Với những sáng tạo trong việc sử dụng lớp từ ngữ chỉ thời gian, Hàn Mặc Tử đã tạo nên thế giới nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét riêng của nhà thơ.. Từ chỉ thời gian trong tiếng Việt Có t
Trang 1- -
TRẦN THỊ HẰNG
Từ ngữ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Cấu trúc đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN XUNG QUANH ĐỀ TÀI 6
1.1 Khái quát về từ tiếng Việt 6
1.1.1 Các quan niệm về từ trong tiếng Việt 6
1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt 7
1.1.2.1 Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết 7
1.1.2.2 Từ có tính hoàn chỉnh về nghĩa 7
1.1.2.3 Từ có tính hoành chỉnh về cấu tạo 8
1.1.2.4 Từ có tính độc lập về cú pháp 8
1.1.3 Phân loại từ về mặt cấu tạo 8
1.1.3.1 Từ đơn 9
1.1.3.2 Từ phức 9
1.1.3.3 Cụm từ 11
1.2 Từ chỉ thời gian trong tiếng Việt 12
1.2.1 Khái niệm từ chỉ thời gian 12
1.2.2 Từ chỉ thời gian trong tiếng Việt 15
1.3 Khái quát về Hàn Mặc Tử- Thơ Hàn Mặc Tử 16
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp 16
Trang 31.3.2 Nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử 19
Trang 42.1 Khảo sát trên bình diện từ vựng 24
2.1.1 Từ Hán Việt 25
2.1.2 Từ thuần Việt 26
2.2 Khảo sát trên bình diện Ngữ pháp 26
2.2.1 Về cấu tạo 26
2.2.1.1 Cấu tạo từ 26
2.2.1.2 Cấu tạo cụm từ 31
2.2.2 Từ loại 33
2.2.2.1 Danh từ 34
2.2.2.2 Phó từ 34
2.3 Chức năng ngữ pháp trong cụm từ và trong câu 35
2.3.1 Chức năng ngữ pháp trong cụm từ 35
2.3.1.1 Cụm danh từ 35
2.3.1.2 Cụm tính từ 35
2.3.1.3 Cụm động từ 36
2.3.2 Chức năng ngữ pháp trong trong câu 37
2.3.2.1 Làm thành phần chủ ngữ 37
2.3.2.2 Làm thành phần vị ngữ 38
2.3.2.3 Làm thành phần trạng ngữ 38
2.3.2.4 Một số chức năng khác 38
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 40
3.1.Thời gian của thiên nhiên 40
3.1.1 Thời gian của tháng ngày 40
3.1.2 Thời gian của bốn mùa 43
Trang 53.2.2 Thời gian của niềm tin 49
3.3 Thời gian thể hiện khát khao, ước vọng 51
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hàn Mặc Tử (1912-1940) là một hiện tượng văn học kì lạ trong nền thi
ca Việt Nam hiện đại Trước mặc cảm của bệnh tật và cô đơn, ông đã sống trọn vẹn những phút giây ngắn ngủi còn lại cho sáng tạo nghệ thuật Tài năng của Hàn Mặc Tử được thể hiện trên nhiều lĩnh vực từ báo chí, nghiên cứu, phê bình cho đến thơ Trong đó, thơ ca đã làm nên tên tuổi và khẳng định được vị trí của ông trên thi đàn văn học
Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng nói chân thành của một trái tim tha thiết yêu cuộc sống, từ khát khao mãnh liệt đến đau đớn tột cùng Với thi sĩ, thơ đã trở thành một phép nhiệm màu để tồn tại, để sáng tạo và giải thoát những ẩn ức sâu thẳm của tâm hồn Người thơ ấy, suốt một đời sống trọn vẹn cho thơ và
chết cũng trở về với thơ:“Thơ là điều quan trọng nhất đối với Hàn Mặc Tử,
Hàn Mặc Tử sống nhờ thơ và vì thơ, nuôi tâm hồn mình bằng thơ và cho rằng
sứ mạng đối với ông là làm thơ” [8, tr 224]
Hàn Mặc Tử luôn khát khao và trăn trở đi tìm “cái lạ”, cái mãnh liệt,
cái tột cùng của cảm xúc Trong sâu thẳm cõi hư vô, tuyệt vọng thi sĩ đã xây dựng lâu đài khát vọng nghệ thuật thăng hoa trong cảm xúc Tất cả những trạng thái của cảm xúc tâm hồn, khát vọng sống và sáng tạo nghệ thuật mãnh
liệt đã làm nên dáng hình riêng của thi sĩ, một người “khách lạ đi giữa nguồn
trong trẻo” [8, tr.312] Không chỉ đưa người đọc đến với nỗi niềm u uất, Hàn
Mặc Tử còn sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật độc đáo, đa dạng, nhiều màu sắc, âm thanh Thế giới ấy thoát khỏi vẻ đẹp trần thế để bước vào cõi thâm
sâu trong tâm hồn của thi sĩ Từ tập thơ rất ngắn Gái quê đầy bẽn lẽn, ngập ngừng Hàn Mặc Tử đã dựng nên cả một thế giới kì dị của Thơ Điên Bước
Trang 7vào thế giới đó người ta say sưa, choáng ngợp trước muôn vàn cảnh sắc của
vườn thơ “rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh” (Hoài Thanh)
Khi đọc thơ Hàn Mặc Tử, ta gặp những cung bậc đa thanh về nỗi đau tâm hồn con người Hàn Mặc Tử làm lay động biết bao trái tim độc giả bởi những khát khao vô tận, khát khao đến tột cùng của cảm xúc Nét đặc sắc trong thơ Hàn Mặc Tử còn ở cách sử dụng, lựa chọn từ ngữ rất tinh tế Với những sáng tạo trong việc sử dụng lớp từ ngữ chỉ thời gian, Hàn Mặc Tử đã tạo nên thế giới nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét riêng của nhà thơ
Với niềm đam mê thơ Hàn Mặc Tử và cảm thương cho số phận của người thi sĩ bạc mệnh, chúng tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu thơ ông qua đề tài
“Từ ngữ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử”, để được sống và trải nghiệm
trong mạch thơ bất tận ấy Qua đó, góp tiếng nói vào việc phát hiện những đóng góp của nhà thơ Hàn Mặc Tử cho sự phát triển của tiếng Việt
2 Lịch sử vấn đề
Hàn Mặc Tử là một tài năng thơ lạ lùng, đầy phức tạp của phong trào thơ mới 1932-1945 Trong suốt thời gian qua, các nhà nghiên cứu, phê bình
đã tốn không ít công sức để đi“giải mã” về cuộc đời và thơ ông
Khi Hàn Mặc Tử còn sống thì dường như người ta chưa biết nhiều đến tên tuổi cũng như thơ ông Phải đến khi Hàn Mặc Tử giã từ cõi đời này, năm
1940 trong cái chết đau đớn thì cả làng thơ Việt Nam bỗng nhiên bừng tỉnh với những phát hiện lí thú về đời thơ của ông Hàng loạt bài viết phê bình, ca tụng, tôn vinh được viết lên như những lời tri ân sâu nặng, tiếc thương cho
một tài năng thi ca như: Hàn Mặc Tử (Bích Khê), Những kỉ niệm về Hàn Mặc
Tử (Trần Thanh Địch), Thơ Hàn Mặc Tử (Trọng Miên), Nhà văn Việt Nam
(Vũ Ngọc Phan)…Có thể thấy một số khuynh hướng nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu, sưu tầm tư liệu về cuộc đời Hàn Mặc Tử
Trang 8Tiêu biểu phải kể đến tác giả Phạm Xuân Tuyển trong công trình Đi tìm
chân dung Hàn Mặc Tử năm 1997 Tác giả đã giúp chúng ta có được một
cách nhìn toàn diện về cuộc đời của nhà thơ Ngoài ra có một số bài viết sưu
tầm khác như: Hàn Mặc Tử- hương thơm và mật đắng của Trần Thị Huyền Trang, Đôi nét về Hàn Mặc Tử của Quách Tấn, Nhớ Hàn Mặc Tử của Nguyễn Văn Xê, Một vài kỉ niệm về Hàn Mặc Tử của Hoàng Điệp…
Thứ hai, nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử thiên về góc độ phê bình
Có thể kể ra một số tên tuổi như: Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Chế Lan Viên, Mã Giang Lân, Lê Đình Kỵ, Vũ Ngọc Phan…Hầu hết các tác giả
đều cho rằng đây là một hồn thơ dào dạt và phức tạp với “những câu thơ đẹp
một cách lạ lùng” Tác giả Vũ Ngọc Phan đã đưa ra ý kiến đánh giá, nhận xét
về mảng thơ tình yêu của Hàn Mặc Tử:“Quan niệm về thơ tình yêu của ông
không được thanh cao, thiên về xác thịt” Chế Lan Viên thì khẳng định tài
năng của người bạn thơ như một thiên tài hiếm có trong lịch sử:“Mai sau,
những cái tầm thường, mực thước kia sẽ tan biến đi và còn lại của cái thời kì này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử” [5, tr 38] Trọng Miên cho rằng thơ
Hàn Mặc Tử là“một nguồn thơ tân kì làm bằng máu, bằng lệ, bằng hồn với
tất cả say sưa, rung động của một người hoàn toàn đau khổ” [8, tr.39] Trần
Thanh Mại trong bài viết Hàn Mặc Tử đã khẳng định rằng:“Hàn Mặc Tử là
người đầu tiên trong thế kỷ thứ XX mở một cuộc cải cách lớn cho văn chương Việt Nam và thành công một cách vinh quang rực rỡ” [6, tr.65] Tác giả Trần
Thanh Mại trong bài Nguồn cảm thụ lực ởHàn Mặc Tử cho rằng Hàn Mặc Tử
là nhà thi sĩ Việt Nam có cái nghệ thuật âm nhạc tài tình nhất [10, tr.56]
Phan Cự Đệ thì nhận xét về ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử:“Ngôn ngữ thơ do
Hàn Mặc Tử đáo luyện có vẻ đặc sắc vì sự lựa chọn tài tình của các từ ngữ hòa điệu và thú vị”[5, tr.461] Nguyễn Đăng Điệp cho rằng:“Hàn Mặc Tử đã thổi tất cả năng lực nội tâm đau thương vào những chữ, hóa thân chúng, tái
Trang 9sinh chúng, làm cho chúng thức dậy một lần cùng với màu sắc, vần điệu uyển chuyển, quyến rũ của lời thơ” [6, tr.163] Trần Tái Phùng trong bài viết Hàn Mặc Tử đã nhận xét về nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử:“Nghệ thuật chàng tựa một con sông dài đi xuyên qua thế kỷ chúng ta, và hai bờ sông dàn bày không biết bao nhiêu cảnh sắc khác nhau, đẹp đẽ đến say ngợp, đến tê liệt cả lòng người”[6, tr.65]
Thứ ba, nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử trong nét biểu hiện của Tôn giáo
Vấn đề tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử thời gian qua đã gây ra không
ít tranh luận trong giới nghiên cứu Vũ Ngọc Phan khẳng định:“Thơ tôn giáo
đã ra đời cùng với Hàn Mặc Tử Tôi dám chắc rồi đây con nhiều thi sĩ Việt Nam sẽ tìm nguồn cảm hứng trong Tôn giáo và đưa thi ca vào con đường triết học, con đường rất mới, rất xa xăm mà đến nay chưa mấy nhà thơ dám bước tới” Phan Cự Đệ cho rằng:“Có những hiện tượng trong thơ Hàn Mặc Tử vừa
có nguyên nhân từ bệnh lý, từ hoàn cảnh cô đơn, vừa có nguyên nhân từ những ảnh hưởng của tôn giáo” Đỗ Lai Thúy đã nhận định thơ Hàn Mặc Tử:
“Tư duy tôn giáo là một công cụ hữu hiệu để nâng cánh cho trực giác nghệ thuật tuyệt vời của thi nhân bay cao, bay xa vào cõi siêu hình”
Nhìn chung số lượng bài viết về tác giả Hàn Mặc Tử khá phong phú và
đa dạng Phần lớn các tác giả quan tâm tới thơ của Hàn Mặc Tử đều thiên nhiều hơn về góc độ phê bình nghiên cứu văn học Có nhiều ý kiến đánh giá trái ngược nhau về thơ Hàn Mặc Tử Dù khen hay chê người ta cũng không tránh khỏi ngạc nhiên trước một tài năng thơ lạ lùng, đầy bí ẩn Tuy nhiên, nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử ở góc độ ngôn ngữ đến nay vẫn chưa dành được sự quan tâm đúng mức của các nhà nghiên cứu
Ở đây, chúng tôi tìm hiểu về thơ Hàn Mặc Tử dưới góc độ ngôn ngữ
“Từ ngữ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử” là một vấn đề còn khá mới mẻ
Trang 10Tìm hiểu đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần vào quá trình khám phá nét đặc sắc trong thơ Hàn Mặc Tử
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài này là “Từ ngữ chỉ thời
gian trong thơ Hàn Mặc Tử” do tác giả Lữ Huy Nguyên sưu tầm, tuyển chọn
(1996), NXB Văn học Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân loại, thống kê
- Phương pháp phân tích, chứng minh
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp, khái quát
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm
có ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận xung quanh đề tài
Chương 2: Khảo sát từ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử
Chương 3: Giá trị biểu đạt của từ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN XUNG QUANH ĐỀ TÀI 1.1 Khái quát về từ tiếng Việt
1.1.1 Các quan niệm về từ trong tiếng Việt
Từ là một đơn vị quan trọng được bàn luận nhiều trong suốt quá trình
nghiên cứu của ngôn ngữ học Như F.de Sau đã viết:“…Từ là một đơn vị
luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn
cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” (F.d Saussure, Giáo
trình Ngôn ngữ học đại cương, HN, 1973, tr.111) Có thể kể đến một số khái niệm về từ tiếng Việt như sau:
A Mây yê:“Từ là sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp
âm nhất định, có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định”
[11, tr.36]
Bugada:“Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập có hình thức vật chất (vỏ
âm thanh và hình thức) và có nghĩa có tính chất biện chứng và lịch sử”
[13,tr.31]
Hồ Lê:“Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết
hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do,
do tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [9, tr 104].
Nguyễn Văn Tu:“Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng
độc lập mang ý nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp” [13, tr 33]
Nguyễn Kim Thản:“Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi
các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp”
[9, tr 38]
Trang 12Đỗ Thị Kim Liên:“Từ là đơn vị ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết
có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và vận dụng tự do để tạo nên câu”
[10, tr.15]
Nguyễn Thiện Giáp:“Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý
nghĩa và hình thức” [15, tr.61]
Đỗ Hữu Châu:“Từ của tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định,
bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu” [3, tr.122]
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều đưa ra những đặc điểm cơ bản nhất của từ Ở đây, chúng tôi dựa vào quan niệm về từ của G S Đỗ Hữu Châu làm cơ sở để thực hiện đề tài này
1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên, Hồ Lê, Hoàng Văn Hành…chúng tôi nêu ra những đặc điểm về từ tiếng Việt như sau:
1.1.2.1 Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết
Ví dụ: Một âm tiết: giờ, phút, giây,…
Hai âm tiết: mùa xuân, ngày ngày, buổi chiều, buổi trưa,…
Ba âm tiết trở lên: thiên niên kỷ, ngày xửa ngày xưa,…
1.1.2.2 Từ có tính hoàn chỉnh về nghĩa
Mặc dù được cấu tạo từ một, hai hoặc ba âm tiết nhưng luôn biểu thị một ý nghĩa nhất định, ý nghĩa đó không bị chia tách, phá vỡ trong giao tiếp
Ví dụ: Để biểu thị nỗi nhớ và cô đơn của người chinh phụ trông mong
người chồng ở biên ải xa, tác giả viết:
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
(Chinh phụ ngâm)
Trang 13Nghĩa của từ có thể là nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp
Ví dụ: - Ý nghĩa từ vựng: ngày, đêm, tháng, năm…
- Ý nghĩa ngữ pháp: đã, đang, sắp, sẽ…
Từ có thể mang nhiều tầng nghĩa (nghĩa đen, nghĩa bóng hay nghĩa
chính, nghĩa phụ…) và nhiều biểu hiện nghĩa khác nhau Theo quan điểm của
Đỗ Hữu Châu cũng như nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ khác, về mặt ngữ nghĩa, từ tiếng Việt được phân thành các loại khác nhau: từ nhiều nghĩa, từ
đồng nghĩa, từ đồng âm và từ trái nghĩa
1.1.2.3 Từ có tính hoành chỉnh về cấu tạo
Từ là một khối chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức cấu tạo, không thể chia tách hoặc chêm xen một yếu tố nào khác vào giữa từ Nếu chêm xen hoặc chia tách thì tổ chức cấu tạo từ thì sẽ bị phá vỡ và từ không giữ nguyên nghĩa ban đầu (chuyển sang cụm từ)
Ví dụ: Mùa xuân là mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ, thời tiết ấm dần lên, thường được coi là mở đầu của năm Mùa xuân là mùa của muôn cây đâm
chồi nảy lộc Nếu như ta thêm“đang” vào “Mùa đang xuân” thì ý nghĩa của
từ không còn giữ nguyên nữa
1.1.2.4 Từ có tính độc lập về cú pháp
Từ có những khả năng kết hợp với nhiều từ khác để cấu tạo câu Hình vị không có khả năng này, vì hình vị là đơn vị cấu tạo nên từ, bị ràng buộc bởi
từ
Ví dụ: Đỏ au Ta nói, “Da nó đỏ au” chứ không thể nói: “Da nó au”
1.1.3 Phân loại từ về mặt cấu tạo
Các tác giả nghiên cứu thường dùng các tiêu chí khác nhau để phân loại các từ về mặt cấu tạo thành các loại từ lớn đến nhỏ Kế thừa quan điểm của
Đỗ Hữu Châu là dựa vào phương thức cấu tạo, từ tiếng Việt được phân chia thành từ đơn và từ phức, cụm từ
Trang 14Ví dụ : mùa xuân, ngày tháng, năm tháng, sắp sửa, mai mốt…
1.1.3.1 Từ đơn
Từ đơn là những từ một hình vị, từ có một tiếng
Ví dụ: ngày, tháng, năm, buổi, đã, đang, sẽ, sắp…
Các từ đơn một âm tiết tuy có số lượng không lớn lắm song mang những đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt, chúng được dùng để cấu tạo từ phức
1.1.3.2 Từ phức
Từ phức có hai loại là từ ghép và từ láy
a Từ ghép
Từ ghép là từ những từ kết hợp với nhau chủ yếu về mặt ngữ nghĩa Ví
dụ: mùa xuân, ngày tháng, năm tháng… Căn cứ vào mối quan hệ ý nghĩa ngữ
pháp giữa các nghĩa của từ để phân từ ghép thành hai loại: từ ghép đẳng lập (TGĐL) và từ ghép chính phụ (TGCP)
Từ ghép đẳng lập là kiểu từ ghép trong đó hai yếu tố kết hợp với nhau
có cùng ý nghĩa chỉ sự vật mang tính khái quát hay tổng hợp, quan hệ giữa hai yếu tố luôn đồng đẳng
Ví dụ : đêm ngày, năm tháng, phút giây, ngày giờ…
Từ ghép chính phụ là kiểu từ ghép giữa hai yếu tố kết hợp có sự chênh lệch nhau về mặt ý nghĩa (yếu tố mang ý nghĩa khái quát đi kèm với yếu tố mang ý nghĩa cụ thể) So với từ ghép đẳng lập kiểu từ ghép này thường mang
ý nghĩa cụ thể
Ví dụ : ban đêm, ngày nay, bây giờ, mai sau, mùa xuân…
Ý nghĩa của từ ghép rất đa dạng, khi dựa vào ngữ cảnh của từng loại chúng ta có thể phân thành từ ghép hợp nghĩa hay từ ghép phân nghĩa
Ví dụ : Từ ghép hợp nghĩa
Phút giây = Phút + giây
Trang 15Theo Nguyễn Hữu Quỳnh, từ láy là những từ ghép gồm hai hình vị kết hợp với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm Các thành tố của từ láy có mối tương quan với nhau về thanh điệu hoặc về các bộ phận ngữ âm tạo nên các thành tố đó Đồng thời chúng tạo nên một ngữ nghĩa nhất định
Diệp Quang Ban cho rằng, từ láy có thể là từ phức được tạo ra bằng phương thức láy âm có tác dụng tạo nghĩa
Trong cách phân loại các tác giả đều chia từ láy thành 2 loại: láy hoàn toàn và láy bộ phận
Ví dụ: - Láy hoàn toàn: xanh xanh, xa xa, đỏ đỏ…
- Láy bộ phận: xa xôi (láy phụ âm đầu), đằng đẳng (láy vần),
chậm chạp (láy âm đầu, láy thanh điệu), nhỏ nhắn…
* Phân biệt từ láy với dạng lặp từ
Trong tiếng Việt, có nhiều trường hợp xuất hiện những từ mang hình thức lặp cần phân biệt với từ láy Theo Đỗ Hữu Châu, tiêu chí để nhận diện từ láy khác với từ lặp là các hình vị láy vừa phải đồng nhất, vừa phải khác đi ít hay nhiều so với hình vị cơ sở Sự khác biệt này về mặt ngữ âm, có thể xảy ra
ở thanh điệu, hoặc ở trọng tâm Những từ nằm ngoài tiêu chí này có thể tạm thời xem như hình thức lặp từ
Trang 16Lặp từ là hình thức lặp lại hoàn toàn (âm, vần, thanh điệu) của hình vị
cơ sở, để biểu thị cách diễn đạt ý nghĩa nhất định về mức độ thường xuyên có tính chất lặp đi lặp lại của sự vật (thường gặp trong các từ chỉ thời gian)
Ví dụ: ngày ngày, tháng tháng, đêm đêm…
Tuy nhiên trong từ láy vẫn có những hình vị cơ sở được láy lại một
cách hoàn toàn gần giống với hình thức lặp từ (ví dụ: xanh xanh, đỏ đỏ…) Đỗ
Hữu Châu xem các từ này là từ láy có sự đồng nhất về nghĩa đi đôi với sự gần nhất về ngữ âm
Có thể nói rằng, việc phân biệt từ láy với lặp từ chỉ nên dựa vào ý nghĩa sắc thái hóa (phi cá thể hóa hay khái quát hóa sự vật) của hình vị cơ sở Nếu hình vị cơ sở mang ý nghĩa khái quát hóa thì đó có thể là từ láy Ngược lại, nếu hình vị cơ sở mang ý nghĩa sắc thái phi cá thể hóa thì có thể xảy ra hiện tượng lặp từ
Như vậy, với quan điểm của Đỗ Hữu Châu, từ tiếng Việt gồm có từ đơn
và từ phức (từ ghép và từ láy) Đây cũng là cơ sở quan trọng để chúng tôi khảo sát vốn từ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử trên bình diện cấu tạo từ
Trang 17- Cụm từ tự do: Là những tổ hợp từ có thể xen kẽ, mở rộng, thay thế hoặc rút gọn một hình vị trong quá trình giao tiếp Đây là tiêu chí mà Đỗ Hữu Châu trong quá trình nghiên cứu đưa ra để phân biệt với từ ghép Khác với cụm từ cố định, cụm từ tự do không mang tính thành ngữ (nếu có thì cũng rất hạn chế) Ông cho rằng một tổ hợp có tính thành ngữ càng cao thì càng gần với từ, có tính thành ngữ càng thấp thì càng gần với cụm từ tự do
- Cụm từ cố định: Đây là các ngữ cố định được quy định sẵn, có tính bắt buộc về mặt xã hội đã được mọi người công nhận và sử dụng như từ Chính vì được cố định hóa mà cụm từ cố định mang trong nó tính thành ngữ
Theo Diệp Quang Ban, cụm từ là“những kiến trúc gồm hai từ trở lên
kết hợp “tự do” với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển nhiên nhất định
và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)”
Trong tiếng Việt, chúng ta có thể gặp những loại cụm từ như: cụm danh
từ, cụm tính từ, cụm động từ, cụm số từ, cụm đại từ Những cụm từ nói trên thường được gọi tên theo từ loại của thành tố chính trong cụm Trong đó, cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ có cấu tạo đa dạng hơn hai loại cụm từ còn lại Tuy nhiên mỗi cụm từ, thông thường có thể chia thành ba bộ phận rõ rệt: phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau
1.2 Từ chỉ thời gian trong tiếng Việt
1.2.1 Khái niệm từ chỉ thời gian
Từ chỉ thời gian là một trong những khái niệm cơ bản trong nhận thức của con người Cũng như trong mọi hiện tượng tự nhiên khác, từ chỉ thời gian được sự quan tâm của giới nghiên cứu Từ chỉ thời gian được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau từ vật lí học, triết học và cả ngôn ngữ học
Về triết học, một nhà sư định nghĩa:“Thời gian chính là dòng vận hành
liên tục của thực tại khách quan trên cơ sở đổi thay của thực tại khách quan
Trang 18ấy, tâm lí con người thiết định nêu ý niệm về thời gian theo thời vị quá khứ, hiện tại, tương lai”
Theo quan điểm của Mác- Lênin thì thời gian là hình thức tồn tại của
vật chất, xét về mặt “trường tính”- Đó là độ dài diễn biến của các quá trình,
sự kế tiếp nhau trong vận động phát triển (ngày, tuần, tháng, năm, thập kỷ, thế kỷ, bước đi, chặng đường, thời kỳ, giai đoạn…) (Giáo trình chính trị, NXB
Thời gian được tính bằng: năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây Theo quy
ước, giây là khoảng thời gian bằng 9, 192, 631, 770 lần chu kỳ của bức xạ điện từ phát ra bởi nguyên tử Ce123 khi thay đổi trạng thái giữa hai mức năng lượng đáy siêu tinh vi Dựa vào quy ước đó, các đơn vị thời gian thông dụng khác được định nghĩa như sau:
Trong thực tế, con người có thể cảm nhận được thời gian từ những đổi
thay, biến cố của tự nhiên như: sáng, trưa, chiều, tối Trong xã hội như: tết,
lễ hội, phiên chợ…Trong cuộc đời con người như: sơ sinh, thời niên thiếu, già
Trang 19đi…Tuy nhiên không vì thế mà thời gian có thể trôi nhanh hay chậm lại, mà
điều đó do tâm lý, công việc và cuộc sống của mỗi con người tạo ra
Trong tác phẩm nghệ thuật, thời gian khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ hay lịch Nó được cảm nhận tùy thuộc vào dòng suy tư chủ quan của tác giả Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật có thể bị đảo ngược, xáo trộn, có thể kéo dài ra hoặc ngắn lại, quá khứ, hiện tại, tương lai xoay chiều có thể thay đổi cho nhau theo dòng suy tưởng của tác giả Ngược lại, thời gian vật lí có tính liên tục, được mặc định sẵn một chiều không đứt đoạn
Trong thơ ca, bằng ngôn từ người ta có thể định nghĩa thời gian bằng
nhiều cách ví von Chẳng hạn, cách so sánh đầy hình ảnh:“Thời gian trôi
nhanh như tên bắn mà đời người thì mong manh tựa sương mai”
Có người còn định nghĩa thời gian theo tâm trạng của chủ thể trữ tình dựa trên sự thay đổi tuần hoàn của bốn mùa:
Thời gian là gì
Chở năm tháng đi xa
Em ngây thơ tin mùa xuân mãi mãi Nào đâu hay đông đang về hớt hải Nhặt lá rơi em đếm tuổi đợi mùa
(Thời gian) Hay như câu thơ độc đáo đầy màu sắc, âm thanh của Đoàn Phú Tứ:
Màu thời gian không xanh Màu thời gian tím ngát Hương thời gian không nồng Hương thời gian thanh thanh
Thời gian luôn vận động như một quy luật tất yếu của tự nhiên Cho đến nay, thời gian vẫn là một đại lượng mà không ai có thể định nghĩa được
Trang 20một cách chính xác nhất Cũng như không một ai có thể chống cự lại chiều vận động bất biến của thời gian Con người được sinh ra, trưởng thành rồi chết đi trong dòng biến đổi của thời gian
1.2.2 Từ chỉ thời gian trong tiếng Việt
Có thể nói rằng từ chỉ thời gian có mặt hầu hết trong các lĩnh vực và trở thành mảng từ không thể thiếu trong đời sống của con người Chúng ta có thể thấy những từ chỉ thời gian trong giao tiếp hàng ngày như:
- Giây, phút, giờ…
- Buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối…
- Ngày, tháng, năm, thế kỷ…
- Mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông…
Có rất nhiều cách gọi chỉ thời gian xác định (ngày hôm qua, sáng hôm
nay, ngày mai) hay thời gian không xác định như (ngày ấy, năm ấy, lúc ấy,…)
Trong tiếng việt về cấu tạo, ta có thể gặp các đơn vị chỉ thời gian một
âm tiết như: ngày, tuần, tháng, năm… nhưng cũng có khi là những từ hai âm tiết như: buổi sáng, ngày tháng, thế kỷ… hay ta còn bắt gặp những cụm từ
như: dòng thời gian, thiên niên kỷ
Về nguồn gốc hình thành, bên cạnh đại đa số từ thuần Việt, ta cũng có
thể bắt một số từ chỉ thời gian có âm Hán Việt như: khắc, canh, tiết, quý, niên,
kỷ…
Về từ loại, từ chỉ thời gian chiếm phần nhiều là các danh từ: ngày,
tháng, mùa… hoặc các phó từ: đã, đang, sẽ, lúc, khi… Cũng có khi là tính từ: lâu, mau, nhanh, chậm…
Có thể nói rằng, từ chỉ thời gian trong tiếng Việt vô cùng phong phú và
đa dạng Nó là một mảng từ không thể thiếu được con người sử dụng nhiều trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong thơ ca
Trang 211.3 Khái quát về Hàn Mặc Tử- Thơ Hàn Mặc Tử
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, tên thánh là Phêrô Phanxicô, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới Quảng Bình Hàn Mặc Tử ra đời lúc thân sinh là ông Nguyễn Văn Toản còn làm ở chủ sự
Sở thương chánh Nhật Lệ ở Đồng Hới Lớn lên, Hàn Mặc Tử theo thân sinh
đi nhiều nơi và theo học ở các trường tiểu học Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn Bồng Sơn (1921-1923) Đến năm 1926, thân sinh Hàn Mặc Tử bị bệnh và mất ở Huế, ông theo gia đình vào Quy Nhơn Mảnh đất nơi Hàn Mặc Tử đã có những tháng ngày tuổi thơ tươi đẹp và cũng là nơi ông sống khoảng đời còn lại trong đau đớn, tuyệt vọng
Năm 1932, Hàn Mặc Tử xin vào làm việc ở Sở Đạc Điền, Bình Định Khoảng mùa thu năm 1935, Hàn Mặc Tử xin thôi việc ở Sở Đạc Điền vào Sài Gòn làm báo Đến năm 1936, Hàn Mặc Tử trở lại Quảng Ngãi Khoảng năm
1937, ông phát hiện mình mang chứng bệnh phong Hàn Mặc Tử đi nhiều nơi tìm cách chạy chữa nhưng bệnh tình không thuyên giảm, triệu chứng của căn bệnh quái ác biểu hiện ngày càng rõ rệt Từ đây, Hàn Mặc Tử về ở trại phong
ở Quy Nhơn và sống tuyệt giao, cách biệt với thế giới bên ngoài Ông sống giấu mình trong nỗi giày vò ghê gớm của bệnh tật, trong những cơn thác loạn
ám ảnh khôn nguôi trong tâm trí
Ngày 11 tháng 11 năm 1940, chúng ta đau xót trước sự ra đi của một linh hồn thơ Hàn Mặc Tử đã qua đời trong nỗi cô đơn tại trại phong Quy Hoà, Quy Nhơn Ông từ giã cõi đời để đi vào chốn vĩnh hằng với những cơn
mê say, mộng mị nhưng sức sống của hồn thơ kỳ lạ ấy vẫn còn sống mãi với thời gian
Bằng tài năng và tâm huyết, Hàn Mặc Tử đã để lại cho cuộc đời một di sản quý báu Cuộc đời Hàn Mặc Tử đã trở thành một bài thơ lớn, nghe như
Trang 22trong từng hơi thở của thơ có tiếng thở dài đầy nghẹn ngào đau đớn, nỗi
nghẹn ngào của một biển hồn nồng nàn Nguồn thơ ấy được“làm bằng máu,
bằng lệ, bằng hồn với tất cả say sưa, rung động của một người hoàn toàn đau khổ” Những tập thơ Gái quê (1936), Thơ điên sau đổi thành Đau thương
(Hương thơm, Mật đắng, Máu cuồng và Hồn điên), Xuân như ý, Thượng
thanh khí, Cẩm châu duyên (1939) lần lượt ra đời
Bước vào vườn thơ của Hàn Mặc Tử, chúng ta có thể bắt gặp một hồn
thơ Mới hé mở trong khuôn khổ Đường luật qua Lệ thanh thi tập Hàn Mặc
Tử nổi danh với bút hiệu Phong Trần vào khoảng 1930-1931 Khoảng năm
1935, Hàn Mặc Tử chuyển sang làm thơ lãng mạn và đến cuối năm 1936, xuất
bản tập Gái quê Tập thơ Gái quê rất ngắn, nhưng đã khơi ngòi cho một tài
năng mãnh liệt với những tập thơ được ra đời tiếp sau đó Cảm xúc đến với nhà thơ đầy ắp hoa mộng hồn nhiên của tuổi trẻ Lúc này, Hàn Mặc Tử hoà mình vào cuộc đời với những tình cảm nồng nàn, lơi lả, rạo rực Nhà thơ cũng
đã cảm nhận thơ bằng cảm quan tinh tế, sắc nhọn cuả người nghệ sĩ Sự rung cảm dịu dàng, thanh khiết ở Gái quê chứa đựng một tâm hồn tràn ngập sự sống vui tươi:
Lá xuân sột soạt trong làn nắng
Ta ngỡ em ơi, vạt áo hường Thứ áo ngày xuân em mới mặc Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương [12, tr.20]
Đau thương đã trở thành định mệnh thảm khốc nhất trong số phận cuộc đời thi sĩ Hàn Mặc Tử Tại đó, những đau khổ, vật vã, giằng xé tâm hồn, những cảm xúc thăng hoa, sáng tạo cuồng nộ lên đến đỉnh điểm Hàn Mặc Tử
đã sống trong đau thương, viết trong đau thương và viết bằng đau thương của những bất hạnh trong cuộc đời Mỗi tiếng thơ cất lên là tiếng nói đồng vọng của tiếng lòng Hàn Mặc Tử đã biến những đau thương trong cuộc đời thành
Trang 23sức mạnh tạo nên những phút giây xuất thần cho sự sáng tạo nghệ thuật Thi
sĩ đã dồn nén tất cả nỗi lòng thành một tập thơ đầy kinh dị, Thơ điên ra đời trở
thành một thi phẩm đặc sắc nhất, kết đọng tinh huyết thơ Hàn Mặc Tử, làm nên cái “chất lạ” giữa vườn thơ muôn sắc hương của phong trào thơ Mới Nếu
như Gái quê mở ra thế giới thơ đầy thanh sắc trong trẻo, êm ái với những nét
trầm lặng của một chút buồn, một chút nhớ, một chút tình đầy mộng và mơ
trong niềm yêu trần thế thì Đau thương đưa chúng ta đến với một thế giới
khác, thế giới của con người khác khao kiếm tìm sự sống nhưng cái chết đang gieo giắt, rượt đuổi khiến thơ ông trở nên thác với những đỗ vỡ, tuyệt vọng Mỗi tiếng thơ dường như là một lời nguyền cuối, lời tuyệt mệnh đầy đau đớn:
Ta trút linh hồn giữa lúc đây Gió sầu vô hạn nuối trong cay Còn em sao chẳng hay gì cả Xin để tang anh đến vạn ngày [12, tr.80]
Đến Xuân như ý, Thượng thanh khí, Hàn Mặc Tử làm một cuộc thoát ly
khỏi thực tại để vào cõi siêu hình và trở về trong niềm khao khát sống nơi trần
thế trong Duyên kì ngộ và Quần tiên hội Dường như trong thơ lúc này không
còn khoảng cách giữa địa ngục và thiên đường, giữa thực và ảo, giữa nhớ và quên, giữa mê và tỉnh, giữa ánh sáng và bóng tối…Những mảng đối lập của cuộc đời đã va chạm, phản âm, phản cảnh, phản sắc tạo nên những miền kinh
dị, rùng rợn, choáng ngợp trong thơ Hàn Mặc Tử
Thơ Hàn Mặc Tử đã đi từ cuộc đời, từ khát khao của cuộc sống đến những miền xa xăm, huyền ảo để làm nên nghệ thuật chân chính Ông đã diễn
tả hay nhất, đặc sắc nhất, tinh tế nhất cái thần thái trong nỗi đau của con người Bài thơ cuộc đời đã trải qua thử thách sàng lọc khắc nghiệt của thời gian để sống trong lòng độc giả mãi về sau.Thi sĩ đã truyền sang cho ta những rung động đê mê, thanh thoát và say sưa đến kì lạ Đọc thơ ông, người ta còn
Trang 24thấm thía, chiêm nghiệm được nhiều điều của cuộc sống và cái khó nhất là yêu chính nỗi đau bản thân để sống và khát vọng một đời người
1.3.2 Nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử
Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm
mỹ cho người đọc, người nghe Hàn Mặc Tử đã xây dựng lên một thế giới nghệ thuật mới mẻ, độc đáo bởi những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn từ cực tả để diễn tả mọi cung bậc của người thơ Khi những đau thương của cuộc sống thực tại đã biến tâm hồn Hàn Mặc Tử trở thành mê dại trong giây phút cuồng nộ và kêu gào thảm thiết trong những đêm khuya thanh vắng Khi những nhức nhối trong tâm hồn khiến thi sĩ phải nguyện cầu để được giải thoát thì cũng là lúc thơ ông phát ra những luồng ánh sáng kì lạ Và để có thể truyền những rung động thẩm mĩ của thơ tới độc giả trong từng trạng thái cảm xúc, Hàn Mặc Tử đã sử dụng lớp ngôn từ cực tả- là những từ có thiên hướng biểu tả đến mức cực điểm Mỗi bài thơ ra đời là một lần thi sĩ “trút hết cả linh hồn”, vắt kiệt sức sống, vật lộn với nỗi đau để cho “hồn lìa khỏi xác” trong đớn đau và ngất ngư khoái lạc Từng con chữ, từng ngôn từ như “căng mình” lên để lột tả hết thần thái, tâm trạng của người thơ Mãnh liệt và cuồng say
Máu như đã rỉ ra trong những con chữ quằn quại và đau thương ấy: Máu đã
khô rồi thơ cũng khô Thơ trở thành những cung bậc điên cuồng dữ dội trong
nỗi đau kinh hoàng, dồn dập như máu cuồng, hồn điên:
Anh muốn phứt hàng chữ Anh cắn vỡ lời thơ
Anh cắn, cắn, cắn, cắn Hơi thở đứt làm tư [12, tr.93]
Trang 25Ngôn từ trong từng câu thơ như muốn bứt phá khỏi trang giấy vô hồn
để bộc lộ hết những miền cảm xúc sâu kín nhất Ta nghe như trong tiếng thơ
có tiếng lòng, tiếng hối thúc, giục giã tiếng tâm hồn với những khát khao cháy
bỏng dội về trong tiếng lòng của người thơ Đằng sau sự quằn quại của từng
con chữ là sự đau đớn, quằn quại của một tâm hồn luôn thổn thức và khát khao sự sống
Những từ ngữ tôn giáo, đặc biệt là của Thiên chúa giáo được nhà thơ
đưa vào ở xuyên suốt các tập thơ từ Đau thương, Xuân Như Ý, Thượng Thanh
Khí cho đến hai vở kịch thơ là Cẩm Châu Duyên và Duyên Kì Ngộ Với sự
sáng tạo ấy, Hàn Mặc Tử đã làm phong phú thêm cho vốn từ của thơ Số phận đau thương đưa đẩy Hàn Mặc Tử đến với chúa để được Người bao bọc, cứu rỗi Điều đó trở thành ám ảnh sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ để rồi tuôn chảy theo mạch nguồn cảm xúc của ngôn từ thi ca Ta thấy trong thơ Hàn xuất hiện khá nhiều ngôn từ của Thiên chúa giáo như:
Như song lộc triều Nguyên ơn phước cả Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng, Thơm tho bay cho đến cõi Thiên Đàng, Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể [12, tr.112]
Đọc thơ Hàn Mặc Tử người ta đắm mình vào những lớp sóng tinh thần
bí ẩn không chỉ của Thiên chúa giáo mà còn của Phật giáo và Đạo giáo Trong
thơ Hàn Mặc Tử cũng xuất hiện những từ mang tính chất Phật giáo như: Đạo
từ bi, trời từ bi, ba ngàn thế giới, hằng hà sa số, Cực lạc giới…Những ngôn
từ, hình ảnh rực rỡ, huy hoàng của cõi Phật đã trở thành ngôn ngữ thi ca tinh
tế giàu cảm xúc của một tâm hồn thơ
Bên cạnh đó, Hàn Mặc Tử đã đưa ngôn ngữ thơ của mình thích nghi với cảm hứng Đạo giáo Xuất hiện trong thơ ông khá nhiều từ ngữ mang tính
chất của Đạo giáo Đặc biệt trong Cẩm Châu Duyên, Duyên kì ngộ và Quần
Trang 26Tiên Hội như: Thiên thai, Thần tiên, Tiêu đưa tôi bay lên cung trăng, Đây mùi đạo vẫn còn thơm ngan ngát…Tất cả dấu ấn ngôn từ ấy đã tạo ra một cõi mơ
tiên kì ảo trong thế giới thần tiên mà người thơ ao ước tìm đến
Hàn Mặc Tử đã làm sống dậy trong thơ một thế giới huyền ảo, với sự kết hợp khéo léo giữa ngôn từ đời thường, ngôn ngữ thuộc phạm trù tôn giáo
và ngôn ngữ của thi ca để tạo ra một lớp ngôn từ mới lạ: “Ngôn ngữ thơ do Hàn Mặc Tử đào luyện có vẻ đặc sắc vì sự lựa chọn tài tình của các từ ngữ hòa điệu thú vị” [6, tr.146] Chìm vào thế giới Tôn giáo, Hàn Mặc Tử như được trải nghiệm trong mọi cung bậc cảm xúc của những niềm đau thương và thả tâm hồn mình vào những nhớ thương trong đất trời Và điều này đã làm
nên chất tài hoa, nét độc đáo trong việc sử dụng và sáng tạo ngôn từ của thi sĩ
Đọc thơ Hàn Mặc Tử, ta còn thấy một cõi thơ tràn đầy những không gian và thời gian nghệ thuật kì lạ, từ nỗi “đau thương” rớm máu trong thảm kịch số phận, từ một “khối băng tâm” và tâm hồn thanh khiết thi sĩ đã bay cao với khát vọng về thế giới trong trẻo, thanh sạch đến vô ngần Không gian mở
ra trong thơ Hàn Mặc Tử là nơi thi sĩ gởi vào đó tất cả mọi cung bậc của cuộc sống, mọi trạng thái tình cảm và cũng là nơi để trái tim đau khổ ẩn mình
Ta lang thang tìm đến chốn lầu trăng Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang Nơi đã khóc đã yêu thương tha thiết
Ôi trời ơi! Là Phan Thiết!Phan thiết [12, tr.101]
Trang 27Khi định mệnh cuộc đời nghiệt ngã đến với ông, quá đau đớn Hàn Mặc
Tử đã đem cả tình yêu, sự tan vỡ, niềm hi vọng và khát khao cháy bỏng của mình bay vào không gian vũ trụ bao la:
Ta sống mãi với trăng sao gấm vóc Trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay [12, tr.18]
Hàn Mặc Tử đã vượt qua những đau đớn, dày vò để sống và sáng tạo nghệ thuật Thi sĩ đã mở ra trong tâm tưởng một cõi không gian cho riêng mình Không gian đó không tồn tại trong thực tế mà chỉ trở về trong tâm tưởng người thơ:
Lạnh quá ánh trăng không sáng mấy Cho nên muôn dặm ở ngoài kia
Em đang mong mỏi, em đang nhớ Bứt dứt lòng em muốn trở về
Qua những vần thơ của Hàn Mặc Tử, ta cũng lắng nghe được từng bước đi của thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai cứ vọng về trong khoảnh khắc của sự sống Thi sĩ quay trở về quá khứ xa xôi để nuối tiếc và hồi tưởng lại những kỷ niệm của một thời tươi đẹp, trở về hiện tại và hướng tới tương lai để chiêm nghiệm về tình người và tình đời qua thơ
Nét đặc sắc góp phần tạo nên giá trị và nghệ thuật Hàn Mặc Tử còn là nhạc điệu tâm hồn trong thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử đã để cho những âm thanh của cuộc đời vào trong thơ để rồi thổn thức, run rẩy, đê mê, ngất ngây trong từng cơn thác loạn Khúc nhạc lòng vang lên réo rắt khi tâm hồn thi sĩ tràn đầy nhựa sống nhưng cũng có những bản đàn mà nhạc hồn xáo động bởi những cung bậc tâm trạng u hoài Nhạc trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ có những cung đàn êm ái, dịu nhẹ du dương mà còn có những sóng gió, bão
bùng Và có thể nói rằng: “Hàn Mặc Tử là nhà thi sĩ Việt Nam có cái nghệ
thuật âm nhạc tài tình nhất Trong suốt sự nghiệp thi ca, kể cũng đã là vĩ đ ại
Trang 28đối với đời ngắn ngủi của chàng, không có bài nào, đến cả không có câu nào làm ra mà không dóng theo âm điệu” [8, tr 56]
Qua việc sử dụng những lớp ngôn từ đầy mới lạ, xây dựng nên những không gian và thời gian nghệ thuật mang đầy tâm tưởng và những giai điệu tâm hồn trong thơ đã tạo nên một thế giới nghệ thuật độc đáo trong thơ Hàn
Mặc Tử Nghệ thuật đó“giống như một con sông dài đi xuyên qua thế kỉ
chúng ta và hai bên bờ sông dàn bày không biết bao nhiêu cảnh sắc đẹp đẽ đến say ngợp, tê liệt cả lòng người” [8, tr.30]
Trang 29CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ
HÀN MẶC TỬ
Căn cứ vào lí luận chung của đề tài, trước khi đi vào khảo sát, thống kê các từ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử chúng tôi đưa ra một số giới hạn khảo sát sau:
Những cách nói đặc biệt về thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử như: rừng
mai, bình minh, gió chiều, mây chiều, gió đông,… chúng tôi không tiến hành
khảo sát
Ngoài ra, cách diễn đạt khác: mùa hát, mùa khô, mùa nhạc, mùa thơ,
đời trăng… cũng không nằm trong phạm vi khảo sát của đề tài
Tuy những từ này có yếu tố thời gian đi kèm nhưng khi đưa vào trong thơ, nó được sử dụng để chỉ một sự việc, hiện tượng khác
Khảo sát từ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử về từ loại, chúng tôi chỉ tiến thu hẹp ở danh từ và phó từ Vì hai kiểu từ loại này có tần số xuất hiện tương đối nhiều so với các từ loại khác
2.1 Khảo sát trên bình diện từ vựng
Trong quá trình hình thành và phát triển, tiếng Việt có mối quan hệ giao lưu, tiếp biến với nhiều ngôn ngữ khác Đặc biệt, nước ta đã hai lần bị Trung Quốc thống trị qua hàng ngàn năm, dân ta đã vay mượn rất nhiều yếu
tố Hán (Trung Quốc) để sáng tạo ra chữ viết riêng Do đó, bên cạnh lớp từ thuần Việt (Bản ngữ) còn có một lớp từ Hán Việt (yếu tố ngoại lai)
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát nhằm thống kê những từ ngữ chỉ thời
gian trong thơ: Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Đau thương, Xuân Như Ý,
Thượng Thanh khí, Cẩm Châu duyên và Quần tiên hội của Hàn Mặc Tử
Qua khảo sát chúng tôi đã thống kê được những từ chỉ thời gian thuộc từ Hán Việt và thuần Việt với số lần xuất hiện như sau:
Trang 30Ví dụ: canh, canh thâu, thế kỉ, thiên cổ…
Căn cứ vào bảng 1, ta thấy từ thuần Việt chỉ thời gian chiếm tỉ lệ cao gấp nhiều lần so với từ Hán Việt Qua khảo sát ta thấy, từ Hán Việt chỉ xuất hiện 32 lần (chiếm 4,4 %) Trong đó một số từ có số lần xuất hiện nhiều nhất
như canh (4 lần), kiếp (3 lần)
Ví dụ: - Bạc mạng đàn chơi đau nửa kiếp,
Đồng tâm tơ buộc chặt quanh năm [12, tr.13]
- Ôi sự lạ! Đã muôn đời thế kỷ,
Đất Linh Sơn in dấu vết phàm nhân [12, tr.122]
Trang 312.1.2 Từ thuần Việt
Từ thuần Việt là các từ vốn có từ lâu đời làm thành vốn từ vựng cơ bản của tiếng Việt Trong thơ Hàn Mặc Tử, tác giả chủ yếu sử dụng những từ chỉ
thời gian là từ thuần Việt (chiếm 95,6%) như: ngày, tháng, năm, mùa xuân,
ngày đêm, giây phút
Ví dụ: - Vách chán đêm suông đứng dãi dầu [12, tr 16]
- Thứ áo ngày xuân em mới mặc [12, tr.22]
- Hôm nay trăng sáng là trăng sáng [12, tr.93]
** Tiểu kết
Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ Mới 1932- 1945 Suốt một đời thi sĩ đã đi tìm sự lạ và đem đến cho đời những
điều kì lạ ở “chốn xa xăm, thiêng liêng, huyền bí, làm rung động cõi lòng
người” Khi khảo sát từ chỉ thời gian trong thơ Hàn Mặc Tử ở bình diện từ
vựng, ta thấy tác giả đã sử dụng cả hai lớp từ thuần Việt và Hán Việt với số lượng và số lần sử dụng khác nhau Trong đó, những từ thuần Việt chỉ thời gian chiếm tỉ lệ cao hơn so với từ Hán Việt Sử dụng lớp từ thuần Việt chỉ thời gian trong thơ, tác giả tránh được lối viết cầu kỳ, khó hiểu mà vẫn có thể bộc lộ hết tất cả mọi trạng thái cảm xúc Nhờ đó người đọc cũng có thể hiểu, cảm nhận những gì mà nhà thơ muốn gửi gắm qua thơ một cách dễ dàng hơn
2.2 Khảo sát trên bình diện Ngữ pháp
2.2.1 Về cấu tạo
2.2.1.1 Cấu tạo từ
Căn cứ vào tiêu chí nhận diện từ và nguyên tắc phân loại các kiểu từ
tiếng Việt, từ chỉ thời gian trong các tập thơ Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Đau
thương, Xuân Như Ý, Thượng Thanh khí, Cẩm Châu Duyên, Duyên kì ngộ
và Quần Tiên hội của nhà thơ Hàn Mặc Tử về đặc điểm cấu tạo được thể hiện
cụ thể qua bảng thống kê dưới đây: