảo sát định lượng, định tính tần số xuất hiện, các lớp nghĩa biểu trưngtồn tại trong mỗi một biểu tượng và mối quan hệ liên quan giữa chúng.Một vài tác giả có đề cập đến các biểu tượng trong thơ Basho như:Nhật Chiêu, Hữu Ngọc, Nguyễn Nam Trân, Nguyễn Văn Hạnh…ở mức độ
là những lời nhận định khái quát về cách sử dụng biểu tượng và tính chất
Trang 11biểu tượng trong thơ Basho Hữu Ngọc lấy biểu tượng hoa anh đào để gọitên một đặc điểm trong thơ Haiku của Basho là dùng những biểu tượngthiên nhiên nhằm "nhập vào thảo mộc và khoáng vật để tiêu tan bản
ngã”[51, 34] Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết Quan hệ giữa tôn giáo và
thơ ca trong thế giới biểu tượng cũng nhận xét: "Có thể nói, thơ M.Basho
là cả một thế giới thiên nhiên được linh hóa, mang ý nghĩa biểu tượng"[18, 60] Nhật Chiêu cho rằng "Basho đi trước chủ nghĩa tượng trưng ởPháp" [5, 205], mà đặc trưng cơ bản nhất của chủ nghĩa tượng trưng Phápnhư chúng ta đã biết, chính là việc vận dụng hệ thống các biểu tượng vàotrong thơ để tạo nên trường liên tưởng, tưởng tượng không có giới hạn.Đáng chú ý nhất trong các công trình nghiên cứu thơ Basho là loạt bài
viết của Nhật Chiêu được tập hợp trong cuốn Ba nghìn thế giới thơm.
Cuốn sách có đến 17 bài đề cập đến nhiều biểu tượng trong thơ Haiku nói
chung, thơ Basho nói riêng như: Trăng từ nguyên sơ, Trăng và đinh
hương, Ánh sáng tinh khôi, Những đóa triêu nhan, Bướm về nghe pháp, Hỏi thầm giọt sương, Đom đóm đồng không, Hòa âm ếch nhái, Đảnh lễ với mưa Về thực chất, mỗi bài viết của Nhật Chiêu là bước đầu tìm hiểu
ý nghĩa biểu trưng của các biểu tượng đơn lẻ trong thơ Haiku (biểu tượngtrăng, biểu tượng ánh sáng, biểu tượng hoa, biểu tượng con bướm, biểutượng con đom đóm, biểu tượng mưa ) gồm cả thơ Haiku của Basho vàcủa nhiều nhà thơ khác Tuy nhiên, Nhật Chiêu chưa đặt các biểu tượngđơn lẻ đó vào một thế giới thống nhất để phân nhóm biểu tượng nhằmkhám phá giá trị của nó trong việc định hình phong cách thơ Basho Hơnnữa, tư liệu mà ông sử dụng trong bài viết khá rộng bao gồm văn bản thơHaiku nói chung của nhiều tác giả chứ không nghiên cứu riêng biệt biểutượng trong thơ Basho
Qua tìm hiểu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về Matsuo Basho chưa đề cậpnhiều đến đặc trưng cơ bản, cốt lõi trong thơ ông là sử dụng hệ thống biểu
Trang 12tượng để sáng tạo nên những vần thơ Haiku trống không mà chứa đựngđược cả vũ trụ vô biên, tạo nên phong cách Sofu độc đáo.
Thứ hai, bản thân những bài viết tìm hiểu biểu tượng trong thơ Bashochỉ đi vào khám phá ý nghĩa của một vài biểu tượng đơn lẻ mà không kháiquát được vấn đề quan trọng nhất là: Matsuo Basho sử dụng biểu tượng cóchủ định trong thơ, ông tạo cho biểu tượng một thế giới thống nhất, đadạng với nhiều mối quan hệ, gợi nhiều lớp nghĩa biểu trưng phong phú.Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài này với hi vọng đemđến một cái nhìn bao quát, mang tính toàn vẹn về thế giới biểu tượng trongthơ Haiku của Matsuo Basho
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ khoa học mà đề tài đặt ra, chúng tôi sửdụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Khảo sát các nhóm biểu tượng theo số lần xuất hiện, lớp nghĩa gốc vàcác lớp nghĩa biểu trưng Từ kết quả khảo sát, luận văn đi vào thống kê cóđịnh hướng, phân loại định lượng kết hợp với phân loại định tính dựa trên
180 ngữ liệu là các bài thơ Haiku của thi hào M.Basho
5.2 Phương pháp phân tích văn học
Luận văn phân tích các lớp nghĩa biểu tượng trong thơ Haiku củaBasho thông qua việc chỉ ra sự tương tác giữa lớp nghĩa bản thể và nghĩabiến thể, nghĩa sự vật, lôgic và nghĩa biểu trưng Sau phân tích, người viết
sẽ khái quát, tổng hợp vấn đề nhằm phác họa thế giới biểu tượng phongphú, đa dạng ẩn chứa trong các bài thơ Haiku của Basho
5.3 Phương pháp so sánh văn hóa, văn học
Thế giới biểu tượng trong thơ Haiku của Basho luôn gắn liền với cảmthức thẩm mỹ, đời sống văn hóa tinh thần, tư tưởng Phật giáo của ngườiNhật Bản Do đó, cần thiết phải vận dụng phương pháp so sánh, đối chiếucác biểu tượng dưới hai góc độ: văn hóa và văn học Điều này giúp chúng
Trang 13ta thấy được ảnh hưởng, sắc màu tôn giáo, dấu ấn Thiền Tông trong thơBasho để hiểu được tại sao ông cùng với thơ của ông được hậu thế tônvinh là "linh hồn Nhật Bản".
5.4 Phương pháp tiếp cận kí hiệu học
Phương pháp này được ứng dụng thông qua việc phân tích đặc trưngmối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng, các cấp độ của cáiđược biểu trưng Từ đó, chúng ta có cơ sở đi vào phân loại biểu tượng dựavào nguồn gốc, chất liệu của các biểu trưng, chỉ ra bản chất biểu tượngngôn ngữ thơ ca trong quan hệ với các loại hình biểu tượng khác nhằmphân tích quá trình chuyển hóa giữa các phạm vi, cấp độ của hệ biểutượng
6 Giới thuyết về biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật
Trong vòng hơn 15 năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu mới vềbiểu tượng được ra đời ở Việt Nam Tác giả các công trình đã tập hợp tưliệu, đào sâu suy ngẫm để định hình khái niệm biểu tượng, chức năng biểutượng và đặc trưng biểu tượng Với khả năng, điều kiện nghiên cứu cònhạn chế, ở đề tài này, chúng tôi xin được kế thừa thành quả của người đitrước về lý thuyết biểu tượng nhằm tạo nên nền tảng, cơ sở lý thuyết chonhững thống kê, nhận định của mình về ý nghĩa biểu tượng trong thơHaiku của Basho Cụ thể, luận văn kế thừa lý thuyết biểu tượng của
Nguyễn Thị Ngân Hoa trong luận án Sự phát triển ngữ nghĩa của biểu
tượng thơ (qua nhóm biểu tượng trang phục trong thơ ca Việt Nam), luận
án tiến sĩ ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội năm 2004 Hiện nay, trongnguồn tư liệu mà chúng tôi có được, đây là công trình tập hợp khá toàndiện lý thuyết biểu tượng trong thơ ca nói chung
6.1 Khái niệm biểu tượng
Theo quan điểm của công trình nêu trên, khái niệm biểu tượng(Symbol) được hiểu ở nghĩa rộng nhất là: "một loại tín hiệu mà mối quan
Trang 14hệ giữa mặt hình thức cảm tính (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa (cái đượcbiểu trưng) mang tính có lý do, tính tất yếu" [28, 35]
Đi vào nghệ thuật, biểu tượng được hiểu theo một nghĩa hẹp hơn là cácbiến thể loại hình của biểu tượng văn hóa trong những ngành nghệ thuậtkhác nhau (hội họa, âm nhạc, văn học ) Trong các biểu tượng nói chungđều tồn tại một hệ thống ý nghĩa biểu trưng cho những nền văn hóa nhấtđịnh
Trong thơ ca, văn học, do đặc trưng chất liệu, chúng ta có các biểutượng ngôn từ nghệ thuật Người đầu tiên bàn đến vấn đề biểu tượng trongthơ một cách khái quát nhất, cơ bản nhất là nhà triết học người ĐứcG.Hegel Ông gọi khái niệm biểu tượng ngôn từ nghệ thuật là "biểu tượngnên thơ" nhằm phân biệt với những hình ảnh chỉ mang ý nghĩa tượng trưngchứ chưa thành biểu tượng Hegel viết: "Biểu tượng nên thơ là một biểutượng có hình tượng, bởi vì biểu tượng nên thơ không phải phơi bày trướcmắt ta bản chất trừu tượng của cái hiện thực cụ thể…mà nó cho phép tanhận ra khái niệm của sự vật" (dẫn theo Nguyễn Văn Hạnh [17, 273]).Như vậy, Hegel khi nêu khái niệm biểu tượng đã có được một sự phânđịnh cơ bản giữa biểu tượng và hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng Theo đó,không phải bất cứ hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng nào cũng là biểutượng Nó chỉ trở thành biểu tượng khi đánh thức trong người đọc nhữngtrường liên tưởng sâu rộng, đòi hỏi người đọc huy động cả kiến thức vănhóa, thâm nhập vào thế giới tinh thần bên trong chúng ta, giúp cho ta thấy
"dòng chảy tư tưởng, những vỉa tầng kí ức"…Khi đó, ta mới có một biểutượng nghệ thuật đích thực với tất cả tình chất đặc trưng và giá trị của nó Phát triển quan niệm của Hegel, Nguyễn Thị Ngân Hoa đưa ra một kháiniệm cụ thể hơn về biểu tượng nghệ thuật trong tương quan với chất liệungôn từ: "Biểu tượng ngôn từ nghệ thuật là các biểu tượng được cấu tạo lạithông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học"[28, 35] "Biểu tượng ngôn từ
là sự tín hiệu hóa các hình thức vật chất cụ thể (sự vật, trạng thái, hành
Trang 15động) và các ý niệm trừu tượng trong đời sống tinh thần của con người qua
hệ thống âm thanh, ngôn ngữ" [28, 35]
6.2 Đặc trưng của biểu tượng
Biểu tượng, xét về phương diện hình thức là những tín hiệu mà theoL.Hjemslev có tính phức hợp trong cấu tạo Nó chứa đựng rất nhiều đặctính, trong đó, đáng chú ý là ba đặc trưng nổi bật: tính đa trị, tính khả biến,tính tương tác
6.2.1 Tính đa trị
Tính đa trị được xem là một đặc tính tiêu biểu lại vừa là hiệu quả củabiểu tượng Sở dĩ biểu tượng có sức dồn nén các tầng nghĩa bởi nó là sảnphẩm của sự cộng hưởng, tương tác và thâm nhập đa tầng văn hóa, bằngkinh nghiệm và sự sáng tạo của mỗi chủ thể nhằm tạo nên đặc tính đanghĩa, đa chiều hay còn gọi là đa bội về ý nghĩa, giá trị Từ một lượngthông tin cụ thể, xác định, còn gọi là thông tin cơ sở, biểu tượng tạo nên
trường liên tưởng theo cấp số nhân "sự ứ tràn nội dung ra ngoài dạng biểu
đạt của nó" (Tzvetan Todovov) Các giá trị của nó được gợi lên ở nhiều
tầng bậc, nhiều cấp độ, sự dồn nén, cô đúc của cái được biểu đạt từ một cáibiểu đạt Lấy ví dụ như biểu tượng hoa Anh đào trong thơ Haiku củaMatsuo Basho là một biểu tượng mang tính đa trị đặc trưng Trong văn hóaNhật Bản, hoa Anh đào tượng trưng cho vẻ đẹp mong manh, tươi thắm của
tự nhiên, cho tinh thần của người võ sĩ đạo Nhưng khi đi vào trong thơBashô, cái biểu đạt là hình ảnh hoa Anh đào lại chứa đựng trong nó nhữnglớp nghĩa biểu tượng hết sức phong phú Cánh Anh đào muôn thuở trongnhững vần thơ Haiku của Matsuo Basho tượng trưng cho quá khứ, chodòng thời gian vô thường, cho sự sống mỏng manh của cái đẹp, cho tìnhyêu cuộc đời trần thế
Như vậy, có thể hiểu: tính đa trị là đặc trưng đặc biệt của biểu tượng
Nói như Gerard de Champeaux và Domsterckx trong cuốn Từ điển biểu
tượng văn hóa thế giới: "tính đa trị, chúng cô đúc vào tiêu điểm của một
Trang 16hình ảnh duy nhất toàn bộ trải nghiệm tinh thần Chúng vượt lên trên cácnơi chốn và các thời điểm, các tình hướng cá nhân và các hoàn cảnh ngẫunhiên, bằng cách quy tụ tất cả chúng về một thực tại sâu sắc, hơn lẽ tồn tạitối hậu của chúng” [4, 28].
6.2.2 Tính khả biến
Tính khả biến được hiểu là khả năng biến đổi ý nghĩa, sức sản sinh dồidào của cái được biểu đạt từ một cái biểu đạt Tính khả biến của biểutượng không cố định về nghĩa mà thay đổi, biến đổi theo môi trường, thời
kỳ, cá nhân, cộng đồng dân tộc Đó là khả năng chu chuyển liên tục, táisinh liên hồi từ cái biểu đạt đến cái được biểu đạt Quá trình biến đổi đóđược tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa mô hình hóa thành hai cấp độ pháttriển biến đổi nghĩa như sau:
Sơ đồ: Quá trình biến đổi và phát triển ý nghĩa biểu tượng
(Xin xem sơ đồ ở trang sau)
Quá trình biến đổi và phát triển ý nghĩa biểu tượng
(Biến đổi ý nghĩa cấp độ 1)Các biến thể từ ngữ(Hiện thực hóa quan hệ sản sinh từ mẫu gốc đến biểu tượng)
Phân hóa Chi tiết hóa Tương đồng Tương phản
(Biến đổi ý nghĩa cấp độ 2)Biến thể kết hợp(Hiện thực hóa quan hệ sản sinh từ bình diện văn hóa đến bình diện
chủ thể)
Trang 17Tương tác Cộng hưởng
(Biến đổi sắc thái ý nghĩa) (Nảy sinh nghĩa mới)
Có thể nói, mô hình hóa quá trình biến đổi ý nghĩa biểu tượng củaNguyễn Thị Ngân Hoa đã giải thích và cắt nghĩa triệt để tính khả biến củabiểu tượng - một đặc tính trung tâm của biểu tượng Theo chúng tôi, đây làmột mô hình khá hoàn hảo vừa khái quát hóa vừa cá biệt hóa quy trìnhbiến đổi ý nghĩa của biểu tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật
6.2.3 Tính tương tác
Bên cạnh tính đa trị và tính khả biến, một đặc tính nữa cũng quan trọngcủa biểu tượng ngôn từ là tính tương tác hay còn gọi là tính thâm nhập lẫnnhau của các biểu tượng Các biểu tượng thường xuyên liên hệ, tương táclẫn nhau theo cơ chế tạo nghĩa biểu trưng sâu hơn, phong phú, đa dạnghơn Đó là mối quan hệ tự nhiên, tất yếu của các yếu tố thuộc cùng phạmtrù hoặc cùng hệ thống như: Trăng - Đêm, Hoa - Tuyết, Sương -Hoa Trong thế giới biểu tượng "không có một vách kín nào ngăn cáchgiữa chúng cả, luôn luôn có một sự liên kết khả dĩ giữa cái này với cái kia"[4, 16]
6.3 Chức năng của biểu tượng
Biểu tượng ngôn từ nghệ thuật chứa đựng trong nó nhiều chức năngphong phú Tuy nhiên, ở phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ xin trình bày về
ba chức năng chủ yếu của biểu tượng để làm cơ sở cho những nhận địnhcủa mình về ý nghĩa thế giới biểu tượng trong thơ Haiku của MatsuoBashô Ba chức năng đó là: chức năng biểu hiện, chức năng thẩm mỹ,chức năng tác động
Chất liệu của bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng đảm nhiệm chứcnăng biểu hiện Với tác phẩm văn học thì đó là ngôn từ mà từ - biểu tượng
là tâm điểm của năng lượng tinh thần, là tâm điểm có thể phát ra vô số
Trang 18những vòng sóng với tần số khác nhau Chức năng của biểu tượng ngôn từ
là biểu hiện nhận thức thẩm mỹ của chủ thể (chủ thể thẩm mỹ sáng tạonghệ thuật về đời sống về thực tại) Biểu tượng là cơ sở của trí tưởngtượng và liên tưởng tự do với những mối liên hệ vô tận Vì thế, biểu tượngngôn từ trở nên giàu có về khả năng biểu đạt, sức chứa đựng, sức dồn nénkhiến cho tác phẩm trở nên cô đọng, hàm súc Nó giúp cho tác phẩm vănhọc biểu hiện được mọi ý tình phong phú, mọi tầng bậc cảm xúc Biểutượng xuất hiện ở nơi mà ngôn ngữ tự nhiên thuần túy cảm thấy bất lực,không thể diễn tả hết được
Với khả năng biểu hiện sâu sắc và tập trung các lớp nghĩa, biểu tượngđảm nhận tố nhất chức năng thẩm mỹ Biểu tượng tham gia trong cấu trúcchung của tác phẩm nghệ thuật để xây dựng nhưng hình tượng nghệ thuậtsâu sắc, mang giá trị tạo hình và biểu cảm Nhờ có biểu tượng mà hìnhtượng nghệ thuật trở nên lung linh, đa nghĩa Và thực chất bản thân biểutượng cũng chính là hình tượng nghệ thuật sinh động Đó là những hìnhtượng nghệ thuật mà "ý nghĩa của biểu tượng ẩn sâu bên trong đòi hỏi trínão con người một nguồn năng lực lớn lao để tìm tòi và khám phá"
Từ chức năng biểu hiện và những đặc tính của biểu tượng, chúng ta cóthể thấy được vai trò, cơ chế tác động của nó Biểu tượng tác động sâu sắcđến nhận thức, đời sống tinh thần; tác động tới cảm xúc để thanh lọc tâmhồn con người Biểu tượng là sự kí mã mà muốn có sự giải mã đòi hỏiphải có sự tương thích giữa văn hóa và tầm nhận thức Nhưng một sựthuận lợi là biểu tượng chứa đựng trong nó mã văn hóa chung thuộc bìnhdiện văn hóa đồng thời lại mang đặc điểm bản thể văn hóa đời sống tâm lý
cá nhân nên nó có thể dễ dàng giải mã một cách trực tiếp Đó cũng là cơ sở
để biểu tượng có thể thực hiện thành công chức năng tác động sâu, rộngcủa mình
7 Đóng góp của luận văn
Trang 19Luận văn lựa chọn đi vào một đề tài khó khăn nhưng mới mẻ là nghiêncứu biểu tượng trong thơ Haiku của Matsuo Basho, người được tôn vinh lànhà thơ vĩ đại của nước Nhật Đây là công trình mang tính chất chuyênsâu, bước đầu giải mã thơ Basho nói riêng, thơ Haiku nói chung trong yếu
tố cốt lõi nhất là sự phong phú, đa dạng của thế giới biểu tượng Và từ gócnhìn của đặc trưng phản ánh nghệ thuật, luận văn đã chỉ ra những nét đặcsắc trong lối thể hiện của thơ Basho Vì thế, đóng góp, cái mới của luậnvăn bao gồm ba phương diện cơ bản sau:
Thống kê, phân loại nhằm chỉ ra được sự phong phú, đa dạng trongthế giới biểu tượng thơ Haiku của Basho Từ đó đi đến khẳng định:
Có một thế giới biểu tượng sống trong thơ Haiku của Basho vànhững vần thơ của Basho sống trong thế giới biểu tượng
Khái quát được quan hệ giữa cấp độ bản thể và cấp độ biểu tượngtrong thế giới biểu tượng thơ Haiku của Basho Đồng thời, xác lậpđược các mối tương quan trong hệ thống biểu tượng mà Basho sửdụng
Thấy được ảnh hưởng của biểu tượng tới việc hình thành kiểu nhàthơ, cảm quan riêng về thế giới và phong cách thơ “tiêu phong”(Sofu) của Basho cũng như tác động của biểu tượng tới quá trìnhđịnh hình đặc trưng của thơ Haiku Nhật Bản
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, thì phần nộidung luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở hình thành thế giới biểu tượng trong thơ Haiku của
Matsuo Basho.
- Chương 2: Một thế giới biểu tượng phong phú, đa dạng trong thơ Haiku của Matsuo Basho
- Chương 3: Quan hệ giữa các biểu tượng và sự hình thành phong cách
"Tiêu phong" (Sofu) của M.Basho
Trang 20Ngoài ra, chúng tôi còn đưa vào luận văn hai phụ lục (25 trang) nhằm
hỗ trợ cho những phân tích, luận giải trong luận văn và tiện ích cho ngườiđọc quan tâm đến đề tài Hai phụ lục gồm:
+ Phụ lục 1: Bảng thống kê 180 văn bản được khảo sát trong luận văn, têndịch giả, các biểu tượng sử dụng và mối quan hệ giữa các biểu tượng trongvăn bản
+ Phụ lục 2: Bảng phân loại chi tiết biểu tượng theo các nhóm, số lần xuấthiện và số thứ tự văn bản có dùng biểu tượng đó
Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI BIỂU TƯỢNG TRONG
THƠ HAIKU CỦA MATSUO BASHO
1.1 Mỹ học Thiền và truyền thống sử dụng biểu tượng trong thơ ca Nhật Bản
1.1.1 Ảnh hưởng của mỹ học Thiền trong thơ ca Nhật Bản
1.1.1.1 Nguồn gốc, đặc trưng của mỹ học Thiền
Thiền Tông đến Nhật Bản từ thế kỉ XII Nhưng chỉ trong vòng hơn 800năm qua, nó đã có một sức ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ đời sống tinh
Trang 21thần, văn hóa, nghệ thuật xứ sở mặt trời mọc, đến mức nói như nhà nghiêncứu văn học Nhật Chiêu: "Thiền đã trở thành sinh mệnh và cốt tủy của vănhóa Nhật Bản" Chính vì thế, trước khi đi vào thế giới nghệ thuật đẫm chấtThiền trong thơ Haiku của Basho, chúng ta cần có một cái nhìn bao quát
về nguồn gốc mỹ học Thiền cũng như ảnh hưởng của nó tới nền văn học,nghệ thuật Nhật Bản
Thiền trong tiếng Nhật gọi là Zen, tên gọi xuất phát từ chữ "Ch'an"(nghĩa là Thiền hay Thiền na) của Trung Quốc Bản thân chữ "Ch'an" nàyngười Trung Quốc phiên âm từ chữ Dhyana trong tiếng Phạn của người
Ấn Độ Dhyana có nghĩa là "tịch lự" ( hình thức trầm tư chiêm nghiệm của
các Thiền giả để đạt đến sự thức ngộ chân lý một cách thấu triệt)
Thiền có nguồn gốc từ Phật giáo và Đạo giáo Khi du nhập vào đấtnước Nhật, Thiền kết hợp với tư tưởng Thần Đạo của người Nhật làm nênnét đặc trưng riêng cho gương mặt văn hóa và tâm hồn Nhật Bản Vì vậy,tuy Nhật Bản không phải là mảnh đất khai sinh tư tưởng Thiền, nhưng chỉ
có người Nhật mới để Thiền thấm sâu vào trong máu huyết mình Từnhững tập quán, phong tục trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, từ thơ canghệ thuật cho đến cả sản xuất, kinh doanh, Thiền đều có mặt trong cuộcsống của người Nhật Bản…
Hiểu theo một nghĩa giản dị nhất, Thiền chính là nghệ thuật sống mộtđời sống tự nhiên không bị ràng buộc Bởi vì Thiền không phải là một hệthống thuyết lý trừu tượng, mơ hồ, chung chung mà "Thiền là tự do chơiđùa cùng vũ trụ Thiền giải thể mọi ràng buộc, mọi quy luật" [5, 231].Thiền không hề siêu hình như nhiều học thuyết, tôn giáo khác mà nó bámlấy cuộc sống trần gian ngay trong những gì đơn sơ, bình dị, tự nhiên nhất.Thiền giúp con người cảm nhận một thiên đường ngay giữa cõi nhân gian.Thiền đưa ta tìm về với sự bình an, bằng an trong tâm hồn Nhờ Thiền, tacảm nghiệm rõ hơn về bản thân ta và về thế giới xung quanh Như lờiDavid Fontana, một thiền sư đồng thời là tiến sĩ tâm lí học người Anh nói:
Trang 22"Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốntránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tựnhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu Thiền là: giữ tâmtỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như
nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu"
Sở dĩ người Nhật đề cao Thiền vì nhờ vào Thiền, họ có được cái nhìn
về cuộc sống nhẹ nhàng nhất Nhẹ nhàng để biết chấp nhận mọi sự xảy ratrong thế chủ động, tùy nghi Nói như một Thiền giả, cốt lõi của cái nhìn
ấy là sự hòa hợp với vũ trụ, đời sống, chứ không phải là sự gượng ép, bóbuộc bản thân mình:
Ở xứ khỏa thân cứ thoát y Phải đâu lễ nghĩa cứ tùy nghi
(Tuệ Trung Thượng Sĩ, Nhật Chiêu dịch)Theo nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản Nguyễn Nam Trân thì bốn
nguyên tắc chính của Thiền là: giáo ngoại biệt truyền (dạy thêm riêng ngoài giáo lý), bất lập văn tự (không để lại lời dạy bằng chữ viết), trực chỉ
nhân tâm (đi thẳng vào lòng người) và kiến tính thành Phật (giác ngộ thì
1.1.1.2 Ảnh hưởng của mỹ học Thiền trong thơ ca Nhật Bản
Riêng đối với thơ ca, nhất là thơ Haiku, tư tưởng Thiền càng có mộtảnh hưởng rõ rệt Quan hệ Thiền và Thơ được xác lập nhờ vào cái phóngkhoáng của cảm xúc và suy tưởng Cả Thiền lẫn Thơ đều đứng ngoàinhững sự trói buộc Hơn nữa, thơ không chỉ biểu lộ tình cảm mà thơ còn
có thể tải đạo, nên con đường đi của thơ và Thiền gần như không có sự đối
Trang 23nghịch, tương khắc Và những bài thơ Haiku chính là minh chứng cho mốiquan hệ hài hòa đó của Thơ - Thiền.
Thơ Haiku là một nghệ thuật tổng hợp tinh tế tuyệt vời giữa Phật giáo
và Lão Giáo trong thế giới Thiền thi Nó hài hòa, đan cài giữa cái cụ thể vàcái trừu tượng, giữa ẩn dụ và phân tích, giữa thiên nhiên vũ trụ và nội tâmcon người…Sự trống không trong những bài thơ Haiku nhỏ nhắn, vẻn vẹn
17 âm tiết rất gần với tư tưởng mỹ học của Thiền Đó là điều nói ra đượcthì hữu hạn, mà ý lại vô hạn, "siêu dĩ tượng ngoại" ( ý vượt ra ngoài hìnhtượng)…Cho nên, điều mà thơ muốn mọi người lãnh hội chẳng phải làđiều có thể nói được mà là những điều mà thơ chưa nói ra Trong thơHaiku có sự dung hợp giữa Thiền và Thơ, vì thơ có thể tải đạo Những bàithơ Haiku bé nhỏ sở dĩ chứa được trong nó cả biển Thiền bao la bởi nó cóthể làm được điều phi thường như lời một Thiền sư đã nói: “gom góp tất
cả lời nói để hoàn thành một câu, vò cả đại thiên thế giới thành hạt bụi”.Sức mạnh này làm kinh ngạc những nhà thơ phương Tây khi nhà thơWilliam Blake viết: bài thơ Haiku 17 âm tiết, ngắn gọn mà đủ sức chứa cảthế giới chính là “cả một vũ trụ trong một hạt cát” (a world in a grain ofsand)
Sở dĩ William Blake kinh ngạc trước khả năng biểu đạt của thơ Haiku
vì với dung lượng hết sức ít ỏi về mặt ngôn từ, nó vẫn kết hợp được cái sâuthẳm của Thiền và cái diệu kì của thơ để làm nên những đặc điểm hết sứcđộc đáo Những đặc điểm ấy là:
Lời thơ mộc mạc hoà vào thiên nhiên
Tỉnh thức trước luật vô thường
Tha thiết với sự cô liêu trật tự và mầu nhiệm của thế giới (giác ngộ và trở về với thế tục)
Trang 24 Có thể miêu tả các biến cố trực tiếp chỉ thẳng vào chân lý thâm sâu (như các công án: điển hình là công án tiếng vỗ bàn tay trong thơ Haikucủa Bashô)
Bừng mở tâm ra khỏi thói quen thụ cảm sự vật theo cách thông thường.Thơ Haiku dung hợp Thiền - Thơ Do vậy, mỗi bài thơ Haiku thường đi
từ một sự vật cụ thể, nhỏ nhoi tầm thường để dẫn dắt người đọc đi vào cõimênh mông bát ngát của hình tượng, của những biểu tượng
1.1.2 Mỹ học Thiền trong sáng tác Basho
1.1.2.1 Matsuo Basho, người cách tân thơ Haiku theo hướng Thiền
Basho không phải là nhà thơ đầu tiên của văn học Nhật Bản làm thơHaiku Nhưng ông lại là người đầu tiên cách tân thơ Haiku theo hướngThiền
Trước Basho, thơ Haiku hay Haikai chỉ là những vần thơ trào lộng,châm biếm, hài hước, nhẹ nhàng, phóng túng Thống lĩnh thi đàn thơ lúc
đó là hai trường phái: phái Teitoku và phái Danrin Phái Teitoku thiên vềbảo thủ, trí thức Họ cho rằng thơ Haikai chỉ là một thể thơ giải trí đơnthuần, Renga cổ điển mới cần sự trang trọng Còn phái Danrin lại đề cao,kiếm tìm sự tinh tế, phóng khoáng cho những vần thơ Haikai Linh hồncủa trường phái Danrin là Nishiyama Sôin Ông là người đã đưa thơHaikai vượt thoát ra ngoài khuôn khổ, vượt thoát ra khỏi yếu tố dung tục,tầm thường Tư tưởng của Sôin về một mặt nào đó, có ảnh hưởng rất lớnđến thơ Haiku của Basho sau này
Đến một ngày, định mệnh thơ Haikai rơi vào tay Basho "Ông sáng tạomột phong cách mới, dung hợp sự trào lộng, đời thường của Haikai hiệnđại với yếu tố tâm linh của Renga cổ điển trong một khổ thơ ngắn 17 âmtiết gọi là Hokku (phát cú), nguyên là khổ thơ mở đầu cho bài liên ca"[12, 263]
Trang 25Những khổ thơ Hokku đó sau này được Basho tách ra thành một thểthơ độc lập, đứng ngoài mối liên hệ phụ thuộc vào thơ Haikai và Renga.Những vần thơ của Bashô về sau, khi ông giác ngộ tư tưởng Thiền, càngmang sắc màu tâm linh, thâm sâu, u huyền dù vẫn đi sát với cuộc đời bình
dị, với thế giới thiên nhiên, với cây cỏ bốn mùa…Bằng hành trình sáng tạothơ Haiku , ông đã mở ra cho thơ ca Nhật Bản con đường đi mới, linh hồnmới Hậu thế ngưỡng mộ ông, trân trọng ngợi ca ông tới mức xưng tụng
rằng: "Nước Nhật sinh ra cùng với Basho vào năm 1644 Ông chính là
người đã sáng tạo ra linh hồn Nhật Bản" (dẫn theo Nhật Chiêu [12,
tr.274])
Thơ Haiku của Matsuo Basho mang đậm một màu Thiền, thanh thản đitrong thế giới ngát hương Thiền Thế giới ấy tuy không xa lạ với chúng ta,rất gần chúng ta song lại sâu xa, thâm trầm, khó có thể cắt nghĩa, lý giảihết Basho là Thiền gia, một triết nhân; Basho cũng đồng thời lại là mộtthi nhân, một tác giả Nói một cách khác, những vần thơ Haiku của ông cóThiền trong Thi và có Thi trong Thiền Chất Thiền - Chất Thơ không táchbạch mà xuyên thấm vào nhau, hòa quyện trong nhau, làm nên một thếgiới biểu tượng vừa quen thuộc lại vừa giàu ý nghĩa biểu trưng Chính vìvậy, chỉ một bài thơ Haiku 17 âm tiết của ông vẫn đủ sức mạnh làm vangđộng, chấn động cả nền văn học Nhật Bản Tất cả được khởi đầu bằngbước nhảy của biểu tượng con ếch:
Furu ike ya Kawazu tobikomu Mizu no oto
Dịch thơ: Ao cũ
Con ếch nhảy vào Vang tiếng nước xao
(Nhật Chiêu dịch)
Trang 26hay bằng dáng đậu lặng lẽ của một con quạ trên cành khô trong chiều thu
cô tịch:
Kareeda ni Karasu no tomarikeri Aki no kure
Dịch thơ: Trên cành khô
Cánh quạ đậu Chiều thu.
(Nhật Chiêu dịch)
1.1.2.2 Biểu hiện của mỹ học Thiền trong thơ Bashô
Chất Thiền trong thơ Basho thể hiện đậm nét qua các sắc thái: sabi,wabi, karưmi, yughen…Trong phần này, chúng tôi chỉ xin đưa ra cáchhiểu về những sắc thái thẩm mỹ này trong thơ Haiku của Basho nói riêng
và thơ Haiku Nhật Bản nói chung Còn sự biểu hiện cụ thể của nó sẽ đượclàm rõ trong chương hai, khi chúng tôi đi vào khám phá thế giới biểutượng thơ Basho
Sabi là cảm thức thẩm mỹ đặc trưng nhất cho thơ Haiku của Basho nóiriêng và thơ Haiku Nhật Bản nói chung Sabi trong tiếng Nhật có nghĩa là
"tịch lặng" Nó là nguyên tắc mỹ học thiên về sự cảm nhận thế giới trong
vẻ trầm lắng, u buồn, tao nhã, tịch liêu nhưng không hề có sự bi lụy, chánchường Với Sabi, trong nỗi buồn, khi hòa tan nỗi buồn vào thiên nhiên,tâm hồn ta sẽ được giải thoát, nhẹ nhàng, thanh thản Chính chất Sabimang lại cho thơ Basho cái đẹp đơn sơ mà thâm sâu Ngay cả lúc Basho côđơn nhất, ông vẫn có thể tìm được sự bình an trong thế giới tự nhiên, trong
vũ trụ mênh mang, rộng lớn:
Tiếng chim cu kêu Nỗi buồn ta sẽ Tan vào tịch liêu
(Nhật Chiêu)
Trang 27Và cũng từ sự tịch lặng trong cảm thức Sabi mà chúng ta có cảm thứcYugen (u huyền) Nếu Sabi tìm kiếm nỗi cô liêu trong cuộc đời thì Yugenthiên về ý nghĩa tôn giáo, thâm sâu, u buồn và huyền ảo hơn.
Bên cạnh Sabi, chúng ta còn bắt gặp biểu hiện của chất Thiền trong thơHaiku của Basho qua cảm thức Wabi (đơn sơ) Những vần thơ Haikucủa Thiền giả Basho tưởng như rất bình thường, trống không mà chứa cảtrong nó thế giới thiên nhiên, sự sống phong phú, gợi cảm, mở ra trườngliên tưởng vô tận cho người đọc Nói như Nhật Chiêu, có lẽ cái đơn sơtrong thơ của Basho xét cho đến cùng chỉ là "một lối nghi trang"
Những năm cuối cuộc đời, khi chìm sâu trong Thiền, thơ Basho còn cóthêm một sắc thái thẩm mỹ mới: đó là Karưmi (khinh) Khinh tức là "sựnhẹ nhàng, thanh thoát tìm thấy ngay giữa cuộc đời ô trọc Một niềm khinhthanh êm đềm bay giữa tro than và cát bụi trần gian" [5, 192]
Cuối cùng, chất Thiền trong thơ Basho còn biểu hiện qua niềm bi cảmAware Một cảm thức xao xuyến trước mọi cái đẹp mang bản chất vôthường Bi cảm Aware thể hiện cái tinh tế của hồn thơ Basho và nét tâmhồn người Nhật Bản Nhìn thấy cái vui trong cái buồn, cảm được hạnhphúc trong nỗi đau nên trong mọi đối cực: còn - mất, đi - ở, sống - chết,ngắn ngủi - vĩnh hằng Basho đều cảm nhận được cái Đẹp của nó Ngay
cả chú ve trong thơ Basho cũng biết hạnh phúc vì đã được hát ca dù cáichết đến rất gần:
Ve sầu vui hát Không mảy may hay biết Chết đã gần kề
(Vĩnh Sính dịch)
Cuộc sống là vô thường, mọi quy luật sinh - tử đều không nằm ngoài lẽ
vô thường, chú ve của Basho cũng thuộc về thế giới vô thường Vậy màtiếng ca của nó vẫn đầy niềm hân hoan Nó đã sống trọn một đời ve, mộtđời "ca sĩ thiên nhiên", để rồi khi thoát xác, nó vẫn không hề cảm giác
Trang 28được sự bi thương khi cái chết đang đến gần Chú ve của Basho là biểutượng được hình thành từ niềm bi cảm Aware của người Nhật Bản Trongmột cái nhìn đậm chất Thiền mang sắc màu bi cảm, con người mới thấu
nhận một chân lý: cái bi cũng là niềm khoái cảm của cuộc đời, là cái để ta
hân thưởng
Tóm lại, có thể nói, Thiền không chỉ để lại dấu ấn trong đời sống vănhóa người Nhật mà nó là yếu tố tiên quyết tạo nên vẻ đẹp riêng cho thếgiới biểu tượng trong thơ Haiku của Matsuo Basho
1.1.3 Sử dụng biểu tượng – một đặc trưng của thơ ca Nhật Bản
1.1.3.1 Thế giới biểu tượng trong thơ ca Nhật Bản
Nhật Bản là một đất nước của thơ ca (thi quốc) Chính trên mảnh đấtnày, thơ ca xứ Phù Tang nảy nở và góp vào cho nhân loại những nét đặcsắc rất riêng mang dấu ấn tâm hồn người Nhật, Một trong những nét đặcsắc ấy là việc vận dụng biểu tượng Có thể khẳng định: Lịch sử thơ caNhật Bản là lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống các biểu tượng.Theo quy luật chung của lịch sử văn học thế giới: thơ ca bao giờ cũng
ra đời trước và nó đặt nền móng cho sự ra đời của văn xuôi tự sự Với nềnvăn học Nhật Bản cũng vậy, thơ ca xuất hiện ngay từ buổi bình minh củadân tộc Phù Tang Khi đất trời vừa hình thành, người Nhật đã có nhữngsáng tác thơ ca đầu tiên Và theo huyền thoại, bài thơ đó là sáng tạo củathần bão tố Susanoo Bài thơ được xem là khởi nguyên của Tanka (đoảnca) Để rồi từ những vần Tanka này, người Nhật và nền văn học Nhật cóHaikai, có Haiku, có Matsuo Basho…Điều thú vị nhất là ở bài thơ đầu tiêncủa thần Susanoo này, lắng nghe nó, chúng ta nhận ra nó là tiếng hát tâmhồn con người được chuyển tải qua những biểu tượng: biểu tượng Mây,biểu tượng con số Tám…
Dựng lên tám lớp mây Tám hàng phên dậu Trên xứ Izumo
Trang 29Che người ta yêu dấu Tám hàng phên xây
(Nhật Chiêu dịch)
Sở dĩ thần Susanoo làm bài thơ này vì khi xây cung điện tại Izzumo, xứ
sở làm tâm hồn con người trở nên thanh khiết, thần thấy tám lớp mây nổilên bao bọc một thế giới u huyền Đám mây đó là biểu tượng cho nghệthuật, cho thơ ca Thực chất thơ cũng như mây, cũng bồng bềnh, nhẹnhàng, diễm ảo và mỏng manh như thế Huyền thoại này giải thích cho tahiểu vì sao Tanka (thể thơ truyền thống của người Nhật Bản) lại có tên gọikhác là Yakumo (tám lớp mây)
Ngoài ra, theo quan niệm văn hóa của người Nhật, biểu tượng Mây ởđây còn mang tính dục Vì lẽ đó, bài thơ thường được hát trong những đêmtân hôn, lúc đôi trai gái muốn dựng tám lớp mây để tránh cái nhìn tò mòcủa mọi người Nhưng tại sao lại là tám lớp? Con số Tám với người Nhật
là con số thiêng, tượng trưng cho sự may mắn Nó cũng là một biểu tượngnhư biểu tượng mây, như đặc trưng của thơ ca Nhật Bản
Từ đám mây tình yêu, đám mây thi ca, đám mây nghệ thuật trong bàithơ huyền thoại của thần Susanoo, thơ ca Nhật Bản nảy nở và phát triểntrong một thế giới đầy ắp các biểu tượng Ngay tên gọi của tập thơ đầu tiên
mà người Nhật góp nhặt Manyoshu (Vạn diệp tập) cũng là một biểu tượngxuất phát từ thế giới tự nhiên: biểu tượng Chiếc lá Lý giải ý nghĩa củabiểu tượng này, nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu cắt nghĩa như sau:
"Những chiếc lá xanh nảy nở trên cành Đó là cách mà đời sống phát tiếtcái đẹp và tình yêu…Những chiếc lá là những vần thơ nhưng cũng có thểtượng trưng cho các thời đại Màu thời gian có lẽ cũng là màu của lá Vìthế, Manyoshu (Vạn diệp tập) còn có nghĩa là tập thơ của ngàn đời, củavạn đại như đôi khi nó được gọi: Mandai no shu (Vạn đại tập)" [5, 22].Sau Manyoshu, những tập thơ khác đều được các soạn giả tập hợp trêntinh thần phân loại theo đề tài, chủ đề, theo các nhóm biểu tượng Thống
Trang 30lĩnh những tập thơ đó là thế giới biểu tượng của thiên nhiên bốn mùa, của
vũ trụ, của đời sống tinh thần và đời sống tâm linh người Nhật Bản như:Kokinshu (Cổ kim tập), Kinyoshu (Kim diệp tập), Shikashu (Từ hoa tập),Senzaishu (Thiên tải tập)…
Biểu tượng đi sâu vào thơ ca Nhật Bản tới mức một số thi sĩ trước thờiBasho thậm chí tự chọn cho thơ mình một biểu tượng đặc trưng Để rồi,khi gọi tên thi nhân, chúng ta thường gắn liền với tên biểu tượng tràn ngậptrong thế giới thơ ông: chẳng hạn như Saigyo (1118 - 1190) là "nhà thơcủa hoa Anh đào", Myôe (1173 - 1232) là "nhà thơ của những vầngtrăng" Cả hai nhà thơ này đều là hai Thiền sư nổi tiếng, họ đượcY.Kawabata nhắc tới đầy trân trọng trong diễn từ nhận giải Nôben củaông Bởi lẽ, họ đều là những người con sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản, thơ cacủa họ cho thấy tình yêu thiên nhiên vô biên của người Nhật Bản Tìnhyêu đó lớn tới mức Saigyo và Myôe đã gắn số phận, tâm hồn của mình vàohai biểu tượng: hoa Anh đào và Trăng Saigyo từng ao ước:
Ước vọng của tôi
Là được chết Dưới cội hoa anh đào Vào đêm trăng rằm Trong ánh mùa xuân.
(Nhật Chiêu dịch)Ngày rằm tháng hai âm lịch vào mùa xuân được tin là ngày Phật nhậpNiết bàn Ước vọng ấy của Saigyô thật sự đã thành Ông đã chết đúng vàongày ấy của mùa trăng Niết Bàn năm 1190 “Hãy dâng hoa đào lên Phật,khi nào còn nghĩ đến tôi”, đó là lời ông gửi về hậu thế
Như vậy, trên một cái nhìn khái quát, có thể khẳng định việc dùng biểutượng trong thơ là một truyền thống của thơ ca xứ Phù Tang Và thế giớibiểu tượng trong thơ Matsuo Basho phần nào chịu ảnh hưởng của yếu tốtruyền thống này
Trang 311.1.3.2 Đặc sắc của việc vận dụng biểu tượng trong thơ ca Nhật Bản.
Tuy nhiên, việc dùng biểu tượng trong thơ không chỉ có ở văn học NhậtBản Điều mà chúng ta cần tìm hiểu thêm là: đặc trưng của việc vận dụngbiểu tượng trong thơ ca người Nhật
Đặc trưng thứ nhất của việc vận dụng biểu tượng trong thơ ca NhậtBản là thế giới biểu tượng ấy luôn gắn liền với thế giới thiên nhiên Haynói một cách khác, những biểu tượng quen thuộc dùng trong thơ là thiênnhiên bốn mùa, là hoa lá cây cỏ, là vạn vật, là vũ trụ…Lý do giải thích chođặc điểm này là tình yêu thiết tha, sâu lắng mà con người và dân tộc PhùTang dành cho thiên nhiên Người Nhật yêu thiên nhiên đến mức mọi hìnhảnh của cuộc sống, của cỏ cây thấm đượm trong cảm xúc và máu huyếtcủa họ Ngay từ trong những bài Tanka đầu tiên khi nền thơ ca Nhật Bảnđược hình thành, tiếng hát của con người đã là tiếng ca ngợi thiên nhiên,bày tỏ một tình yêu say đắm:
Trong mọi điều đang sống
Với người Nhật và dân tộc Nhật, thiên nhiên luôn tiềm ẩn cái Đẹp, làhiện thân của cái Đẹp Năm 1968, trong Diễn từ Nobel văn chương có tên
Sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản, nhà văn Yasunari Kawabata đã viết: thơ ca
Nhật Bản "chan chứa lòng nhân hậu, tình cảm ấm áp, đằm thắm đối vớithiên nhiên và con người - thể hiện sự dịu dàng sâu lắng của tâm hồn NhậtBản Những từ "tuyết, trăng, hoa" - nói về vẻ đẹp bốn mùa thiên nhiên
Trang 32thay nhau nối tiếp - theo truyền thống Nhật Bản là biểu tượng cho vẻ đẹpnói chung: của núi, sông, cỏ cây, của vô vàn những hiện tượng tự nhiên và
vẻ đẹp của cảm xúc con người" (dẫn theo Lê Huy Hòa, Nguyễn Văn Bình[28, 344])
Chính vì yêu thiên nhiên tận trong máu máu thịt, nên thơ ca Nhật Bản,thơ Haiku nói chung và thơ Haiku Basho nói riêng luôn luôn gắn bó vớithiên nhiên Đó là những bức tranh thiên nhiên có sức dẫn khởi đặc biệt.Không chỉ hoa đào, chim cu mà còn có chấy, rận Không chỉ hương thơm
mà còn có cả nước đái ngựa Nghĩa là toàn thể thiên nhiên không tô vẽ Đó
là thế giới của thực tại Và chính vì thế, đó là thế giới của huyền diệu, củanhững biểu tượng giàu ý nghĩa biểu trưng
Đặc trưng thứ hai của việc dùng biểu tượng trong thơ ca Nhật Bản làthế giới biểu tượng ấy không những gắn với thiên nhiên mà còn gắn vớitôn giáo Vì xứ sở Phù Tang là xứ sở của các vị thần, của Thiền và Phậtgiáo Người dân Nhật Bản sống thiên về mặt nội tâm Cho nên, nền thơ ca
đó chứa đầy các biểu tượng tôn giáo như: Đền, Chùa, Tiếng chuông, Phật
Đà, Bàn tay, Tham Thiền, Công án…Đi vào thế giới biểu tượng trong thơHaiku của Basho ta sẽ rõ thêm đặc điểm này
1.2 Đặc trưng thơ Haiku nhìn từ góc độ thể loại
Thơ Haiku chính thức được biết đến nhờ vào những đóng góp và sángtạo của Basho Ông chính là người tạo nên linh hồn cho thể thơ nhỏ nhắn,trống không mà vô biên, đậm chất Thiền này Vì vậy, trước khi nói đến thếgiới biểu tượng trong thơ Haiku của Matsuo Basho, không thể không nhắctới đặc trưng thơ Haiku từ góc độ thể loại
1.2.1 Đề tài
Đề tài trong thơ Haiku vô cùng phong phú, đa dạng vì thơ Haiku ômtrùm cả cuộc sống, cả thiên nhiên bốn mùa, cả cỏ cây vũ trụ Có thể nóirằng, bất cứ cái gì thuộc về cuộc sống đều có thể là đề tài cho các nhà thơHaiku khám phá
Trang 33Khi nhà thơ haiku chọn đề tài, họ không bao giờ từ chối những sự vậtnhỏ bé, bình thường mộc mạc Tuy hệ thống đề tài chủ yếu là thiên nhiên,còn gọi là "quý đề" (kidai), nhưng thiên nhiên ấy không hiện lên ước lệ,trang trọng như thơ ca cổ điển Trung Hoa mà là những phong cảnh bình
dị, những sự vật, con bật nhỏ bé, tầm thường Các nhà thơ Haiku trântrọng những khoảnh khắc thực tại vì đó là tài sản quý giá nhất trong cuộcsống con người Thực tại là món quà vô giá, thi nhân trân trọng để sốngcùng với nó trong từng Sat-na ngắn ngủi Vì thế cho nên, giữa tuyết lạnhmùa đông giá, Matsuo Basho hồn nhiên vui như đứa trẻ thơ trước một mónquà thú vị mà ông làm ra được từ tuyết đó là quả cầu trắng:
Cời lửa lên đi Món quà của tôi rất tuyệt Quả cầu tuyết đây
(Nhật Chiêu dịch)Trong khi Buson lại cảm nhận một vẻ đẹp rất đỗi đời thường mà cũngthật tình tứ trong thiên nhiên mùa xuân ở vào khoảnh khắc:
Băng qua vũng nước nông Bàn chân cô gái
Vẩn bùn lên nước xuân trong.
(Nhật Chiêu dịch)
Do đó, thơ Haiku luôn có một hệ thống "quý ngữ" (kigo tức từ chỉ
mùa) đi kèm với các đề tài Các kigo này tạo ra sức gợi mở lớn, làm thànhnét đặc trưng cô đọng, giàu cảm xúc của thơ Haiku
Các kigo phổ biến cho từng mùa hay gặp là:
Mùa xuân: hoa đào, hoa mận, chim én, chim sẻ, dòng suối…
Mùa hạ: hoa quỳ, hoa thược dược, chim cu, đom đóm, con ve, mưatháng năm…
Mùa thu: hoa tử đinh hương, hoa triêu nhan, lá phong châu chấu,chuồn chuồn, trăng…
Trang 34 Mùa đông: tuyết, lá mục, hoa thủy tiên, cây tùng, sương mù…
Có thể nói, chính việc lựa chọn đề tài này là yếu tố quan trọng làm nênthế giới các biểu tượng thiên nhiên trong thơ Haiku nói chung, thơ Haikucủa Matsuo Bashô nói riêng
1.2.2 Kết cấu chân không
Bên cạnh nét độc đáo của đề tài, thơ Haiku còn hấp dẫn chúng ta bởi
lối kết cấu đặc biệt của nó: Kết cấu chân không.
Kết cấu chân không được hiểu là sự lược bỏ hết các yếu tố bên ngoài,các phương tiện kết nối hình ảnh, ngôn từ bài thơ nhằm tạo nên mộtkhoảng trống, khoảng chân không Điều đáng nói là khoảng không đượctạo nên từ kết cấu bài thơ không hề trống rỗng, đơn giản, sơ lược Trái lại,
nó chứa đầy cảm xúc, suy tưởng của con người Nó thể hiện giáo lý nhàPhật ở tinh thần "bất dục doanh" (không muốn đầy)
Đọc một bài thơ Haiku , ta cứ ngỡ rằng mình đang được chiêm ngưỡngmột bức tranh thủy mặc Giản ước, trống vắng với các nét vẽ đơn sơ đủ đểgợi ra cho người đọc một chuỗi liên tưởng, tưởng tượng không có giớihạn Nói như Kawabata: "Trọng tâm của bức tranh thủy mặc nằm ởkhoảng không, nghĩa là ở khoảng trống không có nét vẽ" (dẫn theo NhậtChiêu, [11, 15]) Đây có lẽ là lý do cắt nghĩa nguyên nhân tại sao thơHaiku rất ít khi sử dụng tính từ, phụ từ, trợ từ, quan hệ từ…
Để chứng minh cho kết cấu chân không trong thơ Haiku , xin được lấymột bài thơ của Basho làm dẫn dụ:
Con quạ ô sáng mai trong tuyết đẹp không ngờ.
Toàn bộ bài thơ chỉ vẻn vẹn có vậy Con quạ ô trên cái nền không gianphủ đầy tuyết trắng đem tới cho thi nhân cảm nhận về cái Đẹp và niềm hânthưởng cái Đẹp Còn đẹp như thế nào, tương quan giữa các biểu tượng rasao, Bashô không hề đề cập Trong nguyên văn tiếng Nhật, bài thơ như
Trang 35sau: "Higoro nikuki/ kasasu mo yuki/ no ashita kana" (tạm dịch nghĩa là:
Hàng ngày (con quạ) thật đáng ghét (nhưng) sớm mai con quạ trong tuyết, có thể ) Ý thơ chỉ dừng lại với từ có thể, Basho không nói gì thêm,
tất cả phụ thuộc vào cảm nhận riêng của từng người đọc Nói như thi hào
Ấn Độ Targo đại ý: Trong thơ Haiku, nhà thơ chỉ miêu tả sự vật rồi bướcnhanh qua một bên cho người đọc thỏa sức phát huy trí tưởng tượng
Kết cấu chân không trở thành nét đặc trưng nổi bật trong thơ Haiku Để
từ đó, chúng ta có một thế giới biểu tượng đa nghĩa, phong phú ẩn chứatrong những vần thơ nhỏ nhắn, đơn sơ này
1.2.3 Cấu trúc bài thơ
Đứng về mặt cấu trúc bài thơ, thơ Haiku được xem là thể thơ ngắnnhất thế giới Tất cả chỉ vẻn vẹn có 17 âm tiết viết liền trong một dòng thơ,với nhịp ngắt truyền thống là 5/7/5 Vần trong thơ Haiku cũng khôngnhiều và chặt chẽ như vần trong thơ Đường luật Thông thường, chỉ cómột vần chân nối giữa dòng 5 âm tiết và dòng 7 âm tiết Ví dụ như:
Saru wo kiku hito Sutego ni aki no Kaze ika ni.
Bản dịch thơ:
Tiếng vượn kêu ư?
Đứa bé bỏ rơi đang khóc Trong gió mùa thu
(Nhật Chiêu dịch)Nếu đặt cấu trúc bài thơ Haiku trong sự đối sánh với cấu trúc củanhững thể thơ ngắn trên thế giới và trong văn học phương Đông như: Tứtuyệt của Trung Quốc, lục bát của Việt Nam ta sẽ nhận thấy được sựtương đồng cũng như khác biệt của nó ở phương diện cấu trúc
Cấu trúc của thơ tứ tuyệt Đường luật (bao gồm cả tứ tuyệt ngũ ngôn
và tứ tuyệt thất ngôn) là một chỉnh thể chặt chẽ, có niêm luật, có quy tắc
Trang 36ngắt nhịp, phối thanh điệu, gieo vần Ngay cả việc nhà thơ sử dụng bằngtrắc trong câu cũng phải tuân theo nguyên tắc bất di bất dịch "nhất tamngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh" Và những quy định về mặt cấu trúcnày được hầu hết các nhà thơ tuân thủ một cách tuyệt đối Chỉ trong mộtvài trường hợp cá biệt, ta mới thấy có tác giả tạo ra được sự phá cáchtrong những bài thơ tứ tuyệt của mình Nhưng sự phá cách đó vẫn nằmtrọn trong khuôn khổ chung.
Cấu trúc thơ lục bát, trái với Đường luật, lại nhịp nhàng, uyển chuyểnhơn Về cơ bản, lục bát chỉ đòi hỏi sự đan xen hai cặp câu 6 - 8, chứkhông giới hạn số câu, chữ trong một bài thơ Lục bát sử dụng vần chân,tiếng thứ 6 của câu 6 bắt vần với tiếng thứ 6 của câu 8, nhịp ngắt câu thơphổ biế là nhịp chẵn Cho nên, lục bát có âm hưởng nhẹ nhàng, linh hoạt,
dễ làm, dễ nhớ, dễ thuộc
Cấu trúc của bài thơ Haiku tuy cô đọng, ngắn gọn trong số âm tiết ít
ỏi giống với tứ tuyệt và lục bát nhưng nó lại đòi hỏi sự mẫn cảm, dàycông hơn của người nghệ sĩ Haiku không bó buộc trong quy tắc gieovần, phối thanh Nó cũng không bắt nhà thơ phải nhất nhất ngắt bài thơtheo nhịp truyền thống 5/7/5 và gói dung lượng trong 17 âm tiết Một sốbài Haiku có thể kéo dài thành 19 âm tiết 5/7/7 tùy vào ý tưởng, cảm xúccủa nhà thơ Thậm chí, không nhất thiết phải xếp bài thơ thành ba hànghay ba dòng thơ, trong văn bản Nhật, bài Haiku có khi được viết liền mộthàng, không ngắt quãng
Như vậy, cấu trúc thơ Haiku không nặng về quy tắc, luật lệ Đây vừa
là thuận lợi vừa là khó khăn của người làm thơ Thuận lợi vì cũng như tưtưởng Thiền, Haiku tự do, đứng ngoài mọi quy luật Khó khăn vì cấu trúcđơn sơ ấy lại đòi hỏi một sự cô đọng, kết tinh cao độ Mỗi bài thơ Haikuphải là một bức tranh thủy mặc, để lại vô số khoảng trống, với những nét
vẽ nhiều khi sơ sài, không dụng công để nén vào trong đó cả biển Thiềnthâm sâu, gợi lên trong lòng người trường liên tưởng, dư âm không dứt
Trang 371.2.4 Ngôn ngữ
Do cấu trúc đòi hỏi sự lắng đọng như trên cho nên người làm thơ
Haiku phải biết "kiệm từ", chọn những từ và ý nào thật đắt, cô đọng, ẩn
chứa nhiều ý nghĩa để đưa vào thơ
Các nhà thơ Haiku cho rằng bản thân ngôn ngữ là linh thiêng (ngônlinh) nên ý nghĩa của nó không nằm bên ngoài con chữ mà nằm ở chiềusâu suy tưởng, tình cảm bên trong Từ ngữ mà thi nhân dùng phải đạt "sựtinh giản của tâm hồn" (R.Tagor) Do vậy, các nhà thơ không ngần ngạilược bỏ hết những từ ngữ thừa, những phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ, tính
từ để không hạn chế liên tưởng của người đọc vào một cảm nhận nhấtđịnh Thơ Haiku giản lược tối đa chữ nghĩa trong thơ để vậndụng trí tưởng tượng nơi người đọc Không có người làm thơ
và kẻ đọc thơ, cả hai nhập làm một, đồng âm cộng hưởngtrong niềm rung cảm với sự liên hệ rất tinh tế và hài hòa củađất trời
Vì vậy, thơ Haiku có sức mạnh vượt lên cả ngôn từ, cái công cụ màchúng ta vẫn xem là có vị trí quan trọng, cốt lõi nhất của thơ ca, là chấtliệu xây dựng nên thơ ca Nói như nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản NhậtChiêu: "Cái tinh tế cô đọng và thâm trầm là linh hồn của thơ Haiku ThơHaiku ít lời nhưng vượt qua lời, mở ra thế giới, mở ra con đường sâuthẳm" [6, 33] Chính thi hào Basho, người đã tạo ra linh hồn, gương mặtcho thơ Haiku cũng thú nhận trong một vài trường hợp, ngôn ngữ không
đủ sức để chuyển tải suy tư của nhà thơ "lời thì bất khả" Cho nên khi mới
thoạt nhìn những bài thơ Haiku của Basho, chúng ta ngạc nhiên, nghi hoặc
về khả năng biểu đạt của nó Nhưng một khi đã đi vào thế giới thơ Basho,
ta sẽ nhận ra rằng: thoạt nhìn chỉ là một bài thơ ngắn gọn, vậy
mà người thơ đã dẫn dắt chúng ta đi qua một khu vườn chữnghĩa nhỏ hẹp để thênh thang bước vào một cõi tư duy vô
Trang 38cùng bát ngát, một chân trời sáng tạo rộng mở mà ngườiđọc cần có một sự tưởng tượng dồi dào phong phú
Chính những đặc trưng này trong thơ Haiku đã góp phầnquyết định không nhỏ trong việc hình thành thế giới biểutượng trong thơ Haiku của Matsuo Basho
1.3 Con người, cuộc sống cá nhân và quan niệm thơ ca của Basho
Thế giới biểu tượng trong thơ Haiku của Matsuo Basho không chỉđược hình thành từ trên những nền tảng tư tưởng, cảm thức thẩm mỹ củangười Nhật Bản và truyền thống dùng biểu tượng trong văn học Nhật màcòn được hình thành dưới sự ảnh hưởng của yếu tố con người, cuộc đờiriêng của Basho
1.3.1 Basho – Hành giả giữa cuộc đời cát bụi
Sinh thời, Basho luôn tự nhận mình là một lữ nhân (tabibito) giữa cõiphù thế Một người lữ nhân rong ruổi trên những chặng hình trình tìm vềvới thiên nhiên, tìm kiếm vẻ đẹp Nhật Bản Và chính bằng lối các lối đinày, chúng ta có Matsuo Basho - một nhà thơ, một Thiền sư, một triếtnhân với những bài thơ Haiku tràn ngập một thế giới biểu tượng ở trongđó
Matsuo Basho sinh năm 1644, mất năm 1694 tên thật là MatsuoMunefusa Quê hương ông sinh ra là xứ Iga thành Ueno nhưng ông lại giã
từ cõi thế trên con đường du hành ở Osaka Bashô là con thứ bảy trongmột gia đình Samurai cấp thấp phục vụ cho lãnh chúa thành Ueno, ngôithành nằm giữa con đường đi Kyoto đến Ise
Cuộc đời Basho gói tròn trong năm mươi năm của một nửa kiếp người,nhưng những gì ông để lại chính là tinh chất, linh hồn Nhật Bản Đến mứcnhững thi sĩ đời sau xưng tụng rằng "Nước Nhật sinh ra cùng với Bashôvào năm 1644" Có thể nói, nếu hai yếu tố trên ảnh hưởng gián tiếp đến thếgiới biểu tượng trong thơ Haiku của Bashô thì yếu tố cuộc đời, cá tính con
Trang 39người lại ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành phong cách thơ "tiêuphong" của ông Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ xin phântích một vài dấu mốc đáng nhớ có ảnh hưởng sâu sắc đến việc dùng biểutượng trong thơ Basho.
Sự kiện đầu tiên phải kể đến như một bước ngoặt trong đời người, đờithơ Basho là cái chết của một người bạn, người chủ quân trẻ tuổiYoshitada khi Basho hai mươi hai tuổi (1666) Từ năm lên 9 tuổi, ông đãvào ở trong lâu đài lãnh chúa vùng Ueno, trở thành tùy tùng của con trailãnh chúa Yoshitada Một công tử hơn Basho hai tuổi Tuy là tùy tùngnhưng vị chủ quân này xem Basho như một người bạn thân thiết Cả haingười đã trải qua quãng đời thiếu niên gắn bó bên nhau, cùng nhau chơiđùa, cùng nhau học tập, cùng nhau làm thơ dưới sự hướng dẫn của thầygiáo Kitamura Kigin Tiếc thay người bạn, người chủ quân của Basho lạiyểu mệnh, mất sớm khi mới 24 tuổi Sau sự ra đi của người bạn, Basho từgiã quê hương lên Êdo dù không được lãnh chúa đồng ý Trước khi đi, ôngvào chùa Koya đặt một nắm tóc xanh của người bạn thay cho lời giã biệt
Có thể nói, cái chết của Yoshitada đã có một tác động mạnh tới Basho.Mất mát đầu tiên trong cuộc đời giúp Basho cảm nhận được cái mỏngmanh của thân phận con người, cái vô thường của cuộc sống Đó là lý docắt nghĩa phần nào sự hình thành các biểu tượng tượng trưng cho số phận,cho sự ngắn ngủi của đời người trong thơ Basho như: biểu tượng sương,biểu tượng hoa anh đào, biểu tượng bướm, biểu tượng tiếng chuông Sau khi rời quê hương lên Êdo năm 1672, cuộc đời Basho lại có dấumốc mới Đó là khoảng thời gian ông dành để nghiên cứu văn học NhậtBản cổ đại, văn học Trung Quốc, thư pháp và mở lớp dạy thơ Haikai (bàihài) Haikai là tên gọi tắt của thể thơ Haikai no renga (bài hài chi liên ca),một thể thơ thiên về trào lộng, nhẹ nhàng phóng túng do một người soạnhoặc nhiều người cùng soạn bằng cách nối các khổ thơ với nhau Trước
đó, trường phái Teitoku (1571 - 1653) được xem là trường phái thống trị
Trang 40thơ Haikai cổ điển Tuy nhiên, người có công đầu trong việc đưa thơHaikai vượt qua sự dung tục tầm thường lại là nhà thơ Soin (1605 - 1682)thủ lĩnh của phái Danrin Tư tưởng của Soin đã có một sức ảnh hưởng khálớn với hướng đi của Bashô sau này trong việc cách tân thơ Haikai thànhthể thơ Haiku độc đáo.
Sau 8 năm sống ở Êdo, năm 1680 là một năm đáng nhớ trong đờingười, đời thơ của Basho Đây là năm ông về ở tại Basho- am, lấy bút hiệu
là Basho và bắt đầu định hình cho mình phong cách thơ Shofu Basho- am
là một túp lều nhỏ nằm bên dòng sông Sumida do một người học trò dànhtặng Basho Sở dĩ, nó có tên là "Ba tiêu am" vì ở đây thi nhân trồng trongsân nhà cây chuối, một loài thực vật có nguồn gốc từ Trung Hoa còn khámới lạ trong cuộc sống của người Nhật Bản Khi đệ tử mang tặng choBasho cây chuối, ông đã say mê nó, bởi nó tượng trưng cho tính nhạy cảmcủa người nghệ sĩ Và bắt đầu từ đây, Basho (cây chuối) là bút danh củanhà thơ, cũng bắt đầu từ đây, phong cách thơ Shofu (tiêu phong) đượcđịnh hình Shofu là phong cách thơ dung hợp giữa sự trào lộng nhẹ nhàngcủa Haikai đương thời với yếu tố cao nhã, tâm linh trong Renga cổ điển
Lý do nhà thơ gọi tên phong cách thơ của mình là Shofu vì theo tiếngNhật, nó có nghĩa là: tàu lá ba tiêu bị xé tan trong gió đêm giông bão Đờinghệ sĩ, cái đẹp, vẻ thiện lành, tất thảy đều mong manh như tán lá chuốirộng dễ bị xé tan trong gió kia
Trong thời gian ở am "Ba tiêu", Basho bắt đầu tu tập Thiền đạo dưới sựhướng dẫn của một vị Thiền sư trong miền Tư tưởng Thiền thấm vào thơông, làm nên một sự cách tân thơ ca độc đáo Basho đã tách câu đầu gồm
17 âm tiết (5/7/5) trong thơ Renga thành một thể thơ độc lập cực ngắn.Ban đầu nó có tên là Hoku (phát cú: nghĩa là câu mở đầu của bài Waka).Sau này, nó được biết đến với tên gọi bất hủ: thơ Haiku
Nhưng chính vào thời điểm danh tiếng bắt đầu lan xa, rực rỡ, Basho lạilên đường lãng du khắp đất nước Nhật Bản để tìm con đường đạt được đại