1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Cảm thức tôn giáo trong sáng tác của nguyễn việt hà

103 79 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, dưới một kiểu cảm quan đời sống đặc thù, tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà đã thể hiện khá sinh động những trạng thái tinh thần tiêu biểu và câu chuyện tâm thức đặc thù của con người

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM ĐÌNH NGỌC DIỆP

CẢM THỨC TÔN GIÁO TRONG SÁNG TÁC

CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thừa Thiên Huế, năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM ĐÌNH NGỌC DIỆP

CẢM THỨC TÔN GIÁO TRONG SÁNG TÁC

CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Phạm Đình Ngọc Diệp

Trang 4

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Huế

Cuối cùng và rất quan trọng, luận văn này dành tặng cho Ba Mẹ và hai anh của tôi, những người đã luôn yêu thương và khai sáng trong tôi lời dạy “Hãy luôn vươn tới bầu trời vì nếu không chạm tới các ngôi sao thì con cũng ở giữa các vì tinh tú'”

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan II Lời cảm ơn III Mục lục 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ TÔN GIÁO VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NÓ VỚI VĂN HỌC 9

1.1 Giới thuyết về tôn giáo 9

1.1.1 Những quan niệm về tôn giáo 9

1.1.2 Cảm thức tôn giáo 13

1.2 Mối quan hệ giữa tôn giáo với văn xuôi Việt Nam đương đại 14

1.2.1 Mối quan hệ giữa tôn giáo với văn học 14

1.2.2 Đức tin tôn giáo cứu rỗi con người 18

1.3 Vấn đề cảm thức tôn giáo đối với sáng tác của Nguyễn Việt Hà qua tác phẩm Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn 20

1.3.1 Vài nét về sáng tác của Nguyễn Việt Hà 20

1.3.2 Vấn đề cảm thức tôn giáo qua hai tác phẩm Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn 25

Chương 2 CẢM THỨC TÔN GIÁO TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ NHÌN TỪ SỰ PHẢN ÁNH VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI 30

2.1 Cảm thức về con người 30

2.1.1 Con người mang niềm tin tôn giáo 30

2.1.2 Con người sám hối, tội lỗi 33

Trang 6

2.1.3 Con người cô đơn, lạc lõng 36

2.1.4 Con người mất chúa - đổ vỡ niềm tin 38

2.1.5 Con người khát vọng 41

2.2 Cảm thức về thế giới 44

2.2.1 Thế giới hiện thực đầy biến động 45

2.2.2 Thế giới phi lí 47

2.2.3 Thế giới “ Mọi sự đều là ý Chúa” 49

2.2.4 Thế giới thiêng liêng 51

2.2.5 Thế giới mang giáo lý và lễ nghi 53

Chương 3 CẢM THỨC TÔN GIÁO TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ NHÌN TỪ CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 56

3.1 Nghệ thuật trần thuật 56

3.1.1 Giọng điệu trần thuật 56

3.1.2 Ngôn ngữ trần thuật 64

3.1.3 Điểm nhìn trần thuật và người kể chuyện 71

3.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 78

3.2.1 Cốt truyện phân mảnh, lắp ghép 78

3.2.2 Cốt truyện gợi mở 81

3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 83

3.3.1 Nhân vật phân mảnh tâm lý 83

3.3.2 Nhân vật bị “mờ hóa” chân dung 85

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phong phú, đa dạng và cũng hết sức phức tạp Ở mỗi thời kỳ, nó có sự biến đổi và mang những màu sắc khác nhau Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin đặc thù của tôn giáo với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, một thành phần của kiến trúc thượng tầng, là sự phản ánh hư ảo

về những điều kiện sinh hoạt xã hội của con người Thế giới khách quan trong

sự phản ánh của tôn giáo được khoác lên vẻ hoang đường, thần bí, song nó lại có sự tác động rất lớn đối với đời sống tinh thần con người Họ tìm đến với tôn giáo như

là nơi trú ngụ, cứu rỗi cho linh hồn mình, giải toả những bế tắc trong cuộc sống khi không tìm thấy hướng giải thoát nào đó ở hiện thực khách quan, họ hướng tới đức tin, cầu mong một điều gì đó an lành và tốt đẹp hơn Xét đến cùng thì tôn giáo cũng chính là một trong những nguồn gốc của văn hoá-tín ngưỡng Do đó, nó đi vào đời sống và văn chương như một lẽ tự nhiên, trở thành mạch nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nghệ sĩ, giúp họ tạo nên những tác phẩm có giá trị lớn, gây ấn tượng mạnh trong lòng độc giả

Việc nghiên cứu tôn giáo đã có từ lâu và đã được nhiều nhà khoa học đề cập đến Tuy nhiên, dưới một kiểu cảm quan đời sống đặc thù, tiểu thuyết Nguyễn Việt

Hà đã thể hiện khá sinh động những trạng thái tinh thần tiêu biểu và câu chuyện tâm thức đặc thù của con người thời đại đặc biệt là niềm tin tôn giáo vào cuộc sống của mỗi con người Bên cạnh đó còn phải kể đến các nhà văn tên tuổi lớn như: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương…

Họ là những cây bút sáng tạo đã tạo nên một diện mạo mới cho văn xuôi Việt Nam Tiểu thuyết bởi lẻ là một thể loại giữ vai trò trung tâm của đời sống văn học hiện đại, so với các thể loại khác tiểu thuyết có nhiều ưu thế trong việc phản ánh sự phong phú sinh động của đời sống khách quan Khai thác từ yếu tố tôn giáo trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà, luận văn làm nổi bật mối quan hệ tôn giáo và văn học mà lâu nay giới lý thuyết phê bình nghiên cứu hay nói đến

Nguyễn Việt Hà là một gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương

Trang 8

được xem như nổi bật trong hàng ngũ nhà văn Trong văn của ông, chất phố phường

trào lộng cay đắng vẫn không giấu những trang trữ tình rất Hà Nội, bên cạnh đó niềm tin về tôn giáo được bàn đến như một lối sống thường nhật của người dân nơi này Có thể nói những sáng tác của ông mang dấu ấn văn hóa của người Hà Nội, bằng sự trải nghiệm và vốn hiểu biết thực tế, Nguyễn Việt Hà đã dựng lại chân dung Hà Nội đậm nét, đó là một đô thị phức tạp Một số tác phẩm tiêu biểu của ông

viết về Hà Nội như tiểu thuyết Cơ hội của Chúa (1999) và Khải huyền muộn (2003) , Ba ngôi của người (2014), tập truyện ngắn Của rơi (2004) Ngoài một số truyện

ngắn và tiểu thuyết được in thì Nguyễn Việt Hà còn được biết đến là một nhà văn

có những cuốn tạp văn đặc biệt như : Nhà văn thì chơi với ai (2005), Mặt của đàn ông (2008), Đàn bà uống rượu (2010), Con giai phố cổ ( 2013) đã gây được sự chú

ý của độc giả

Cảm thức tôn giáo trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà, đã tạo nên những nét đặc sắc riêng biệt thể hiện cách nhìn về một thế giới thực tại, đó không chỉ là cơ

sở cho những thể nghiệm táo bạo từ nội dung đến nghệ thuật tiểu thuyết mà còn là

sự hiểu biết sâu rộng của nhà văn về tôn giáo Qua đó, thấy được sự sáng tạo của nhà văn trong việc xây dựng tác phẩm

Việc chọn đề tài Cảm thức tôn giáo trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà, người

viết hi vọng sẽ khám phá thêm về những yếu tố cấu thành nhân sinh quan, thế giới quan của nhà văn, đồng thời, giúp người đọc hiểu thêm một khía cạnh mới trong nhận thức khám phá về niềm tin tôn giáo

2 Lịch sử vấn đề

Với số lượng tác phẩm không nhiều nhưng Nguyễn Việt Hà vẫn khẳng định được vị trí của mình trong nền Văn học Việt Nam đương đại Chính vì lẽ đó, tác phẩm của ông sớm được giới lí luận phê bình nghiên cứu quan tâm Có thể kể đến những công trình liên quan trực tiếp và gián tiếp sau đây:

2.1 Những công trình liên quan gián tiếp đến đề tài

Chúng tôi tập trung vào các công trình sau:

Hà Minh Đức (chủ biên) (1995), Lý luận văn học, NXB Giáo Dục; Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2005; Nguyễn Văn Hạnh, Tôn giáo và thơ ca nhìn từ Phương Đông, Tạp

Trang 9

chí nghiên cứu Văn học 2/2006, Viện Văn học-Viện KHXHVN, trang 105-127; Đỗ

Minh Hợp (chủ biên), Tôn giáo học nhập môn, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2006, trang 25; Phương Lựu, Vì một nền lí luận văn học dân tộc-hiện đại, NXB Văn học nhà văn số 4/2008, trang 113-125; Phương Lựu (chủ biên), Lí luận văn học tập 1, NXB Đại học Sư Phạm, 2009, trang 109; Trần Đăng Sinh-Đào Đức Doãn, Giáo trình Tôn giáo học, NXB ĐH Sư phạm, 2009; Lê Dục Tú, Cảm quan tôn giáo trong văn xuôi Việt nam đương đại, Tạp chí nghiên cứu Văn học số 4-2014, trang 34-43; Nguyễn Thế Nghĩa (chủ biên), Những nguyên lý Triết học, NXB Chính trị Quốc gia-Sự Thật

Hà Nội, 2014

Nhìn chung những công trình nêu trên của các tác giả chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề chung về tôn giáo trong quan hệ với Văn học

2.2 Những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài

Chúng tôi tập trung vào các công trình, bài viết liên quan sau đây:

Hoàng Ngọc Hiến, trong bài Đọc Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, Tạp chí Sông Hương số 130, tháng 12/1999; Đông La, Vài điều về tư tưởng nghệ thuật trong Cơ hội của Chúa, Tạp chí Sông Hương số 131/01-2000; Nguyễn Huy Thiệp, Khải huyền muộn-cảm hứng và những dấu hiệu của hình thức nghệ thuật đương đại

trong tiểu thuyết, Tạp chí nghiên cứu Văn học 4/2006, trang 138; Nguyễn Chí

Hoan, Khải huyền muộn: cuốn tiểu thuyết về chính nó (trích Thay lời bạt, Nguyễn

Việt Hà-Khải huyền muộn, NXB Trẻ, 2013, trang 342-354); Lê Thị Thúy Hằng,

Tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 – nhìn từ lý thuyết đối thoại (Khảo sát qua tiểu

thuyết Nguyễn Việt Hà), Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường ĐHKH Huế,

tập1 số 2 (2014), trang 26-36; Đoàn Cầm Thi Cơ hội của Chúa: Từ nhật ký đến hậu trường văn học( Trích thay lời bạt, Nguyễn Việt Hà- Cơ hội của Chúa, NXB Trẻ,

2014, trang 503-525); Nguyễn Thị Ngọc Lê, Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà từ góc nhìn liên văn bản, 2015, Luận Văn Thạc sĩ Đại học Sư Phạm Huế

Tất cả các công trình, bài viết trên đều có liên quan trực tiếp về sáng tác của Nguyễn Việt Hà, đặc biệt là về nội dung và nghệ thuật Có thể thấy, dù đã có một số công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn việt Hà trên nhiều phương diện khác nhau như: giọng điệu, ngôn ngữ, yếu tố liên văn bản cũng như vấn đề tôn giáo,

Trang 10

nhưng vấn đề Cảm thức tôn giáo trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà cho đến nay

vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát một cách kỹ lưỡng và cụ thể Trong những công trình trên đây là những tư liệu có nhiều gợi ý cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề cảm thức tôn giáo trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà được triển khai trên các bình diện cảm thức tôn giáo

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Để nghiên cứu đối tượng nêu trên người viết tập trung khảo sát những tác

phẩm sau đây:Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn

- Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo toàn bộ sáng tác của Nguyễn Việt Hà để thấy được sự sáng tạo văn học của ông thông qua vấn đề tôn giáo

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai nghiên cứu đề tài người viết vận dụng những phương pháp và thao tác chủ yếu sau đây:

4.1 Phương pháp phân tích tổng hợp

Tôn giáo là một trong những vấn đề rất quen thuộc và gần gũi với đời sống con người Với đề tài này người viết vận dụng phương pháp phân tích tác phẩm, phân tích các yếu tố nội dung để làm rõ những nét độc đáo về cảm thức tôn giáo trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà Từ đó tổng hợp lại, khái quát lại một cách rõ nét để có cái nhìn khái quát hơn về tác phẩm của ông

Sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp là phương pháp nghiên cứu cần thiết để có được cách nhìn toàn diện và cụ thể hơn

4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi tiến hành phương pháp so sánh, đối chiếu trên hai bình diện: đồng đại và lịch đại

-Về đồng đại: so sánh đối chiếu sáng tác tác phẩm của nhà văn với những nhà văn sáng tác cùng thời để tìm nét tương đồng và dị biệt vốn tạo nên nét đặc sắc nghệ thuật của nhà văn

Trang 11

-Về lịch đại: so sánh đối chiếu với những sáng tác trước và sau có gì mới hơn

để thấy sự tiếp biến của nhà văn về phương diện đó

4.3 Phương pháp thống kê phân loại

Thống kê những yếu tố về nội dung và hình thức trên cơ sở đó phân loại và

nhận xét đánh giá nhận định theo mục đích đề tài nghiên cứu

4.5 Phương pháp liên ngành

Tôn giáo là vấn đề xuyên suốt và gần gũi với văn học Người viết sử dụng nhiều phương pháp liên ngành như: thi pháp hoc, tự sự học, tôn giáo học, xã hội học tiếp nhận văn học…để lí giải các vấn đề văn học qua cái nhìn tôn giáo thông qua các tác phẩm của Nguyễn Việt Hà…Có thể nói, đây là phương pháp chủ đạo, có ý nghĩa quan trọng trong việc khai triển luận văn Góp phần đáng kể vào việc làm sáng tỏ những vấn đề có ý nghĩa then chốt trong bài viết

5 Đóng góp của luận văn

Từ kết quả nghiên cứu đề tài luận văn đã đem lại những đóng góp sau đây:

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về cảm thức tôn giáo trong văn học được thể hiện qua các tác phẩm của Nguyễn Việt Hà giúp người đọc hiểu một cách tường minh, đầy đủ và toàn diện

- Luận văn từ kết quả nghiên cứu của các nhà văn là một tư liệu tham khảo quý báu nói chung và nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Việt Hà nói riêng, đặc biệt vận dụng lý thuyết này giải quyết một cách thỏa đáng cách nhìn và đánh giá trong văn học

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn được người viết triển khai thành ba chương sau đây:

Trang 12

Chương 1: Giới thuyết về tôn giáo và mối quan hệ giữa nó với Văn học

Chương 2: Cảm thức tôn giáo trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà nhìn từ sự

phản ánh về con người và thế giới

Chương 3: Cảm thức tôn giáo trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà nhìn từ các

phương thức thể hiện

Trang 13

Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ TÔN GIÁO VÀ MỐI QUAN HỆ

GIỮA NÓ VỚI VĂN HỌC

1.1 Giới thuyết về tôn giáo

1.1.1 Những quan niệm về tôn giáo

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội Mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo

Trên thế giới có tới hàng ngàn các loại hình tôn giáo khác nhau Do cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau, vì vậy các quan niệm về tôn giáo cũng rất khác nhau

Trước hết là những khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo

của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” [32, tr.599]

Từ những phân tích về bản chất và yếu tố cấu thành tôn giáo, GS Đặng

Nghiêm Vạn cho rằng: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó đươc biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lich sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng tôn giáo/xã hội khác nhau [52, tr.167]

Với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, tôn giáo là sự phản ánh một cách biến dạng, sai lệch, hư ảo về giới tự nhiên và con người, về các quan hệ xã hội Hay nói cách khác, tôn giáo là sự nhân cách hoá giới tự nhiên, là sự đánh mất bản chất người Chính con người đã khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên khác với bản chất của mình để rồi từ đó con người có chỗ dựa, được chở che, an ủi - dù

đó chỉ là chỗ dựa “hư ảo” Chỉ ra bản chất sâu xa của hiện tượng đó, Ph Ăngghen

Trang 14

viết: “tất cả tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những

lực lượng siêu trần thế” [25, tr.437]

Còn đối với C Mác: “tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để mất bản thân mình một lần nữa Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội

ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược” [37, tr.21]

Một số nhà thần học như Tomat Đacanh, Phôn ti lich … cho rằng: “ tôn giáo

là niềm tin vào cái thiêng liêng, huyền bí, ở đó ẩn chứa sức mạnh siêu nhiên có thể giúp con người thoát khỏi khổ đau và có được hạnh phúc.Niềm tin vào cái thiêng liêng, cái siêu nhiên ở đây chính là niềm tin vào Thượng đế Như vậy niềm tin vào cái “tối thượng” (Thượng đế) chính là tôn giáo”[37, tr.17-18]

Trong các nhà triết học duy vật trước Mác, thì Phoi ơ bach là người có quan

điểm tiến bộ nhất về tôn giáo Ông cho rằng: “Không phải Thượng đế sáng tạo ra con người mà ngược lại chính con người sáng tạo ra Thượng đế theo mẫu hình của mình”[37, tr.18] Tuy nhiên, do xuất phát từ quan niệm chung chung, trừu tượng về

con người nên Phoi ơ bach đã có hạn chế là không thấy được bản chất xã hội của tôn giáo, không thấy con đường khắc phục tôn giáo một cách khoa học

Từ những cách hiểu trên có thể nói tôn giáo là sự phản ánh xã hội con người vào trong ý thức của con người song sự phản ánh đó của xã hội vào ý thức con người là sự phản ánh phi lý tính, hoang đường để rồi sau đó lấy cái phi lý, cái hoang đường làm chân lý chuẩn mực, để giải thích hoặc chi phối cái hiện thực Rút ra từ

sự nghiên cứu các trước tác của Mác và Ăngghen, Hainchelin cho rằng: “Tôn giáo

là một sự phản ánh đặc biệt, hoang đường và sai lệch trong ý thức xã hội những mối liên hệ giữa con người với nhau và với tự nhiên, bởi con người cả trong xã hội nguyên thủy cũng như trong các xã hội được phân chia thành giai cấp cũng đều bị đặt dưới sự thống trị của những sức mạnh bên ngoài mà họ không nhận biết được”

[42, tr.4] Ngoài ra, các nhà lý luận theo trường phái duy tâm cho rằng: “ Tôn giáo

Trang 15

là cái tự có, thần thánh là cái hiện hữu ngoài thế giới vật chất và đến với con người qua một sự khải minh hoặc là một thuộc tính vốn có trong ý thức con người mà không lệ thuộc vào hiện thực khách quan” [42, tr.6-7], đồng thời tôn giáo còn là

“phương thức tồn tại và khắc phục sự tự tha hóa của con người Đó là sự tự tha hóa bên trong của mỗi cá nhân – đánh mất cái “tôi” bàng quan, thấy sự tồn tại của mình là vô nghĩa, tự đánh giá thấp bản thân và không còn tin vào chỗ đứng của chính mình nữa”[42, tr.60-61] Tuy nhiên, theo học thuyết duy vật Mác-xít thì

những gì nằm trong ý thức con người, kể cả tôn giáo đều là sự phản ánh của thế giới vật chất, xã hội con người

Bên cạnh những ý kiến của các nhà triết học như C.Mác, Ăngghen thì Hồ Chí Minh-với tầm nhìn của một danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại đã kế thừa những mặt tích cực của tôn giáo mà trong đó Hồ Chí Minh đã tìm thấy cái chung

của các tôn giáo là đều “phản ánh khát vọng tự do và hạnh phúc của quần chúng, hướng nhân loại tới bình đẳng, bác ái, khuyên con người làm điều thiện, loại trừ cái ác” [37, tr.173] Như vậy, khác hẳn với những quan niệm trước đây, quan niệm

của C.Mác và Ph Ăngghen về bản chất tôn giáo đã chỉ ra được mối liên hệ giữa tôn giáo và thế giới hiện thực- tôn giáo là hình thái ý thức xã hội cho nên nó cũng là cái phản ánh hiện thực khách quan Thế giới hiện thực mà nó phản ánh đã biến dạng sai lệch cả về nội dung và hình thức, trở thành “thế giới siêu thực” Con người kể từ khi sống thành tổ chức xã hội luôn bị chi phối bởi thế lực ở bên ngoài, chính sự thay đổi của xã hội đã khiến họ rơi vào những khổ đau và thế là tôn giáo dạy rằng mọi đau khổ của con người trong cõi thế là tất yếu và không có phương thuốc nào chữa khỏi ngoài sự phấn đấu bằng những biện pháp do tôn giáo chỉ dẫn để sau này được sống trong thế giới bên kia, không còn đau khổ, chỉ có hạnh phúc vĩnh hằng

Con người trần tục thật ra muốn sống hạnh phúc ngay trong cõi thế, song bất lực đành phải tin vào cái ảo ảnh về thế giới bên kia mà con đường đi tới đâu có dễ

dàng Cho nên nói như C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức,

là trái tim của một thế giới vô tình, cũng giống như nó là linh hồn của một mảnh đất vô hồn, nó là thuốc phiện của nhân dân” [42, tr.2], phải chăng tôn giáo cũng

không khác gì một tiếng thở dài của con người nhằm làm vơi đi chút ít đau khổ,

Trang 16

giống như một liều thuốc an thần hay giảm thống với người bệnh chứ không thể chữa hết căn nguyên của bệnh tật Niềm tin của con người vào sự tồn tại có thực của

“thế giới siêu thực” sẽ là cơ sở cho sự xuất hiện của tôn giáo Khi khẳng định vai trò quyết định, có trước của hiện thực khách quan, C.Mác và Ph.Ăngghen đồng thời coi các yếu tố tinh thần của con người như là điều kiện đủ để tạo ra tôn giáo

Theo các ông tôn giáo chỉ được sinh ra khi thực tế khách quan nào đã gây ra cho con người sự bất lực, những nỗi đau và bất hạnh triền miên mà con người chưa thể giải thích và khắc phục nổi thế giới hiện thực, phải nhờ cậy tới sự an ủi mơ hồ của tinh thần Khác với các nhà vô thần trước đây, C.Mác và Ph Ăngghen không coi tôn giáo chỉ là sự phản ánh sai lầm, hư ảo về thế giới hiện thực của con người

mà nó còn phản ánh nhu cầu muốn giải thích, cắt nghĩa và tìm ra lối thoát (dù đó là

ảo tưởng) của con người trước sức mạnh của những lực lượng tự nhiên và xã hội đã khiến họ phải bất lực, khuất phục Vai trò “đền bù hư ảo” là chức năng cơ bản đặc trưng và phổ biến của mọi tôn giáo Điều này đã được chứng minh bằng quá trình ra đời và tồn tại của các hình thức tôn giáo khác nhau

Tóm lại, có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về tôn giáo Dưới góc độ khoa học, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận vấn đề tôn giáo theo hướng nghiên cứu của mình Bởi tôn giáo là lĩnh vực tinh thần có nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau theo quan điểm chủ quan của mỗi người và khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần

mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công

và khổ ải

Trang 17

1.1.2 Cảm thức tôn giáo

Có thể nói, cảm thức là một yếu tố quyết định trong những công trình nghệ thuật Nghệ thuật đích thực bắt nguồn từ những cảm xúc nảy sinh trong những điều kiện cụ thể, cũng như quá trình sáng tạo của nhà văn bắt đầu từ khi nảy sinh những

dự đồ rồi sau đó là quá trình nảy sinh những quan niệm mang tư tưởng sáng tạo của tác phẩm văn học Cảm thức ở đây được hiểu là một niềm tin, đức tin về tôn giáo Nơi đó người ta khát khao về một đời sống an vui, hạnh phúc mai sau, không bị đoạ đày vào chổ tối tăm nguy hại Từ đó tôn giáo là nơi nương tựa, dẫn dắt con người đi đến đời sống bình an, vì quan niệm của họ tôn giáo là nơi thánh thiện, bao gồm về giá trị bất biến và đời sống tâm linh Cho nên, con người ắt phải đặt niềm tin vào tôn giáo Tôn giáo thần quyền thì dễ khiến người ta tin theo, vì thấy mình đầy những sai lầm, tội lỗi, tin vào vị thần nào đó thì tránh được tai hoạ bây giờ và mai sau Niềm tin tôn giáo phát sinh tự nhiên đối với con người, nhờ niềm tin ấy chỉ đường soi sáng, mà mỗi bước đi của con người tránh được nhiều chông gai lầm lỡ, tội lỗi trong đời Vì vậy, tôn giáo không thể thiếu được trong đời sống xã hội, nhờ niềm tin vào tôn giáo mà con người tự biết kìm hãm mọi lỗi lầm gây nguy hại cho

người khác Cảm thức tôn giáo đó là tiếng nói của những tâm hồn dành một đức tin

trung thành với sự tồn tại của một lực lượng siêu nhiên tới sự hiện sinh của con người Những tiếng nói ấy luôn được hình thành và phát triển trong tâm hồn đan

xen lẫn nhau

Tôn giáo và văn học nghệ thuật là hai hình thái ý thức xã hội khác nhau nhưng đều có nguồn gốc xã hội rất lâu đời và đều có sự tác động lớn đến con người Tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân loại, con người

đi vào cái thế giới khác lạ với cõi trần gian này bằng cả một cuộc hành trình đầy bí

ẩn của cõi tâm linh Nơi ấy có sự vĩnh hằng, có sự uy nghiêm của đấng tối cao, nơi

ấy có ánh sáng lung linh huyền ảo, sự linh thiêng huyền bí có thể cứu rỗi tâm hồn con người Con người đến với tôn giáo cũng là quá trình tự cắt nghĩa về bản thân mình, kiếp người với sự sống và cái chết, giữa quá khứ và tương lai, giữa hữu hạn

và vô hạn, giữa sự bất biến và khả biến luôn luôn làm cho con người phải trăn trở

và suy nghĩ Tôn giáo tồn tại trong đời sống tâm linh của con người, nó như một

Trang 18

dòng chảy, một luồng suy tưởng, nó là cái gì đó vừa mơ hồ, vừa hiện hữu Nó có sự

“thiên biến vạn hoá” và cần vươn lên một cái đích, không phải là sự ngự trị, chiếm hữu tâm hồn mà nâng tâm hồn con người lên cao

1.2 Mối quan hệ giữa tôn giáo với văn xuôi Việt Nam đương đại

1.2.1 Mối quan hệ giữa tôn giáo với văn học

Từ lâu, tôn giáo đã trở thành một nguồn mạch khơi dậy những cảm hứng cho văn học, góp phần tạo nên nhiều kỳ tích cho văn học nghệ thuật Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội kiến trúc thượng tầng Văn học cũng là một hình thái ý thức

xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng Giữa tôn giáo và văn học nghệ thuật có mối quan hệ như thế nào cũng như sự ảnh hưởng , tác động của tôn giáo đối với văn học

ra sao là điều cần thiết , bởi đó là vấn đề có tính phương pháp luận khi tìm hiểu đặc điểm của một bộ phận văn học gắn liền với tôn giáo Bàn về mối quan hệ qua lại

giữa tôn giáo và văn học, Phương Lựu cho rằng: Tất cả các tôn giáo đều dưa vào tưởng tượng để tạo ra thế giớ siêu phàm và hướng đức tin vào thế giới ấy, buộc ta thừa nhận đó là cái thật Văn nghệ cũng dùng tưởng tượng hư cấu tạo thế giới nghệ thuật nhưng khác tôn giáo về tính chất, nó không yêu cầu xem thế giới nghệ thuật là cái thật Văn nghệ và tôn giáo gặp nhau ở chỗ đều dựa vào con đường tình cảm để tác động vào người tiếp nhận Nhưng tôn giáo hướng vào cái mê hoặc, gạt bỏ lí trí còn văn nghệ dẫu có say mê huyền ảo thì vẫn là cái say mê nếu không khởi đầu thì

sẽ tiếp nối bởi lý trí ánh sáng tình cảm Văn học luôn bám vào hiện thực mặc dù có khi lãng mạn hóa nó còn tôn giáo thì xuyên tạc thực tại khách quan nhưng để truyền đạt giáo lý, tôn giáo thường sử dụng các hình thức văn nghệ [22, tr.109]

Trong Suy nghĩ bước đầu về văn học với tôn giáo GS Phương Lựu cho rằng: Trước hết cả văn học lẫn tôn giáo đều chan chứa tình cảm nồng nhiệt Với tư cách

là một loại hình thái ý thức, văn học cũng như nghệ thuật nói chung, khác với các loại hình thái ý thức khác như chính trị, triết học, đạo đức ở chỗ nó là lĩnh vực tình cảm Thi hào Bạch Cư Dị nói:“Cảm hóa nhân tâm thì không gì bằng tình cảm” Tuy nhiên với tôn giáo, tình cảm cũng có vai trò quan trọng, tình cảm là cơ sở và điều kiện cho niềm tin cho tín ngưỡng tôn giáo Niềm tin tôn giáo không đơn giản chỉ làm cho người ta quan niệm có một thế giới siêu nhiên mà quan trọng hơn là tín

Trang 19

đồ có thể từ đáy lòng thể nghiệm cho được cái quan hệ giữa bản thân và cái tồn tại siêu nhiên Còn Heghen cho rằng:Cái mà tôn giáo đề cập đến nói là bản thân hành động, không bằng nói là tâm tình con người, là thiên quốc của con tim và Marx lại viết:Tôn giáo là niềm than thở của những sinh linh bị áp bức, là tình cảm của thế giới vô tình [23, tr.119] Như vậy có thể thấy tình cảm cũng là động lực chủ yếu

trong lãnh địa của tín ngưỡng tôn giáo và cũng chính vì vậy những vấn đề sống chết, thiện ác không chỉ là những vấn đề tìm tòi và biểu hiện của văn nghệ mà của

cả tôn giáo Nghệ thuật làm cho tâm hồn con người cao đẹp hơn, có nghĩa là không

hề thoát ly cuộc sống thực tiễn với những bình diện đạo đức, chính trị

Thứ hai, “tôn giáo cũng như văn học đều giàu sức tưởng tượng với những ước

mơ phong phú của con người Heghen nói: Nếu bàn đến bản lĩnh thì bản lĩnh nghệ thuật kiệt xuất nhất là tưởng tượng Tôn giáo lại càng như thế Marx nói: Tôn giáo

đã đem bản chất của con người biến thành tính hiện thực của ảo tưởng” [23, tr.121] Cuối cùng, “Văn học và tôn giáo đều sử dụng phương thức biểu hiện bằng hình tượng Trong bài giảng lịch sử triết học, Heghen viết: Nghệ thuật và tôn giáo

là ý niệm tối cao xuất hiện trong phương thức của ý thức phi triết học - ý thức của cảm giác, trực giác, biểu tượng” Có nghĩa là khác với triết học, việc tự biểu đạt của tôn giáo và văn học nghệ thuật không thể hoàn toàn thoát ly những hình tượng sinh động cảm tính” [23, tr.123]

Trong Quan hệ văn học và tôn giáo nhìn từ khuynh hướng phê bình văn học ảnh hưởng tư tưởng tôn giáo ở miền Nam trước 1975, Trần Hoài Anh đã cho rằng

“Sự khủng hoảng niềm tin, lý tưởng, sự hoài nghi cuộc sống, khiến con người tìm đến tôn giáo như một điểm tựa tinh thần, để làm dịu nỗi đau mà họ phải gánh chịu trong chiến tranh Tôn giáo, vì thế, cũng là một lực lượng chi phối đời sống xã hội trong đó có văn học” [55] Xét từ góc độ bên ngoài của mối quan hệ giữa tôn giáo

và văn học nghệ thuật tác giả Nguyễn Công Lý cho rằng: “Tôn giáo và văn học nghê ̣ thuật đều là những hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tần g Chúng tồn tại song song nhau , đi sóng đôi với nhau , đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau Đây

là một hiện tượng có tính phổ biến toàn nhân loại ” [68] Cho nên, chúng ta không

ngạc nhiên khi Lep Tônxtôi cho rằng “Tôi sáng tác dưới ánh sáng của chúa”, tức có

Trang 20

nghĩa là văn học nghệ thuậ t gắn liền với tôn giáo Đồng thời ông cũng cho rằng tôn giáo vừa là một phương diện, vừa phương tiện, là sự nâng đỡ, sự cần thiết đem lại

bình yên cho cuộc sống con người “Tôn giáo cũng như văn học nghệ thuật đều là

sự thể hiện của năng lực con người Con người xuất phát từ niềm tin thiêng liêng với sự kính tin, tín ngưỡng nên mới có tôn giáo Và tôn giáo hiện diện, tồn tại là do con người sáng lập ra và vì con người Cho dù sau đó bậc giáo chủ sáng lập được người đời xưng tụng là đấng tối cao” [68] Tôn giáo ra đời gắn với bản chất của sự sống, nó là cội nguồn nâng đỡ sức sáng tạo của văn học nghệ thuậ t, con người trước khi tìm đến với tôn giáo , trở thành con người của tôn giáo thì họ đã là những con người trần thế cũng như trước khi trở thành Nh o sĩ, Đạo sĩ, Thiền sư…thì họ là con người phàm tục, nói tiếng nói của con người phàm tục , nghĩ cái suy nghĩ con người trần thế Trong văn học cũng vậy, trước khi trở thành nhà nghệ sĩ sáng tạo các công trình văn nghệ thì họ là những con người đời thường, con người thế tục Và đã

là người tất phải có nhu cầu , ham muốn, khát vọng Con người ta ai cũng có nhu cầu tâm linh , có khát vọng vươn tới cuộc sống tốt đẹp khác với cuộc sống tr ần thế đầy phiền muộn, lo âu, vất vả nên người ta mới có niềm tin thiêng liêng ở tôn giáo , mới tìm đến tôn giáo để thoả mãn nhu cầu tâm linh , để giãi toả tâm lý , để tìm sự quân bình trong tâm tính Con người tìm đến với văn học nghệ thuật cũng không ngoài mục đích ấy Tìm đến và sống với đời sống văn chương cũng là cách đi tìm sự yên vui thanh thản của lòng mình [68] Tôn giáo còn tồn tại song song với văn học

và chính nó là mảnh đất gợi cảm hứng cho văn học Như vậy, nhân loại có bao nhiêu phương diện của sự sống thì đều có bấy nhiêu khả năng trở thành mảnh đất của sáng tạo văn chương , sáng tạo nghệ thuật Những phương diện như tôn giáo , chính trị, đạo đức, tình yêu… là những phương diện của sự sống thì tất cả đều trở thành ngọn nguồn gợi cảm hứng cho sáng tạo văn chương

Bên cạnh đó nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã đề cho rằng tôn giáo là “vấn đề khá phức tạp Bởi tôn giáo là sự phản ánh hư ảo thế giới khách quan, đem niềm tin vào cái siêu nhiên, đối lập với tri thức, lấy sự cúng bái, nguyện cầu thay cho hành động thực tiễn Tôn giáo biến con người thành kẻ phụ thuộc vào thần linh hư ảo, đánh mất niềm tự tin vào chính mình Như vậy về tính chất nó khá biệt với văn

Trang 21

nghệ Văn nghệ không đòi hỏi xem tác phẩm của nó là thật, nhưng tôn giáo đòi hỏi xem thế giới tưởng tượng của nó là thật” [39, tr.72] Nhưng trong thực tế, hàng chục

thế kỉ nay nghệ thuật phát triển trong mối quan hệ mật thiết với tôn giáo.“Cả hai đều có đặc điểm chung là biểu hiện tình cảm xã hội và trí tưởng tượng phong phú”

[39, tr.72] Song đó là một quan hệ mâu thuẫn Ý thức tôn giáo mượn văn nghệ để tuyên truyền, còn nghệ thuật phát triển bằng sự khắc phục tôn giáo Như vậy, trong quan niệm của các nhà lý luận - phê bình văn học thì mối quan hệ văn học và tôn giáo được thể hiện khá sinh động, đa dạng và phong phú Đồng thời, nó giúp chúng

ta có cách tiếp cận mới, một cách nhìn mới về hành trình vận động của văn học

“Văn học là nhân học” (M.Gorki) Nói đến văn học là nói đến con người, nói đến

cái đẹp, cái thiện, làm cho con người càng ngày càng hoàn thiện hơn Nghệ thuật xuất phát từ nhận thức thế giới, từ nhu cầu giao tiếp tư tưởng tình cảm, nghệ thuật Khi tư duy của con người phát triển, nền nghệ thuật phát triển đến trình độ cao thì tác phẩm nghệ thuật trở thành món ăn tinh thần cho con người

Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống của con người nơi trần thế, nơi con người sống với ngổn ngang những suy tư dằn vặt, với những niềm vui, nỗi buồn, nơi con người có sinh thành, phát triển và có già cỗi, mất đi, nơi những kiếp người có sinh có diệt Văn học nghệ thuật không bao giờ thoát li đời sống Nó lấy chất liệu từ đời sống phong phú phức tạp rồi sàng lọc qua quá trình sáng tạo của nhà văn để xây nên những hình tượng nghệ thuật Khác với nghệ thuật, tôn giáo là hình thức phủ nhận thực tại, là cuộc trốn chạy hiện thực đời sống trần thế Tôn giáo hướng con người đến thế giới thiêng liêng cao cả, nơi trú ngụ của thần thánh cao sang, bất diệt Thế giới của tôn giáo là thế giới được xây bằng trí tưởng tượng, xây bằng niềm mơ ước thánh thiện Đó là thế giới có sự sống vĩnh cửu, nơi đó là tâm hồn con người sẽ được thanh thản, bình yên trong sự cưu mang của Đấng tối cao Nghệ thuật và tôn giáo là hai hình thái ý thức xã hội khác nhau Bản chất của tôn giáo và nghệ thuật không giống nhau, nhưng hai hình thái ý thức ấy lại có những điểm gặp gỡ, giao thoa nhất định Điểm hội tụ ấy chính là những miền bí ẩn nơi tâm hồn con người, là khao khát đền bù những hạn chế, thiếu hụt trong đời sống con người ở thực tại Văn học chính là sự kết tinh giữa con người và cuộc sống, nó

Trang 22

không chỉ phản ánh thực tại các mối quan hệ tình cảm giữa người và người mà còn phản ánh ý thức giữa con người và giới tự nhiên, giữa những con người có đời sống tâm linh và như vậy tôn giáo đã mượn hình thức nghệ thuật để chuyển tải nội dung giáo lý, đức tin của mình Chính vì lẽ đó mà giữa văn học và tôn giáo có mối quan

hệ khá mật thiết, đồng thời chi phối sâu rộng những đề tài, cảm hứng sáng tạo văn chương của nhà văn, tạo nên dấu ấn đặc sắc trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam đương đại

1.2.2 Đức tin tôn giáo cứu rỗi con người

Theo từ điển bách khoa toàn thư thì đức tin có nghĩa là “niềm xác tín vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, đấng sáng tạo vũ trụ và niềm tin vào ân điển cứu chuộc của Chúa Kitô” [70] Luận giải về chức năng của đức tin trong mối tương quan với giao ước của Thiên Chúa, tác giả thư Hebrew trong Tân Ước viết: “Đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ (hoặc xác tín) của những điều mình chẳng xem thấy”[70] Còn trong Công giáo, “đức tin là chân lý được mặc khải bởi Thiên Chúa trong Kinh Thánh Về mặt chủ quan, đức tin củng cố các đức hạnh đến từ chân lý” [70] Như vậy, tin vào tôn giáo là tin vào nơi

cao trọng thuần khiết, người ta khát khao về một đời sống an vui, hạnh phúc mai sau, không bị đoạ đày vào chổ tối tăm nguy hại Từ đó tôn giáo là nơi nương tựa, dẫn dắt con người đi đến đời sống bình an

Cùng với ý nghĩa như trên, một số tu sĩ công giáo cũng bàn về đức tin - là tin những điều mình chưa thấy, và phần thưởng của đức tin là sẽ thấy những điều mình

sẽ tin Đức tin là một trực giác, tức là một sự cảm xúc trực tiếp với sự việc, không nhờ lý trí, không nhờ kinh nghiệm Nói cách khác, đức tin là một quà tặng mà Thiên Chúa trao tặng cho con người Mỗi hành trình đức tin là một công cuộc của ân sủng Giáo lý Công Giáo cho chúng ta thấy rằng: “Nếu đức tin là một hồng ân thì đồng thời tin cũng là hành vi của con người, ân huệ Thiên Chúa không hủy diệt khả năng hiểu biết và ý chí tự do của con người, nhưng soi sáng, nâng đỡ và mời gọi cộng tác”[63] Với những người theo đạo, đức tin chính là một hồng ân của Thiên Chúa,

do Thiên Chúa đổ xuống để hỗ trợ và cứu rỗi con người thoát khỏi những khổ ải Đức tin còn dạy cho con người biết cuộc sống trên trần gian này chỉ cõi tạm mà chúng ta phải trải qua

Trang 23

Đề cập đến vấn đề đức tin tôn giáo, tác giả Lê Dục Tú trong bài Cảm quan tôn giáo trong văn xuôi Việt nam đương đại đã viết: “Trong đời sống con người, niềm tin tôn giáo giữ một vai trò đặc biệt quan trọng và nó khác với các kiểu niềm tin xã hội khác Nếu niềm tin khoa học được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan thì niềm tin của các tín đồ tôn giáo hướng vào sự tồn tại của đấng siêu nhiên và coi đấng siêu nhiên là người quyết định số phận của mình” [50, tr.35] Cùng bàn về vấn đề đức tin tác giả Lê Thị Thúy Hằng cho rằng:“Cái phức tạp của thời cuộc là thử thách để đức tin được trui rèn trong mỗi con người Vì thế,

chỉ cần “mang đức tin vào thôi”, con người sẽ tự cứu rỗi bản thân mình” [12, tr.33]

Trong phần khái niệm và chức năng tôn giáo, tác giả Nguyễn Văn Kiệm đã đề cập đến vấn đề đức tin tôn giáo - đó là niềm tin vào “ sự tồn tại khách quan của các thực thể, các thuộc tính, các mối liên hệ, phép biến hóa, sản phẩm của trí tưởng tượng, của quá trình thôi miên…là niềm tin vào những thực thể có uy quyền trong tôn giáo-các “cha”, “thầy”, “thánh”, “đấng tiên tri”, “đấng cứu thế”, các “đức hồng y” trong Giáo hội” [42, tr.66-67]

Từ những quan niệm có thể thấy, đức tin có quan hệ mật thiết với đời sống con người, là nơi tuyệt hảo của sự hoàn tất, nó giúp chống lại sự sợ hãi; nghi nan, đồng thời tạo nên sự tin tưởng vào cuộc sống; hướng về tương lai trong sự tin tưởng phó thác vào thánh ý của Thiên Chúa Tuy nhiên nếu chỉ đón nhận đức tin không thì chưa đủ, mà còn phải sống niềm tin ấy trong cuộc sống hằng ngày qua những hành

vi được đức ái thúc đẩy và lòng mến cuốn hút Như vậy, đức tin chính là việc tin và đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa và những lời được mạc khải đem lại hy vọng cho chúng ta Nói cách khác đức tin là một ân huệ mà Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại, là đón nhận và đi vào tình yêu của Thiên Chúa, con người chỉ cộng tác được bằng thái độ mở lòng ra và đón nhận, yêu mến, phó thác trong tâm tình cậy trông và

hy vọng, đồng thời nhờ lòng mến và đức ái, người tín hữu sống mầu nhiệm đức tin

ấy bằng chính cuộc đời chứng nhân

Khi con người hướng đến đức tin thì đó là lúc con người muốn cứu rỗi, giải

thoát những khổ đau, tội lỗi mà chính bản thân mình đã gây nên Theo từ điển Bách khoa toàn thư thì Cứu rỗi trong Kitô giáo “là giải cứu một linh hồn ra khỏi tội lỗi

Trang 24

và hậu quả của nó Trong thần học, sự cứu rỗi là một ý niệm trừu tượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Kitô giáo (Cơ Đốc giáo) định nghĩa cứu rỗi là giải cứu khỏi sự câu thúc của tội lỗi và sự đoán phạt để có thể nhận lãnh sự sống đời đời của Thiên Chúa” [70] Đối với nhiều người được cứu rỗi có nghĩa là được vào thiên đàng sau

khi chết, nhưng hầu hết tín hữu Cơ Đốc thường nhấn mạnh đến yếu tố cho rằng sự cứu rỗi biểu trưng cho một cuộc sống được đổi mới ngay trên đất Tóm lại, chính đức tin đã giúp con người xoa dịu được những nỗi đau, sợ hãi trong cuộc sống Tuy

đó là thế giới niềm tin của sự hư ảo nhưng nó đã làm nhẹ bớt những hậu quả, lầm lạc do con người tạo nên Đồng thời dẫn dắt con người tìm đến sự bình an

Qua hai tác phẩm Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, Nguyễn Việt Hà đã

khắc họa được những con người thế tục đậm chất hiện sinh Khi bất lực con người

tìm đến tôn giáo, thế giới của tôn giáo là thế giới của lòng tin và đức tin Trong Cơ hội của Chúa, Hoàng và Tâm mỗi khi mắc lỗi lầm đều tìm đến Chúa như một sự cứu rỗi linh hồn, một sự giải thoát Tâm từng cầu nguyện: Lạy Chúa, chỉ có sức mạnh hiển linh của Người mới cứu được con… Con là đứa con bé nhỏ của Người… Khi con vượt qua được sự cám dỗ, dạn dĩ nhìn vào bình minh của ngày hôm sau, nhìn thẳng vào mắt người đầu tiên trong ngày đang đi trên đường kia, con mới biết

ân Chúa to lớn biết nhường nào Con vẫn được là con của Chúa, không phải vì con

có học, có lòng trung thực hay dũng cảm Mà đó là ý Chúa [9, tr.139]

1.3 Vấn đề cảm thức tôn giáo đối với sáng tác của Nguyễn Việt Hà qua tác

phẩm Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn

1.3.1 Vài nét về sáng tác của Nguyễn Việt Hà

Nguyễn Việt Hà sinh ngày 12 - 7 - 1962 Tác giả nhận mình là người công giáo và hấp thụ những âm thanh hỗn tạp của đô thị từ những cảnh đời lam lũ đến những bản thánh ca trong giáo đường phố Nhà Chung Sau khi tốt nghiệp Đại học Kinh tế, Nguyễn Việt Hà làm việc cho một ngân hàng nhưng không lâu sau ông quyết định trở thành nhà văn Ngoài tiểu thuyết, tác giả còn viết truyện ngắn và tiểu

luận cho các báo và tạp chí Tiểu thuyết đầu tay của ông là Cơ hội của Chúa được

in năm 1999, xuất hiện ồn ào trên văn đàn, mang chút “hương vị tai tiếng” Tập

truyện Của rơi (2004) cũng gặt hái nhiều thành công Năm 2005, tác giả xuất bản

Trang 25

tiểu thuyết Khải huyền muộn Ngoài ra Nguyễn Việt Hà còn là tác giả của các tạp văn Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông, Đàn bà uống rượu, con giai phố cổ

Ngoài tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà còn viết truyện ngắn và các tiểu luận cho các báo: Tiền Phong , Tuổi trẻ…

Đọc văn Nguyễn Việt Hà ngỡ như nhà văn ở cạnh mình, nghe được từ mình từng hơi thở, đọc được ý nghĩ, bóc mẽ đến tận cùng cái khốn nạn của con người đang bấp bênh trong dòng đời ô tạp, tha hóa, trơ lỳ đến không thể trơ lỳ hơn Chúng

ta có thể mất ngủ với những chi tiết tưởng chừng như vô tình thoáng qua trong trang viết của tác giả, nhưng thực ra lại chứa đầy ám ảnh day dứt Với văn chương Nguyễn Việt Hà, chúng ta cảm thấy được an ủi, bị lục vấn, bị hắt nước vào mặt, luôn luôn phải trang bị cho mình một “tâm lý tự vấn”, buộc chúng ta phải ngồi dậy, cởi bỏ mặt nạ, soi gương để nhận diện chính mình trong những cảm xúc thật đến trần trụi Với Nguyễn Việt Hà, viết văn đó là sự giải thoát, nhưng phải là sự giải thoát cho con người bên trong người nghệ sĩ Ông xem viết văn là đam mê của mình

và đó là công việc cần tới sự sáng tạo, tuy đó là con đường vất vả nhưng lại rất thú

vị Nổi bật với giọng văn pha chút hài hước, thách thức, kết hợp với lối dẫn truyện độc đáo, các tác phẩm của ông đã thu hút không ít người đọc

Ngay từ khi trình làng năm 1999 với tiểu thuyết đầu tay mang tên Cơ hội của Chúa, Nguyễn Việt Hà đã gây nên một làn sóng dư luận cuối thế kỷ XX Cuốn tiểu

thuyết đầu tay này được Nguyễn Việt Hà được viết từ tháng 3 năm 1989 đến tháng

2 năm 1997, nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1999 Ngay từ cái tên nhan đề của

tiểu thuyết cho đến việc trích dẫn nguyên bản từ Kinh Thánh: “sự cùng quẫn cuối

cùng của con người, ấy là cơ hội của Chúa” đã cho chúng ta thấy được ý đồ nghệ thuật của nhà văn Ở một tầm cao hơn, chúng tôi đánh giá đây thực sự là cuốn tiểu thuyết mang tính hiện thực, triết lý về thời kỳ mở cửa của nền kinh tế thị trường của

Việt Nam Đến năm 2013, Cơ hội của Chúa đã được dịch ra tiếng Pháp và ấn hành

tại Paris Tác phẩm đã tạo ra một cuộc tranh luận sôi nổi trên những diễn đàn văn học, khen cũng nhiều mà phê phán thì cũng không ít Tuy nhiên, gạt tất cả những

điều đó sang một bên, cho đến ngày hôm nay, Cơ hội của Chúa vẫn sống cùng độc

giả và vẫn khiến người đọc ngỡ ngàng bởi những vấn đề của cuộc sống đặt ra trong

Trang 26

cuốn tiểu thuyết Một cuốn sách có độ dày chỉ khoảng hơn 500 trang, với sự phong

phú của các chủ đề - tình yêu, tình bạn, tình anh em; các lĩnh vực - tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa; các tầng lớp xã hội - thị dân, công chức, lãnh đạo, trí thức, buôn lậu Cuốn sách được đông đảo độc giả yêu thích vì tính hiện thực, triết lý và sâu sắc của nó Đó là cả một xã hội Việt Nam những năm đổi mới, tác giả đã đem đến cho bạn đọc bức tranh sống động cùng những cảm nhận mới về giới công chức Việt Nam hiện đại Thời đại công nghiệp thật muôn màu và con người bươn chải

trong đó cũng muôn vẻ, không ai giống ai, và cơ hội mỗi người mỗi khác Cơ hội của Chúa ngay từ khi ra đời đã trở thành một hiện tượng văn học, thu hút sự quan tâm

của đông đảo của độc giả Câu chuyện không chỉ đơn giản xoay quanh số phận của những con người trẻ trong đổi thay của thời kinh tế thị trường mà còn mang nhiều trăn trở về ý nghĩa cuộc sống Nhân vật như bị lạc trong mê cung với những vụ việc không đầu không cuối, Nguyễn Việt Hà đã dựng nên những nhân vật mang tính khá điển hình như Hoàng, Bình, Tâm, Lâm, Sáng, Nhã… Mỗi người được khắc họa đầy

đủ về tính cách, thế giới nội tâm đặc biệt là chí hướng, mỗi người có quan điểm sống riêng Người thì xu thời, người ngay thẳng, người sống bằng lý trí, người sống bằng tình cảm… tất cả góp phần tạo nên bản chất, hiện thực của đa số giới trẻ ngày

nay Cơ hội của Chúa với những khái quát tài tình, là sự khẳng định chân giá trị

cuộc sống thời đại mới Biết bao bon chen, kỳ thị, cùng biết bao ước mơ khát vọng cao đẹp được bày tỏ nhưng cái tài của nhà văn là đằng sau những sự kiện, những éo

le của số phận, không thấy sự bình phẩm của tác giả mà Nguyễn Việt Hà dành khoảng lặng ấy cho chính độc giả Văn chương đích thực là văn chương để lại dấu

ấn trong lòng người đọc Và với lối viết mới - để tự nhân vật bộc lộ mình, đặc biệt

là nội tâm, nhân cách, nhà văn đã khiến cho những vấn đề tưởng như khô khan, những sự kiện tưởng như rời rạc trở nên sống động, có hồn Đằng sau đó vẫn là ý nghĩa nhân văn, là tình yêu cuộc sống, khát vọng sống chân chính mà nhân vật Hoàng đã được nhà văn gửi gắm không ít ý tưởng Qua những trang tiểu thuyết có thể thấy Nguyễn Việt Hà như một công chức nhợt nhạt nơi công sở, khép nép đi vào phòng sếp, năm nào cũng nghỉ phép quá hạn, nhưng chất chứa nhiều day dứt và dằn vặt Các nhân vật trong tiểu thuyết của ông thường tìm đến rượu để quên, tìm đến

Trang 27

văn chương để tự thanh lọc chính mình Nguyễn Việt Hà quan niệm văn chương

làm anh sống tốt hơn, đồng thời “Viết văn là một dạng tu thân Tôi tin viết văn làm mình sống trong sáng hơn, tử tế hơn Biết đâu, nếu không viết văn, tôi sẽ là một thằng nghiện hút!”[58] Những trang viết của ông luôn hướng tới sự trong trẻo Đôi

khi nó kết thúc ở chỗ “người viết không thể và không muốn viết cố nữa.” Độc đáo,

mới lạ không chỉ ở nội dung, Cơ hội của Chúa còn gây ấn tượng ở nghệ thuật văn

chương tài tình, khéo léo của nhà văn

Sau Cơ hội của Chúa, Nguyễn Việt Hà đã viết và ấn hành khá đều tay với tiểu thuyết thứ hai Khải huyền muộn (2003) Có thể nói đây là cuốn tiểu thuyết đầy sáng

tạo và đầy thách thức với độc giả, đồng thời nó đòi hỏi người đọc phải là những người trải nghiệm, đã vấp ngã và từng đau đớn Vì vậy nó khó đọc hơn với những

người đọc giải trí thông thường Đọc Khải huyền muộn, độc giả tưởng chừng như

tái hiện hiện thực đời sống với cái vỏ ngoài hào nhoáng của những con người có nhan sắc, có tiền tài, địa vị trong xã hội nhưng bên trong lại chứa những điều bậy

bạ, “nhố nhăng” Vũ- một quan chức cấp cao của ngành thể thao đã ý thức được sự tha hóa của mình, anh biết tận cùng được căn nguyên và lí do của sự tha hóa ấy, anh đau đớn muốn đi tìm lối thoát, một nơi để cứu rỗi tâm hồn Thế nhưng trong hành trình đi tìm kiếm đức tin, anh vẫn không thoát khỏi những cám dỗ và dục vọng của chính mình Chính vì vậy, Nguyễn Việt Hà chính thức đặt tên cho tiểu thuyết thứ

hai của ông là Khải huyền muộn Qua những trang viết của tiểu thuyết này, người

đọc có thể bắt gặp không ít những triết lí tư tưởng sâu sắc của tác giả về nghề văn

mà chính ông cũng đang là người trải nghiệm

Cũng giống như Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn mang đậm sắc màu tôn

giáo nhưng chúng ta chỉ thấy khát vọng chưa thỏa mãn Con người vẫn hoang mang trên hành trình kiếm tìm đức tin, luôn luôn đối mặt với những âu lo, bất an của thế

hệ, những day dứt về bối cảnh đô thị cùng với sự tráo đổi về các giá trị Cùng với

đó là sự băn khoăn, trăn trở về nghề nghiệp của mình: nhà văn nói về nhà văn, nhà văn nói về việc viết văn Họ không ngần ngại bộc lộ những tâm tình, suy nghĩ của mình về những người xung quanh và họ có thể thoải mái nói về cái “tôi” mà không cần giấu giếm, rụt rè Chúng xuất hiện như một hiện thực của tâm cảm, thể hiện một

Trang 28

cái nhìn tinh nhạy, biết hướng tới cuộc sống mà ở đó con người được là chính mình, được tìm thấy tự do theo đúng nghĩa của nó Đặc biệt, qua nhân vật nhà văn Bạch độc giả có thể hình dung được thực trạng của đời sống văn chương chứa đầy phức tạp, bộn bề giữa thật và giả dù nhìn bề ngoài có vẻ bình lặng Nhân vật tự đối diện với bản thân mình, luôn sống với những nỗi băn khoăn, dằn vặt và dường như không bao giờ hiểu hết về thế giới xung quanh cũng như chính mình

Nguyễn Việt Hà cho rằng: Viết tiểu thuyết quan trọng nhất là cấu trúc, nhiều

tác giả viết xong một cuốn sách thì không thể thoát khỏi cái bóng đè của chính

mình Bên cạnh đó “Viết văn tự thân là một công việc rất linh tinh và lan man, nó luôn lẩn khất lẫn lộn vào cuộc sống thật” [10, tr.331] và nó “bị lặp lại đáng sợ như văn chương nhạt nhẽo” [10, tr.331] Từ cách tiếp cận đời sống mới, ông ý thức được sâu sắc thực trạng vấn đề của người cầm bút, một nỗi buồn nghề nghiệp: “Là nhà văn thì phải viết cho dù nổi tiếng hay không nổi tiếng Nhưng có một tý tẹo danh mọn thì thật khắc nghiệt, cảm thấy khó viết hơn Hoàn toàn không hẳn là hết vốn sống hay cạn kiến thức Có nhiều lý do dung tục lắm Thường thì cả đời một người viết, luôn luôn bị bôi Người này bôi cho tý son, người kia bôi cho tý mực”

[10, tr.323-324] Đây không chỉ là những trải nghiệm, suy tư của bản thân người cầm bút thường trải qua mà đó còn là sự thể hiện thái độ đầy nghiêm túc trong lao động nghệ thuật của Nguyễn Việt Hà Tuy tiểu thuyết còn đôi chỗ cầu kỳ, rườm rà, đôi lúc nhà văn miên man kể từ chuyện này đến chuyện nọ khiến độc giả như lạc vào một ma trận nhưng khi đi sâu vào tác phẩm người đọc như bị cuốn hút bởi cách hành văn đầy sáng tạo của ông Ngoài ra, sáng tác Nguyễn Việt Hà còn là đối tượng phân tích trong một số bài tổng quan về tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986

Như vậy, với sự xuất hiện của các nhà văn thuộc thế hệ đi trước như: Ma Văn Kháng, Bảo Ninh…đã có nhiều đóng góp trong sáng tạo văn chương nước nhà thì

sự xuất hiện của Nguyễn Việt Hà như một gương mặt mới cùng với các thế hệ đi sau: Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương…cũng đã gặt hái nhiều thành công Nguyễn Việt Hà tuy viết không nhiều nhưng mỗi tác phẩm của ông lại mang tầm bao quát rộng, tính triết lý sâu sắc Tác giả viết những điều không phải để người đọc thích thú mà viết về những điều buộc người ta phải suy nghĩ Tuy nhiên, để tạo ra

Trang 29

phong cách riêng của mình là một điều không đơn giản, đòi hỏi nhà văn phải có những đổi mới sáng tạo trong tư duy nghệ thuật Đọc tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết của ông không chỉ mang sự trăn trở tìm kiếm ngôn ngữ riêng, điểm nhìn riêng để thể hiện các sự kiện, vấn đề liên quan tới muôn mặt đời thường trong cuộc sống đô thị nhốn nháo mà ẩn trong đó là cả một nội dung chứa đầy thông điệp, đặc biệt là cách sử dụng các hình thức, thi pháp nghệ thuật sáng tạo trong lối viết của ông Chính vì vậy, văn chương của Nguyễn Việt Hà đã góp một tiếng nói mới mẻ cho tiến trình đổi mới và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đồng thời mang một phong cách khó lẫn, gây thú vị hoặc khó chịu tùy cách cảm của từng người đọc

1.3.2 Vấn đề cảm thức tôn giáo qua hai tác phẩm Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn

Bàn về chủ đề văn hóa tôn giáo trong Cơ hội của Chúa, tác giả Hoàng Ngọc Hiến cho rằng: “Chủ đề văn hóa tôn giáo là một chủ đề quan trọng trong Cơ hội của Chúa Trong tác phẩm này không có sự độc tôn của một tôn giáo nào Những tôn giáo lớn được xem xét từ những giá trị bền vững chúng đóng góp cho kho tàng văn hóa nhân loại Những tư tưởng của Thiên chúa giáo về sự bất hạnh và đức tin, về sự bất hạnh và sự chấp nhận đau khổ, về sự bất hạnh và yêu thương, tha thứ được tác giả cảm nhận khá tinh tế và sâu sắc” [9, tr.30-32] Vấn đề nghiên

cứu cảm thức tôn giáo, thực chất không phải là vấn đề mới mẻ Trong những nghiên cứu về tôn giáo, nhiều nhà nghiên cứu đã nhắc đến cảm quan niềm tin vào tôn giáo được thể hiện qua cuộc sống thực tại của con người, sự bất hạnh, lầm lỗi của con

người mong muốn được giải thoát Nghiên cứu về Vấn đề tôn giáo trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà tác giả Nguyễn Thị Thuyên đã viết: “Điều đáng chú ý trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà là vấn đề tôn giáo tồn tại bên cạnh vấn đề tình yêu

và hạnh phúc Tìm đến với tôn giáo, con ngời luôn có tư tưởng hướng thiện, từ bi hỉ

xả, được thú tội, nhận thức lỗi lầm Tôn giáo giúp cho cuộc sống con người thiêng liêng hơn Cái thần bí phong phú trong mỗi con ngời giữa cuộc sống đời thường đôi khi khởi nguồn từ một niềm tin tôn giáo” [49, tr.79-80]

Trang 30

Liên quan đến vấn đề đức tin tôn giáo, tác giả Lê Thị Thúy Hằng đã nhận định

rằng: “Tiểu thuyết Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn là sự nối tiếp những băn khoăn, hoài nghi nơi nhân vật của anh trên hành trình tìm đến đức tin Nhân vật của Nguyễn Việt Hà mỗi lần tự vấn trước thất bại, vấp ngã hoặc mỗi khúc quanh của cuộc đời đều đi tìm sự giải thoát về đức tin tôn giáo Hoàng là một đại diện tiêu biểu cho Cơ hội của Chúa với những khám phá trong chính nội tâm và tiếp nhận, luận giải cuộc sống bằng những va đập, hoài nghi, ngờ vực tôn giáo khi niềm tin, đức tin bị đổ vỡ” [12, tr.31] Trong bài viết: Cơ hội của Chúa: Chúa cũng không giúp được gì! tác giả Nguyễn Hòa cho rằng: Nguyễn Việt Hà – tác giả tiểu thuyết

Cơ hội của Chúa là một người đọc nhiều, ưa triết lý, sính ngoại ngữ và khoái trích dẫn kim – cổ, đông – tây(… )Bằng cớ là phần lớn các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đều có xu hướng trở thành triết gia nghiệp dư, có người vừa kính cẩn dưới bóng Jesus vừa say sưa Thiền luận, lại có người coi thần tượng của mình là Hemingway và Remarque [62] Và nhiều khi đọc nữa chừng cứ ngỡ tác phẩm là nơi

tác giả giới thiệu mình chứ không phải làm văn chương

Sự độc đáo của Cơ hội của Chúa thể hiện trước hết ở cái nhìn đời sống của nhà văn Ở đó, ta không tìm thấy đâu là lý tưởng, bản ngã, đâu là ý nghĩa đích thực

của cuộc đời Thế cuộc hỗn loạn, trớ trêu, các thang bảng giá trị đời sống đều bị đổ

vỡ Cả những niềm tin tôn giáo cũng trở nên đáng ngờ vực, mong manh Đặc biệt

khi nhận xét về nhân vật Hoàng, tác giả Nguyễn Hòa cho rằng: Đâu đó trong con người, Hoàng có một lương tâm trong sáng, nhưng anh thiếu một ý chí Còn căn cứ vào hành động thì Hoàng là sự cộng hưởng đôi khi đến nghịch lý giữa một trí thức với một gã bụi đời Hoàng có thể đứng ra bênh vực kẻ yếu và cũng có thể xịt ngọn lửa ga vào mặt kẻ Hoàng không ưa rồi thản nhiên bỏ đi! Hoàng vừa đáng thương vừa đáng giận Chỉ có điều trong khi để Hoàng dò dẫm vào thế giới của Tân ước, Thiền luận… tác giả đã biến suy tư của Hoàng thành “bản thu hoạch của tác giả sau khi đã nghiên cứu phần nhập môn vào Kitô, Suzuki, Trang Tử, Kinh Dịch! Rồi

từ cái mớ hổ lốn sống sít ấy, tác giả để cho Hoàng nhìn đời, nhìn đồng loại với con mắt kẻ cả, mỉa mai của người tình cờ ngộ ra chân lý từ những bữa rượu đến tàn canh [62] Bên cạnh đó, xung quanh Hoàng là nhóm trí thức không dám chấp nhận

Trang 31

dấn thân hoặc đã chấp nhận dấn thân Họ trở thành những con người tham lam, ham

hố danh lợi và đến những đoạn cuối của tiểu thuyết, các nhân vật của Nguyễn Việt

Hà như bị lơ lửng giữa cuộc sống u ám, nặng nề Mọi khả năng còn để ngỏ và nếu

họ không làm cho mình tốt lên thì Chúa cũng không giúp được gì cho họ

Tác giả Đoàn Cầm Thi trong bài viết Cơ hội của Chúa: Từ nhật ký đến hậu trường văn học cũng đã có nhận xét về nhân vật Hoàng-nhân vật mang niềm tin tôn giáo sâu sắc: Về cuộc sống nội tâm, Hoàng cũng là một sáng tạo lớn của Nguyễn Việt Hà Thay vì hành động, Hoàng uống rượu, chiêm nghiệm và lặng lẽ ngắm nhìn thế giới xung quanh Hoàng thu hút ta vì những ám ảnh, trực cảm tôn giáo của anh, nhất là tính ngờ vực: tín đồ của Jésus, nhưng Hoàng luôn hoài nghi về Thiên chúa giáo, đồng thời anh tìm hiểu Thiền giáo, Phật giáo Bế tắc cùng quẫn không bao giờ dứt, Hoàng khác một số nhân vật của Nguyễn Việt Hà, Vọng trong Mãi không tới núi chẳng hạn - những kẻ tìm thấy trong tôn giáo nơi ẩn náu giữa cuộc đời trần tục Không hoang mang, không mộng mị nhờ quan niệm thực dụng và duy vật đó,

họ đến với đạo bằng một niềm tin vững chắc, mù quáng Nhưng Hoàng không vậy,

ở anh dường như tri thức vẫn thắng đức tin: Ở mức độ nào đó tôi là người đọc sách Có những thông điệp của Thiên Chúa tôi đòi thực chứng Luôn đứng trước

“sự đã rồi”, Hoàng để mọi việc và mọi người quyết định thay mình Trong khi gần như bất cứ ai cũng có quyền định đoạt cuộc sống của mình, Hoàng bất lực trước cả

ý định tự tử - Tôi là một tín đồ cơ đốc giáo và giáo lý không cho phép tôi tự hủy hoại Cứ như vậy, Hoàng tham dự vào những thất bại của đời mình, chấp nhận hiện tại và không dự tính tương lai [9, tr.518-519]

Khi nói về những nhân vật vô cảm, tự thấy mình lạc lõng, bé mọn sống trong

xã hội đô thị với những đảo điên, tráo trở, những mánh mung, thủ đoạn và sự thao túng của đồng tiền, không ít người không kịp thích ứng đã rơi rớt lại, bị quăng quật trong những vòng xoáy ma trận đặc quánh của cuộc sống Họ trở nên bé mọn, thờ ơ,

vô cảm và hoài nghi cuộc sống Tác giả Trần Việt Hà cũng đã có cái nhìn về các

nhân vật sùng tín “Hoàng là một tín đồ nhưng luôn hồ nghi thế cuộc, bỡn cợt thực tại và hoang mang yếm thế Cuộc sống của Hoàng càng về sau càng bế tắc vô định,

vô hướng, vô nghĩa và lạc loài Anh vật vờ bên lề cuộc sống và bất đắc chí, sống

Trang 32

bạc nhược, tự an ủi mình bằng mới lí thuyết hiện sinh quá đát” [61] Còn với Khải huyền muộn, ngay cả “Vũ, một quan chức cấp cao của ngành thể thao, quyền sinh quyền sát, vậy mà cũng có lúc bế tắc, tuyệt vọng và chạy trốn đến tu viện sâu trong rừng núi mong tìm nơi giải thoát khỏi những mớ bòng bong của cuộc sống, của đức tin Vũ cô đơn mông lung đi vào núi…Vũ chỉ thấy cay đắng chán và mệt mỏi, Vũ lơ lửng trống rỗng…Cái cảm giác rất khó tả của một kẻ trót đã có chữ”[61]

Bên cạnh vấn đề tôn giáo, thì tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà được các tác giả nhận xét là các nhân vật của ông mang dấu ấn cảm quan hậu hiện đại ở cả phương

diện nội dung và nghệ thuật, tác giả Trần Việt Hà trong bài viết Cảm quan hậu hiện đại về nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà đã nhận xét: Trong quá trình xây dựng nhân vật tiểu thuyết, cảm quan hậu hiện đại của Nguyễn Việt Hà thể hiện cách cảm nhận đặc thù về con người trong một thế giới hỗn loạn Con người trong thế giới này ghi đậm dấu ấn của cơn “khủng hoảng niềm tin” vào tất cả những giá trị đã từng tồn tại trước đó Đó là sự hoài nghi với các đại tự sự (grands récits) trong trật tự đời sống, hoài nghi tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn; sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, lạc loài, bơ

vơ, vong thân, vong bản hay tâm trạng hồ nghi tồn tại, và hơn thế là tình trạng bất

an của con người….” [61] Đồng thời các nhân vật trong tiểu thuyết của ông còn

mang những xung đột giữa đức tin và hoài nghi, với Nguyễn Việt Hà một nhà văn theo đạo Thiên Chúa, nói về đức tin và hoài nghi, ông đã thể hiện những hiểu biết sâu rộng về tôn giáo và triết học, khi gắn nó với quá trình khủng hoảng tình yêu, hạnh phúc, niềm tin của các nhân vật Bằng cách nói khi thì trang trọng thiêng liêng gắn với miền tâm linh sâu thẳm của con người, khi thì dung dị, gần gũi thậm chí suồng sã, bỗ bã, tác giả mô tả tinh tế, tài tình và logic quá trình dao động, sụp đổ niềm tin của nhận vật,đồng thời tạo nên chiều sâu triết lí và ý vị sâu xa

Trong các tác phẩm của Nguyễn Việt Hà, điểm giống nhau là các nhân vật đều đang cố bám víu vào một đức tin mong manh nào đó để mong cứu chuộc linh hồn khỏi những mặc cảm sai lầm và ám ảnh tội lỗi Nguyễn Việt Hà đã để nhân vật của mình tìm đến với tôn giáo như là nơi để trú ngụ và cứu rỗi cho linh hồn mình, đồng thời giải tỏa những áp lực, những bức xúc và bế tắc trong cuộc sống Thế

Trang 33

nhưng hiện thực nhiễu loạn, bế tắc mất phương hướng đã làm cho một số nhân vật mất niềm tin tôn giáo và mất niềm tin cả vào chính mình Họ sống trong nỗi băn khoăn “chúng ta có nên hằn học, có nên nghiệt ngã ở cuộc đời này khi chúng ta cảm thấy bất hạnh Hay chúng ta nên yêu thương và tha thứ [61]

Trang 34

Chương 2 CẢM THỨC TÔN GIÁO TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ

NHÌN TỪ SỰ PHẢN ÁNH VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI

2.1 Cảm thức về con người

Mỗi thời đại, mỗi nhà văn đều có quan niệm về con người không giống nhau Cùng với sự biến đổi hàng ngày, hàng giờ của xã hội là sự xuất hiện của những con người mới, tư tưởng mới, hành động, suy nghĩ và cách ứng xử mới Với tư tưởng hiện đại trong phong cách sáng tác, con người trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau, họ không phải là những thần tượng cao siêu, hoàn mỹ được ngợi ca đến mức tuyệt đỉnh của cái gọi là Chân - Thiện -

Mỹ như trong văn học truyền thống mà họ là những con người xuất hiện như những thực thể đa chiều, nó được soi chiếu từ nhiều khía cạnh, nhất là đời sống nội tâm đã được bộc lộ một cách tự nhiên với những ước mơ, hoài bão về công danh sự nghiệp

và tình yêu, những lo toan, dằn vặt về những điều xảy ra trong cuộc sống Một cuộc sống đầy biến động và bất ổn của thời đại mở cửa, giao lưu và hội nhập quốc tế

Thế giới con người mà ông tạo nên chủ yếu là tầng lớp trí thức, con người như bị cuốn theo vòng xoáy của cuộc sống thời đại với những suy nghĩ, những tâm trạng rất thất thường Họ là những con người tự do, luôn khao khát bày tỏ về cái

“tôi” và nghề nghiệp của mình Bên cạnh đó, những mối quan hệ xã hội và những cám dỗ của cuộc sống đời thường đã khiến họ cảm thấy mệt mỏi và tìm đến tôn giáo như một lẽ thường tình

2.1.1 Con người mang niềm tin tôn giáo

Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiếp xúc với cái hiện hữu mà còn tiếp xúc với vô số những cái vô hình, trừu tượng, không thể lí giải bằng lí trí mà chỉ có thể cảm nhận được từ tâm thức, linh cảm Trong thế giới tâm thức và linh cảm đó, chỉ có niềm tin vào sự hiện tồn và cứu giúp của thần thánh mới có thể giúp con người lí giải, đứng vững và vượt qua những trở ngại trong cuộc sống

Bàn về niềm tin trong tôn giáo GS Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Niềm tin tôn giáo là một dạng nhận thức đặc biệt,dựa trên trực giác, tạo cho con người một niềm

Trang 35

tin có tính thiêng liêng, giúp ta có thể nhìn nhận được những sự vật mà người thường không nhìn thấy được, cho ta một sức mạnh “thăng hoa” để tác động đến cuộc sống trần tục” [52, tr.99]

Bằng sự quan sát tinh tế, Nguyễn Việt Hà đã chạm vào được những phần khuất nhất của cuộc sống: về sự bất hạnh, đức tin, sự chấp nhận đau khổ, yêu thương và tha thứ từ đó con người tìm đến tôn giáo như một lòng tin tuyệt đối, thanh sạch và tận hiến Đó là thế giới con người sống bằng đức tin, trong đức tin Tìm đến với tôn giáo, con người luôn có tư tưởng hướng thiện, được thú tội, nhận thức lỗi lầm Tôn giáo giúp cho cuộc sống con người thiêng liêng hơn, cái thần bí phong phú trong mỗi con người giữa cuộc sống đời thường đôi khi được khởi nguồn từ một niềm tin tôn giáo Chính Nguyễn Việt Hà đã thừa nhận nỗi ám ảnh, xuất hiện thường trực của vấn đề tôn giáo trong tác phẩm của mình rằng tôn giáo là điều quan trọng tham dự vào lối viết của ông Và ở đây không có sự độc tôn của

một tôn giáo nào, “tôn giáo của người Việt có tính hỗn giao” [9, tr.303]

Trong Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, Nguyễn Việt Hà tỏ ra có một vốn hiểu biết rất sâu rộng về tôn giáo cũng như triết học, đặc biệt Cơ hội của Chúa

là cuốn tiểu thuyết thể hiện đậm nét hơn cả về vấn đề này Hoàng – một nhân vật mang đậm màu sắc tôn giáo, là con người có lương tâm nhưng đôi khi lại trở nên yếu ớt và thiếu ý chí Sự am hiểu và nhận thức về tôn giáo của anh có thể nói rất rộng Anh là một tín hữu của Thiên chúa giáo, anh khảo cứu Tân Ước, say sưa đọc Suzuki và kinh Bát Nhã, qua những trang viết tay còn sót lại của Hoàng có thể thấy anh hiểu sâu sắc Trang tử Không những vậy, anh còn biết cả kinh điển Phật giáo Đại thừa đến Kinh Dịch và giỏi cả tiếng Anh Hình ảnh Chúa luôn hiện hình trong suy nghĩ của anh, đó là lúc anh quỳ xuống làm dấu dưới chân tượng Đức Mẹ và lầm

rầm cầu kinh và có lúc anh khấn trước bàn thờ Phật “Trên cao vút của bức tường đối diện là mẫu tượng Chúa Jésus chịu nạn Tôi đăm đăm nhìn Meister Erkhart nói: “Đôi mắt của tôi nhìn Chúa là cặp mắt của Chúa nhìn tôi” Tôi cúi mặt vào trang sách thầm cầu nguyện Chao ôi một triết gia lý trí như Pascal cũng phải nói:

“Đức tin là một món ân tặng của Chúa chứ không phải là món ân tặng của lý luận”

[8, tr.443] Và mỗi khi cảm thấy bế tắc trong cuộc sống, mỗi khi tâm trạng hoang

Trang 36

mang không biết chia sẻ cùng ai, Hoàng lại tìm đến Chúa như một sự cứu rỗi cho

hồn mình với một niềm tin thành kính: “Lạy Chúa, xin Người ở lại với con vì trời

đã đổ chiều Trần nhà thờ cao vút Tĩnh lặng, yên ắng thăm thẳm Con thật sự bất lực Xin Chúa mở rộng vòng tay che chở cho con Con đã từng chối bỏ Người Con

đã từng tự tin Xin hãy dẫn dắt con bằng cánh tay của Người” [9, tr.282]

Một con người mạnh mẽ là con người biết đối diện với hiện thực, với nghiệt ngã để tự mình vượt qua, nhưng không phải ai cũng làm được điều đó Hoàng cũng

vậy, khi chứng kiến cuộc đời có“quá nhiều người ác, quá nhiều việc ác” [9, tr.316],

anh chỉ sống bằng lòng tin, anh phải gắng gỏi chấp nhận loay hoay với cuộc hiện

sinh này Đấng Ki Tô đã có lần phán rằng: “Sự cùng quẫn cuối cùng của con người đấy là cơ hội của Chúa” [9, tr.317 ] Và những lúc bế tắc, quần quẫng Hoàng lại tìm đến Chúa để cầu nguyện “Đã bao lần mình ân hận về chuyện nóng nảy Lạy Chúa, xin người cho con can đảm để con đủ bình tĩnh” [9, tr.261] Qua một nhân vật phụ, một bà chủ quán nói: “giọng Bắc có pha chút Sài Gòn nghe dễ chịu”[9,

tr.303], tác giả đã tạo ra được một hình ảnh tuyệt vời của cảm thức tôn giáo, thể

hiện sự hồn nhiên của tín ngưỡng người Việt: “ Bà chủ người Nam Định khoe với Hoàng là dân đạo gốc Tháng trước vừa lên đồng hết gần một triệu Chị là chị cứ thành tâm Bên cha cũng kính, bên mẹ cũng thờ Dân mình khi tin thì thường hồn nhiên”[9, tr.303]

Trong Khải huyền muộn, Nguyễn Việt Hà đã thể hiện sự hiểu biết của mình

không chỉ về giáo lý nhà Phật mà còn tìm hiểu cả quá trình, sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ Việt Nam thông qua những ký ức về tôn giáo, về cuộc phiêu lưu truyền giáo ở Việt Nam từ thế kỷ XVII của linh mục Đức Alexan dre Rhoodé Bên cạnh đó

là những nhân vật mang niềm tin tôn giáo với sự thành kính Hình ảnh mẹ Bạch với

giọng khàn khàn đầy nét trầm buồn quanh thánh đường “ Lạy Chúa, con chẳng dám Chúa ngự trị vào nhà con, nhưng con xin Chúa phán một lời thì linh hồn con được lành mạnh” [10, tr.213] Còn đối với Bạch, anh đã đến vài nhà thờ, tuy không cung kính lắm nhưng anh vẫn quỳ xuống trước Chúa mà thưa: “ Lạy Cha, con là một giáo dân và tệ hơn, con là nhà văn Con muốn viết về những sâu xa suy nghĩ tâm linh, ý thức hoặc vô thức của một vị linh mục Lạy Cha, xin Người làm ơn kể cho con

Trang 37

nghe về chính cha” [10, tr.196] Còn đối với nhân vật Vũ-quan chức cấp cao trong

ngành thể thao cũng bị tha hóa bởi những cám dỗ xung quanh của cuộc sống và những lúc như thế, chính niềm tin về tôn giáo trong tâm thức của anh đã thức tỉnh con người bản năng hướng về một niềm tin mới Tuy nhiên, thực tế cho thấy cuộc sống của con người hiện đại không phải luôn luôn xem tôn giáo điều hoàn hảo nhất đối với

họ mà đôi khi họ lại ngờ vực những điều đi ngược lại với ước muốn của mình Jean

Guiton - triết gia người Pháp từng nói:“Có một sự đối lập giữa đức tin và lý trí Bằng cách làm cho lý trí tin là điều khá khó khăn nhưng nhất thiết phải làm cho đức tin trở nên có lý” [9, tr.442] Có thể nói niềm tin tôn giáo của các nhân vật trong

tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà được thể hiện ở nhiều cung bậc và khía cạnh khác nhau, lúc thì sùng tín, lúc thì hoài nghi và chính điều này tạo nên sự gắn chặt giữa văn học và tôn giáo

2.1.2 Con người sám hối, tội lỗi

Trước sự đổi thay của xã hội, cuộc sống của con người luôn phải đối mặt với những khó khăn, bon chen của đời thường, những tham vọng cuồng tín, sự xói mòn

về các giá trị đạo đức đã khiến con người trở nên tha hóa, tồi tệ Điều đó khiến họ cảm thấy ân hận và day dứt về về những điều mình đã làm Từ đây họ biết sám hối

và tự ý thức về bản thân nhiều hơn, giữa những lo toan chật vật ở thời mở cửa nơi

đô thị, đã có những lúc họ ngoái lại phía sau để rồi mong muốn một điều gì đó an bình cho cuộc sống hiện tại

Trong Cơ hội của Chúa, các nhân vật Nhã, Hoàng, Thủy, Lâm đều có những

ước mơ lớn nhưng bất thành Viết về hai cô gái, Nguyễn Việt Hà đã để nhân vật của mình trải qua sự đau khổ, mất mát và đầy vết thương lòng của tình cảm nhưng họ vẫn mãnh mẽ và từ bỏ những thứ nó không thuộc về mình Nhã là một phụ nữ thông minh, sắc sảo, đầy bản lĩnh, nhưng cô cũng không thể cưỡng lại được sự phức tạp đến mức khó hiểu của cuộc sống con người Cô đã phải chịu bao đắng cay trong tình yêu khi bị Lâm bán rẻ vì cái lợi và lần thứ hai, Sáng đến với cô nhưng anh ta lại nghĩ đến chuyện bán rẻ cô vì cái danh và ròi khiến Nhã mất niềm tin vào đàn ông Trong khi đó Lâm, một con người “giả dối thượng thặng”, hèn hạ, anh ta tiến thân bằng sự lừa gạt, bán rẻ tình cảm để lấy một chuyến xuất ngoại, để có một chuyến đi

Trang 38

học ở Hà Lan và rời bỏ Nhã và đứa con để đạt cái lợi trước mắt Đến khi Lâm đã có tất cả, anh ta mới nhận ra rằng, cái mà người đàn ông cần nhất trong cuộc đời này

đó là một mái ấm gia đình, nơi đó có một người phụ nữ biết yêu thương quan tâm mình và những đứa con ngoan hiền Anh cảm thấy ân hận và có lỗi với mẹ con Nhã, quay trở về cầu xin cô tha thứ nhưng tất cả đã quá muộn bởi anh đã khiến Nhã mất hết niềm tin và tình cảm, chỉ còn lại trong cô là những nỗi đau Còn Hoàng, một con người luôn sùng tín, luôn có những lý lẽ riêng, vậy mà cũng có lúc anh cũng rơi vào

cảnh tha hóa: “Tôi là một kẻ bình thường đang tha hoá thành tầm thường Những đam mê và khát vọng lớn dần dần thui chột khi liên tục bị vây bởi những điều tủn mủn Tôi yêu và được yêu Tôi yêu và không được yêu Ở chỗ này chắc tôi lầm lẫn”

[9, tr.464] Trong tình yêu, Hoàng rất đỗi chân thành và lãng mạn nhưng lại hơi

nông nổi và anh tự nhận lỗi “Khi nóng giận con người ta thường mất khôn tình yêu của chúng tôi đã từng bị tổn thương bởi một hành vi nông nổi và ngu xuẩn của chính tôi, xin đừng lặp lại” [9, tr.453]

Cái tát của Hoàng đã làm anh ân hận sám hối trước Chúa: “Lạy Chúa, Người thật công bằng Tôi có tội, không phải nghiệp chướng từ kiếp trước mà ngay ở kiếp này tôi đã làm nhiều bậy bạ Tôi kêu van Chúa xin Người hãy thương tôi” [9, tr.441], “Em không tha thứ cho tôi Cái điều bất hạnh tôi linh cảm đã tới Tôi có lỗi

và lạy Chúa, sao người thật nặng nề với con” [9, tr.430]

Tâm - em trai Hoàng, anh luôn dấn thân vào những phi vụ làm ăn lớn đô, biết bao hố bùn đê tiện quyến rũ vào anh và khiến anh cảm thấy tội lỗi và sám hối:

“Lạy Chúa, con là kẻ có tội, con đã ác với nhiều người vì nghĩ rằng nhiều người đã làm ác với con Con đã không dằn lòng kêu xin Người khản tiếng, xin người hãy cho con lòng tin Xin người hãy làm chậm trễ hành trình vào bẩn thỉu của con để con ngửa mặt nhìn đời Con tin rằng tất cả những người thiện lương đều có thể mắc lỗi lầm nhưng không bao giờ rơi vào sự quay quắt đểu giả đê tiện” [9, tr.139] Còn

Thuỷ không lý giải được vì sao mình yêu Hoàng nhưng lại từ bỏ anh để đến với Trần Bình - một người đàn ông có học thức, có địa vị nhưng cô không hề yêu và cô

biết mình sẽ không hạnh phúc với anh ta nhưng cô vẫn chấp nhận “Em chưa qua hẳn được sông, vẫn loay hoay trên con thuyền đang cháy Chỉ mong là mình đừng

Trang 39

chìm ở giữa dòng Còn bờ bên kia là thiên đàng hay địa ngục em đâu có quan tâm Nhưng em biết ở đó mình vĩnh viễn không có hạnh phúc” [9, tr.492] Liệu quyết

định đó của Thuỷ liệu có phải là sai lầm không? Liệu cô có quá nhẫn tâm với Hoàng không? Trong khi đó Thủy ở nước ngoài cùng với Trần Bình, Thuỷ đã gửi thư cho Nhã - người mà cô luôn tin tưởng, chia sẻ mọi tâm sự và cũng là người hiểu

rõ nhất về mối quan hệ của cô với Hoàng Trong bức thư, Thuỷ đã dằn vặt và sám

hối: “Chị có trách em không Em rất mong chị trách em in ít cũng có thể là em sai hoặc tệ hơn nữa là bạc bẽo Nhưng giờ đây em phải luôn nghĩ mình là đúng Nếu không nghĩ thế em sẽ gục ngã mất…em sợ rồi đây, chừng nửa năm nữa em cũng hết hẳn dịu dàng” [9, tr.490] Các nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà đang

dần dần bị tha hóa bởi cuộc sống rối ren và đầy phức tạp Trước những tội lỗi, sai lầm mà họ đã gây nên, không lúc nào họ không cảm thấy hối hận, đau khổ Và những lúc như thế họ chỉ trông chờ vào một đức tin để sám hối, giải thoát mọi bế

tắc Cũng như vậy, nhân vật “Tôi” trong Cõi người rung chuông tận thế ban đầu

cũng đồng lõa với cái ác, quyết tâm tìm cô gái Mai Trừng để trả thù cho ba anh chàng Cốc, Bóp, Phũ Không ngờ, quá trình tìm kiếm ấy lại là một quá trình hướng thiện Anh ta nhận thức được cái ác, thấu hiểu giá trị của cuộc sống, nỗi đau của con người và sám hối “Việc cùng lúc tôi phải làm là thanh lọc cái tâm hồn tội lỗi của mình Từ giờ trở đi tôi sẽ không được phép nghĩ ác về Mai Trừng Tôi thắp hương sám hối Tôi cầu mong cho cô luôn gặp may mắn” [44, tr.158]

Trong Khải huyền muộn, tác phẩm kể về những con người sám hối, từ các

nhân vật công chức cao cấp đồi bại về đạo đức cho đến các nhân vật “đóng vai” nhân vật trong tiểu thuyết và nhân vật “đóng vai” tác giả/ nhà văn Tất cả đều đối diện với chính mình, tự mình kể về sự tha hoá của mình, sau đó là sự ân hận, sám hối Từ đây tác giả cho chúng ta thấy, con người hậu hiện đại cũng đang rơi vào cảnh nguy cơ bị tha hoá, ngủ dài trên những tham vọng ảo tưởng và đặc biệt bị xói mòn nặng nề về các giá trị đạo đức, lối sống Vũ - một quan chức cấp cao vẫn không tránh khỏi được những cám dỗ của cuộc sống đời thường, của những dục vọng tầm thường luôn khiến anh cảm thấy mệt mỏi nhưng vẫn phải theo đuổi Anh đau đớn khi luôn phải sống trong nghịch cảnh của sự tha hoá, anh ý thức được mình

Trang 40

là một trí thức nhưng vẫn ngày ngày “tham gia” vào những việc tha hóa vô bổ Điều khiến anh bất lực và ân hận nhất đó là không quản được đứa con trai của mình, hay nói cách khác đó là sự xót xa khi chứng kiến sự tha hoá của tổ ấm nhỏ bé của mình Tất cả đều bị đồng tiền làm cho tha hoá, con của anh bị biến đổi dưới sức mạnh của đồng tiền, của quyền lực Nhìn thằng con trai vô lễ với viên cảnh sát, anh đã không

nén nổi sự giận dữ: “Vũ áy náy nhìn viên đội trưởng già đang tủi thân đau đớn đứng hút thuốc một mình ở góc sân Cái quân hàm thiếu tá nhăn nhó bất lực trên bả vai nhô xương Thằng Bảo giằng lấy cái phong bì mà mẹ nó đang định đưa cho ông thiếu tá: Lão khọm ấy lúc trước suýt tát con Vũ giơ tay tát thật mạnh vào mặt thằng con trai duy nhất Đây không phải là lần đầu tiên Vũ đánh con” [10; tr.64-65]

Đằng sau những việc làm ấy, Vũ đã tìm đến cụ linh mục Đức như một sự cứu rỗi linh hồn mình

Có thể nói, những con người trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà là những con người dám nghĩ, dám làm, dám chấp nhận và chấp nhận rồi lại rơi vào tình trạng “dằn vặt trong sự sám hối” về những gì đã qua Nói như Nguyễn Việt Hà thì trong các nhân vật của ông dù có trượt ngã đến thế nào thì con người ta sẽ thấy một chút gì đó của sự day dứt, trăn trở Tuy nhiên, điều đáng mà ông muốn gửi gắm đó

là khi hối hận, day dứt con người luôn ý thức được tội lỗi và tự sám hối thì đó là điều đáng trân quý

2.1.3 Con người cô đơn, lạc lõng

Con người trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà trước hết là con người khao

khát khẳng định nhân vị tự do của mình Nguyễn Việt Hà từng cho rằng: “Một trong những phẩm chất của người trí thức là rất nhạy cảm và có khả năng đối thoại với im lặng, đối mặt với sự cô đơn” [59] Con người khi cô đơn có nghĩa là họ đang

đối mặt với thế giới đầy cạm bẫy của xã hội Khi bị lôi kéo vào xã hội ấy, con người không thể ý thức được mình đang làm gì Là đúng là sai hay chỉ là sự lấp đầy khoảng trống

Nhân vật Hoàng trong Cơ hội của Chúa đã đến rất nhiều nơi, từ Hà Nội đến

Sài Gòn, từ nơi sang trọng đến nơi nham nhở của cuộc sống đời thường, nhưng không nơi nào Hoàng có thể hoà hợp được Những nơi anh qua chỉ là những mảnh lắp ghép của cuộc sống, Hoàng lạc lõng và xa lạ với thế giới của đồng tiền, quyền

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w