Xem Nguyễn Du như một tác giả tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX để phân biệt với các nhà thơ ở giai đoạn trước và sau đó, Trần Đình Sử thấy “Nguyễn Du cảm được sự nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
P GS.TS LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến PGS TS Lê Thu Yến – người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn Thanh Sơn – người đã có những gợi
ý rất hay về đề tài và là người luôn truyền nhiệt hứng cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với thày Phan Nhật Chiêu đã cung cấp nhiều
tư liệu quý giúp cho tôi có thể tìm hiểu vấn đề toàn diện hơn
Xin cảm ơn tất cả gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ tôi trong quá trình làm luận văn
Ngày 15/5/2010
Nguyễn Thị Minh
Trang 4CHƯƠNG 2: NHỮNG GẶP GỠ TÌNH CỜ GIỮA THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN
DU VÀ THƠ SONNET SHAKESPEARE VỀ CẢM THỨC THỜI GIAN1T 33
3.1 Hai gương mặt thời gian1T 72
3.1.1 Thời gian thuần nhất trong thơ Nguyễn Du 74
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đầu thế kỉ XX, khi văn hóa phương Tây tràn vào, cô gái Việt như bừng tỉnh sau một giấc mơ dài trong vòng tay ông hoàng Trung Hoa, hăm hở bứt ra để đón nhận luồng gió mới, làm đầy chiếc dạ dày tinh thần đang háu đói nhưng đã chán ngấy hương vị cũ của mình bởi những trải nghiệm mới lạ Kể từ đó, chúng ta được biết đến một nền văn minh khác mình về rất nhiều phương diện Giống như cục nam châm hút những gì trái dấu, nó hấp dẫn
sự quan tâm tìm hiểu của nhiều người, nhiều thế hệ Trong xu hướng toàn cầu hóa, mở rộng giao lưu, hợp tác giữa các nước trên thế giới hiện nay, việc biết người để hiểu mình là một nhu cầu tự thân bức thiết Khi các nước cùng tề tựu dưới một mái nhà chung, điều làm nên
bộ mặt riêng của mỗi dân tộc chính là các giá trị văn hóa
1.2 Là một tài năng hiếm có, mang chở cả tâm hồn người mẹ Việt vào những trang thơ, Nguyễn Du cùng các tác phẩm của ông đã trải qua thật nhiều thăng trầm trước khi được công nhận là danh nhân văn hóa thế giới Nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du, người ta thường nhắc đến kiệt tác Truyện Kiều, rất ít người lưu tâm đến mảng thơ chữ Hán đặc sắc và giá trị
của ông Cũng như vậy, khi nhắc đến Shakespeare “nhà ảo thuật của ngôn ngữ Anh”, người
ta cũng thường chỉ quan tâm đến kịch, mảng thơ sonnet và các trường ca thường không được để ý đến hoặc nếu có thì cũng chỉ được nhận xét chung chung Sự tương đồng về số phận giữa hai mảng sáng tác là khởi đầu của rất nhiều nét chung khác: cả hai nhà thơ đều xuất hiện trong giai đoạn tỏa sáng của văn học hai dân tộc thời kì chế độ phong kiến suy tàn, đều là hai nghệ sĩ tài năng trong việc hoàn thiện ngôn ngữ dân tộc, ý thức về sứ mệnh ngòi bút, khao khát có được sự đồng cảm của người đời và nhất là sáng tác của họ luôn đau đáu những nỗi niềm nhân sinh muôn thuở Nếu nét tương đồng đưa hai thi hào ở hai miền xa xứ
lạ đến gần nhau thì sự khác biệt lại cho phép ta suy nghĩ về đặc trưng tiêu biểu của hai con người thuộc hai nền văn hóa, hai dân tộc
1.3 Khi Ađam và Êva nhận ra sự trần trụi của mình giữa chốn vườn địa đàng cũng là lúc họ có ý thức về bản thân, ý thức mình là một con người Khi con người nhận ra sự hữu hạn của mình giữa thế giới bao la, họ có ý thức về thời gian Đằng sau sự cảm nhận ấy là cả một thế giới quan, nhân sinh quan gắn với khí chất, đời sống riêng tư cũng như đặc điểm
Trang 7dân tộc, môi trường văn hóa của mỗi cá nhân Không hẹn mà nên, Shakespeare và Nguyễn
Du trong thơ mình đều dành mối quan tâm đặc biệt tới thời gian, thể hiện nó như một hình tượng có sức ám ảnh lớn Cảm thức thời gian có thể xem như một cánh cửa đi vào thế giới nghệ thuật của hai thi sĩ
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Du và Shakespeare đều là hai thi hào lớn của dân tộc, những công trình nghiên cứu về hai tác giả này rất đồ sộ Ở đây chúng tôi chỉ quan tâm đến các tài liệu có liên quan đến đề tài
Về thơ chữ Hán Nguyễn Du
Để thuận tiện cho việc tìm hiểu, chúng tôi phân tài liệu về thơ chữ Hán Nguyễn Du làm 2 dạng: dạng tài liệu phân tích một vấn đề trong sáng tác Nguyễn Du nói chung hoặc nói về các vấn đề khác nhưng có đả động đến thơ chữ Hán; dạng tài liệu lấy thơ chữ Hán làm đối tượng nghiên cứu chính
Về dạng tài liệu thứ nhất, ý kiến đầu tiên có thể kể đến là những nhận xét xác đáng
của Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam Ở phần phân tích về
thời gian con người trong thơ ca trung đại, tác giả nhận định: “Phải sang thời kì ý thức cá
nhân được khẳng định ở bình diện thân xác như đã nói, ý thức thời gian con người mới được biểu hiện rõ nét trong thơ và đến thời này con người trong thơ mới bắt được cái mạch trong thơ các đời Hán, Ngụy, Đường” [42, tr.209] Nhà nghiên cứu lấy sáng tác thơ chữ
Hán Nguyễn Du làm minh chứng để thấy “Bao trùm lên hết thảy là một cảm thức thời gian
tàn, tạ, phôi pha Đối với Nguyễn Du các đơn vị đo thời gian như năm, tháng, ngày không thật có ý nghĩa Cái có ý nghĩa sâu sắc là sự đổi thay nhanh chóng, cho nên không phải ngẫu nhiên mà thơ ông đầy mùa thu, buổi chiều, trời đêm, tóc bạc, lá rụng… mọi thứ cứ phôi pha, tàn tạ mà không cách gì dừng lại được” [42, tr.209] Xem Nguyễn Du như một
tác giả tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX để phân biệt với các nhà thơ ở
giai đoạn trước và sau đó, Trần Đình Sử thấy “Nguyễn Du cảm được sự nhỏ nhoi của con
người trước thời gian”, “ông thường sử dụng biểu tượng thời gian khái quát”, “thời gian chỉ hủy diệt cuộc đời”, “nhà thơ đau tiếc từng giờ”, “thời gian như giấc mộng” và “Nếu so với thời gian vũ trụ thanh bình, thời gian cá thể là nhỏ nhoi, hữu hạn Giờ so với sự đổi thay lịch sử, cá thể trở thành vô nghĩa! Nhà thơ cảm thấy kinh sợ thời gian” Dù mới chỉ dừng lại
ở những nhận xét sơ lược, khái quát, song đây cũng là một cơ sở để chúng tôi đi vào tìm
Trang 8hiểu sâu hơn cảm thức thời gian trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Trong luận án tiến sĩ
Nguyễn Du và Đỗ Phủ - những tương đồng và khác biệt về tư tưởng nghệ thuật, tác giả
Hoàng Trọng Quyền từ chỗ lí giải vai trò của cảm hứng chủ đạo trong tư tưởng nghệ thuật
của Nguyễn Du và Đỗ Phủ đã phân tích một số biểu hiện thời gian trong Truyện Kiều và
thơ chữ Hán để thấy ở Nguyễn Du “Các mùa xuân, hạ, thu, đông đều nằm trong các tia
sáng tham chiếu của cảm thức về thân phận con người” [36, tr.162] Nguyễn Đăng Thục
trong cuốn Thế giới thi ca Nguyễn Du đã gợi lại không khí xã hội thời Lê mạt Nguyễn sơ qua các dẫn chứng lấy từ Hoàng Lê nhất thống chí, từ đó phân tích tâm hồn Nguyễn Du thể
hiện qua các sáng tác của ông Khi nhắc đến thơ chữ Hán, tác giả chủ yếu gắn nó với tâm Thiền như một biện pháp giải thoát của nhà thơ khỏi tình cảnh bế tắc
Về dạng tài liệu thứ hai, có thể kể đến các bài viết: Thơ chữ Hán Nguyễn Du và tâm
sự của nhà thơ của Nguyễn Lộc, Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán của
Hoài Thanh, Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán của Xuân Diệu, Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán của Nguyễn Huệ Chi, Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán của Trương Chính, Thơ chữ Hán Nguyễn Du của Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Du trong những bài thơ chữ Hán của Đào Xuân Quý, Thơ chữ Hán Nguyễn Du
của Mai Quốc Liên… Các bài viết đều đưa ra những nhận định khái quát về thơ chữ Hán
Nguyễn Du, khẳng định bên cạnh Truyện Kiều, thơ chữ Hán là một cứ liệu quan trọng nếu
muốn thực sự đi sâu vào thế giới tâm hồn, thấu hiểu những suy tư kín đáo của Nguyễn Du
Các tác giả đã phần nào chỉ ra, lí giải thực chất cái gọi là “tâm sự hoài Lê” cùng thái độ
chính trị phức tạp trong thơ cụ Nguyễn Tiên Điền Dù có khi bất đồng ở chỗ này chỗ khác, các ý kiến trên thống nhất với nhau ở một điểm: khẳng định giá trị hiện thực, nhân đạo cùng nét đặc sắc về mặt nghệ thuật của thơ chữ Hán, xem đây như một kho báu còn chưa được khai thác hết và vẫn hứa hẹn những điều bất ngờ Nhưng công trình công phu, chi tiết về các khía cạnh nghệ thuật thơ chữ Hán phải kể đến là luận án tiến sĩ Ngữ Văn của Lê Thu Yến:
Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du Trên cơ sở xử lí những vấn đề liên quan
đến văn bản thơ, tác giả xem xét thơ chữ Hán Nguyễn Du từ góc độ thi pháp trên các phương diện: hình tượng nghệ thuật về con người, thời gian, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ Trong phần thời gian nghệ thuật, tác giả đã phân tích thời gian úa tàn, thời gian kí ức, thời gian khoảnh khắc để làm rõ cái nhìn riêng của nhà thơ đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ
thể Tác giả có một số nhận định sâu sắc: “Qua khung thời gian được vẽ ra trong thơ, chúng
ta thấy rõ ràng dấu tích của con người cá nhân với những bứt phá vượt thời đại Con người
Trang 9cá nhân ấy luôn vùng vẫy, cựa quậy, quay đầu về quá khứ, trực diện với hiện tại, đánh dấu hỏi vào tương lai… nhưng chưa đủ mạnh để có thể lật tung mọi ngõ ngách tâm hồn, tự mình tìm khắc khoải giữa đời hoặc tiến lên một bước đấu tranh giành quyền sống quyết liệt như
con người của thế kỉ XX” [52, tr.140] Công trình gần đây nhất về thơ chữ Hán là cuốn Đọc
và dịch thơ chữ Hán của Thảo Nguyên Bên cạnh các bài dịch thơ, tác giả cũng đưa ra một
số lời bình chú có phần nghiệp dư nhưng nếu chú ý ta sẽ thu được một vài suy ngẫm thú vị
Ngoài ra còn có một số luận văn như luận văn thạc sĩ của Vũ Thu Hường: Tìm hiểu phạm
trù Tha trong việc biểu hiện ý thức cá nhân trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, luận văn
tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thanh Thảo: Giọng điệu nghệ thuật trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du cùng một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí chủ yếu tìm hiểu một tác
phẩm hoặc một vấn đề riêng
Về thơ sonnet Shakespeare
Chúng tôi cũng phân chia tài liệu về thơ sonnet Shakespeare thành hai loại: tài liệu bằng tiếng Việt và tài liệu bằng tiếng Anh
Tài liệu bằng tiếng Việt
Sonnet là thể thơ rất phổ biến ở phương Tây nhưng ở Việt Nam, thể thơ này chưa thực sự được biết đến một cách rộng rãi Shakespeare nổi tiếng ở Việt Nam từ cách đây hơn một thế kỉ, tuy nhiên người ta biết đến ông chủ yếu với tư cách là nhà viết kịch Đến nay hầu hết các tác phẩm kịch của ông đã được dịch ra tiếng Việt, còn sonnet Shakespeare thì vẫn chưa có bản dịch nghĩa nào mà chủ yếu là dịch thơP0F
1
P
Tài liệu bằng tiếng Việt về thơ sonnet Shakespeare do vậy càng hiếm hơn nữa Tài liệu sớm nhất mà chúng tôi tìm được là
cuốn Khái niệm về ngôn ngữ và thi pháp Anh của tác giả Đỗ Khánh Hoan – Trưởng ban
văn hóa Anh – Mĩ Đại học Văn khoa Sài Gòn, xuất bản lần đầu năm 1971, được sửa chữa
và in lần thứ hai năm 1974 Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích quá trình lịch sử của ngôn ngữ Anh, nêu lên một cách khá đầy đủ các hình thức thi ca Anh, trong đó có sonnet
mà ông gọi là thể “thập tứ hàng thi” Khi nhận xét sơ bộ tiến trình phát triển của thể sonnet, ông có nhiều nhận định đáng chú ý: “Thập tứ hàng thi (Anh) kiểu Shakespeare và thập tứ
hàng thi kiểu Milton là những biến đổi đầy tính cách thí nghiệm đã được công nhận, bởi vì
có nhiều bài thơ giá trị đã được sáng tác theo khuôn khổ này; tuy nhiên, nếu không có Shakespeare và Milton chắc uy tín của chúng chưa hẳn lộng lẫy như thế” [19, tr.117] Tác
1 Tuyển tập Shakespeare in năm 2006 cũng chỉ có kịch
Trang 10giả cũng khẳng định: “Cũng như trong các kịch phẩm, qua tập thập tứ hàng thi gồm 154
bài, Shakespeare tỏ ra hiểu cuộc đời, hiểu trái tim con người hơn ai hết Thêm vào đó ông
đã sử dụng một thứ ngôn từ thật thi vị đơn giản nhưng trau chuốt Không kể 37 kịch phẩm bất hủ, riêng thi phẩm này đã đủ đưa Shakespeare lên hàng thi hào của Anh quốc” [19,
tr.119] Do giới hạn của một cuốn sách khái quát về một đối tượng thuộc phạm vi rộng, tác giả không đưa ra dẫn chứng, cũng không phân tích, song các nhận xét của ông đã giúp chúng tôi rất nhiều trong bước đầu tìm hiểu sonnet Shakespeare Tài liệu thứ hai có thể kể
đến là cuốn W Secxpia thơ xônê chọn lọc của dịch giả Thái Bá Tân Tác giả đã chọn dịch
77 bài sonnet tiêu biểu của Shakespeare kèm theo lời giới thiệu nhiều tâm huyết Trong phần này, Thái Bá Tân có giới thiệu sơ bộ về hình thức, bố cục và những yêu cầu nghiêm nhặt đã trở thành bắt buộc của thể sonnet cùng quá trình phát triển của nó và đi vào sonnet Shakespeare : “Nhìn chung, mặc dù chủ đề xen kẽ nhau khá phức tạp, đại khái ta có thể chia toàn tập 154 bài xônê của Shakespeare thành hai phần lớn – một phần nói về người bạn, và phần kia nói về người yêu Cụ thể hơn, có thể chia thành từng nhóm như sau:
- Từ xônê 1 đến xônê 26: ca ngợi vẻ đẹp của bạn, thuyết phục bạn lấy vợ, có con để truyền lại vẻ đẹp ấy cho các thế hệ sau
- Từ xônê 27 đến xônê 32: nỗi buồn xa cách
- Từ xônê 33 đến xônê 42: những nghi ngờ và rạn nứt đầu tiên trong tình bạn
- Từ xônê 43 đến xônê 75: nỗi buồn và lo sợ
- Từ xônê 76 đến xônê 96: lòng ghen tuông và đố kị đối với các nhà thơ khác
- Từ xônê 97 đến xônê 99: mùa đông của sự chia li
- Từ xônê 100 đến xônê 126: niềm vui của tình bạn được khôi phục
- Từ xônê 127 đến xônê 127 đến xônê 152: tình cảm mâu thuẫn của nhà thơ đối với người yêu: “the Dark Lady”
- Hai bài 153 và 154 là hai xônê kết, ít liên quan đến toàn bộ “cốt truyện”, chủ yếu phỏng theo các bài xônê cổ điển có trước” [43, tr.14 – 15] Nhà nghiên cứu cũng chia sẻ
những khó khăn trong quá trình đến với tác phẩm để thấy: “Cho đến nay chưa hề có bản
dịch thơ Sêxpia nào ra tiếng Việt, nghĩa là chúng ta hoàn toàn chưa biết đến một Sêxpia khác cũng vĩ đại như Sêxpia kịch, đó là Sêxpia thơ trữ tình Nguyên nhân thì nhiều, nhưng
có lẽ nguyên nhân cơ bản nhất là ở chỗ dịch thơ xônê của Sêxpia rất khó, hầu như vượt ra
Trang 11ngoài khả năng của người dịch, ngay cả những người dịch tài năng và kinh nghiệm.” [43,
tr.17] Có thể nói trong tình hình tư liệu tiếng Việt còn ít ỏi, cuốn sách của Thái Bá Tân là một tư liệu quý đối với quá trình nghiên cứu của chúng tôi Ngoài ra chúng tôi còn được biết
đến báo cáo khoa học của sinh viên trường Đại học Phú Xuân Nguyễn Thị Thu Cúc: Thời
gian trong sonnet của Shakespeare Người viết có nêu ra nhận xét về các chiều thời gian
quá khứ, hiện tại, tương lai cùng khát vọng vĩnh cửu của nhà thơ cũng như một số phương thức thể hiện thời gian trong sonnet Tuy một số nhận xét chưa thật chính xác vì người tìm hiểu mới chỉ tiếp cận văn bản qua bản dịch thơ và do giới hạn của một báo cáo khoa học sinh viên nhưng có thể nhận thấy ở đây niềm say mê và sự cố gắng đưa sonnet đến gần hơn với độc giả
Tài liệu bằng tiếng Anh
Về Shakespeare, các tư liệu khi nhắc đến thơ sonnet thường khái quát chúng thành các nhóm bài có chủ đề chung Các nhà nghiên cứu chủ yếu chú ý đến vần, nhịp thơ cùng
các nhân vật bí ẩn “a young man” và “a sensual woman” là đối tượng mà Shakespeare muốn gửi gắm, nhắn nhủ trong các bài thơ của mình Yếu tố thời gian nếu có được nhắc đến cũng chỉ được xem là một đề tài bên cạnh các đề tài khác Công trình nghiên cứu công phu và kĩ lưỡng về thơ sonnet Shakespeare được nhiều người nhắc đến là của Giáo sư Đại học
Harvard Helen Vendler: The art of Shakespeare’s sonnets Trong cuốn sách này, bằng việc diễn giải chi tiết 154 bài sonnet của Shakespeare, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hình tượng được ẩn giấu và đặc điểm phong cách các bài thơ, nêu lên được những tầng nghĩa quan trọng trong mỗi dòng thơ cũng như cách các phần kết hợp với nhau để tạo ra ý nghĩa Mark Van Doren – nhà Shakespeare học nổi tiếng trong cuốn Shakespeare, phần nghiên
cứu về thơ ca (poems) có nhận xét khái quát: “Đơn chủ đề lớn nhất trong sonnet là Thời
gian với bước chân nhanh chóng, khủng khiếp Thời gian là thứ có khả năng vẽ đường chết trên khuôn mặt (tạo ra nếp nhăn), phá sập tận gốc thành quả mọi công trình, làm tàn héo hoa hồng, mang mùa đông đến sau xuân và tạo ra bản nhạc chung trong đó cả thế giới rên
rỉ bước đi tới điểm kết thúc Dưới ảnh hưởng của tên bạo chúa khát máu này, Shakespeare
đã sáng tác những bài sonnet được biết đến nhiều nhất, trong chừng mực chuỗi các bài thơ thống nhất với nhau ở chủ đề sự phá hủy của thời gian Cái chết của ngày và mùa, sự sinh sôi và tàn lụi của cây (và của con người giống như cây), gương mặt bị tàn phá, bờ biển bị tàn phá, cuốn sử biên niên của thời gian bị lãng phí, sự tàn tạ và cái chết của chính nhà thơ, nỗi mất mát những người bạn quý, nỗi đau buồn, cô đơn và sự hủy diệt – tất cả được viết
Trang 12bằng ngôn ngữ tuyệt nhất của nhà thơ – thứ ngôn ngữ được dùng để nói về những điều không thể nói hay hơn, hoặc với một tình yêu sâu sắc hơnP1F
2
P
”[59, tr.6 – 7] G Wilson Knight
trong cuốn The Mutual Flame on Shakespeare ‘s sonnets and The Phoenix and the
Turtle , ở phần nghiên cứu về sonnet đã dành một chương để nói về vấn đề “time and
eterniry” (thời gian và sự trường tồn bất diệt) Theo tác giả, thời gian, cái chết và sự bất diệt (time, death and eternity) là ba vấn đề lớn của sonnet Nhà nghiên cứu đã đi vào các bài thơ
xuất hiện hình ảnh thời gian và chỉ ra “Hình ảnh so sánh cuộc sống con người với sự thay
đổi theo mùa hay theo ngày được nhấn mạnh từ đầu chí cuối”P2F
5
P[63, tr.73] Tác giả cũng
liên hệ với các vở kịch của Shakespeare: Antony and Cleopatra, Henry IV, Richarch II,
Troilus and Cressida… để cho thấy trong toàn bộ các tác phẩm Shakespeare, thời gian là một mối quan tâm lớn Bằng những phân tích sâu sắc và một cái nhìn hệ thống, nhà nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố truyền thống cũng như cách tân trong sử dụng hình ảnh miêu tả thời
gian của Shakespeare Trong cuốn Shakespeare’s sonnets, Tiến sĩ James K Lowers của Đại
học Hawaii có đưa ra những kiến giải về các vấn đề cơ bản nhất của sonnet Shakespeare: thời điểm sáng tác (date of composition); trật tự và cách sắp xếp (order and arangement);
các nghi vấn mang tính tự truyện (question of autobiography) liên quan tới các nhân vật “the
fair young man”, “the dark lady”, “the rival poet”; các chủ đề nổi trội (dominant themes) và tập hợp các bài phê bình hay của các nhà nghiên cứu Tác giả xem ba trong số các chủ đề nổi trội của sonnet Shakespeare là sự bất tử qua thế hệ sau (immortality through offspring),
sự bất tử qua thơ ca (immortality through verse), sự bất tử qua tình yêu (immortality through love) Khát vọng bất tử này có nguyên nhân từ việc nhận thức về thời gian như một kẻ thù:
“Trong hầu hết các bài thơ đầu của tập sonnet, thời gian là kẻ thù lớn của tuổi trẻ và cái đẹp Nhà thơ, giống như rất nhiều các thi sĩ cùng thời, nhìn với sự đau đớn, lo lắng trước sức mài mòn của thời gian (đối với vạn vật) và đi tìm câu trả lời làm thế nào đánh bại hắn
2 The great single subject of the sonnets is Time, swift – footed, terrible Time that writes death on faces, roots out the work of masonry, fades roses, brings winter after spring, and makes in general the music to which all the world marches groaning to its end Under the wing of this bloody tyrant Shakespeare has composed the sonnet which the world knows best; in so far as the sequence has unity it is organized about the theme of Time’s decay The death of days and seasons, the springing and the withering of plants (and of men as plants), ravaged faces and ravaged shores, the chronicle of wasted time, the poet’s own decline and death, the loss of precious friends, woe, loneliness, and doom – the are the grammar of the poet’s finest language, a language which he is using to say what has never been said better of with profouder love
3
The comparison of human life to seasonal or diurnal change is emphatic throughout
4 Slow or fast, one thing is certain: Time is “never - resting” (sonnet 5)
5 Time is a mysterious continuum within which all nature is contained and limited
Trang 13để tuổi thanh xuân cũng như vẻ đẹp được bảo tồn Ở tập thơ của Shakespeare, ba câu trả lời được đưa raP5F
6
P
”[64, tr.27] Không dừng ở các nhận xét, tác giả còn có sự thống kê: “Thật
thú vị khi khám phá ra rằng từ sonnet 1 đến sonnet 126 từ “time” được sử dụng 78 lần và không chỉ xuất hiện một lần trong các bài còn lại Trong số các bài thơ đầu này, có 9 bài phát tr iển chủ đề về sức mạnh của thơ ca chiến thắng thời gian, thứ nhiều lần được miêu tả bằng những từ khác nhau như “mau lẹ”, “có khả năng phá hủyP6F
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm hiểu những nét tương đồng, dị biệt trong cảm thức thời gian giữa thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare, cố gắng phần nào phân tích
và lí giải chúng từ nhiều góc độ
Đối tượng chính của luận văn là ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du: Thanh Hiên thi
tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục và 154 bài thơ sonnet Shakespeare Các mảng
sáng tác khác chỉ có thể xem là tài liệu tham khảo Cho nên trong phần trình bày, khi nhắc đến thơ Nguyễn Du và thơ Shakespeare là chúng tôi muốn nhắc đến các đối tượng này, không phải thơ hai tác giả nói chung
Như cái tên của đề tài, trong luận văn này, chúng tôi giới hạn sự tìm hiểu ở vấn đề thời gian, cụ thể là cảm thức thời gian trong sáng tác của hai nghệ sĩ lớn Về thơ chữ Hán
6
In the first large division of the Sonnets, Time is the great enemy of youth and beauty The Poet, like so many of his contemporaries, viewed with pain and sorrow the corrosive effects of Time and sought answers to the question of how it could be defeated and youth and beauty preserved In Shakespeare’s sequence three answers are propounded
7
It is not without interest to find that the word time is used sevety – eight times in sonnet 1 – 126 and not once in the remainings sonnets Of this first large group, nine develop the theme of poetry’s power to conquer Time, which is variously described as “swift - footed” and “devouring”
Trang 14Nguyễn Du, chúng tôi sử dụng cuốn Nguyễn Du toàn tập (tập 1) do Mai Quốc Liên,
Nguyễn Quảng Tuân chủ biên Về văn bản thơ sonnet Shakespeare, do chưa có bản dịch
nghĩa tiếng Việt, chúng tôi sử dụng nguyên bản tiếng Anh từ cuốn Shakespeare’s sonnets
của nhà xuất bản Đại học Yale và mạnh dạn đưa ra một hướng dịch của mình trên cơ sở tham khảo một số tài liệu đáng tin cậy
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Bằng kết quả khảo sát, phân tích, người viết mong chỉ ra những nét đặc sắc trong cảm thức thời gian ở hai tác giả, đặc biệt nhấn mạnh những chỗ tương đồng và dị biệt, phần nào chỉ ra nguyên nhân cũng như ý nghĩa của nó
Ý nghĩa thực tiễn: góp thêm một phần nhỏ đưa thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare đến gần hơn với độc giả, góp phần vào việc tìm hiểu cũng như giảng dạy thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare trong trường phổ thông và đại học
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: dùng để thống kê các câu thơ, bài thơ thể hiện cảm thức thời gian trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ sonnet Shakespeare, sau đó hệ thống hóa, đặt chúng vào các nội dung chung phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: đặt sáng tác của Shakespeare và Nguyễn Du trong cái nhìn tương quan để tìm ra những nét tương đồng, dị biệt Vì không tìm thấy dấu vết ảnh hưởng của Shakespeare tới Nguyễn Du, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh về mặt
loại hình, lí giải các tương đồng, dị biệt từ các hiểu biết về tiểu sử nhà văn cũng như đặc điểm xã hội, môi trường văn hóa mà nhà văn sống Bên cạnh đó, đặt hai tác giả này trong mối quan hệ với các nhà thơ xuất hiện trước và sau họ để thấy nét độc đáo trên cái nền chung của thời đại cũng như trong tiến trình lịch sử văn học
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong luận văn nhằm kết hợp phân tích dẫn chứng với việc đưa ra những nhận định ở các chương, các phần
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Trang 16CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Nguyễn Du và thơ chữ Hán
1.1.1 Nguyễn Du
Người ta đã thấy trong thơ Hồ Xuân Hương nỗi khát khao hạnh phúc của một người
phụ nữ tình duyên dang dở, trong thơ Nguyễn Khuyến một ông lão vừa tha thiết với “vườn
Bùi chốn cũ” vừa đầy tâm sự thời thế nặng sâu , và cũng không khó để thấy trong thơ
Nguyễn Du những dấu ấn tiểu sử đậm nét, bởi giống như đứa con do người mẹ bao ngày thai nghén, tác phẩm dù mang tính độc lập đến đâu cũng không thể tách hoàn toàn khỏi người đã sinh thành ra nó Cho nên nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Du, ta không thể không tìm hiểu các chi tiết đời tư có ảnh hưởng đến thơ ông Chúng có thể được trình bày tường tận trong rất nhiều tài liệu, song ở đây chúng tôi chỉ nhấn mạnh một vài chi tiết có thể ít nhiều liên quan đến cảm nhận thời gian của thi sĩ
Nguyễn Du sống vào khoảng 30 năm cuối thế kỉ XVIII, 20 năm đầu thế kỉ XIX –một thời kì bão táp trong lịch sử dân tộc với những biến thiên khôn lường của thời cuộc Những cuộc tranh giành quyền bính diễn ra trong phủ chúa Trịnh, sự nổi lên rồi bị dập tắt của đám kiêu binh, sấm sét từ triều đại Tây Sơn rồi ngay sau đó là sự suy tàn của triều đại
ấy, sự tiếp nối của nhà Nguyễn, biết bao cuộc khởi nghĩa nông dân, bạo loạn, li tán liên miên cuốn ông đi như dòng thác cuốn một cánh bèo đơn chiếc Tưởng như chỉ trong chớp mắt mà đã có bao cuộc tang thương dâu bể diễn ra mà con người lại không thể dự đoán được chiều hướng của nóP7F
Th ời Lê mạt, Nguyễn sơ là một thời kì vô cùng hỗn loạn, khi tất cả các quan hệ rường mối (vua – tôi, quân – thần, phụ
- tử…) bị đảo lộn, không còn ý nghĩa Có thể thấy điều ấy qua đoạn tả cảnh chạy loạn của Lê Chiêu Thống được ghi lại trong Hoàng Lê nhất thống chí: “Hoàng thượng (Lê Chiêu Thống) và Hoàng thái hậu chờ ở bờ sông lâu lắm (sông
Như Nguyệt) không thấy có đò, Hoàng thượng liền cho vời Thược (Nguyễn Cảnh Thược trấn thủ Kinh Bắc) đến hỏi, Thược thưa:
- Các thuyền đều không ở đây, bệ hạ muốn gấp sang sông, xin hãy cho thần ít nhiều vàng lụa thì mới thuê được Nếu không dẫu đến sáng mai cũng vẫn ở đây Giá như quân giặc đuổi đến, thần xin dùng cái chum gỗ để đưa bệ hạ qua sông, chỉ e rằng những đồ ngự dụng không thể giữ được mà thôi
Hoàng thượng nói:
- Trẫm có cả nước cũng không giữ nổi, còn tiếc cái gì?
Tức thì ngài sai mở hòm cho xem Trong đó chỉ có một chiếc truyền quốc ngọc tỉ 40 lạng vàng mà thôi Ngài bảo Cảnh Thược:
- Đấy người muốn lấy gì thì lấy
Thược thưa:
- Mong ơn bệ hạ ban cho, thần xin chia lấy một nửa
Trang 17nối tiếp trị vì, mọi thứ rồi quay về quỹ đạo cũ, không biết bao giờ kết thúc Thời gian vừa tuần hoàn lại vừa biến động, con người chẳng thể điềm nhiên nhìn thế sự xoay vần, nhưng
càng không thể lay chuyển được gì, chỉ có thể “trông thấy mà đau đớn lòng”
Cuộc đời Nguyễn Du do đó cũng thăng trầm theo thời cuộc Sống sung túc trong cảnh xa hoa không được bao lâu, ông đã sớm nếm trải cảm giác mất mát của một đứa trẻ mồ côi, một kẻ sĩ bất đắc chí, một hành nhân lưu lạc khắp chốn cùng nơi, một thi nhân thấy chữ
nghĩa chẳng ích lợi gì trong thời loạn lạc dù vẫn luôn “vô hạn cảm”P8F
9
P với đời Có lẽ cũng giống như Kiều, Nguyễn Du cứ mãi đi tìm một chỗ neo đậu trong đời mà kết cục chỉ bị đẩy lăn vào chốn phong trần Kiều yêu Kim Trọng nhưng lúc nguy biến Kim Trọng không cứu vớt được đời nàng Mối tình với Từ Hải chỉ là một giấc mơ ngắn ngủi, còn tình với Thúc Sinh không thể vẹn tròn vì Kiều là kẻ đến sau, dẫu chấp nhận tủi hổ bẽ bàng cũng chẳng được yên thân với duyên thừa phận hẩm Để rồi cuối cùng cô Kiều truân chuyên hay chính
là chàng Nguyễn đa đoan chấp nhận sự tái hợp muộn màng gượng gạo với người tình xưa –
mà thực chất đã chẳng như xưa Sự trọng dụng của triều đình nhà Nguyễn sau này không đem đến cho Nguyễn Du niềm an ủi hay nhiệt huyết cống hiến Có lẽ quá mệt mỏi, Nguyễn
Du tự khép mình làm một kẻ khờ để tránh sự ghen ghét của hóa công Đời vừa như mộng vừa như một cuộc đi đày mãi không hết hạn, người vừa nặng lòng với nhân gian vừa chán ghét cảnh thị phi, nhà thơ bơ vơ giữa dòng nhân thế mà khóc mà cười mà than thở
Tiếp thu truyền thống học vấn của gia đình cộng với bao năm trên đường gió bụi, hòa vào đám người tha hương chạy loạn khắp nơi, Nguyễn Du tinh thông cả Nho, Phật, Đạo Các nhà Nho đắn đo trước sự trôi chảy của thời gian nhưng chủ yếu quan tâm đến sự hưng vong hay thành bại của các triều đại, thời gian đời người trong mắt họ là thời gian để thực hiện cái tâm, cái chí của bậc quân tử, kẻ trượng phu Đạo gia lại khuyên con người quay trở
về với bản nguyên, tìm giải thoát giữa thiên nhiên, vũ trụ bao la trong cảm giác “vô thời
gian” ung dung, tự tại Phật giáo xem thời gian là bánh xe luân hồi không dứt trong đó đời người chỉ là một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi Chỉ có vượt qua được cái nhìn nhị nguyên phân biệt: quá khứ - hiện tại, già – trẻ, dài – ngắn con người mới được giải thoát Cái cố
Nhưng mà Hoàng thượng cho cả Thược bèn gọi lái đò đến bến, chở Hoàng thượng và Hoàng hậu sang Khi thuyền đến
bờ, Thược lại cho người đuổi theo lột tấm ngự bào của Hoàng thượng đang mặc Ngài ứa nước mắt cởi ra trao cho hắn” (dẫn lại theo Nguyễn Đăng Thục [45, tr.34 – 35]
9Ý thơ Nguyễn Du trong bài Độ Phú Nông giang cảm tác:
Du nhân vô hạn cảm
Phương thảo biến thiên nhai
Trang 18chấp với cương thường của nhà NhoP9F
10
P
, cái thiên hướng “vô vi”, muốn giữ thiên tính tự nhiên
của Đạo và tinh thần từ bi hỉ xả, thương khắp cả chúng sinh đã trộn lẫn thật kì lạ trong một con người theo một công thức mà ta không thể lí giải
Tóm lại, ở Nguyễn Du, người ta thấy một loạt các nghịch lí: sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, quyền thế bậc nhất lúc đương thời, có truyền thống cả về văn chương lẫn khoa cửP10F
11
P
, nhưng Nguyễn Du lại phải sống long đong lận đận, chạy loạn khắp nơi, nhiều khi đói không cơm ăn, bệnh không thuốc uống, vào tù ra tội; tuổi trẻ từng khao khát đem tài năng giúp đời giúp nước nhưng vì thời thế nên đành nhìn thanh kiếm mà rơi lệ ; bản tính vốn thanh sạch, chỉ muốn quanh năm làm bạn với làn mây núi Hồng, với người đánh cá, người hái củi, nhưng vì miếng cơm manh áo, Nguyễn Du cho đến bạc đầu vẫn mãi bon chen giữa chốn bụi hồng; là con người nhạy cảm, yêu cái đẹp, vậy mà Nguyễn Du cứ luôn phải chứng kiến những bất công, ngang trái giáng xuống cho người tài hoa Vốn kiến thức, vốn sống hấp thu được từ quê hương, dòng họ, gia đình cũng như từ bao năm tháng lưu lạc đã
khiến ông trở thành một con người trải đời, với “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ
suốt nghìn đời” hiếm có
Các phức hợp đời tư này sẽ khúc xạ một cách đầy đủ qua các sáng tác Nguyễn
Du, đặc biệt là thơ chữ Hán mà vấn đề thời gian không là một ngoại lệ Từ đó ta hiểu được, những điều được phản ánh trong văn chương của ông đều là các suy tư thấm thía chắt lọc từ cuộc đời, dù buồn hay vui, chúng không bao giờ có hơi hướng giả tạo
1.1.2 Thơ chữ Hán Nguyễn Du
Thơ chữ Hán Nguyễn Du gồm ba tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm,
Bắc hành tạp lục, được làm trong thời gian từ năm nhà thơ 21 tuổi đến năm 49 tuổi (theo
Lê Thước, Trương Chính) Các tập thơ theo sát cuộc đời gian truân, chìm nổi của nhà thơ
Thanh Hiên thi tập được làm từ thời kì đầu đến trước khi Nguyễn Du ra làm quan cho nhà
Nguyễn, Nam trung tạp ngâm được viết trong thời gian ông làm quan ở Huế và Quảng
Bình, Bắc hành tạp lục là tập thơ ra đời khi nhà thơ đi sứ ở Trung Quốc Cho đến nay, có
khá nhiều bản dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du của các nhà nghiên cứu Hán học: bản dịch của
10
Theo gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Du từng chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp, cũng đã từng có ý
định chống lại Tây Sơn hòng “phục quốc” nên bị bắt giam
11 Đương thời người ta còn lưu truyền câu ca về dòng họ Nguyễn Tiên Điền:
Bao giờ ngàn Hống hết cây
Sông Rum hết nước họ này hết quan
Trang 19Bùi Kỉ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh (1959) gồm 102 bài, bản dịch của Lê Thước, Trương Chính (1965) gồm 249 bài, bản dịch của Quách Tấn (1973) gồm 92 bài, bản dịch của Đào Duy Anh (1988) gồm 249 bài, bản dịch của nhóm Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, Lê Thu Yến… gồm 250 bài Ngoài ra còn các bản dịch thơ mang tính ngẫu hứng của những người yêu mến Nguyễn Du như : Trần Văn Nhĩ (2007), Thảo Nguyên (2009) Có lẽ con số này đến đây vẫn chưa phải đã chấm dứt Với sức hấp dẫn của chữ Hán Nguyễn Du, ta hoàn toàn có cơ sở tin tưởng trong tương lai, các tác phẩm vẫn sẽ tiếp tục giành được sự quan tâm của người đọc nhiều thế hệ
Về nguồn gốc và đặc điểm thể loại, trong các tập thơ chữ Hán, Nguyễn Du sử dụng các thể thơ vay mượn từ Trung Quốc, chủ yếu là tứ tuyệt và bát cú Đường luật Đây đều là những thể loại có quy định chặt chẽ về niêm, luật, vận, đối, số chữ trong câu, số câu trong bài
Về nội dung, thơ chữ Hán Nguyễn Du viết về số phận cực khổ long đong của những người dân thường bất hạnh, người tài hoa bạc mệnh và cả những nhân vật mà nhà thơ khi tán thành, khi phê phán trong lịch sử Trung Quốc Như có một thiết bị thu phát nhạy cảm từ trái tim, Nguyễn Du đặc biệt dễ cảm thông với những khó khăn, vất vả của mọi kiếp người
Nếu Văn chiêu hồn là khúc ca đầy ưu ái dành cho người chết thì thơ chữ Hán là tác phẩm
trong đó Nguyễn Du chia sẻ niềm yêu thương với những con người đang ngày ngày đối mặt với cõi hồng trần khắc nghiệt Ông thương cho mẹ con người ăn xin lưu lạc quê người áo
quần lam lũ, trưa rồi vẫn không có gì ăn (Sở kiến hành), ông thay lời người lính thú bao năm xa nhà bày tỏ tâm sự như Ban Siêu đầu bạc mong chi ngày trở về quê hương (Đại tác
cửu thú tư quy), ông cũng xót xa khi chứng kiến cha con người hát rong miệng sùi bọt, tay
mỏi rời, gắng hết tâm sức gần một trống canh mà chỉ được năm sáu đồng tiền nhưng vẫn rối rít cảm ơn, trong khi mọi người ăn uống thỏa thuê, còn cơm thừa canh cặn đổ cả xuống sông (Thái Bình mại ca giả), cho đến cả con ngựa già bị bỏ quên dưới chân thành, con chó
chết… Nguyễn Du cũng dành tình cảm cho chúng Trong Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du
từng thổ lộ: “Phong vận kì oan ngã tự cư” (Ta tự đặt mình vào vị trí những người mắc nỗi
oan lạ lùng vì nết phong nhã) Như một sự “đồng bệnh tương liên”, hay như Thúy Kiều thấy
mộ Đạm Tiên đã có cảm giác của những người cùng hội, nhà thơ tìm thấy rất nhiều người đồng cảnh ngộ - người tài hoa bạc mệnh, xót thương họ cũng là xót thương cho mình Người tài hay khác người, khác đời, và chính cái khác đó đem bi kịch đến cho họ: Khuất Nguyên một mình tỉnh trong khi những kẻ khác say nên đành ôm hận bên dòng Mịch La,
Trang 20Đỗ Phủ vì văn chương hơn người mà cả đời cùng khổ… Dường như mang trong mình thiên tính nữ vốn là một đặc điểm trong tâm hồn người phương Đông, Nguyễn Du cũng hay viết
về những người phụ nữ tài sắc nhưng phải chịu một số phận bi thảm: nàng Tiểu Thanh chết trong cô độc trên núi Cô Sơn, Tây Hồ, Dương Quý Phi tức tưởi kết thúc cuộc đời ở đền Mã Ngôi, chịu mang tiếng xấu oan ức chỉ vì cả triều đình bất tài bạc nhược dồn trách nhiệm lên đầu nàng, người ca nữ đất La Thành như một cành hoa thắm đẹp từ cõi tiên rơi xuống, lúc sống làm vui cho đời nhưng khi chết đi chỉ mang tiếng là người trăng gió, cô Cầm từng nức tiếng kinh thành Thăng Long một thời nhưng cảnh huy hoàng chẳng kéo dài mãi, đến khi nhà thơ gặp lại đã biến đổi cả hình hài vóc dáng, tàn tạ dung nhan, chỉ còn lại tiếng đàn giúp ông nhận ra người cũ Trên con đường đi sứ, qua nơi nào Nguyễn Du cũng làm sống lại các nhân vật tưởng đã chìm trong dòng lịch sử để đánh giá họ từ góc độ văn hóa, nhân văn Những con người từng sống và chết: Kinh Kha, Dự Nhượng, Quản Trọng, Kê Khang, Lạn Tương Như, Liêm Pha, Tào Tháo, Tần Cối, Âu Dương Văn Trung… qua thơ ông khiến người đọc suy nghĩ khôn nguôi về lẽ biến dịch, cái mất – còn, thịnh – suy, vinh – nhục… trên đời
Nguyễn Du viết Truyện Kiều, gửi gắm vào đó bao tâm sự, nhưng vẫn chỉ coi đây là
tác phẩm “lời quê chắp nhặt dông dài” để “mua vui” cho người đọc “một vài trống canh”
Lời ấy vừa thể hiện sự khiêm tốn, nhưng đồng thời cũng phần nào cho thấy quan niệm của người xưa: tác phẩm chữ Nôm được viết để giải trí, còn tác phẩm chữ Hán mới thực sự là
tác phẩm chuyển tải hết nỗi niềm nhà thơ Quả thực, đọc thơ chữ Hán, ta thấy “nhân vật”
chủ yếu vẫn là chân dung tinh thần của chính nhà thơ qua bao thăng trầm cuộc sống Độc giả bắt gặp ở đây một con người bản tính thâm trầm lặng lẽ, ý thức rất rõ tài năng, giá trị của mình nhưng nhiều khi bất lực trước thời cuộc nên chưa già mà tóc đã sớm bạc, không lúc nào không suy tư với nhiều mặc cảm chất chứa chẳng biết giãi bày cùng ai vì không có được người tri âm tri kỉ trong hiện tại
Các tác phẩm thể hiện nhiều tâm sự u uất và những nỗi niềm khó tỏ bày, lí giải Phảng phất trong các bài thơ là một tấm lòng xót thương vô hạn trước những bi kịch cõi nhân sinh, một cái nhìn riêng phần nào vượt thoát ra khỏi giới hạn của thời đại, dù còn chất chứa không ít bế tắc
Về nghệ thuật, dù vay mượn thể loại của văn học nước ngoài, nhưng Nguyễn Du đã thổi vào đó tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ của người Việt Thơ ông có nhiều đóng góp đặc
sắc về ngôn ngữ, kết cấu…Nói như nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên: “Thơ chữ Hán Nguyễn
Trang 21Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa”(28, 7)
1.2 Shakespeare và thơ sonnet
1.2.1 Shakespeare
Shakespeare sinh ngày 23.4.1564 tại Stratford on Avon, một thị trấn nhỏ miền Trung nước Anh Cha ông, John Shakespeare, vốn xuất thân từ một gia đình nông dân, chuyển đến đây từ năm 1557 và kiếm sống bằng nghề làm bao tay, từng giữ chức Thị trưởng Thuở nhỏ, gia đình Shakespeare rất khấm khá Năm lên 7 tuổi, ông đến học tại trường ngữ pháp (Grammar school) ở quê nhà Năm 14 tuổi, vì gia đình sa sút, cha mất chức, Shakespeare phải bỏ học Năm 18 tuổi, ông kết hôn với người phụ nữ 26 tuổi Anne Hathaway Họ có 3 đứa con, hai gái một trai nhưng cậu con trai bị ốm chết năm 11 tuổi Sự mất mát này có tác động rất lớn đến cuộc đời và sáng tác của Shakespeare Năm 1588, Shakespeare rời xa quê hương và vợ con, một mình đến London lập nghiệp Đầu tiên, ông làm chân giữ ngựa, nhắc
vở rồi làm diễn viên ở một rạp kịch Sau đó, từ chỗ cải biên lại các vở kịch cũ, soạn chung với các tác giả khác một vài vở mới, ông đi đến sáng tác một mình cả kịch, thơ sonnet và các trường ca, từng bước vươn lên chiếm lĩnh ngôi chủ soái kịch trường và thi đàn dân tộc Các nhà nghiên cứu thường chia cuộc đời sáng tác của Shakespeare thành 4 giai đoạn: giai đoạn tập sự thử sức (từ 1590 - 1594); giai đoạn bùng nổ tài năng với cảm hứng chủ đạo là lạc quan, yêu đời (1594 - 1600); giai đoạn sáng tác những tác phẩm hiện thực với cảm hứng phê phán, phô bày mặt đen tối, sự khủng hoảng của xã hội (1601 - 1608); giai đoạn trở lại với những tác phẩm nhẹ nhàng, kết thúc có hậu (1609 - 1613) Ông qua đời ngày 23.4.1616 tại quê nhà, để lại một sự nghiệp đồ sộ với hơn 40 vở kịch (bao gồm cả kịch lịch sử, bi kịch
và hài kịch), 5 trường ca (A Lover’s Complaint, The Passionate Pilgrim, The Phoenix and
the Turtle, The Rape of Lurece, Venus and Adonis ), 154 bài sonnet
Shakespeare sống và sáng tác chủ yếu dưới thời nữ hoàng Elizabeth I (1458 - 1603) –
thời kì vẫn được các học giả tư sản Anh ca ngợi là thời kì “nước Anh vui vẻ” Đó là khi Anh, sau khi trải qua cuộc chiến tranh 100 năm với Pháp và cuộc nội chiến “hai hoa hồng” đã
từng bước ổn định, thống nhất, vươn lên trở thành một trong những cường quốc trên thế
giới Đặc biệt, sau chiến thắng của hạm đội Anh trước hạm đội “Ac-ma-đa vô địch” của Tây
Ban Nha vốn bị bão đánh chỉ còn một nửa, các chiến thuyền Anh trở thành bá chủ mặt biển,
Trang 22mặc sức tung hoành trên Đại Tây Dương Vàng bạc mà Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cướp được của châu Mỹ cũng lọt vào tay người Anh Tinh thần dân tộc lên cao phơi phới, người Anh xiết bao tin tưởng vào một cuộc sống tốt đẹp ở phía trước Sự yêu thích, bảo trợ của nữ hoàng cùng các quý tộc Anh đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật cũng là một điều kiện để những nghệ sĩ tài năng như Shakespeare thỏa sức vẫy vùng Theo A.L Rose trong cuốn tiểu sử về Shakespeare, thời đại có ý nghĩa rất lớn với sáng tác của ông Nếu Shakespeare sinh ra trước hoặc sau đó chỉ 20 năm thì có lẽ những gì chúng ta thấy được từ sáng tác của ông sẽ khác Shakespeare lại sống ở London – trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của đất nước, nơi chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng đang phát triển mạnh mẽ, nơi xuất hiện một loạt các tên tuổi lừng danh, cũng là nơi đầu tiên tiếp nhận mọi thành tựu của văn học thế giới nhờ sự phát minh ra máy in Điều này đã phần nào giải thích tại sao Shakespeare có thể hòa nhập nhanh đến thế vào không khí sáng tác kịch nghệ và thơ ca Cũng là điều dễ hiểu khi ta thấy trong sonnet của ông một cái nhìn tươi sáng về cuộc đời, con người
Bảy năm ngồi trên ghế nhà trường để học về ngữ pháp, nghệ thuật từ chương, lịch sử, địa lí, tiếng la tinh… đã cung cấp cho Shakespeare một nền tảng kiến thức cơ bản song còn quá ít ỏi Phải bỏ lỡ giấc mộng vào các trường đại học nổi tiếng như Oxfort, Kembritge…, Shakespeare đã sớm bước vào một ngôi trường lớn hơn, khốc liệt hơn, ít tính hàn lâm, giáo điều – trường đời - để phấn đấu không mệt mỏi tự tích lũy kiến thức, vốn sống Bên cạnh vai trò của những người bạn, người đồng nghiệp như bá tước Southampton, học giả Jovani
Florio…, những cuốn sách như Truyện danh nhân của Pluytac, Sử biên niên của Anh,
Airlen và Xcotlen của Holinshed… có thể thấy điều cơ bản làm nên thành công của Shakespeare chính là một nghị lực phi thường, một niềm đam mê nghệ thuật cháy bỏng và một tinh thần lao động hiếm thấy Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn còn tranh cãi rất nhiều về Shakespeare, họ không thể giải thích được tại sao một con người sinh ra trong một gia đình bình thường, kết thúc sự nghiệp học hành tại nhà trường ở tuổi 14, khởi nghiệp bằng chân giữ ngựa rồi nhắc vở tại một nhà hát lại có thể viết ra những tác phẩm làm thay đổi sân khấu kịch của một đất nước, một thời đại cùng những vần thơ say đắm lòng người bao thế hệ, lưu tên tuổi của mình đến muôn đời Nhiều chi tiết về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Shakespeare vẫn còn là một bí ẩn, chỉ có một điều chắc chắn là ông đã sống hết mình và đón nhận luồng gió mát lành của thời đại Phục Hưng để viết nên những tác phẩm bất hủ
Trang 231.2.2 Thơ sonnet Shakespeare
Sonnet là một thể loại đặc biệt của thơ trữ tình phương Tây, xuất hiện vào thời trung
cổ ở Italia (nguyên gốc tiếng Italia “soneto” có nghĩa là bài hát nhỏ) và trở nên nổi tiếng bởi
sáng tác của Dante Alighieri (1265 - 1321) và Francesco Petrarch (1304 - 1374) Thể thơ này nhanh chóng phổ biến tại Pháp, Tây Ban Nha và trở nên quen thuộc với công chúng vào cuối thời Phục Hưng Tại Anh, Petrarch là nhà thơ Ý có ảnh hưởng lớn hơn cả với những bài thơ tình yêu say đắm đầy ngưỡng mộ dành cho một người phụ nữ xinh đẹp, trinh bạch
và kiêu kì Thomas Wyatt (1503 – 1542) và Henry Howard, Earl of Surrey (1517 - 1547) là các nhà thơ Anh đầu tiên viết sonnet Mặc dù nhiều bài còn mang tính chất phỏng dịch các bài thơ của Petrarch và phần lớn học theo mô thức có sẵn, ở một mức độ nào đó, họ đã từng bước mở rộng đề tài cũng như cấu trúc sonnet, gợi ý cách chia khổ, hiệp vần của sonnet
Anh như ngày nay Tác phẩm của họ được tập hợp trong cuốn Songs and Sonnets (1557)
Tuy vậy, người khuấy động phong trào sáng tác sonnet tại Anh, cũng là người mà
Shakespeare chịu ảnh hưởng trực tiếp là Philip Sydney với tập Astrophel and Stella xuất
bản năm 1590
Giống như thơ Đường luật, sonnet cũng là thể thơ có sự quy định rất chặt chẽ về số câu, chữ, vần, nhịp và bố cục Một bài sonnet thường có 14 câu Thông thường người ta hay nhắc đến hai loại sonnet: the Italian sonnet (sonnet kiểu Ý hay còn gọi là Petrarchian sonnet) và the Shakespearean sonnet (sonnet kiểu Shakespeare) Sonnet Italia thường chia làm 4 khổ (hai khổ đầu mỗi khổ 4 câu (còn được gọi là quatrain), hai khổ sau mỗi khổ 3 câu (tercet) theo cách hiệp vần: abba, abba, cdc, cdc (hoặc cdc, ece) hay 2 khổ (một khổ 8 câu (octave), một khổ 6 câu (sixain) trong đó 8 câu đầu thường nêu ra một vấn đề, một ý tưởng, một xúc cảm để rồi nó sẽ được giải quyết ở 6 câu sau Ví dụ:
I THOUGHT ONCE HOW THEOCRITUS HAD SUNG
Elizabeth Barrett Browning
I thought once how Theocritus had sung a
Of the sweet years, the dear and wished-for years b
Who each one in a gracious hand appears b
To bear a gift for mortals, old or young a
And, as I mused it in his antique tongue, a
Trang 24I saw, in gradual vision through my tears, b
The sweet, sad years, the melancholy years, b
Those of my own life, who by turns had flung a
A shadow across me Straightway I was aware, c
So weeping, how a mystic Shape did move d
Behind me, and drew me backward by the hair; c
And a voice said in mastery, while I strove, e
“Guess now who holds thee?”
- “Death”, I said But, there, c
The silver answer rang, - “Not Death, but Love” e
(Tôi từng nghe những gì Theocrit đã từng ca
Về những tháng năm đáng yêu và khao khát
Những tháng năm bằng bàn tay dịu mát
Trao tài năng cho hết thảy trẻ già
Và khi say tiếng hát thuở xưa xa
Tôi bỗng thấy hiện lên qua nước mắt
Những tháng năm đượm buồn và tẻ ngắt
Những tháng năm mà đời tôi đi qua
Vụt một bóng đen và liền ngay tôi biết
Cái bóng đen ảo huyền di động khóc than
Từ phía sau túm tóc tôi giật miết
Tôi cố giằng, thì một giọng ngân vang
“Đoán ngay ai túm ngươi?” Tôi đáp liền: “Cái chết”
Trang 25“Lầm đó, Tình yêu” vẳng lời đáp rõ ràng)P11F
12
Do cách bố cục như vậy, diễn tiến của một bài sonnet Italia thường được so sánh với
sự dâng lên và hạ xuống của một đợt thủy triều Cảm xúc dâng lên ở phần trước đó, và khi đạt đến cao điểm ở câu thứ 8 thì sẽ dội lại rồi trải rộng ra
The Shakespearean sonnet thường chia làm 4 khổ (3 khổ đầu mỗi khổ 4 câu và cặp câu cuối (couplet) theo cách hiệp vần abab, cdcd, efef, gg trong đó tiêu điểm thường dồn vào hai câu cuối Ví dụ:
BEAUTY, SWEET LOVE
Johnson
Beauty, Sweet Love is like the morning dew a
Whose short refresh upon the tender green b
Cheers for atime, but still the sun doth show a
And straight’s gone as it had never been b
Soon doth it fade that makes the fairest flourish c
Short is the glow of the blushing rose d
The hue which thou so carefully dost nourish c
Yet which at length thou must be forced to lose d
When thou, surcharged with burthen of thy years e
Shall bend thy wrinkles homeward to the earth f
And that, in Beauty’s lease expired, appears e
The Date of Age, the Calenda of our Death f
But ah, no more – ‘tis must not be foretold g
And Women grieve to think they must be old g
12 Dẫn lại theo Nguyễn Xuân Thơm [73, tr.32 – 33]
Trang 26(Sắc đẹp, tình yêu như sương buổi sớm
Treo lung linh trên lá cây dễ vỡ
Vui một lúc cho mặt trời mơn trớn
Rồi tan đi như chẳng có bao giờ
Cái nở bừng là cái nhanh phai nhạt
Ôi ngắn sao thuở bông hồng mê ly
Nên sắc hương em tháng ngày cóp nhặt
Là cái cuối cùng em buộc phải mất đi
Khi dưới gánh thời gian em quằn quại
Chào đất tấm lưng còng và những nếp nhăn
Là lúc sắc đẹp trút hơi tàn, còn lại
Tuổi tác già nua và ngày đến của tử thần
Mà thôi, điều này đâu nên nói
Bởi nghĩ mình già Phái Đẹp sầu nhức nhối)P12F
13
Hình thức này đã tạo sự tự do hơn cho các nhà thơ Anh trong việc khai triển tư tưởng của mình Bài thơ không còn chỉ phân đôi như sonnet Italia, mỗi khổ 4 câu có thể được nhà thơ sử dụng nhằm giãi bày tư tưởng, tình cảm theo nhiều cách để rồi cô đúc lại ở câu thơ cuối
Thơ sonnet Shakespeare gồm 154 bài, xuất bản lần đầu năm 1609, có thể được nhà thơ sáng tác trong khoảng từ năm 1593 đến năm 1604 (theo Bruce MacEvoy) Đây là thời gian thể sonnet đặc biệt thịnh hành ở Anh
Về nội dung, 154 bài thơ của Shakespeare là những bài ca về tình bạn, tình yêu đầy
trẻ trung, táo bạo Theo Đỗ Khánh Hoan “Mặc dù chủ đề trong những bài thơ này của
13 Xem (12)
Trang 27Shakespeare là những chủ đề có tính cách ước lệ ở thời đại ông – tình yêu, tình bạn là những chủ đề hầu như thuộc độc quyền khai thác của các nhà thơ thập tứ hàng thi thế kỉ XVI – song điểm thành công rực rỡ của ông vượt hẳn người đương thời là ở chỗ ông có óc tưởng tượng phong phú, tư tưởng dồi dào, có kinh nghiệm chín mùi và ngôn từ óng chuốt”
[19, tr.118 – 119] Tác phẩm thể hiện niềm vui sôi nổi khi được sống trong tình yêu, nỗi buồn đau thất vọng vì bị phụ bạc, vì cám cảnh trước nhân tình thế thái nhưng chung quy lại
đó là lời tâm sự chân thành, tha thiết của nhà thơ gửi đến hai đối tượng mà đến nay vẫn là một bí ẩn: một chàng trai trẻ đẹp, hội tụ tất cả những chuẩn mực thẩm mĩ của thời đại và một người phụ nữ có nước da đen, người khiến nhà thơ vừa hạnh phúc tột cùng vừa đau đớn cực độ vì tình yêu say đắm Từ đó, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân
Thông qua những lời nhắc nhở, cầu xin, bày tỏ, trách móc, ca ngợi…, Shakespeare sảng khoái tôn vinh vị thế của cái đẹp giữa thế gian, khẳng định tình yêu, sản phẩm của nó cùng thơ ca sẽ chiến thắng mọi đau khổ, mọi sức mạnh tàn bạo, kể cả sự tàn phá của thời gian, quyền lực
Về nghệ thuật: Tên của Shakespeare được dùng để đặt cho thể thơ mà ông sử dụng, riêng điều đó đã chứng tỏ đóng góp cũng như tầm ảnh hưởng của thơ ông Shakespeare có công lao rất lớn trong việc phát triển, hoàn thiện, tạo ra bộ mặt riêng của thơ sonnet Anh qua việc mở rộng hệ thống âm, vần, kết cấu… và nhất là tạo cho hai câu cuối bài một ý nghĩa đặc biệt
1.3 Vấn đề cảm thức thời gian
Từ thuở sơ khai, con người đã không ngừng quan sát nhằm lí giải những hiện tượng
tự nhiên diễn ra xung quanh mình Để đo các thời khắc diễn ra trong ngày, người ta lấy chuẩn mực là ánh sáng mặt trời, từ đó xuất hiện đồng hồ Nhận thức được sự tương tác giữa chuyển động của mặt trăng, mặt trời đối với trái đất tạo ra các hiện tượng ngày, đêm, mùa… theo một chu kì, con người đã làm ra lịch Theo nhiều nhà nghiên cứu, lịch, đồng hồ dưới dạng đơn giản nhất đã xuất hiện từ khoảng 6000 – 4000 năm trước công nguyên
Đo đếm, xác định sự vận động của tự nhiên theo một chu kì để phục vụ cho lao động sản xuất, con người cũng đồng thời nhận thấy tác động của nó đối với đời sống Họ tính toán các ngày lành tháng tốt, ngày hung tháng hạn để dự tính làm những việc quan trọng: đi
xa, cưới vợ, làm nhà… Người ta cũng đã chứng minh các ngày đặc biệt: thảm họa từ thiên
Trang 28nhiên, sự thay đổi triều đại, tai nạn lớn… đều có liên quan đến các dấu hiệu khác thường trên bầu trời
Không chỉ nhận thức vòng quay của tự nhiên, con người cũng ý thức về vòng đời Ở phương Tây, người ta kỉ niệm rất long trọng các ngày đánh dấu bước chuyển của con người
từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, đặc biệt ngày đánh dấu sự trưởng thành của một cá nhân – người ta tổ chức cả một nghi lễ ghi nhận nó, họ gọi là “puberty rites” Ở các nước
phương Đông, ngày giỗ được xem là một ngày có ý nghĩa đặc biệt, là ngày những người còn sống nhớ đến người đã khuất, nên cũng được tổ chức kỉ niệm như một hoạt động thiêng liêng
Đó đều là sự ý thức của con người về một khái niệm mà người ta gọi là thời gian –
một sự ý thức có từ rất sớm và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện Từ xa xưa, con người đã nhận thức thời gian (cùng với không gian) chính là hình thức tồn tại của thế giới
vật chất, không một vật thể nào có thể tồn tại ngoài thời gian Theo Gurevich: “Khó mà tìm
được tiêu chí, khắc họa đầy đủ bản chất của văn hóa như là khái niệm thời gian Trong khái niệm thể hiện đầy đủ cảm quan và thế giới của thời đại, hành vi của con người, ý thức của
nó, nhịp của cuộc sống, thái độ đối với sự vật”[17, tr.98] Nhận thức này là cơ sở khách
quan để đi đến khái niệm phần nào mang tính chủ quan: cảm thức thời gian
Theo Từ điển tiếng Việt, cảm thức là sự nhận thức bằng cảm quan, nhận thức bằng
cảm giác Cảm thức thời gian là sự cảm nhận, nhận thức riêng của mỗi cá nhân về sự trôi chảy của thời gian, nhịp độ, biểu hiện của nó Cảm nhận ấy có thể trùng khít, nhưng thường khác với thời gian tuyến tính Đi vào tác phẩm nghệ thuật, cảm thức thời gian của
người nghệ sĩ sẽ được cụ thể hóa, hình tượng hóa, đem đến cho ta thời gian nghệ thuật – “là
thời gian mà ta có thể thể nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm”[39,tr.77] Thời gian trong cảm thức của nhà văn
mang những đặc trưng riêng, khác với thời gian thực tế
Thời gian trong cảm thức của nhà văn, do xuất phát từ cái nhìn, sự trải nghiệm cá
nhân, mang tính tâm lí Nó hoàn toàn tự do và khác về bản chất với thời gian theo nghĩa thông thường Vẫn là thời gian với các đặc trưng: tính liên tục, độ dài, hướng, nhịp nhưng các đặc trưng này có thể co giãn theo dòng tâm trạng, cách nhìn và dụng ý của nhà văn Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự phi lí trong cách tính tuổi nhân vật tương ứng với năm tháng ở
tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của L Tônxtôi Nhân vật Natasa 13 tuổi vào năm
Trang 291805, đến năm 1806 cô 15 tuổi và đến năm 1809 cô lại chỉ có 16 tuổi Cũng như vậy năm
1805 Xônhia 15 tuổi và đến năm 1807 cô lại 16 tuổi Nhà văn kì thực không quan tâm đến thời gian thực, cái mà ông chú trọng đào sâu là thời gian trong tâm trạng nhân vật Trong tác
phẩm văn học, một ngày có khi được miêu tả “dài hơn thế kỉ”, nhưng có khi cả đời người lại
chỉ được hình dung như bóng câu qua cửa sổ Có khi một khoảnh khắc, một cuộc gặp gỡ được nhà văn viết thành cuốn tiểu thuyết dài hơi, trong khi khoảng thời gian cả thế kỉ chỉ được thâu tóm bằng vẻn vẹn một câu ngắn gọn Quãng đời của Chí Phèo từ sau khi ra tù
được Nam Cao khái quát bằng một chữ “say”: “những cơn say của hắn tràn từ cơn này qua
cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông” trong khi sự tiếp nối của các thế hệ dòng họ
Buenđa được hình dung như cả lịch sử hình thành châu Mĩ Với đôi trai gái đang sống trong yêu đương, chờ đợi, thời gian sao mà chậm chạp:
Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê
(Truyện Kiều)
còn với những người trong cơn nguy biến, thời gian lại vụt đi như tên bắn:
Hàn huyên chưa kịp dã dề
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao
Người nách thước, kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi
(Truyện Kiều)
Trong cảm thức nhà văn, thời gian vẫn có ba chiều: quá khứ - hiện tại – tương lai nhưng nó không còn tuân theo đúng chiều vận động mà có thể thay đổi trật tự bằng đảo ngược, đan xen, có khi xuất hiện cùng một lúc (điều mà các nhà nghiên cứu hiện đại gọi là
thời gian đồng hiện) Khi “trao duyên” cho Thúy Vân, Kiều nói với em:
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Cuộc gặp gỡ với Kim Trọng, mối tình trong sáng cùng bao thề nguyền hẹn ước chỉ
mới đây thôi nhưng Kiều đã đẩy nó vào quá khứ “ngày xưa” xa lắc, tưởng như đó là chuyện
của một thế giới xa xăm nào không còn vết dấu, như cổ tích, như chuyện thần tiên Ấy là
Trang 30bởi đối với nàng, mơ ước hạnh phúc cùng chàng Kim đã trở nên quá xa vời, nàng tha thiết nhưng vĩnh viễn không có được Hình bóng chàng giờ chỉ là kỉ niệm, một kỉ niệm Kiều
đành chôn chặt trong tim để nhớ thương đến trọn đời Một chữ “ngày xưa” đã nói lên tất cả
nỗi đau đớn, tiếc nuối xót xa trong lòng Kiều khi bắt buộc phải chia xa người mình yêu dấu
Thời gian tâm lí được nhà văn cảm nhận không phải bằng những thước đo thông thường: ngày, tháng, năm, giờ, phút… mà bằng những tín hiệu riêng, thể hiện con mắt quan sát tinh tường cùng tâm hồn nhạy cảm Các nhà thơ xưa thấy mùa thu về qua lá vàng rơi, lá ngô đồng rụng hay hoa cúc Nhà thơ Hữu Thỉnh cảm nhận hơi thu qua hương ổi phả vào hơi gió, qua màn sương giăng mắc trước ngõ:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
(Mùa xuân nho nhỏ)
Do được cảm nhận một cách đặc biệt như vậy, thời gian trong tác phẩm nghệ thuật đôi khi trở nên hữu hình, có màu sắc, mùi vị, hương thơm, ánh sáng Đoàn Phú Tứ miêu tả hương thời gian, màu thời gian:
Trang 31Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát
(Màu thời gian)
Xuân Diệu cũng thấy thời gian có mùi – mùi vị của chia phôi: “Mùi tháng năm đều
rớm vị chia phôi”, thậm chí có hình hài, dáng vóc “như một cặp môi gần”, hay một quả
chín, một thiếu nữ trong trắng, mơn mởn để nhà thơ phải thốt lên “Hỡi xuân hồng ta muốn
cắn vào ngươi”(Vội vàng)
Không chỉ mang tính tâm lí, thời gian trong cảm thức người nghệ sĩ còn mang tính
quan niệm và có nội hàm triết lí Đọc các tác phẩm văn học phương Tây, người ta không thể
không có ý niệm về thời gian bởi ngay bản thân từ ngữ dùng để tả, kể đã thuộc về một thì nào đó, điều này chứng tỏ mối quan tâm đặc biệt của họ đến thời gian hơn là không gian Thời gian là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống, thể hiện cảm xúc, tư tưởng Thông qua các kiểu thời gian, ta có thể thấy được đặc điểm thời đại hay một giai đoạn trong lịch sử hoặc một loại hình, một xu hướng văn học: dân gian – trung đại – hiện đại; lãng mạn – hiện thực; Nho – Phật – Đạo… Thời gian trong truyện cổ tích thường mang tính phiếm chỉ
“Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi”, “Thuở ấy”… bởi về bản chất, cổ tích là những câu
chuyện “bịa” Người ta kể chuyện để thể hiện khao khát về lẽ công bằng hay thỏa mãn nhu
cầu giải trí, để cho trí tưởng tượng mặc sức bay bổng Cho nên họ chỉ quan tâm đến diễn biến câu chuyện, không cần biết nó có thực hay không, xảy ra vào lúc nào và nếu có người tin nó là thật, họa chăng chỉ có trẻ em Ngược lại, thời gian trong truyền thuyết lại thường rất cụ thể, xác định bởi dân gian tin vào tính hiện thực của những sự kiện, biến cố, nhân vật lịch sử mà tới nay còn ít nhiều để lại dấu vết Trong văn học trung đại, thời gian thường là
thời gian tuần hoàn, bốn mùa đắp đổi theo kiểu: “Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn
đông đà sang xuân” Điều này xuất phát từ cảm quan của con người về thế giới: con người
nhìn thế giới trong tính toàn vẹn, thống nhất của nó Bởi vậy, dù bị ám ảnh bởi tính chất ngắn ngủi của cuộc đời, họ không có ý thức tách mình ra như một thực thể độc lập mà thường hòa mình trong không gian thời gian vô thủy vô chung Cách chiêm nghiệm ấy hoàn toàn khác với con người hiện đại: càng về sau này, thời gian trong các tác phẩm càng có xu hướng bị phá vỡ, chỉ còn là những mảnh, mẩu được lắp ghép một cách rời rạc trong cố gắng
“phi thời gian hóa” Cách thể hiện ấy cho thấy cái nhìn thế giới như một thực tế hỗn độn,
Trang 32không thể tìm ra mối quan hệ nhân quả, không còn tính vẹn nguyên Cảm thức thời gian, do
đó cũng là một trong những yếu tố góp phần thể hiện phong cách
Qua cảm thức thời gian, ta còn thấy được nếp cảm, nếp nghĩ của một con người đại diện cho một dân tộc mà phía sau đó là cội nguồn văn hóa
Trang 33CHƯƠNG 2: NHỮNG GẶP GỠ TÌNH CỜ GIỮA THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀ THƠ SONNET SHAKESPEARE VỀ CẢM THỨC
THỜI GIAN
Chúng tôi xem điểm chung trong cảm thức thời gian của Nguyễn Du và Shakespeare
là “những gặp gỡ tình cờ” vì hiện chưa có tài liệu nào cho thấy Nguyễn Du đã đọc hay chịu
ảnh hưởng của Shakespeare Nguyễn Du từng nhiều lần bày tỏ niềm đồng cảm với những con người cách mình nhiều thế kỉ: Tiểu Thanh, Đỗ Phủ, Khuất Nguyên… nhưng ở thời đại Nguyễn Du, sự giao lưu chủ yếu là với Trung Quốc và các nước phương Đông, ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây hầu như không có Theo nhà nghiên cứu Trần Nam Tiến
trong cuốn Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương Tây dưới triều Nguyễn, đầu
thế kỉ XVII, người Anh bắt đầu lui tới Việt Nam đặt quan hệ thông thương Năm 1600, công
ty Đông Ấn Anh thành lập ở Ấn Độ, qua đó mở đầu cho việc giao lưu buôn bán với các nước phương Đông Khoảng năm 1613 - 1616, phái đoàn công ty này đến Đàng Trong, Đàng Ngoài dâng tặng phẩm vật xin thông thương buôn bán, nhưng bị các thương nhân ngoại quốc khác chèn ép nên chưa có cơ hội phát triển việc buôn bán ở Việt Nam Đến năm
1673, người Anh mới lập được thương điếm ở phố Hiến và năm 1683, lập thương điếm ở
Kẻ Chợ Sản phẩm đem sang bán của họ chủ yếu là đồ xa xỉ, hàng len dạ, súng còn sản phẩm mua về chủ yếu là tơ lụa Cũng theo tác giả này, thời Gia Long, quan hệ Việt Nam – Anh không thuận lợi vì trước khi lên ngôi, Gia Long đã có xích mích với người Anh Năm
1803, J.W Robert đến Việt Nam đặt quan hệ thông thương, xin lập phố buôn bán ở Trà Sơn (Đà Nẵng) nhưng đã bị Nguyễn Ánh từ chối và sai người trả lại tặng vật Gia Long, trong khi có thái độ thiện chí với các thương đoàn người Pháp nhưng lại rất kì thị người Anh, cho
họ là man di, lòng dạ khó lường, cần phải ngăn ngừa từ xa Thời kì này có những lúc quan
hệ giữa triều đình nhà Nguyễn với người Pháp rất tốt nhưng chỉ về mặt chính trị, kinh tế Phải đến đầu thế kỉ XX, hầu hết trí thức Việt Nam mới được tiếp xúc với các tác phẩm văn hóa, văn học phương Tây Shakespeare sống trước Nguyễn Du hai thế kỉ và rất nổi tiếng nhưng do không tìm thấy dấu vết ảnh hưởng nên có thể nói đây là một sự trùng hợp hoàn toàn ngẫu nhiên thú vị Sự trùng hợp ấy thể hiện trên ba khía cạnh: bước đi của thời gian, sức tàn phá của thời gian, ý thức về sự ngắn ngủi kiếp người trước cái vô hạn thời gian
2.1 Bước đi của thời gian
Trang 342.1.1 Thời gian – nỗi ám ảnh khôn nguôi với thi nhân
Không hẹn mà nên, cả hai nghệ sĩ đều xáo động tâm tư trước bước đi của thời gian Các tín hiệu thời gian: mùa trong năm, thời khắc trong ngày, từng giờ từng phút trôi qua… được nhận ra ở những biểu hiện tinh tế nhất Nguyễn Du nghe được tiếng thu vượt qua sông Lam, thấy được sắc thu trên khóm hoa vàng:
Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia
Vạn lý tây phong lai bạch phát
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa
(Tiếng thu một đêm vượt qua sông Lam,
Không bóng không hình vào nhà ta
Từ muôn dặm gió tây thổi đến với mái tóc bạc,
Sắc thu đầy cửa sổ nơi khóm hoa vàng)
(Tạp ngâm)
Nhà thơ có thể nhìn thấy sắc thu bằng thị giác, đón nhận gió tây bằng xúc giác,
nhưng để thẩm thấu âm thanh tiếng thu “vô ảnh vô hình” chắc chắn không chỉ bằng thính
giác mà có lẽ phải bằng cả trái tim Tư Mã Thiên từng kể câu chuyện về bạo chúa Trụ Tân
mổ tim người can gián mình làm việc xấu để xem lời đồn có ứng nghiệm: tim kẻ thông thái
có 7 khiếu Câu chuyện ngầm ẩn ý nguyện của người xưa: muốn tìm trong tim người một cửa mở thông ra biển tri thức, thông với vũ trụ P13F
14
P
Phải chăng ở đây, khi miêu tả bước chân mùa thu vượt sông Lam xa xôi lọt vào nhà trong đêm vắng, Nguyễn Du cũng cho thấy một khả năng tương thông kì diệu với thế giới?
Thu đến, xuân qua, tất cả đều tác động vào trái tim nhạy cảm của thi sĩ:
Xương hạp môn tiền xuân sắc lan,
Cách giang dao đối Ngự Bình san
Xuân tòng giang thượng lai hà xứ,
Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan
14 Chi tiết xin xem: Li xê vich – Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc – NXB Giáo Dục trang 66, 67 (2003)
Trang 35(Trước cửa hoàng thành sắc xuân sắp tàn,
Cách sông xa nhìn núi Ngự Bình
Xuân theo dòng sông đến nơi nào
Người nương chốn chân trời, một chức quan cột chặt)
(Ngẫu thư công quán bích 2)
Dòng sông đêm ngày cuộn chảy như dòng thời gian đang trôi đi Nhìn dòng sông, Nguyễn Du hình dung mùa xuân như đang trôi đi đến điểm tận cùng của nó Câu hỏi được thốt ra bất ngờ trong giây phút nhà thơ nhận ra một cách rất hữu hình sự tuôn chảy của thời gian “Xuân theo dòng sông đến nơi nào?” Không phải ông không biết “lai hà xứ” mà có lẽ
quá ngỡ ngàng, tiếc nuối nên tự hỏi mình như vậy Cũng có khi, nhà thơ thao thức trong đêm nghe tiếng trống canh:
Bất mị thính hàn canh
Hàn canh bất khẳng tận
(Không ngủ lắng nghe từng canh đêm lạnh trôi qua
Canh lạnh dài tưởng chừng không dứt)
(Bất mị)
Ta hình dung ra một con người đang đếm nhịp thời gian, nhưng có vẻ như đây không
phải là thời gian vật lý Chữ “hàn canh” vắt từ câu trước sang câu sau, trở đi trở lại, day dứt
và lại “bất khẳng tận” Người ta không thể “thính” được cái “hàn” và âm thanh thì không
lạnh Đây là nhịp thời gian lạnh lẽo, vô tình, thản nhiên đều bước hay chính là nhịp đời từng phút từng giây dịch chuyển? Giống như Nguyễn Du, Shakespeare cũng nhìn thấy bước đi thời gian trên từng sự vật:
When I do count the clock that tells the time,
And see the brave day sunk in hideous night;
When I behold the violet past prime,
And sable curls, all silvered o'er with white;
When lofty trees I see barren of leaves,
Which erst from heat did canopy the herd,
Trang 36And summer's green all girded up in sheaves,
Borne on the bier with white and bristly beard,
(Khi tôi đếm thời gian từ chiếc đồng hồ
Và thấy ngày đẹp lộng lẫy chìm vào đêm tối tăm
Khi tôi ngắm nhìn hoa violet đi qua tuổi thanh xuân
Tất cả lớp bạc trắng tinhP14F
15
Pgiờ đều đen cuộn xoắn Khi tôi nhìn những cây cao trơ trụi lá
Xưa kia từng tỏa bóng che những bầy đàn khỏi cái nóng
Và màu xanh của mùa hè bị cuốn thành từng bó
Mang đi trên chiếc quan tài râu bạc trắng tua tủaP15F
16
(Sonnet 12)
Nhà thơ vẽ ra trước mắt người đọc một loạt các hình ảnh cụ thể, sinh động Bước chân thời gian đi đến đâu là in hằn dấu vết đến đó trên cảnh vật qua hình hài, dáng vẻ, màu sắc Nó không mơ hồ, huyền ảo mà được đo đếm chính xác qua tiếng tích tắc, tiếng chông đồng hồ Những cấu trúc câu được lặp lại (When I see…, And…) như khẳng định một quy luật không loại trừ một đối tượng nào Rất nhiều lần, nhà thơ chỉ ra những dấu hiệu mà có khi ít người để ý:
The wrinkles which thy glass will truly show
Of mouthed graves will give thee memory;
Thou by thy dial's shady stealth mayst know
Time's thievish progress to eternity
(Tấm gương sẽ phản chiếu những nếp nhăn, sẽ cho thấy
những vết hằn trên khóe miệng, sẽ gợi lại kí ức;
Bằng sự chuyển động thầm lặng của chiếc bóng trên mặt đồng hồ bạn có thể biết
sự thầm lén của thời gian đi tới vĩnh cửu)
15 Của cánh hoa
16 Hình ảnh miêu tả cây cối đến mùa thu hoạch
Trang 37(Sonnet 77)
Chiếc gương soi, chiếc đồng hồ tái xuất hiện nhiều lần như một nhân chứng có khả năng phản chiếu, cụ thể hóa sự hiện diện của bước chân thời gian Nhà thơ giống như một con người tỉ mẩn không ngừng đo đếm, chi chút từng phút từng giây Không gì lọt ra khỏi
con mắt quan sát của ông, không một tích tắc nào đi qua mà không để lại dấu vết “Tên
trộm” thời gian đã bị theo dõi, ghi lại mọi động tĩnh Thời gian cũng được ghi nhận ở sự đổi
thay các thế hệ:
Thou art thy mother's glass and she in thee
Calls back the lovely April of her prime;
So thou through windows of thine age shalt see,
Despite of wrinkles this thy golden time
(Anh là chiếc gương soi của mẹ, từ anh mà bà ấy
Gợi lại tháng Tư đẹp đẽ thời thanh xuân
Cho nên anh, qua tấm gương tuổi tác có thể thấyP16F
2.1.2 Bước chân nhanh chóng, vô tình, không chờ đợi của thời gian
Dù thời gian hiện ra qua những tín hiệu nào thì nó cũng có đặc điểm chung là tính quá trình, không ngừng nghỉ Đặc biệt, trong cảm nhận của hai thi sĩ, thời gian trôi vô cùng nhanh chóng Dẫu đã đếm từng giây phút, cả hai nghệ sĩ vẫn không khỏi có lúc giật mình trước tốc độ khủng khiếp và sự vô tình đến ớn lạnh của nó
Lặng người trước bước chân nhanh chóng của thời gian, có khi Nguyễn Du than thở bằng một lối ví von quen thuộc: ngày tháng như thoi đưa:
Tứ thời hảo cảnh vô đa nhật
17 Câu này ý muốn nói qua đứa con của mình, anh sẽ thấy lại thời hoàng kim, tác giả dùng cách diễn đạt “windows of thine age”
Trang 38Phao trịch như thoa hoán bất hồi
Thiên lí xích thân vi khách cửu,
Nhất đình hoàng diệp tống thu lai
(Cảnh đẹp bốn mùa chẳng được bao ngày,
Ngày tháng thoi đưa, gọi không quay lại
Thân mình trần trụi ngoài nghìn dặm ở lâu nơi đất khách
Một sân lá vàng đưa mùa thu tới)
(Thu dạ 1)
Lục xích câu mi trường dịch dịch,
Tứ thời phao trịch thái thông thông
(Tấm thân sáu thước bị câu thúc cứ phải phục dịch mãi
Bốn mùa như thoi đưa rất là nhanh)
(Ngẫu hứng 2)
Ý thức về tốc độ không gì kìm giữ được của thời gian thường đi liền với sự tự ý thức
về tình cảnh bản thân Trong khi thời gian không chờ đợi, không thể níu giữ, con người đối diện với một cuộc sống bế tắc, bất đắc chí Ta thấy trong thơ chữ Hán Nguyễn Du những khoảng thời gian cụ thể, cho thấy phút giây thảng thốt vì mới đó thôi mà sao đã chừng ấy ngày, tháng, năm trôi qua Ấy là khi nằm bệnh bên sông, chợt một ngày ngậm ngùi:
Giang thành nhất ngọa duyệt tam chu
Bắc vọng gia hương thiên tận đầu
(Nằm ở thành bên sông chốc đã 3 năm
Trông về bắc quê nhà ở tận cuối trời)
(Tân thu ngẫu hứng)
Đa bệnh đa sầu khí bất thư,
Thập tuần khốn ngọa Quế giang cư
(Nhiều bệnh nhiều sầu thần khí không thư thái
Trang 39Mười tuần nằm co trong nhà bên sông Quế)
(Ngọa bệnh 1)
Đặc biệt, khoảng thời gian 10 năm hay được nhắc đến như một sự tổng kết:
Thiên hạc đàm ngư hà xứ tầm,
La Thành nhất biệt thập niên thâm
Đồng niên đối diện cách thiên nhưỡng,
Vãng sự hồi đầu thành cổ câm
(Hạc trên trời, cá dưới đầm, biết đâu mà tìm?
Từ một lần chia biệt ở La Thành, chốc đã 10 năm
Bạn đồng niên giáp mặt mà tưởng như trời với đất cách xa
Việc cũ quay đầu nhìn lại đã thành ra chuyện đời xưa với chuyện đời nay)
(Phúc Thực Đình 1)
Thập niên dĩ thất hoàn lương mộ
Ná đắc gia hương nhập mộng tần?
(10 năm đã quên mất đường về làng cũ
Sao cho quê nhà luôn đi vào trong giấc mộng)
(Tam giang khẩu đường dạ bạc)
Dù là 3 năm, 10 năm, 30 năm…, những khoảng thời gian ấy cũng đã qua đi thật chóng vánh Nhà thơ nhắc đến chúng như nhắc đến một khoảnh khắc, một thứ gì quý giá không lấy lại được
Với Shakespeare, thời gian của cả đời người dằng dặc chỉ được so sánh với một ngày:
Lo! in the orient when the gracious light
Lifts up his burning head, each under eye
Doth homage to his new-appearing sight,
Serving with looks his sacred majesty;
And having climbed the steep-up heavenly hill,
Trang 40Resembling strong youth in his middle age,
Yet mortal looks adore his beauty still,
Attending on his golden pilgrimage:
But when from highmost pitch, with weary car,
Like feeble age, he reeleth from the day,
The eyes, 'fore duteous, now converted are
From his low tract, and look another way:
(Nhìn kìa! Ở phương Đông khi ánh sáng (mặt trời) tỏa lan
Nhô chiếc đầu rực cháy, dưới mỗi con mắt
Là niềm ngưỡng mộ sự xuất hiện đầy mới mẻ của anh ta
Ngước nhìn vẻ uy nghi thần thánh của anh ta
Và (mặt trời) đang trèo lên trên con dốc của đồi thiên đường
Giống như chàng thanh niên trẻ tráng trong thời kì đẹp nhất của cuộc đời
(Thần chết) vẫn tôn sùng vẻ đẹp của anh
Chăm chú vào chuyến đi thần thánh
Nhưng khi từ trên đồi cao nhất, với chiếc xe đã rệu rã
Giống như khi già yếu, anh ta quay cuồng (trong ánh sáng) ngày,
Những đôi mắt, trước đây biết vâng lời, bây giờ thay đổi
(không còn) chú ý vào anh mà nhìn đi nơi khác)
(Sonnet 7)
Thời trung cổ, người ta chia đời người thành các giai đoạn tương ứng với các thời kì trong Kinh thánh: “Theo Oguyxtanh, lịch sử có sáu thời đại từ lúc sáng tạo ra Ađam cho tới đại hồng thủy, từ đại hồng thủy cho tới Abraham, từ Abraham cho tới Đavit, từ Đavit cho tới sự cầm tù ở Babilon, từ cầm tù ở Babilon cho đến khi Kitô ra đời và cuối cùng từ Kitô cho đến tận thế Những thời đại lịch sử thế giới này tương ứng với sáu thời kì của đời người: tuổi ấu thơ, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên, tuổi thanh niên, tuổi chín chắn, tuổi già”
[17, tr.127] Còn với Shakespeare, đời người chỉ có hai giai đoạn: thời huy hoàng và thời tàn
tạ Nhà thơ miêu tả hành trình của mặt trời từ lúc bắt đầu xuất hiện tới khi tắt ánh hào quang Khi mới nhô lên với luồng ánh sáng rực rỡ bao bọc, anh ta thật uy nghi, lộng lẫy, tự