Kết cấu của tác phẩm Tướng về hưu là một kết cấu xâu chuỗi, các mảng khối liên kết với nhau tạo nên thứ phản ứng dây chuyền khắc sâu vào tâm thức người đọc, mảng này liên kết và ảnh hưở
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Trang 2Nam không chỉ ở nội dung mà còn bởi nghệ thuật xây dựng tác phẩm của nhà văn
Kết cấu của tác phẩm Tướng về hưu là một kết cấu xâu chuỗi, các mảng khối liên kết
với nhau tạo nên thứ phản ứng dây chuyền khắc sâu vào tâm thức người đọc, mảng này liên kết và ảnh hưởng tới mảng kia theo kiểu dây chuyền, các khối không gian và thời gian nhờ vậy có sự cộng hưởng qua lại với nhau Trong một mảng vấn đề, trọn vẹn trong mảng đó là lớp không gian và dòng thời gian toàn vẹn xuyên suốt mảng đó,
sự đan xen giữa những sự việc giúp Tướng về hưu có sức hút lớn đối với người đọc Người đọc tác phẩm Tướng về hưu có thể thấy những khoảng thời gian, những
mảngkhối không gian được tác giả đưa ra một cách lấp lửng đầy ẩn ý nhưng một khi
đã biết chiếu vật tương ứng với những không gian hay thời gian trước nó hay sau nó
thì sự hiểu biết đối với tác phẩm Tướng về hưu sẽ được đầy đủ và trọn vẹn nhất Đọc
Tướng về hưu người đọc thường chủ yếu bắt gặp khoảng không gian nhất định nội
trong gia đình nhân vật hay là một vài không gian vươn ra ngoài gia đình nhân vật Những không gian trong và ngoài không gian gia đình đó có sự liên kết chặt chẽ với nhân vật và câu chuyện tạo nên một mảng khối thống nhất trong tác phẩm Điều đó sẽ tạo nên những thú vị cho độc giả khi đọc tác phẩm
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về Tướng về hưu song chưa có công trình
nào đi vào tìm hiểu và nghiên cứu về mặt ngôn ngữ học, nhất là về mặt không gian, thời gian trong tác phẩm Vì vậy nghiên cứu đề tài “Biểu thức chiếu vật không gian
thời gian trong truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp” sẽ giúp ích cho
chúng tôi rất nhiều trong học tập, về khai phá những miền kiến thức còn nhiều lạ lẫm trong tác phẩm đã rất nổi tiếng này Đó chính là lí do thúc đẩy chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này
Trang 32 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về biểu thức chiếu vật không gian thời gian trong tác phẩm Tướng về hưu
của Nguyễn Huy Thiệp từ trước tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu và tìm hiểu Chỉ có những công trình nghiên cứu xoay quanh những vấn đề về mặt nghệ
thuật, những bình diện mới về truyện ngắn trong tác phẩm Tướng về hưu như giọng
điệu văn chương, kết cấu, phong cách nghệ thuật…Sau đây chúng tôi xin điểm qua
một vài tác giả cùng những công trình nghiên cứu tiêu biểu của họ về tác phẩm Tướng
về hưu:
Nguyễn Thành trong bài viết Khuynh hướng lạ hóa trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt
Nam đương đại – một số bình diện tiêu biểu đã viết: “Trong truyện ngắn của tác giả Tướng về hưu, thường phổ biến hình thức lời dẫn đối thoại trung tính Nó được giản
lược tối đa, để chỉ còn lại một cấu trúc chủ - vị gọn lỏn: “Cha tôi bảo”, “Tôi bảo”…Người đọc không hề biết trạng thái của cha tôi, của tôi trước khi nói là như thế nào” [19, tr.8]
Đặng Văn Sinh trong bài viết Đọc lại “Tướng về hưu” đã có một cái nhìn khá sâu sắc
về phong cách cũng như ngôn ngữ, kết cấu của tác phẩm Tác giả viết: “Phong cách viết truyện của Nguyễn Huy Thiệp gần giống với cách bố cục của người họa sĩ tài ba
là xếp đặt những mảng, những khối khác nhau theo một trật tự bí mật nào đó mà không bình luận, cứ để tự nó nói lên phẩm chất của mình thông qua sự tương phản Những đoạn kể hoặc tả của anh vô cùng ngắn gọn, tiết kiệm từ đến mức tối đa, nhưng
đó là thứ ngôn ngữ chắt lọc vừa lạnh vừa khinh bạc, chủ yếu là gợi, tạo nên một lực hấp dẫn làm người đọc vừa say mê vừa choáng váng, đồng thời lại có cảm giác “như mình vừa bị chửi” [17, tr.2]
Phạm Phú Phong với bài viết Giọng điệu văn chương Nguyễn Huy Thiệp đã đi vào
phân tích giọng điệu trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: “Giọng điệu Nguyễn Huy Thiệp được thực hiện như một phép ứng xử đơn giản là dùng để kết hợp với tả, đó là thi pháp truyền thống của văn xuôi phương Đông Song, theo tác giả, chính mang sự trần thuật giản đơn, nhà văn đã tạo nên tính đa biến khôn lường bằng nghệ thuật phức điệu điêu luyện, có khi lại của ngôn ngữ nhân vật, nhằm thúc đẩy cho
Trang 4tình tiết phát triển, tạo cho giọng điệu văn chương của ông linh hoạt khôn lường Nhà phê bình nhấn mạnh: “Giọng điệu của mỗi nhân vật không phụ thuộc vào vị trí xã hội, giai cấp nghề nghiệp mà là tiếng nói thật của mỗi con người cụ thể với tất cả tính tượng thanh, tượng hình và sáu thanh điệu, biểu lộ các cung bậc, trầm, bổng, cao, thấp, nặng, nhẹ và trạng thái cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố…của tiếng Việt” [16, tr.3]
Trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Đặng Anh Đào với bài viết Khi ông
Tướng về hưu xuất hiện đã đánh giá rất cao hình thức mới lạ của Tướng về hưu, một
thứ văn học không phải để đáp ứng thói quen thưởng thức văn chương theo lối thánh
thư mà là văn học cổ vũ tinh thần dân chủ: “Cái nhìn dân chủ hóa của người kể
chuyện ở đây chính là ở chỗ: người kể chuyện tin rằng mình không phải mách nước cho ai, thậm chí ở nhiều chỗ đứng thấp hơn nhân vật và bạn đọc” [14, tr.23]
Cũng trong cuốn sách này có bài viết Tướng về hưu một tác phẩm có tính nghệ thuật
của tác giả Trần Đạo Về ngôn ngữ, tác giả viết: “Điểm nổi bật là ngôn ngữ ngắn ngủi, đơn sơ có khi thô lỗ Văn không thừa một chữ chỉ đủ để nêu sự vật, sự kiện” [14, tr.42] Trong khi phân tích vai trò và đặc trưng của ngôn ngữ, tác giả đã nói đến lối
hành văn của Tướng về hưu: “Cố ý giới hạn ngôn ngữ ở mức mô tả sự vật, sự kiện, ở
mức ngôn ngữ kỹ thuật đơn thuần, dùng tiếng nói để bịt miệng con người” [14, tr.44]
Nguyễn Thanh Sơn ở bài viết Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cho rằng:
“Nguyễn Huy Thiệp có một giọng văn rất lạnh lùng nhưng ẩn dấu phía sau nó lại là một lòng nhân ái sâu xa, trìu mến đối với con người” [14, Tr.126]
Trong bài viết Xung quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Hồng Diệu đã làm
một cuộc phỏng vấn các nhà văn Bùi Hiển, Hồ Phương, Bùi Đình Thi Trong đó Hồ Phương nhận xét: “Tôi thấy Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện với giọng điệu mới, một bút
pháp ngắn gọn trẻ trung, rất thích Tướng về hưu của anh là một truyện sắc” [14, tr.451] Ngoài ra cuốn sách còn có một số bài viết khác cũng có nhắc đến Tướng về
hưu nhưng ở những khía cạnh khác
Qua việc tìm hiểu quá trình nghiên cứu của các nhà phê bình, lí luận văn học chúng tôi thấy rằng các công trình nghiên cứu đó đã đi sâu nghiên cứu đánh giá, tìm
hiểu những đặc điểm nghệ thuật của Tướng về hưu Nhưng chưa thấy có một công
Trang 5trình nào nghiên cứu về “Biểu thức chiếu vật không gian thời gian trong truyện ngắn
Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp” Vì vậy trong công trình nghiên cứu này,
chúng tôi muốn xem xét và nghiên cứu thật kỹ về các biểu thức không gian thời gian
mà tác giả đã sử dụng trong truyện ngắn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là biểu thức chiếu vật không gian thời gian trong
truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp
+ Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về biểu thức
chiếu vật không gian thời gian trong truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp in trong tập Những truyện thành thị (2004) của Nxb Hội nhà văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận – hệ thống
- Phương pháp thống kê – phân loại
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
- Các phương pháp khác của ngôn ngữ học
5 Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, thư mục Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm có ba chương:
Chương I: Giới thuyết xung quanh vấn đề nghiên cứu
Chương II: Biểu thức chiếu vật không gian trong tác phẩm Tướng về hưu của Nguyễn
Huy Thiệp
Chương III: Biểu thức chiếu vật thời gian trong tác phẩm Tướng về hưu của Nguyễn
Huy Thiệp
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I GIỚI THUYẾT XUNG QUANH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Biểu thư ́ c chiếu vâ ̣t không gian, thời gian
1.1.1 Khái niê ̣m chiếu vật, biểu thức chiếu vật
a Khái niệm về chiếu vật
Trong ngôn ngữ tự nhiên có rất nhiều câu cụ thể mà người ta không thể kết luận nội dung của chúng là đúng hay là sai nếu không xác định được chúng qui chiếu với
sự vật nào đang được nói tới trong hiện thực
Ví dụ : - Ông ấy là người nổi tiếng ở Đà Nẵng
Câu này đúng hay sai, tuỳ theo sự quy chiếu của từ “ông ấy”
Chiếu vật (qui chiếu) là xác định sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định
Chiếu vật là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa ngữ cảnh với diễn ngôn
Tự bản thân mình, từ ngữ không chiếu vật Chỉ có con người, mới thực hiện hành vi chiếu vật, tức là đưa sự vật, hiện tượng mình định nói tới vào diễn ngôn của mình bằng các từ ngữ, các câu
b Khái niệm về biểu thức chiếu vật
Trong cuốn “Cơ sở ngữ dụng học” (tập một) của GS.TS Đỗ Hữu Châu cho
rằng: “Tư ̀ hay tổ hợp từ (ngữ đoạn) dùng để chiếu vật, qua đó người nghe suy ra được
sư ̣ vật (vật chiếu) được đề cập gọi là biểu thức chiếu vật
Giả đi ̣nh chúng ta gă ̣p câu sau đây:
“Xin lỗi bà – thấy bà Sumatova nhìn tỏ vẻ hết sức ngỡ ngàng, ông ta nói – cũng pha ̉i làm thế để phơi cho khô đám quần áo ướt này”
Mặc dù đã được làm đầy bởi các từ ngữ nhưng nghĩa của câu này vẫn hết sức lờ
mờ Đo ̣c nó chúng ta cảm thấy “ấm ức” bởi lẽ, không biết những người trong cuô ̣c đối thoa ̣i này đang nói với nhau về vấn đề gì Và nỗi ấm ức được giải tỏa đôi chút nếu
người đo ̣c được giải thích rằng đám quần áo ướt là cu ̣m từ lóng của giới quan chức
Nhà trắng Hoa Kỳ thời Tổng thống Franklin Delano Roosevelt dùng để chỉ văn kiê ̣n
Trang 7mà ông vừa mới ký, mực chưa khô Giải thích như vâ ̣y là chúng ta chỉ ra nghĩa chiếu
vật hay sự vâ ̣t được quy chiếu (referent) của cu ̣m từ – từ đây ta sẽ go ̣i là biểu thức
(expression) – đa ́ m quần áo ướt
Như vâ ̣y giữa biểu thức đám quần áo ướt và “các văn kiê ̣n vừa được tổng thống F D
Roosevelt kí chưa khô mực” trong hiê ̣n thực – hê ̣ quy chiếu có quan hê ̣ chiếu vâ ̣t (refrence) và biểu thức chiếu trên là mô ̣t biểu thức chiếu vâ ̣t (referring expsession, expression référentielle)” [tr.185]
Quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bô ̣ phâ ̣n ta ̣o nên ngữ cảnh của nó được go ̣i là sự chiếu vâ ̣t (reference, cũng được go ̣i là sự sở chỉ) Nếu như ngữ du ̣ng
học quan tâm đầu tiên đến mối quan hê ̣ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh thì chiếu vâ ̣t là hiện tượng ngữ du ̣ng ho ̣c đầu tiên bởi vì nhờ chiếu vâ ̣t mà ngôn ngữ gắn với ngữ
cảnh, từ đó mà có căn cứ đầu tiên để xác đi ̣nh nghĩa của đơn vi ̣ ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp
Trong hệ thống, các từ có nghĩa biểu vật Trong lời nói nghĩa biểu vật chuyển hoá thành nghĩa chiếu vật
Sự vật tương ứng với một biểu thức chiếu vật là nghĩa chiếu vật (nghĩa sở hữu) của biểu thức đó
Ví dụ : - Đất nước triệu voi (Lào)
- Xứ sở Kim Chi (Hàn Quốc)
- Đất nước chùa tháp (Campuchia)
- Đất nước hoa anh đào (Nhật) hoặc (đất nước mặt trời mọc)
Để hiểu được nghĩa của diễn ngôn, trước hết phải xác định được nghĩa chiếu vật (sự vật tương ứng với biểu thức chiếu vật) của các biểu thức chiếu vật trong diễn ngôn đó
Nếu người nghe chưa xác định được nghĩa chiếu vật thì sẽ rơi vào tình trạng
mơ hồ về chiếu vật (Châu Thành (Tiền Giang), Châu Thành (Tây Ninh))
Ở trên chú ng ta đã dùng thuâ ̣t ngữ biểu thức chiếu vâ ̣t Trong mô ̣t phát ngôn thường có mô ̣t hoă ̣c mô ̣t số biểu thức chiếu vâ ̣t Mỗi biểu thức chiếu vâ ̣t được dùng để chỉ mô ̣t yếu tố nào đó nằm trong bô ̣ ba: Đối ngôn, hoàn cảnh giao tiếp và thoa ̣i trường, hợp thành ngữ cảnh của phát ngôn đó được nói tới trong phát ngôn đó
Trang 8Nhưng dù biểu thức chiếu vâ ̣t có đầy đủ đến thế nào đi chăng nữa thì tự chúng
cũng không thể báo cho người nghe, người đo ̣c biết sự vâ ̣t được quy chiếu là gì Người nghe, người đo ̣c bao giờ cũng phải suy từ biểu thức chiếu vâ ̣t mà tìm ra nghĩa chiếu vâ ̣t Qua biểu thức chiếu vâ ̣t, người nói (người viết) thể hiê ̣n ý đi ̣nh chiếu vâ ̣t và người nghe (người đo ̣c) khi suy ý để tìm ra nghĩa chiếu vâ ̣t là đã thừa nhâ ̣n ý đi ̣nh chiếu vâ ̣t của người nghe Khi quyết đi ̣nh dùng mô ̣t biểu thức chiếu vâ ̣t nào đó người
nói (người viết) tin vào khả năng suy ý chiếu vâ ̣t của người nghe và khi suy ý chiếu
vật, người nghe (người đo ̣c) đã dựa vào niềm tin của mình vào ý đi ̣nh chiếu vâ ̣t của người nói (người viết) khi người này dùng biểu thức đó dù cho niềm tin vào khả năng suy ý chiếu vâ ̣t và vào ý đi ̣nh chiếu vâ ̣t không được nói ra mô ̣t cách hiển ngôn, trừ khi người nói hoă ̣c người nghe được hỏi Vì lẽ đó cho nên cùng mô ̣t sự vâ ̣t nhưng nói với người này, mô ̣t người nói có thể dùng mô ̣t biểu thức chiếu vâ ̣t hết sức sơ sài, còn nói
vớ i mô ̣t người nghe khác, anh ta phải dùng mô ̣t biểu thức chiếu vâ ̣t phức ta ̣p, kỹ lưỡng hơn
1.1.2 Phương thức chiếu vật
Phương thức chiếu vật là phương thức tổ chức các kiểu biểu thức chiếu vật nhờ chúng mà người nói thực hiện sự chiếu vật và người nghe suy ra nghĩa chiếu vật Cần nhắc lại, dù biểu thức chiếu vật có đầy đủ đến thế nào đi chăng nữa thì tự chúng cũng không thể báo cho người nghe, người đọc biết sự vật được quy chiếu sự là gì Người nghe, người đọc bao giờ cũng phải suy từ biểu thức chiếu vật mà tìm ra nghĩa chiếu vật Qua biểu thức chiếu vật, người nói (người viết) thể hiện ý định chiếu vật và người nghe (người đọc) khi suy ý để tìm ra nghĩa chiếu vật là đã thừa nhận ý định chiếu vật của người nghe Khi quyết định dùng một biểu thức chiếu vật nào đó người nói (người viết) tin vào khả năng suy ý chiếu vật của người nghe và khi suy ý chiếu vật, người nghe (người đọc) đã dựa vào niềm tin của mình vào ý định chiếu vật của người nói (người viết) khi người này dùng biểu thức đó dù cho niềm tin vào khả năng suy ý chiếu vật và vào ý định chiếu vật không được nói ra một cách hiển ngôn, trừ khi người nói hoặc người nghe được hỏi Vì lẽ đó, cho nên cùng một sự vật, nhưng nói với người này, một người nói có thể dùng một biểu thức chiếu vật hết sức sơ sài, còn nói với một người nghe khác anh ta phải dùng một biểu thức chiếu vật phức tạp hơn,
kỹ lưỡng hơn (tức là tùy vào đối tượng tiếp nhận hành vi chiếu vật của người nói)
Trang 9Phương thức chiếu vật là cách thức mà con người sử dụng để thực hiên hành vi chiếu vật Có 3 phương thức lớn:
Các yếu tố miêu tả chiếu vật không cần thật nhiều, thật đầy đủ Chỉ cần nêu ra một vài dấu vết mà người nói cho rằng đủ cho người nghe dựa vào đó mà xác định được nghĩa chiếu vật của biểu thức là được
Ví dụ : Con gà trống
Con gà trống tía Con gà trống tía cụt đuôi Con gà trống tía cụt đuôi của nhà ông Ba Chiếu vật không phải là hành vi đơn phương do người nói (viết) Nó đòi hỏi sự cộng tác của người tiếp nhận Sự cộng tác ở đây thể hiện ở dự đoán của người nói về năng lực suy ý chiếu vật từ biểu thức miêu tả của người nghe (người đọc) Giả sử A là vật định chiếu vật Nếu SP2 đã biết đôi chút về A thì SP1 sẽ dùng ít yếu tố miêu tả, nếu SP2 chưa biết gì thì yếu tố miêu tả phải nhiều
Biểu thức miêu tả được chia làm biểu thức miêu tả xác định và biểu thức miêu
tả không xác định Trong tiếng Việt, danh từ có “một”, “những” ở đằng trước thường
là biểu thức miêu tả chiếu vật không xác định
Ví dụ: - Ngày xửa ngày xưa, ở một làng kia, có một cô gái
- Những bạn chưa nộp bài thì ghi tên vào đây
Biểu thức miêu tả có thể chiếu vật cá thể, chiếu vật một số và chiếu vật loại Cũng có những biểu thức miêu tả có chức năng thuộc ngữ, không có chức năng chiếu vật
Ví dụ: Cô ta muốn lấy một Việt kiều
(một Việt kiều, một người nào đó có đặc tính là Việt kiều)
Trang 10b Tên riêng
Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật
Ở Việt Nam, tên người, địa danh có thể trùng nhau
Ví dụ: Hương Giang, có thể là tên người, tên khách sạn, tên cầu
Để giúp người nghe khắc phục tình trạng mơ hồ chiếu vật, người nói thường thêm danh từ chung kèm theo tên riêng đó: khách sạn Hương Giang, chị Hương Giang, cầu Hương Giang
Trường hợp các sự vật, người trong cùng một phạm trù trùng tên nhau, để khỏi
mơ hồ thường dùng các định nghĩa hoặc “tiểu danh” sau tên riêng Ví dụ: Đồng Văn (Hà Giang), Đồng Văn (Hà Nam)
Trong sử dụng, tên riêng có thể được sử dụng theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ, ẩn dụ (Ví dụ: cụ Tiên Điền - nghĩa chiếu vật: Nguyễn Du)
c Chỉ xuất
Thuật ngữ chỉ xuất tiếng Viê ̣t được dùng để di ̣ch thuâ ̣t ngữ ngôn ngữ ho ̣c quốc
tế deictics bắt nguồn từ tiếng Hy La ̣p có nghĩa là chỉ trỏ Chúng ta có thể làm cho người đối thoa ̣i với mình biết sự vâ ̣t mà chúng ta nói tới bằng cách dùng tay chỉ vào
sự vâ ̣t đó Viê ̣c dùng tay chỉ vào sự vâ ̣t còn go ̣i là sự trực chỉ
Trực chỉ có rất nhiều ha ̣n chế Thứ nhất Cái cần được chiếu vâ ̣t thì nhiều mà
cái có thể trực chỉ được thì rất có ha ̣n Tư tưởng, tình cảm, không gian, thời gian…làm sao có thể chỉ trỏ được bằng tay? Thứ hai, chúng ta chỉ có thể chỉ trỏ từng cá thể, không thể chỉ trỏ được loa ̣i sự vâ ̣t hiê ̣n tượng, hoa ̣t đô ̣ng, có nghĩa là không những không chỉ được cái trừu tượng mà cũng không chỉ trỏ được cái khái quát
Không phải lúc nào cũng có thể chỉ trỏ được Người nói ở quá xa hoă ̣c người nói, người nghe không nhìn thấy nhau thì chỉ trỏ là vô ích Cũng không ai chỉ trỏ trong đêm tối và cũng không ai chỉ trỏ cho người khiếm thi ̣…
Hơn nữa không phải lúc nào chỉ trỏ được thì chỉ trỏ luôn luôn không gây ra hiểu
lầm Giả đi ̣nh trước mă ̣t hai người đối thoa ̣i có mô ̣t cái thùng có màu xanh có dòng chữ lớn Nếu người nói dùng tay chỉ vào cái thùng mà không dùng kèm mô ̣t biểu thức ngôn ngữ nào thì người tiếp nhâ ̣n chưa thể xác đi ̣nh được sự vâ ̣t nghĩa chiếu vâ ̣t của
sự chỉ trỏ đó là cái gì, cái thùng hay màu sắc cái thùng, hay dòng chữ trên cái thùng?
Trang 11Nhận xét này khẳng đi ̣nh tầm quan tro ̣ng của ý đi ̣nh chiếu vâ ̣t và niềm tin chiếu vâ ̣t ngay trong sự chỉ trỏ Người chỉ trỏ cũng phải có ý đi ̣nh chỉ trỏ và có niềm tin cho
rằng người tiếp nhâ ̣n sẽ nhâ ̣n biết được sự vâ ̣t đối tượng chỉ trỏ của mình Người nói
sẽ thay đổi cách chỉ trỏ để cho người tiếp nhâ ̣n không hiểu lầm ý đi ̣nh chỉ trỏ của
mình
Vì có rất nhiều ha ̣n chế, hơn nữa tay không phải là yếu tố của ngôn ngữ, cho nên trực chỉ không thể đảm nhiê ̣m được chức năng chiếu vâ ̣t của ngôn ngữ Trong ngôn ngữ không có phương thức trực chỉ mà chỉ có phương thức chỉ xuất Đối với phương
thứ c chỉ xuất, trực chỉ chỉ là phương tiê ̣n kèm ngôn ngữ (lưu ý đến các đô ̣ng tác chỉ trỏ chúng ta thực hiê ̣n khi thì có ý thức khi thì không có ý thức trong nói năng)
Bar – Hillel cho rằng tính chỉ xuất là mô ̣t đă ̣c tính thuô ̣c bản thân và không thể tránh né được của các ngôn ngữ tự nhiên Theo ông đến 90% các câu trần thuyết của
các ngôn ngữ đều là những câu chỉ xuất do chỗ chúng ngầm có quan hê ̣ chiếu vâ ̣t với người nói, người nghe, thời gian, không gian của sự phát ngôn
Các yếu tố chỉ xuất là những yếu tố ngữ du ̣ng được mã hoá, ngữ pháp hóa bền
vững, lâu đời nhất, được ngữ pháp ho ̣c nghiên cứu từ xa xưa dù chưa triê ̣t để Thuâ ̣t ngữ deixis chỉ cách thức đă ̣c thù theo đó sự thuyết giải mô ̣t số biểu thức ngôn ngữ (các deictics còn go ̣i là indexicals) phu ̣ thuô ̣c vào ngữ cảnh trong đó chúng được ta ̣o ra hay được thuyết giải Nếu như chiếu vâ ̣t là phương tiê ̣n đầu tiên của ngữ du ̣ng ho ̣c thì chỉ xuất là phương tiê ̣n đầu tiên ngữ du ̣ng nhất của chiếu vâ ̣t bởi tính gắn bó giữa nó (chỉ xuất) với ngữ cảnh là cao nhất Sự chỉ trỏ chỉ diễn ra trong những cuô ̣c giao tiếp mă ̣t đối mă ̣t cho nên chỉ xuất nhắc nhở chúng ta rằng ngôn ngữ tự nhiên được sử du ̣ng trước hết để phu ̣c vu ̣ cho tương tác mă ̣t đối mă ̣t và được thiết kế sao cho có thể khai thác được mô ̣t cách triê ̣t để cái hoàn cảnh được sử du ̣ng đó
Peter Grundy cho rằng nghiên cứu lĩnh vực chỉ xuất sẽ phải trả lời những câu hỏi sau đây:
Có bao nhiêu từ chỉ xuất trong ngôn ngữ và trong chừng mực nào chúng có thể
dù ng theo cách chỉ xuất và theo cách phi chỉ xuất? Trả lời: Chỉ xuất là mô ̣t tâ ̣p hợp kín
các từ có nghĩa là các từ chỉ xuất có giới ha ̣n về số lượng, mô ̣t số trong đó có thể được
dù ng theo cách phi chỉ xuất
Trang 12Có cách nào để phân loa ̣i chúng không? Trả lời: Có thể phân loa ̣i chúng theo
các tiêu chí ngữ nghĩa như chiếu vâ ̣t nhân xưng, chiếu vâ ̣t không gian, chiếu vâ ̣t thời gian
Vì sao những từ đó có tính chất đó? Trả lời: Bởi người nói luôn luôn cảm thấy
rất tiê ̣n du ̣ng nếu có được mô ̣t số có giới ha ̣n các đơn vi ̣ từ vựng bất đi ̣nh (indeterminate) mà sự chiếu vâ ̣t của chúng bi ̣ quy đi ̣nh trong ngữ cảnh tương tác mă ̣t đối mă ̣t và chúng hoa ̣t đô ̣ng như mô ̣t phương tiê ̣n để thực hiê ̣n nhanh những miêu tả
vốn vô ha ̣n về số lượng…
Có ba phạm trù chỉ xuất truyền thống là chỉ xuất nhân xưng, chỉ xuất không gian và chỉ xuất thời gian
Theo Levinson trong “Cơ sở ngữ dụng học” (tập một) của GS.TS Đỗ Hữu Châu thì các phạm trù chỉ xuất truyền thống trên có những đặc điểm điển hình sau đây: Thứ nhất, nhân vật trung tâm là người nói; thứ hai, thời gian trung tâm là thời gian ở đó người nói tạo ra phát ngôn; thứ ba, địa điểm trung tâm là địa điểm ở đó người nói tạo ra phát ngôn đồng thời với thời gian phát ngôn; thứ tư, diễn ngôn trung tâm là một điểm của diễn ngôn mà người nói đang ở đó khi nói ra diễn ngôn và thứ năm trung tâm xã hội là tư cách và vị thế xã hội của người nói xét trong quan hệ với tư cách và vị thế xã hội của những người không phải người nói trong giao tiếp Nói vắn tắt, trung tâm chỉ xuất là Tôi (người nói) Bây giờ (thời gian) Ở đây (địa điểm nói) Nếu ký hiệu bây giờ là T, ở đây là L thì T và L luôn luôn thay đổi, bởi vì cả hai đều phụ thuộc vào người nói S mà người nói S thì thường xuyên thay đổi trong hội thoại mặt đối mặt
1.1.3 Biểu thức chiếu vật không gian, thời gian
Biểu thứ c chiếu vâ ̣t không gian, thời gian là kiểu biểu thức chiếu vâ ̣t bằng cách dùng sự vật hoặc một không gian thời gian khác để quy chiếu không gian thời gian
Theo Green, thuật ngữ chiếu vâ ̣t (reference) được dùng để chỉ phương tiê ̣n nhờ đó người nói phát ra mô ̣t biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ rằng
nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được mô ̣t cách đúng đắn thực thể nào, đă ̣c tính nào, quan hệ nào, sự kiê ̣n nào anh ta đi ̣nh nói tới, và chúng ta quan niê ̣m: Chiếu vâ ̣t là hành
Trang 13vi người nói dùng các phương tiê ̣n nào đó để chỉ rõ sự vâ ̣t, hành đô ̣ng, tính chất, (vâ ̣t chiếu) mà mình muốn đề câ ̣p; với các phương tiê ̣n này, người nói nghĩ rằng người nghe có thể quy chiếu, có thể suy ra hay nhâ ̣n biết đúng sự vâ ̣t, hoa ̣t đô ̣ng, tính chất
mà anh ta nói đến
Chiếu vâ ̣t bằng ngôn ngữ là dấu hiê ̣u đầu tiên thể hiê ̣n quan hê ̣ giữa ngữ cảnh với diễn ngôn Trong tiếng Viê ̣t, mỗi thứ đều “báo hiê ̣u” mô ̣t cái gì, tức đều có nghĩa (nghĩa biểu vâ ̣t, nghĩa biểu niê ̣m, nghĩa liên hê ̣), nhưng tự nó không có chiếu vâ ̣t Chỉ
có người sử du ̣ng từ thực hiê ̣n hành vi chiếu vâ ̣t Và vì vâ ̣y, chỉ có trong mô ̣t câu nói
cụ thể các từ mới có nghĩa chiếu vâ ̣t và có vâ ̣t chiếu, tức trực tiếp chỉ đối tượng cu ̣ thể hay một tâ ̣p hợp đối tượng có giới ha ̣n cu ̣ thể Chiếu vâ ̣t giúp đưa sự vâ ̣t, hiê ̣n tượng
mà mình đi ̣nh nói tới trong thực tế khách quan vào diễn ngôn để phản ánh chúng, biểu
đa ̣t chúng…Trong hoa ̣t đô ̣ng giao tiếp, người nghe sẽ không thể hiểu đúng được nô ̣i dung phát ngôn nếu không xác đi ̣nh được các từ ngữ trong phát ngôn quy chiếu vào sự
vật nào trong hiê ̣n thực
Chính vì như vâ ̣y nên chiếu vâ ̣t không gian, thời gian tức là khi mô ̣t nhân vâ ̣t, mô ̣t người nào đó muốn nói tới một không gian hay thời gian thì người đó cần phải chiếu vật để người tiếp thoại hiểu được không gian thời gian mà người nói đề cập tới Chú ng
ta cũng có thể xác định biểu thức chiếu vâ ̣t không gian, thời gian dựa vào từ hay tổ
hợp từ (ngữ đoa ̣n) của không gian, thời gian dùng để chiếu vâ ̣t, qua đó chúng ta suy ra được không gian thời gian chiếu vâ ̣t được đề câ ̣p
1.2 Không gian, thơ ̀ i gian nghê ̣ thuâ ̣t trong lí luâ ̣n văn ho ̣c
1.2.1 Không gian nghê ̣ thuật
Trong cuốn Lí luận văn học (tập một), Phương Lựu viết “Thế giới nghê ̣ thuâ ̣t do nhiều yếu tố cấu ta ̣o nên Theo nhà lí luâ ̣n văn ho ̣c Nga D X Likhachev thì đầu tiên mỗi tác phẩm có mô ̣t không gian sống riêng biê ̣t, giới ha ̣n của nó phu ̣ thuô ̣c vào sức tưởng tượng của nhà văn và nhu cầu cấu ta ̣o của tác phẩm Chính thế giới bên trong quy đi ̣nh kích thước của không gian đó Không gian nghê ̣ thuâ ̣t có các chiều cao, thấp,
dài, ngắn, rô ̣ng, he ̣p, sâu, nông…nhưng bản thân khối lượng không có ý nghĩa, chỉ có
nội dung cảm thu ̣ chủ quan, tính biểu tượng là có ý nghĩa Không gian có thể có tính thực ta ̣i, có thể mang tính hư ảo Theo Iu Lotman, không gian nghê ̣ thuâ ̣t là sự kết
Trang 14hợp của các tiểu không gian, phân biê ̣t nhau bằng các đường ranh giới mà con người luôn luôn có khát vo ̣ng vượt qua chúng để đến miền mơ ước của đời mình Bởi ý nghĩa, giá tri ̣ của không gian không giống nhau Chính sự phân biê ̣t các không gian
mớ i ta ̣o nên ý nghĩa Không gian mang ý nghĩa làm nên viễn cảnh cho nhân vâ ̣t Không gian đó đi ̣nh hướng hành đô ̣ng nhân vâ ̣t Sự khu biê ̣t làm nên ngôn ngữ không gian Ví du ̣ cao – thấp, trong – ngoài, quê mình – quê người, vùng ta – vùng đi ̣ch, thiên đàng – đi ̣a ngu ̣c, nông thôn – thành phố, trong tù – ngoài tù Trong phong cảnh chỉ phía hướng về người xem là có ý nghĩa…Chẳng ha ̣n Kiều bán mình chuô ̣c cha, rơi
vào lầu xanh là thay đổi lớn về không gian, thay đổi đi ̣a vi ̣ mà nàng phải cố gắng suốt mười lăm năm trời để được trở về Có những că ̣p không gian đối lâ ̣p vững bền và những giới ha ̣n nô ̣i ta ̣i phù hợp với chúng như quê mình – quê người trong văn ho ̣c trung đa ̣i Ở đây không gian tha hương, chân trời góc bể, la ̣ nước la ̣ non luôn luôn khiến con người đau khổ, vì ở đó ho ̣ tứ cố vô thân, không nơi nương tựa Chẳng ha ̣n
trong Truyê ̣n Kiều, ông chú Kim Tro ̣ng mất ở nơi tha hương (Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề) Cho nên chàng không thể không về hô ̣ tang chú Còn nàng Kiều lo sợ nhất
vẫn là sống, chết nơi quê người (Thôi con còn nói chi con, Sống nhờ đất khách thác
chôn quê người!) Không gian trong tác phẩm có thể là mô hình không gian điểm, như
ngôi nhà, nhà tù, Thăng Long, Đèo Ngang… Không gian điểm có thể như không gian
sống của người Côdắc, mỗi mùa sống mô ̣t nơi, ho ̣ không thích sống mô ̣t nơi cố đi ̣nh
Có thể là mô hình tuyến tính như không gian con đường, đường đời Có thể là không gian mặt phẳng hay hình khối, có đường thẳng đứng hay đường chân trời Cảm nhâ ̣n
không gian trong thơ rất khác nhau Có không gian rất he ̣p, ngô ̣t nga ̣t: Gió lùa gian
ga ́ c xép, đời tàn trong ngõ he ̣p (Vũ Hoàng Chương), có không gian mênh mông: Chân trơ ̀ i lui mãi lan lan rộng Hi vọng tràn lên đồng mênh mông (Tố Hữu), có không gian
bao la đến rợn ngợp: Nắng xuống trời lên sâu chót vót, Sông dài trời rộng bến cô liêu
(Huy Cận)…Phân tích không gian nghê ̣ thuâ ̣t là cơ sở để đo ̣c hiểu thế giới tác phẩm
và nhân vâ ̣t” [tr.84, 85]
Trong cuốn “Những vấn đề thi pháp của truyê ̣n”, Nxb Giáo du ̣c – 2000 của tác giả Nguyễn Thái Hòa Ở chương IV – không gian như mô ̣t nhân tố nghê ̣ thuâ ̣t của truyện Cho rằng: “Sự tồn ta ̣i của mô ̣t vâ ̣t thể là tồn ta ̣i trong không gian mà chính vâ ̣t thể ấy cũng là mô ̣t phần tử, có quan hê ̣ với những phần tử khác mà thời gian chỉ là
Trang 15một mối quan hê ̣, mô ̣t thuô ̣c tính vâ ̣n đô ̣ng của vâ ̣t thể Có thể phân biê ̣t các loa ̣i không gian được biểu đa ̣t trong truyê ̣n như ta thường thấy trên văn bản”
a Không gian bối ca ̉ nh
Đó là mô ̣t môi trường hoa ̣t đô ̣ng của nhân vâ ̣t, mô ̣t đi ̣a điểm có tên riêng hay không
có tên, trong đó đủ cả thiên nhiên, xã hô ̣i, con người Nó là điều kiê ̣n cần thiết cho mo ̣i
sự kiê ̣n, mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng, mô ̣t pha ̣m vi thế giới không thể thiếu Mô ̣t “cái gì đó” xảy ra không thể không có quan hê ̣ với cái khác ở mô ̣t “nơi nào đó”…[tr.88]
b Không gian sự kiê ̣n
Có thể phân biê ̣t không gian bối cảnh (xã hô ̣i) với không gian sự kiê ̣n Những sự kiện xảy ra trong đời sống hàng ngày có thể tác đô ̣ng đến nhân vâ ̣t, gây ra những sự kiện khác theo quan hê ̣ nhân quả thành mô ̣t chuỗi sự kiê ̣n mà truyê ̣n có khi chỉ là mô ̣t
mắt xích quan tro ̣ng nhất trong chuỗi
Trong truyện của nhiều nhà văn, sự kiê ̣n thường là tình huống bô ̣c lô ̣ tính cách, tâm trạng …của nhân vâ ̣t, đóng vai trò như mô ̣t tham số cho lời giải tiếp tu ̣c đến khi nào nhà văn đưa ra được lời giải cuối cùng
Không gian sự kiê ̣n được tính bằng mốc sự kiê ̣n và cũng là mốc của thời gian kể nên rất quan tro ̣ng đối với người đo ̣c truyê ̣n Nó thực sự làm nên ma ̣ch la ̣c của truyê ̣n
và môi trường sống của nhân vâ ̣t [tr.90, 91]
c Không gian tâm li ́
Khác với không gian bối cảnh và không gian sự kiê ̣n, không gian tâm lí xuất hiê ̣n bên trong nhân vật, trong tâm tra ̣ng của người kể chuyê ̣n Đó có thể là những dòng hồi ức triền miên của nhân vâ ̣t đầy những tâm tra ̣ng vui buồn, những mơ ước mô ̣ng mi ̣ vẩn vơ, những ám ảnh, ám thi ̣ mơ hồ mà nhân vâ ̣t không nói ra được…
Giữa không gian bối cảnh và không gian tâm lí thường có quan hê ̣ hai chiều, hoă ̣c
là không gian bối cảnh tác đô ̣ng vào tâm lí, hoă ̣c là không gian tâm lí chi phối cái nhìn
bối cảnh Mối quan hê ̣ ấy có thể là trực tiếp, đồng thời có thể là gián tiếp, nhưng càng chặt chẽ từng nào thì càng hấp dẫn thú vi ̣, bởi vì ở đây thường là chỗ giao thoa giữa khung cảnh và nhân vâ ̣t, giữa truyê ̣n và người kể chuyê ̣n…[tr.91, 92]
d Không gian kể truyê ̣n
Khó mà hình dung không gian kể truyê ̣n khi trước mắt người kể (viết, sáng tác) là giấy trắng, bàn viết, khung cửa sổ…nhìn bề ngoài có lẽ chẳng thấy được cái gì, nhưng
Trang 16thực ra ở bên trong người kể đương xuất hiê ̣n mô ̣t thế giới, mô ̣t không gian hay nhiều không gian mớ i la ̣ với nhiều mối tương quan và tác đô ̣ng lẫn nhau, mô ̣t không gian ảo Trong đó có thể kể các quan hê ̣:
- Giữa người kể và thế giới của truyê ̣n, bao gồm các nhân vâ ̣t, sự kiê ̣n, quan hê ̣…
- Giữa người kể và ngôn ngữ của nhân vâ ̣t, cách xử lý ở các tra ̣ng thái và hoàn cảnh khác nhau
- Giữa người kể và ngôn ngữ của chính mình [tr.92, 93, 94]
1.2.2 Thơ ̀ i gian nghê ̣ thuật
Theo Lí luận văn học (tập một), của tác giả Phương Lựu cho rằng: “Thờ i gian là
hình thức tồn ta ̣i của thế giới nghê ̣ thuâ ̣t Tác phẩm cần mô ̣t lượng thời gian để mở ra trước mắt người đo ̣c Tuy nhiên, thời gian nghê ̣ thuâ ̣t không đồng nhất với thời gian
vật chất thực ta ̣i Thời gian trong thế giới nghê ̣ thuâ ̣t có đô ̣ dài, nhi ̣p đô ̣, tốc đô ̣, có ba chiều quá khứ, hiê ̣n ta ̣i, tương lai khác với thời gian thực ta ̣i Nhà văn có thể tự do chọn đô ̣ dài Đó là khoảnh khắc trong thơ Haikư, thơ tứ tuyê ̣t, là 15 năm đời Kiều trong Truyê ̣n Kiều của Nguyễn Du, là 100 năm trong Trăm năm cô đơn, tiểu thuyết
củ a G G Marquez, 14 ngày trong tiểu thuyết Anh em nhà Caramazov của Dostoevski,
6 ngày trong truyê ̣n ngắn Chí Phèo của Nam Cao Thời gian có tính liên tu ̣c, không
ngừ ng trôi qua, không đảo ngược khiến cho con người phải đối phó, kẻ được may, người lỡ vâ ̣n, kẻ sướng vui, người đau khổ Có nhiều loa ̣i thời gian: thời gian vũ tru ̣,
bốn mùa, có thời gian li ̣ch, có thời gian đồng hồ trung tính, có thời gian li ̣ch sử, thời gian xã hô ̣i, có thời gian tâm lí, đâ ̣m tính chủ quan, mô ̣t phút bằng hai mươi năm hoă ̣c
một năm trong chớp mắt, có thời gian thần thoa ̣i, thời gian vĩnh hằng, bất biến trong tâm tưởng Mỗi thời gian có đô ̣ đo riêng, làm cho chúng khác biê ̣t nhau: năm, tháng, phú t, giây, mùa, thế kỷ, thời đa ̣i Đơn vi ̣ thời gian càng nhỏ thì người ta có di ̣p nhìn sâu vào thực ta ̣i, đơn vi ̣ càng lớn thì đem la ̣i cái nhìn bao quát Nhà văn có thể cho ̣n thờ i gian trần thuâ ̣t để tái hiê ̣n la ̣i cuô ̣c đời nhân vâ ̣t Thời gian có thể đảo ngược, có thể lui về với những thời xa xưa của li ̣ch sử dân tô ̣c, có thể làm châ ̣m la ̣i dòng thời gian trôi nhanh, có thể lướt qua thời điểm không cần thiết, có thể dồn nén thời gian dài trong câu kể ngắn Thời gian nghê ̣ thuâ ̣t là thời gian do nhà văn sáng ta ̣o ra, vừa thể hiện tra ̣ng thái con người trong thời gian, sự cảm thu ̣ thời gian, vừa mở ra lô ̣ trình để người đo ̣c đi vào thế giới tác phẩm Vì thế phân tích cấu trúc thời gian trong tác phẩm
Trang 17có thể giúp chiếm lĩnh tác phẩm được sâu sắc hơn Trong li ̣ch sử văn ho ̣c, mỗi thể loa ̣i văn ho ̣c có những thời gian đă ̣c trưng của nó: thời gian thần thoa ̣i, thời gian vũ tru ̣, thờ i gian sử thi, thời gian cổ tích, thời gian tiểu thuyết… Chẳng ha ̣n thơ cổ điển thích
dù ng că ̣p từ sóng đôi sớm – chiều, đêm – ngày, thu – đông, xưa – nay…để diễn tả sự
tĩnh ta ̣i của thời gian Ví du ̣: “Ngày nhàn mở quyển xem Chu Di ̣ch; Đêm vắng tìm mai
ba ̣n Lão Bô” (Nguyễn Trãi), “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá; Xuân tắm hồ sen, hạ
tă ́ m ao” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)…Trái la ̣i, thơ Xuân Diê ̣u thể hiê ̣n mô ̣t thời gian tiêu
cực, hủy hoa ̣i tuổi xuân: “Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non nghĩa
la ̀ xuân sẽ già, Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”…(Vô ̣i vàng) [tr.85, 86, 87]
Mối quan hê ̣ không gian, thời gian trong văn ho ̣c là vấn đề gây tranh luâ ̣n M Bakhtin đưa pha ̣m trù toán ho ̣c không – thời gian (chronotop) gắn với lý thuyết tương đối của Einstein vào văn ho ̣c, thể hiê ̣n thời gian và không gian không tách rời nhau trong mọi biến cố, hoa ̣t đô ̣ng của con người (thời gian là chiều thứ tư của không gian) Bakhtin viết: “Ở đây thời gian cô đă ̣c, lèn chă ̣t trở thành chín muồi mô ̣t cách nghê ̣ thuật; còn không gian thì căng lên và kéo dài trong vâ ̣n đô ̣ng của thời gian, cốt truyê ̣n,
lịch sử Các tính chất của thời gian mở ra trong không gian, còn không gian thì được
cảm nhâ ̣n và biến đổi trong thời gian” Sự hòa trô ̣n đó là đă ̣c điểm của chronotop Bakhtin nêu ra đă ̣c điểm của chronotop như sau: Mỗi thể loa ̣i văn ho ̣c có mô ̣t bô ̣ không – thờ i gian, theo đó mà có thể phân loa ̣i tác phẩm [tr.87]
1.3 Nguyễn Huy Thiệp – và tác phẩm Tướng về hưu
Khi dừ ng trước những bước ngoă ̣t li ̣ch sử của đất nước các nhà văn thường đứng trước mô ̣t tình thế mới, đầy thử thách Cuô ̣c sống đang mở ra trước mắt ho ̣ những điều
mớ i mẻ so với những vùng hiê ̣n thực đã quá quen thuô ̣c đối với nhà văn Có người
dừ ng la ̣i như để tìm nguồn lực mới, có người tưởng như con tằm đã nhả hết tơ cho
một thời đã qua, khó lòng mang đến cho đời những dòng tơ mới óng ả hơn Có người
vật vã trăn trở nhưng chỉ dừng la ̣i với những giá tri ̣ thời rực rỡ đã qua mà không sáng
tạo ra những gì mới mẻ hơn Nguyễn Huy Thiê ̣p sau mười năm sống gắn bó với vùng miền núi Tây Bắc, nay trở về để gieo ha ̣t mầm mới cho nền văn chương thời kỳ đổi
mớ i
Trang 18Được coi là mô ̣t hiê ̣n tượng đô ̣c đáo của văn ho ̣c Viê ̣t Nam thời kỳ đổi mới, sáng
tác của Nguyễn Huy Thiê ̣p đã vượt ra ngoài quỹ đa ̣o của văn ho ̣c sử thi để tiếp câ ̣n hiện thực khách quan hơn, sâu sắc hơn Có thể nói không quá rằng, mô ̣t mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên được diê ̣n ma ̣o của nền văn ho ̣c Viê ̣t Nam sau 1975 đến nay, nhưng nhà văn đã đào xới lên nhiều vấn đề thuô ̣c về bản chất văn ho ̣c, ta ̣o nên
sứ c bâ ̣t khỏi ảnh hưởng văn ho ̣c trước 1975, từ đó đưa văn ho ̣c Viê ̣t Nam đi xa hơn,
vững vàng hơn trên hành trình đổi mới, hòa nhâ ̣p vào biển cả văn ho ̣c hiê ̣n đa ̣i của thế giớ i
Tướng về hưu là mô ̣t trong những tác phẩm nổi bâ ̣t của Nguyễn Huy Thiê ̣p, lần đầu
được in trên báo Văn Nghê ̣ số 20/06/1987 của Hô ̣i Nhà văn Viê ̣t Nam Nó lâ ̣p tức trở thành mô ̣t hiê ̣n tượng văn ho ̣c và được nhà xuất bản trẻ tuyển cho ̣n in trong tâ ̣p truyê ̣n ngắn với tựa đề Tướng về hưu, nhà xuất bản Văn hóa, năm 1989 cũng cho ra mô ̣t tâ ̣p
gồ m 11 truyê ̣n lấy tên là Những ngọn gió Hua Tát… tuy mới xuất hiê ̣n nhưng Tướng
vê ̀ hưu được xem như mô ̣t truyê ̣n ngắn đỉnh cao trong sự nghiê ̣p sáng tác của Nguyễn
Huy Thiệp Nó chẳng những góp phần đi ̣nh hình phong cách của nhà văn mà còn mở
ra một thời kỳ mới cho nền văn ho ̣c Viê ̣t Nam, đoa ̣n tuyê ̣t với quá khứ, viết “…lời ai
điếu cho một thời văn nghê ̣ minh họa” (Nguyễn Minh Châu), đưa văn chương trở về
đúng với bản chất của nó
Có thể nói Tướng về hưu mang dung lượng mô ̣t tiểu thuyết được tác giả nén la ̣i
trong 20 trang nên khiến nó tiềm tàng mô ̣t nô ̣i lực có khả năng công phá như mô ̣t “trái bom nghệ thuâ ̣t”, mang đến cho người đo ̣c những nhâ ̣n thức không giống nhau, thâ ̣m chí trái ngược nhau Mô ̣t vài nhà phê bình còn cho rằng Nguyễn Huy Thiê ̣p “chơi trò phù thủy” Tác giả thả “âm binh” vào giữa những dòng chữ, và chính những âm binh
này đã giúp ông thầy cao tay ấn “su ̣c tung (bùn) lên thoát thành bướm và hoa (lời ông
Tân Dân trong Gio ̣t máu)” [17, tr.2] Quả thâ ̣t là như vâ ̣y Cứ để ý mà xem, mỗi lần
đo ̣c la ̣i Tướng về hưu chúng ta vẫn có mô ̣t cảm giác khó chi ̣u, có cái gì đó ẩn sau
những con chữ khiến chúng ta cứ tò mò, muốn lâ ̣t ra xem cho rõ, nhưng lâ ̣t mãi mà vẫn không thấy hài lòng Tác giả đã “bỏ bùa” lên tác phẩm của mình, để người đo ̣c,
một khi bi ̣ mê hoă ̣c thì khó lòng thoát ra được
Trang 19Truyện ngắn Tướng về hưu được Nguyễn Huy Thiê ̣p viết ra, dù có hư cấu nhiều
đi chăng nữa, cũng chỉ nhằm phơi bày mô ̣t mă ̣t hiê ̣n thực mô ̣t cách triê ̣t để, trần tru ̣i,
một hiê ̣n thực cay đô ̣c mà la ̣nh tanh làm hầu hết chúng ta nhức nhối, chua xót Đo ̣c
Tướng về hưu, tác giả buô ̣c chúng ta phải đối diê ̣n với mô ̣t hiê ̣n thực phũ phàng đồng
thờ i nói cho chúng ta biết, chúng ta cần xác đi ̣nh rõ ràng chúng ta đang ở đâu, thực trạng xã hô ̣i như thế nào Từ đó dự báo những vấn đề đă ̣t ra cần giải quyết Tác phẩm thể hiện sự “nhâ ̣n thức la ̣i”, sự trăn trở, kiếm tìm chân lý sống, khắc khoải với nỗi đau đớn của con người trong xã hô ̣i đầy biến đô ̣ng dữ dô ̣i Là mô ̣t nhà văn có lương tri và trách nhiê ̣m, Nguyễn Huy Thiê ̣p đã khắc phu ̣c tình tra ̣ng “tráng một lớp men trữ tình
hơi dày” (Nguyễn Minh Châu) của văn ho ̣c trước đó, ta ̣o ra mô ̣t tấm gương phản
chiếu giúp con người nhìn la ̣i và tìm la ̣i chính mình Chính những điều trên đã ta ̣o nên
“lực hút” của Tướng về hưu đồng thời lý giải được nguyên nhân sức sống bền vững
củ a tác phẩm, dù đã hơn hai mươi năm trôi qua
Trong tác phẩm Tướng về hưu, yếu tố không gian và thời gian được tác giả đề câ ̣p
tớ i khá nhiều, những lúc muốn đề câ ̣p tới mô ̣t câu chuyê ̣n khác tác giả đều dẫn mốc thờ i gian để kể Có thể nói yếu tố không gian và thời gian như mô ̣t móc xích quan trọng để liên kết, để nối những câu chuyê ̣n nhỏ trong tác phẩm la ̣i với nhau thành mô ̣t
tác phẩm hoàn chỉnh Đọc sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, nhất là tác phẩm Tướng về
hưu, người đọc thường có những trải nghiệm mới, những chiêm nghiệm mới về cuộc
đời mà nhà văn đã gửi gắm vào trong đứa con đẻ tinh thần của họ mà trước đó tác giả
đã trải qua một quá trình thai nghén lâu dài Những mảng khối không gian thời gian trong tác phẩm giúp độc giả có những khám phá trên những đường nét mà nhà văn xây dựng, hiểu hơn về những điều mà nhà văn gửi gắm
Trang 20CHƯƠNG II BIỂU THỨC CHIẾU VẬT KHÔNG GIAN TRONG TƯỚNG VỀ
HƯU CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
2.1 Thống kê, phân loại biểu thứ c chiếu vâ ̣t không gian trong Tướng về hưu của
Nguyễn Huy Thiê ̣p
2.1.1 Tiêu chí phân loại
Trong biểu thứ c chiếu vâ ̣t không gian có hai loa ̣i chiếu vâ ̣t không gian, đấy là chiếu vâ ̣t không gian chủ quan và chiếu vâ ̣t không gian khách quan
Như chúng ta biết, biểu thức chiếu vâ ̣t gồm có bốn yếu tố ta ̣o thành, đó là:
+ Chỉ xuất hay là người đi ̣nh vi ̣ (S)
+ Sự vâ ̣t được chỉ xuất; sự vâ ̣t – nghĩa chiếu vâ ̣t (Y)
+ Hướng
+ Sự vâ ̣t mốc hay là điểm mốc (X)
Theo Đỗ Hữu Châu, định vị không gian chủ quan lấy vị trí của vai nói làm mốc: “Định vị không gian thường nằm trong cặp đối lập gần/xa Gần là gần vị trí vai
nói khi nói Xa cũng là xa với vị trí đó” [3, tr.17] Ví dụ: cái áo này, cái áo kia…
Ứng dụng quan niệm trên vào phân tích biểu thức chiếu vật không gian chủ
quan trong tác phẩm Tướng về hưu, chúng tôi thấy có những nét đặc biệt Người kể chuyện trong Tướng về hưu này đồng thời là một nhân vật của tác phẩm, đó là anh
Thuần, con tướng Thuấn Nhân vật này xưng “tôi” khi kể chuyện và do đó đã trở thành một vai nói Vì vậy, những biểu thức chiếu vật không gian khách quan, dưới lời nói của Thuần đã trở thành biểu thức chiếu vật không gian chủ quan
Ví dụ: Tối thứ hai, tôi đang xem tivi thì nghe tiếng “huy ̣ch”, vô ̣i cha ̣y ra ngoài thấy me ̣ tôi ngã gục góc vườn [tr.25, 26]
Góc vườn trong so sánh với giữa vườn, là chiếu vật không gian khách
quan.Nhưng trong tác phẩm này, góc vườn được so sánh với vị trí của người nói (là
nhân vật “tôi”) nên trở thành biểu thức chiếu vật chủ quan
Trong cuốn Cơ sở ngữ dụng học (tâ ̣p mô ̣t), GS.TS Đỗ Hữu Châu cho rằng
chiếu xuất khách quan là sự chiếu xa ̣ của chiếu xuất chủ quan do đó chỉ xuất khách quan luôn luôn có tính tương đối Trong chỉ xuất khách quan có sự chi phối của chỉ xuất chủ quan
Trang 21Trong các phương tiê ̣n chuyên dùng để chỉ xuất không gian chủ quan của tiếng Việt là các chỉ từ Trong các biểu thức chỉ từ chỉ có hai tham tố, hiê ̣n diê ̣n trong biểu thứ c là sự vâ ̣t được chỉ xuất (sự vâ ̣t – nghĩa chiếu vâ ̣t) và sự vâ ̣t mốc, sự vâ ̣t trung tâm
2.1.2 Biểu thức chiếu vật không gian chủ quan
Qua thống kê và phân loại của chúng tôi, trong tác phẩm Tướng về hưu có 19
biểu thức chiếu vật không gian chủ quan với số lượt sử dụng là 19 lượt, chiếm 13,9% trong tổng số biểu thức chiếu vật Sau đây là những biểu thức chiếu vật không gian chủ quan trong tác phẩm:
(1) đi vào
Ví dụ: Tôi đang đọc ta ̣p chí Sputnhich, cha tôi lă ̣ng lẽ đi vào” [tr.23]
Đây là câu nói của nhân vật “tôi”, tức là người kể chuyện, lấy vị trí của anh ta
làm mốc là trong phòng Nhân vật cha tôi từ bên ngoài đi vào phòng (đi vào) Đây là
một biểu thức chiếu vật không gian chủ quan
(2) xuống bếp
Vd: Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám [tr.24]
Vai nói là nhân vật tôi, người kể chuyện Điểm mốc là căn phòng ở nhà trên, nơi anh Thuần đang đọc tạp chí Việc “cha tôi dắt tôi xuống bếp” là một hành động
dời chỗ có hướng của nhân vật từ không gian mốc là căn phòng đọc sách trên nhà trên xuống căn bếp của gia đình Đây là biểu thức chiếu vật chủ quan
(3) đám ma này
Vd: Tao hỏ i đám ma này thì ai chủ trì kinh tế? [tr.28]
Đám ma này là không gian được chỉ xuất Ở đây, đám ma này là đám ma đang
diễn ra ở nhà Thuần – đám ma bà Thuấn, Ông Bổng là vai nói, đang ở trong đám ma
bà Thuấn
(4) va ̀o nhà
Vd: Tôi đưa cho ông bốn nghìn rồi vào nhà [tr.28]
Lấy vị trí đứng của vai nói là nhân vật tôi là điểm mốc, chúng ta xác định được nhân vật tôi đang ở bên ngoài nhà, cụ thể ở đây là ngoài sân Anh Thuần có hành động
thay đổi không gian là “vào nhà” Biểu thức này dưới lời nói của Thuần đã trở thành biểu thức chiếu vật không gian chủ quan
(5) ra nghi ̃a đi ̣a
Trang 22Vd: Từ nhà tôi ra nghĩa đi ̣a đi tắt chỉ năm trăm mét nhưng đi đường chính qua
cổng làng phải hai cây số [tr.29]
Điểm mốc ở đây là nhà tôi được kể qua vai nói là Thuần và cũng là tác giả, nhà tôi là nơi nhân vật Thuần đang ở, điểm đến là nghĩa địa, đây là định vị chủ quan
(6) ba ̃i tha ma này
Vd: Ba ̃i tha ma này có bao nhiêu người lừa lo ̣c [tr.30]
Bãi tha ma này là chỉ xuất không gian của chính nhân vật tôi, được thực hiện
qua vai nói là nhân vật tôi Người kể đồng thời là nhân vật tôi (Thuần) đang đứng
ngay tại bãi tha ma để chỉ xuất về bãi tha ma mà mình đang đứng, là bãi tha ma này
Đây là một biểu thức chiếu vật không gian chủ quan
(7) trong giường
Vd: Một bâ ̣n thấy trong giường của vợ tôi có mô ̣t tâ ̣p thơ chép tay [tr.32]
Thấy trong giường, vậy thì nhân vật tôi – tức là Thuần – vai nói đang ở phía
ngoài giường Đây là một biểu thức chiếu vật không gian chủ quan qua vai nói là nhân vật Thuần
(8) về muô ̣n
Vd: Một hôm bâ ̣n trực cơ quan nên tôi về muộn [tr.32]
Chúng ta xác định vai nói là nhân vật Thuần Đọc tác phẩm, chúng ta hiểu được sự thay đổi không gian trong câu nói của Thuần từ không gian cơ quan là viện Vật lý về không gian nhà là không gian gia đình Đây là một biểu thức chiếu vật không gian chủ quan trong tác phẩm
(9) go ́c vườn hoa
Vd: Tôi dắt xe đến ngồi ở mô ̣t góc vườn hoa như mô ̣t tên du thủ du thực
[tr.32]
Góc vườn hoa trong so sánh với giữa vườn hoa, là chiếu vật không gian khách
quan Nhưng trong tác phẩm này, góc vườn trùng với vị trí của người nói (là nhân vật
“tôi”) nên trở thành biểu thức chiếu vật chủ quan
(10) va ̀o thư viê ̣n
Vd: Tôi va ̀ o thư viê ̣n mượn thử ít sách [tr.32]
Cũng là vai nói của nhân vật Thuần được lấy làm điểm mốc, Thuần vào thư
viện mượn sách, không gian thư viện là không gian được chiếu vật với không gian ở
Trang 23bên ngoài thư viện, không gian của Thuần đang hoạt động Đây là biểu thức chiếu vật không gian chủ quan trong tác phẩm
(11) la ̀ng này
Vd: Ông Bổng bảo: “Không sao, bây giờ cả làng này chết tao cũng đủ tiền đi
đò nhét vào miê ̣ng ho ̣” [tr.35]
Được người kể đồng thời là nhân vật tôi kể lại từ lời nói của nhân vật ông Bổng Qua vai nói là nhân vật ông Bổng trong lời nói của mình, làng này được ông Bổng chỉ xuất cho làng mà có gia đình Thuần đang sinh sống, có gia đình ông Bổng
đang sinh sống, là làng có họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ
Vũ Làng này là làng Ông Bổng đang có mặt đây, xét trong tương quan vị trí mà ông
Bổng đang có mặt Vì vậy đây là biểu thức chiếu vật không gian chủ quan
(12) nước mình
Vd: Ông bảo: “Nước mình thâ ̣t đe ̣p như tranh” [tr.36]
Xét vị trí của nước mình và nước bạn trong tương quan vị trí của nhân vật Đây là vai
nói được xác định là của ông Bổng và lời nói của ông Bổng được nói ngay tại vị trí là
nước mình ông Bổng đang chỉ xuất không gian nước mình với những nước khác, vì
vậy đây là chỉ xuất không gian chủ quan nằm trong tác phẩm
(13) nơi khác
Vd: Vợ tôi bảo: “Ta ̣i chú quen đấy Ở nơi khác cũng thế, ho ̣ la ̣i thấy yêu Hà
Nội” [tr.36]
(14) ra thuê xe, về nha ̀
Vd: Tôi ra thuê xe, vê ̀ nhà đã thấy go ̣n đâu vào đấy [tr.36]
Trang 24(18) ở đây
Vd: Có người nằm lăn ra nói: “Mát thâ ̣t, không bâ ̣n thì cứ ngủ ở đây đến tối”
[tr.29]
(19) trong na ̀y
Vd: Ông bảo: “Trong này cha có ghi chép ít điều, con đo ̣c thử xem” [tr.34]
2.1.3 Biểu thư ́ c chiếu vật không gian khách quan
Qua thống kê và khảo sát của chúng tôi, trong tác phẩm này có 44 biểu thức chiếu vật không gian khách quan với số lượt sử dụng là 50 lượt, chiếm 32,1% Sau đây là những biểu thức chiếu vật không gian khách quan:
(1) trong la ̀ng
+ Vd: Trong la ̀ ng, ho ̣ Nguyễn là ho ̣ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua ho ̣ Vũ
[tr 16]
Trong làng là không gian chiếu vật được định vị khách quan so sánh với điểm mốc
là ngoài làng Vì vậy đây là một biểu thức chiếu vật không gian khách quan
+ Vd: Sau này, trẻ con trong làng kháo bô ̣ đô ̣i bắn hai mốt phát đa ̣i bác viếng
bà Thuấn [tr.31]
(2) về làng
Vd: Khoảng năm…cha tôi về làng lấy vợ [tr.16]
Điểm mốc không gian nơi ông Thuấn công tác Làng là không gian không thể
thay đổi hay tác động được, là không gian khách quan trong tác phẩm
(3) ra trận đi ̣a, lên chốt
Vd: Ông Chưởng bảo: “Cu ̣ ra trận đi ̣a, đòi lên chốt” [tr.36]
Đây là lời nói của ông Chưởng giải thích về cái chết bất ngờ của ông Thuấn Tướng
Thuần đi thăm đơn vị cũ Điểm mốc là nơi đơn vị đóng quân, ra trận địa, lên chốt là
một biểu thức chiếu vật không gian khách quan
(4) vào phích đá
Vd: Thủ y cho vào phích đá đem về [tr.23]
Điểm mốc là phía ngoài phích đá, được nhìn từ vai nói là nhân vật Thủy, đây là
chiếu vật không gian khách quan
(5) ra tâ ̣n kênh đào
Vd: Không giũ ở nhà mà mang ra tận kênh đào [tr.26]
Trang 25(6) trên giường
Vd: Bà ấy cứ xoay ngang, xoay do ̣c trên giường như thế này là gay go đấy!
[tr.26]
Trên giường là không gian được nhìn từ vai nói của nhân vật ông Bổng, ở vị trí
của ông Bổng Vì vậy, đây là một biểu thức chiếu vật không gian khách quan
(7) Dưới dãy nhà ngang/ dưới nhà ngang
Vd: Cha tôi muốn ở mô ̣t phòng dưới dãy nhà ngang giống như me ̣ tôi [tr 20]
Vd: Cha con ông ở dưới nhà ngang, sinh hoa ̣t riêng rẽ nhưng mo ̣i chế đô ̣ thì do
vợ tôi chu cấp [tr.18]
Dãy nhà ngang là không gian ổn định, so sánh với điểm mốc là trên nhà chính Dãy nhà ngang là nơi ở của bà mẹ nhân vật Thuần – bà Thuấn, cũng là nơi ở của ông
Cơ và cô Lài Đây là một biểu thức chiếu vật không gian khách quan
Vd: Tôi được ho ̣c hành, được du ngoại
(12) đi xem giơ ̀
Vd: Ông Bổng bảo: “Tôi đi xem giờ…” [tr.30]
(13) sang chơi
Vd: Ông bảo: “Thằng Khổng sang chơi từ châ ̣p tối…” [tr.32]
(14) gửi về Thanh Ho ́a
Vd: bảo khắc mô ̣t cái bia đá gửi về Thanh Hóa đánh dấu mô ̣ vợ
[tr.34]
(15) lên ga ́ c
Vd: Cha tôi lắc đầu, bỏ đi lên gác [tr.32]
(16) lên xe
Trang 26Vd: Trước khi lên xe, cha tôi lấy trong ba lô ra quyển vở ho ̣c sinh
[tr.34]
(17) ra trâ ̣n
Vd: Cái Vi hỏi: “Đường ra trận mùa này đe ̣p lắm có phải không ông?”
[tr.34]
(18) đi Cao Bằng
Vd: Xe đi Cao Bă ̀ ng theo đường số mô ̣t [tr.36]
(19) đi thăm nha ̀ tôi
Vd: Ông Chưởng đi thăm nhà tôi, có ông Cơ hướng dẫn [tr.31]
(20) đi công ta ́ c phía Nam
Vd: Cơ quan đi ̣nh cử tôi đi công tác phía Nam [tr.33]
(21) đư ́ ng ngoài
Vd: Tôi ra thấy Khổng đứng ngoài [tr.35]
(22) trong nghi ̃a trang liê ̣t sĩ
Vd: Mộ của cha tôi đă ̣t trong nghĩa trang liê ̣t sĩ [tr.36]
(23) về tâ ̣n nơi
Vd: Cha tôi đưa về tận nơi bằng xe tắcxi thuê riêng [tr.24]
(24) về thăm quê
Vd: Đa ̣i để ông muốn về thăm quê [tr.24]
(25) bên đống va ́ n
Vd: Ông Cơ loay hoay bên đống ván vợ tôi cho xẻ hôm trước [tr.27]
(26) đi Thanh Ho ́a
Vd: Cha tôi đi Thanh Ho ́ a cùng ông Cơ và cô Lài vào sáng chủ nhâ ̣t
[tr.25]
(27) đến
Vd: Phường bát âm đến bốn người [tr.28]
(28) bên quan ta ̀i
Vd: Khi nghỉ, đứng ngồi ngổn ngang ngay bên quan tài [tr.29]
(29) ra mô ̣
Vd: Ông Chưởng, phó của cha tôi bây giờ lên tướng, ra mộ thắp hương
[tr.31]
Trang 27(30) về thăm
Vd: Sáng mồng ba, Kim Chi đi xích lô bế con về thăm [tr.31]
(31) đi
Vd: Tôi nghĩ cha tôi không nên đi nữa nhưng nói ra bất tiê ̣n [tr.33]
(32) đi cha ̀o làng nước, ra cả ngoài mộ, lên trời
Vd: Cha tôi đi cha ̀ o làng nước mô ̣t lượt, ra cả ngoài mộ me ̣ tôi, la ̣i bảo
anh Thanh bắn ba phát súng lên trời [tr.34]
(33) ra đi
Vd: Tôi cũng không ngờ những điều như thế la ̣i là điềm báo chuyến này
cha tôi ra đi không về [tr.34]
(34) dươ ́ i ao
Vd: Số là ông Cơ cùng với ông Bổng vớt bùn dưới ao [tr.34]
(35) đến xem, lô ̣i xuống đào
Vd: Thủ y đến xem, cũng lội xuống đào [tr.34]
(36) đi thuê ma ́ y bơm
Vd: Vợ tôi bắt phải ngăn ao, la ̣i đi thuê máy bơm Côle về tát nước
[tr.34,35]
(37) trong chẳng co ́ gì
Vd: Hì hu ̣c mô ̣t ngày đào được hai cái chum sứt trong chẳng có gì
Vd: Cha tôi ra tiê ́p [tr.28]
(42) trong gia đi ̀nh
Trang 28Vd: Tuy thế, ở trong gia đình, cha tôi bao giờ cũng là hình ảnh của niềm
vinh dự, tự hào [tr.17]
(43) gần tha ̀ nh phố
Vd: Làng tôi tuy gần thành phố nhưng mà tâ ̣p tu ̣c nông thôn còn giữ
[tr.18]
(44) trên phố
Vd: Trên phô ́ da ̣o này nhiều người nuôi chim ho ̣a mi, chim ve ̣t [tr.19]
2.2 Cấu ta ̣o của các biểu thức chiếu vâ ̣t không gian
Các biểu thức chiếu vâ ̣t không gian được cấu ta ̣o theo những mô hình cấu tạo sau:
- Thứ nhất là những biểu thức chiếu vâ ̣t không gian có cấu ta ̣o mô ̣t giới từ kết
hợp với mô ̣t chỉ từ cho ta mô ̣t cu ̣m từ chiếu vâ ̣t
- Thứ hai, là biểu thức chiếu vâ ̣t có cấu ta ̣o là một chỉ từ
- Thứ ba, biểu thức chiếu vật không gian có cấu tạo là một cu ̣m danh từ với danh từ ở trung tâm và chỉ từ ở vi ̣ trí cuối (biểu thức chỉ từ)
- Thứ tư, biểu thức chiếu vật không gian chỉ có mô ̣t giới từ hoă ̣c mô ̣t đô ̣ng từ
kết hợp với đi ̣a điểm đi kèm
- Thứ năm là biểu thức chiếu vật không gian chủ quan chỉ có mô ̣t đô ̣ng từ mà không có các từ chỉ đi ̣a điểm đi kèm
2.2.1 Biểu thư ́ c chiếu vật có cấu ta ̣o là một giới từ kết hợp với một chỉ từ
Giơ ́ i ngữ có thể đảm nhiê ̣m chức năng chiếu vật cho nên sự kết hợp nó với một biểu thư ́ c chỉ từ cũng đảm nhiê ̣m chức năng chiếu vật thành một cụm từ chiếu vật:
Mô hình cấu tạo: Giơ ́ i từ + chỉ từ (này, kia, nọ, đó, đây)
+ Trong (giơ ́ i từ) + này (chỉ từ)
Vd: Trongna ̀ y cha có ghi chép ít điều, con đo ̣c thử xem [tr.34]
+ Trong (giơ ́ i từ) + đó (chỉ từ)
Vd: Trong đo ́ thấy có các mẩu thai nhi bé xíu, thấy có cả những ngón tay nhỏ
hồng hồng [tr.24]
2.2.2 Biểu thức chiếu vật có cấu tạo là một chỉ từ
đây (biểu thức mô ̣t mình chỉ từ)
Vd: Mát thâ ̣t, không bâ ̣n thì cứ ngủ ở đây đến tối [tr.29]
Trang 292.2.3 Biểu thư ́ c chiếu vật có cấu tạo là một cụm danh từ với danh từ ở trung tâm và chi ̉ từ ở vi ̣ trí cuối (biểu thức chỉ từ)
Mô hình cấu tạo: danh tư ̀ + chỉ từ (này, kia, nọ, đó, đây)
+ đa ́ m ma (danh từ) + này (chỉ từ)
Vd: Tao hỏ i đám ma này thì ai chủ trì kinh tế [tr.28]
Trong biểu thứ c này, danh từ ở vi ̣ trí trung tâm (đám ma) biểu thi ̣ không gian được đi ̣nh vi ̣ tức sự vâ ̣t – nghĩa chiếu vâ ̣t Chỉ từ này đi ̣nh vi ̣ không gian đám ma trong
tương quan với người nói
+ Ba ̃i tha ma (danh từ) + này (chỉ từ)
Vd: Ba ̃i tha ma này có bao nhiêu người lừa lo ̣c [tr.30]
Ở biểu thứ c này, danh từ bãi tha ma ở vi ̣ trí trung tâm biểu thi ̣ không gian được
đi ̣nh vi ̣ tức sự vâ ̣t – nghĩa chiếu vâ ̣t là không gian nghĩa đi ̣a Chỉ từ này đi ̣nh vi ̣ không
gian bãi tha ma trong tương quan với người nói
+ La ̀ng (danh từ) + này (chỉ từ)
Vd: Cả làng này chết tao cũng đủ tiền đi đò nhét vào miê ̣ng ho ̣ [tr.35]
Danh từ làng ở vi ̣ trí trung tâm biểu thi ̣ không gian được đi ̣nh vi ̣ tức sự vâ ̣t –
nghĩa chiếu vâ ̣t là không gian làng Chỉ từ này đi ̣nh vi ̣ không gian làng trong tương
quan vớ i người nói
2.2.4 Biểu thức chiếu vật không gian chi ̉ có một giới từ hoă ̣c một động từ kết hợp
vơ ́ i đi ̣a điểm đi kèm
Mô hình câ ́u tạo: giới từ hoặc động từ + danh từ chỉ đi ̣a điểm
(1) Trong (giơ ́ i từ chỉ không gian) + làng (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Trong la ̀ ng, ho ̣ Nguyễn là ho ̣ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua ho ̣ Vũ
[tr.16]
(2) về (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + nhà (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Ông vào bô ̣i đô ̣i, ít khi về nhà [tr.16]
(3) về (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + làng (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Khoảng năm…cha tôi về làng lấy vợ [tr.16]
(4) trong (giơ ́ i từ chỉ không gian) + gia đình (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Tuy thế, ở trong gia đình, cha tôi bao giờ cũng là hình ảnh của niềm
vinh dự, tự hào [tr.17]
Trang 30(5) trong (giơ ́ i từ chỉ không gian) + họ, làng (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi cha tôi cũng được mo ̣i người ngưỡng
vọng [tr.17]
(6) về (đô ̣ng từ) + nhà (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Cha tôi vê ̀ nhà, đồ đa ̣c đơn sơ [tr.18]
(7) dươ ́ i (giới từ) + nhà ngang (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Cha con ông ơ ̉ dưới nhà ngang, sinh hoa ̣t riêng rẽ nhưng mo ̣i chế đô ̣ thì
do vợ tôi chu cấp [tr.18]
(8) gần (giơ ́ i từ) + thành phố (đi ̣a điểm)
Vd: Làng tôi tuy gần thành phố nhưng mà tâ ̣p tu ̣c nông thôn còn giữ
[tr.18]
(9) trên (giơ ́ i từ) + phố (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Trên phô ́ da ̣o này nhiều người nuôi chim ho ̣a mi, chim ve ̣t [tr.19]
(10) trong (giơ ́ i từ chỉ không gian) + nhà (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Cha tôi cho mỗi ngườ i trong nhà bốn mét vải lính [tr.20]
(11) dưới (giới từ chỉ không gian) + dãy nhà ngang (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Cha tôi muốn ở mô ̣t phòng dưới dãy nhà ngang giống như me ̣ tôi
[tr.20]
(12) dưới (giới từ chỉ không gian) + mái nhà mình (danh từ riêng)
Vd: Hơn năm mươi năm, đây là lần đầu tôi ăn tết mồng ba tháng ba dưới mái
nha ̀ mình [tr.20, 21]
(13) vào (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + phích đá (danh từ)
Vd: Thủ y cho vào phích đá đem về [tr.23]
(14) lên (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + nhà (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Ông bỏ lên nhà [tr.24]
(15) về (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + quê (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Đa ̣i để ông muốn về thăm quê [tr.24]
(16) ra (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + tận kênh đào (danh từ chỉ đi ̣a
điểm)
Vd: Không giũ ở nhà mà mang ra tận kênh đào [tr.26]
(17) trên (giơ ́ i từ chỉ không gian) + giường (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Trang 31Vd: Bà ấy cứ xoay ngang, xoay do ̣c trên giường như thế này là gay go đấy!
[tr.26]
(18) vào (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + nhà (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Tôi đưa cho ông bốn nghìn rồi vào nhà [tr.28]
(19) ra (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + nghĩa đi ̣a (danh từ chỉ đi ̣a điểm
đi kèm)
Vd: Từ nhà tôi ra nghĩa đi ̣a đi tắt chỉ năm trăm mét nhưng đi đường chính
qua cổng làng phải hai cây số [tr.29]
(20) ra (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + mộ (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Ông Chưởng, phó của cha tôi bây giờ lên tướng, ra mộ thắp hương
[tr.31]
(21) trong (giơ ́ i từ chỉ không gian) + làng (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Sau này, trẻ con trong làng kháo bô ̣ đô ̣i bắn hai mốt phát đa ̣i bác viếng
bà Thuấn [tr.31]
(22) trong (giơ ́ i từ chỉ không gian) + giường (danh từ)
Vd: Một bâ ̣n, thấy trong giường của vợ tôi có mô ̣t tâ ̣p thơ chép tay [tr.32]
(23) đến (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + góc vườn hoa (danh từ chỉ đi ̣a
điểm)
Vd: Tôi dắt xe đến ngồi ở mô ̣t góc vườn hoa như mô ̣t tên du thủ du thực
[tr.32]
(24) đi lên (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + gác (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Cha tôi lắc đầu, bỏ đi lên gác [tr 32]
(25) vào (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + thư viê ̣n (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Tôi va ̀ o thư viê ̣n mượn thử ít sách [tr.32]
(26) đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + phía Nam (danh từ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Cơ quan đi ̣nh cử tôi đi công tác phía Nam [tr.33]
(27) đi, ra, lên (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + làng nước, mộ, trời
(danh tư ̀ chỉ đi ̣a điểm)
Vd: Cha tôi đi cha ̀o làng nước mô ̣t lượt, ra cả ngoài mộ me ̣ tôi, la ̣i bảo anh
Thanh bắn ba phát súng lên trời [tr.34]
Trang 32(28) ra (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + trận (trận mạc, danh từ chỉ đi ̣a
điểm)
Vd: Đường ra trận mùa này đe ̣p lắm có phải không ông? [tr.34]
(29) dưới (giới từ chỉ không gian) + ao (danh từ)
Vd: Số là ông Cơ cùng với ông Bổng vớt bùn dưới ao [tr.34]
(30) đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + đò (danh từ)
Vd: Không sao, bây giờ cả làng này chết tao cũng đủ tiền đi đò nhét vào
miệng ho ̣ [tr.35]
(31) ra, về (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + thuê xe, nhà (danh từ)
Vd: Tôi ra thuê xe, vê ̀ nhà đã thấy go ̣n đâu vào đấy [tr.36]
(32) đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + Cao Bằng (danh từ chỉ đi ̣a
điểm)
Vd: Xe đi Cao Bă ̀ ng theo đường số mô ̣t [tr.36]
(33) ra, lên (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng) + trận đi ̣a, chốt (danh từ chỉ
đi ̣a điểm)
Vd: Cụ ra trận đi ̣a, đòi lên chốt [tr.36]
(34) trong (giơ ́ i từ chỉ không gian) + nghĩa trang liê ̣t sĩ (danh từ chỉ đi ̣a
điểm)
Vd: Mộ của cha tôi đă ̣t trong nghĩa trang liê ̣t sĩ [tr.36]
2.2.5 Biểu thức chiếu vật không gian chỉ co ́ một động từ hoă ̣c một giới từ mà không co ́ các từ chỉ đi ̣a điểm đi kèm
Với loại biểu thức chiếu vật này, độc giả có thể suy ra địa điểm bị tác giả tỉnh lược
(1) đi va ̀o (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng, không có từ chỉ đi ̣a điểm đi kèm)
Vd:
+ Vợ tôi đi vào nói với ông Cơ [tr.24]
+ Tôi đang đọc ta ̣p chí Sputnhich, cha tôi lă ̣ng lẽ đi vào [tr.23]
Ở câu trên, “đi vào” trong câu “Vợ tôi đi vào nói với ông Cơ” [tr.24], đọc tác phẩm chúng ta biết được địa điểm được ngụ ý nói tới trong câu trên là
vợ tôi đi từ ngoài vào nhà bếp nói với ông Cơ, vì trước đó, Ông Thuấn dắt nhân
vật Thuần xuống bếp, chỉ vào nồi cám…nhà bếp chính là địa điểm bị tác giả
Trang 33tỉnh lược Chỉ khi đọc hiểu tác phẩm, người đọc mới hiểu được địa điểm bị tác giả tỉnh lược
(2) vào (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng, không có các từ chỉ đi ̣a điểm đi kèm)
Vd: Tôi đỡ me ̣ tôi vào, bà cụ cứ gục mặt xuống [tr.26]
Ở câu này, chúng ta nhờ đọc tác phẩm mà biết được không gian mà tác giả đã tỉnh lược Tôi đỡ mẹ tôi vào Xét trong tác phẩm, sự việc mẹ tôi ngã gục góc vườn và sau đó nhân vật Thuần đỡ mẹ vào nhà, không gian mà tác giả đã tỉnh lược là nhờ chữ “vào”, độc giả biết được là không gian nhà ngang – nơi nằm nghỉ của bà Thuấn
(3) Về (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Một hôm, tôi đi làm về, cha tôi đứng ở dãy nhà vợ tôi nuôi chó và gà
công nghiệp [tr.21]
(4) sang (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Ông Bổng sang thăm [tr.26]
(5) đến (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng, không có các từ chỉ đi ̣a điểm đi kèm)
Vd: Phường bát âm đến bốn người [tr.28]
(6) đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Tôi đi xem giờ [tr.30]
(7) về (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Kim Chi đi xích lô bế con về thăm [tr.31]
(8) đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Vợ tôi bảo: “Nhà mình nói năng như điên khùng cả Thôi đi ăn [tr.31]
(9) về (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Một hôm bâ ̣n trực cơ quan nên tôi về muô ̣n [tr.32]
(10) sang (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Thằng Khổng sang chơi từ châ ̣p tối [tr.32]
(11) đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Thằng Khổng đi qua đi ̣nh giở trò đểu [tr.33]
(12) đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Tôi nghĩ cha tôi không nên đi nữa nhưng nói ra bất tiê ̣n [tr 33]
Trang 34(13) ra đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng Trong văn bản, cũng có nghĩa là
chê ́t)
Vd: Tôi cũng không ngờ những điều như thế la ̣i là điềm báo chuyến này cha
tôi ra đi không về [tr.34]
(14) đến, xuống (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Thủ y đến xem, cũng lô ̣i xuống đào [tr.34]
(15) đi, về (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Vợ tôi bắt phải ngăn ao, la ̣i đi thuê máy bơm Côle về tát nước [tr.35]
(16) trong (giơ ́ i từ chỉ không gian)
Vd: Hì hu ̣c mô ̣t ngày đào được hai cái chum sứt trong chẳng có gì [tr.35]
(17) trong (giơ ́ i từ chỉ không gian)
Vd: Mở ra trong thấy toàn mô ̣t chuỗi “Bảo Đa ̣i thông bảo” bằng đồng đã han
rỉ cả [tr.35]
(18) ra (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Tôi ra thâ ́y Khổng đứng ngoài [tr.35]
(19) về, đi (đô ̣ng từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Đường về vợ tôi bảo xe đi châ ̣m [tr.36]
(20) ra (từ chi ̉ sự dời chỗ có hướng) + ngoài (giới từ chỉ không gian, tức bên
ngoài ngôi nhà)
Vd: Tối thứ hai, tôi đang xem tivi thì nghe tiếng “huy ̣ch”, vô ̣i cha ̣y ra ngoài
thấy me ̣ tôi ngã gu ̣c góc vườn [tr.25, 26]
(21) về, đi (động từ chỉ sự dời chỗ có hướng)
Vd: Đường về vợ tôi bảo xe đi châ ̣m [tr.36]
2.3 Vai trò của các biểu thức chiếu vâ ̣t không gian trong Tướng về hưu
Trong tác phẩm Tướng về hưu, các biểu thức chiếu vâ ̣t không gian có vai trò hết
sứ c to lớn và quan tro ̣ng Tướng về hưu là tác phẩm văn ho ̣c mang tầm tư tưởng thời
đa ̣i Sở dĩ như vâ ̣y bởi vì có người cho rằng kể từ sau năm 1945, trong mấy chu ̣c năm trước đó, trên văn đàn, công chúng chỉ được đo ̣c những tác phẩm làng nhàng, vu ̣n vă ̣t
Và cũng vì như vâ ̣y mà tác phẩm không phải là “mảnh đất mới” chưa có người cày