1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chủ đề tình yêu trong thơ nôm thế kỷ xv đến thế kỷ xix dưới góc nhìn văn hóa dân gian

106 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã mang trong mình dòng máu dân tộc Việt Nam thì thật thiếu sót nếu ta không nhớ đến kho tàng văn chương của cha ông từ ngàn xưa để lại các sáng tác về tình yêu trong văn học trung đại,

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Huế, năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƢ ỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các

đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng công bố trong bất kỳ một

công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Mai Sang

Trang 4

Lời Cảm Ơn

Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và những người thân

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với Thầy giáo GVC TS.Ngô Thời Đôn - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Xin gửi lời tri ân chân thành đến thầy

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy, Cô trong Khoa Ngữ Văn của Trường Đại học Sư phạm Huế đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Thư viện Trường Đại học Sư phạm Huế đã giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn bè, và đồng nghiệp đã hết sức tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi về vật chất cũng như tinh thần để tôi có điều kiện học tập, nghiên cứu tốt

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thành phố Huế, ngày 09 tháng 09 năm 2016

Tác giả

Đoàn Thị Mai Sang

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Mục đích, ý nghĩa đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Cấu trúc của luận văn 9

PHẦN NỘI DUNG 10

Chương 1 VĂN HÓA DÂN GIAN VỚI CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX 10

1.1 Văn hóa dân gian Việt Nam về tình yêu và mối quan hệ văn hóa - văn học 10

1.1.1 Vài nét về văn hóa dân tộc Việt Nam về tình yêu trong buổi đầu 10

1.1.2 Văn học trong mối quan hệ với văn hóa dân gian 11

1.1.2.1 Văn hóa dân gian là nền tảng của văn học dân gian 11

1.1.2.2 Văn hóa dân gian là cội nguồn tư tưởng của văn học 12

1.2 Sự thể hiện chủ đề tình yêu trong văn học dân gian 13

1.2.1 Những nội dung chủ đề tình yêu trong văn học dân gian 13

1.2.1.1 Về mặt sinh lý 13

1.2.1.2.Về mặt tâm lý 14

1.2.1.3 Về mặt tâm linh 19

1.2.2 Hình thức thể hiện chủ đề tình yêu trong văn học dân gian 21

1.2.2.1 Kết thúc có hậu 21

1.2.2.2 Ngôn từ diễn đạt 23

1.2.2.3 Thể thơ dân gian 25

Trang 6

1.3 Sự đồng cảm của dân gian trước chủ đề tình yêu của văn chương trung đại 26

Chương 2 NỘI DUNG THỂ HIỆN TÌNH YÊU TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ

XV ĐẾN THẾ KỶ XIX DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN 35

2.1 Tình yêu trong hồn điệu dân tộc 35

2.1.1 Ánh mắt đầu tiên - sự khởi nguồn cho một tình yêu đẹp 35

2.1.2 Sự chủ động - một nhân tố quan trọng để xây dựng tình yêu 38

2.1.3 Trái tim - nhịp đập dẫn đường cho tình yêu đẹp 44

2.2 Tinh thần dân tộc về tình yêu trước sự hà khắc của lễ giáo phong kiến 46

2.2.1 Tình yêu lứa đôi và những sóng gió, trắc trở 47

2.2.2 Hi sinh chính mình để bảo vệ tình yêu lứa đôi 52

2.2.3 Hạnh phúc lứa đôi sau những trắc trở 54

2.3 Những khát vọng tình yêu trong tâm hồn và hạnh phúc ái ân 55

2.3.1 Khát vọng tình yêu đẹp trong tâm hồn 55

2.3.2 Khát vọng hạnh phúc ái ân 58

Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN 66

3.1 Kết cấu thơ Nôm 66

3.1.1 Kết cấu gặp gỡ - tai biến - đoàn viên 66

3.1.2 Kết thúc có hậu 69

3.2 Sự vận dụng ngôn ngữ văn học dân gian 73

3.3 Xây dựng hình tượng nhân vật mang đậm chất dân gian 81

PHẦN KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa đề tài

Trong cuộc đời mỗi người, ai cũng đều đã ít nhất một lần được trải nghiệm tình yêu - yêu và được yêu Tình yêu luôn ẩn chứa trong nó một sức mạnh vô hình nhưng cũng hết sức mạnh mẽ Với vẻ đẹp bất tận của nó, tình yêu là một chủ đề muôn thuở, tồn tại song hành cùng thời gian mà tất các ngành nghệ thuật đều hướng đến

Sự đẹp đẽ và thiêng liêng của tình yêu vốn đã được cha ông chúng ta nhận ra

và ca ngợi từ lâu Vượt qua mọi thời đại, tình yêu mãi mãi là đề tài vĩnh cửu và chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu trong văn học thế giới Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa hai người khác giới Ở họ có sự đồng điệu về tâm hồn làm cho họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình Tình yêu trong những bài thơ trang văn hướng ta đến những khát khao, những ước vọng tốt đẹp trong cuộc sống, giúp

ta vượt qua những khó khăn, trắc trở, khiến cho ta thêm động lực để giữ vững niềm tin trên con đường đi tìm hạnh phúc

Tình yêu vẫn luôn là một đề tài muôn thuở của văn học ở mọi giai đoạn từ văn học dân gian truyền miệng đến nền văn học viết từ xưa đến nay Đã mang trong mình dòng máu dân tộc Việt Nam thì thật thiếu sót nếu ta không nhớ đến kho tàng văn chương của cha ông từ ngàn xưa để lại các sáng tác về tình yêu trong văn học trung đại, đặc biệt là những bài thơ Nôm Trong di sản văn học dân tộc, thơ Nôm chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu, lại giàu tính đặc trưng của văn hóa và văn học Việt Nam Thơ Nôm được xem là một bộ phận văn học độc đáo, nó có một vị trí quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam Có thể nói, thơ Nôm ra đời là một bước nhảy vọt của thơ ca Việt Nam, là bộ phận văn học mang đậm những giá trị văn hóa dân tộc, góp phần phản ánh sinh động, cụ thể diện mạo và đặc điểm văn hóa dân tộc thời phong kiến

Văn học phản ánh cuộc sống con người vì thế địa hạt tình yêu trở thành mảnh đất màu mỡ cho văn học, trong đó văn học trung đại đóng góp khối lượng lớn những tác phẩm viết về tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng Từ những tác giả

Trang 8

khuyết danh đến các tác giả hữu danh như nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu….đều để lại cho hậu thế những tuyệt tác về tình yêu Thơ Nôm về chủ đề tình yêu đã xuất hiện trong văn học Trung đại từ rất sớm, những tác phẩm đầu tiên tuy xuất hiện với số lượng còn ít, nội dung chưa sâu sắc nhưng cũng đã để lại một dấu ấn nhất định trong dòng chảy văn học Qua thơ Nôm, chúng ta có thể tìm hiểu về nếp sống, phong tục, truyền thống văn hóa…của dân tộc mình Những bài thơ Nôm về tình yêu thể hiện rất rõ đời sống tình cảm, quan niệm và cách ứng xử của cha ông trong tình yêu Đến thế kỉ XVIII về sau, có thể nói đây là thời kì nở rộ của Thơ Nôm về chủ đề tình yêu Nhiều tác phẩm thơ Nôm

ra đời đã mang lại giá trị to lớn, ý nghĩa sâu sắc trong việc bộc lộ tình cảm, tình yêu

mà con người trao tặng cho nhau, tình yêu với đủ các cung bậc cảm xúc Chúng ta

có quyền tự hào về những tác phẩm bất hủ về tình yêu như Truyện Kiều, Phạm

Tải-Ngọc Hoa, Phạm Công-Cúc Hoa, Sơ kính tân trang, …Trong những kiệt tác thơ

Nôm ấy, có rất nhiều tác phẩm được chuyển tải thành phim hay dịch sang tiếng nước ngoài và nhận được sự ủng hộ, đánh giá cao của bạn đọc quốc tế

Để làm nên những thành tựu to lớn ấy, phải nói đến sự đóng góp của nền tảng văn học dân gian Chính văn học dân gian đã góp những viên gạch đầu tiên cho

sự phát triển thơ Nôm về chủ đề tình yêu trong văn học trung đại Quy luật của kế thừa và cách tân là quy luật sinh thành và phát triển của bất cứ nền văn học nào Trong tiến trình lịch sử văn học, luôn diễn ra quá trình nối tiếp, kế thừa và phát triển những thành tựu giữa các nền văn học, các giai đoạn, các trào lưu văn học với nhau

Như chúng ta đã biết, văn học là một trong những thành tố của văn hóa Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa

“Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc” [3, tr 5] Văn hóa dân gian là một bộ phận quan trọng và đa dạng nhất của nền văn hóa dân tộc, bởi lẽ, đó

là sản phẩm trực tiếp hình thành từ lao động vật chất và tinh thần của nhân dân, biểu hiện phong phú, đa dạng trong văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Văn học

Trang 9

là một thành tố thiết yếu trong văn hóa phi vật thể, cấu tạo nên văn hóa dân gian nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung

Với những lý do trên, tôi xin mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận

văn của mình là: “Tình yêu trong thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX dưới góc nhìn văn hóa dân gian” Với đề tài này, tôi mong muốn tìm hiểu vẻ đẹp của những

câu chuyện tình yêu trong sự tiếp nối về chủ đề tình yêu trong văn học dân gian đến Thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX và phương thức nghệ thuật thể hiện tình yêu trong các sáng tác ấy, góp phần đánh giá toàn diện hơn giá trị các bài thơ Nôm viết

về tình yêu giai đoạn văn học này Đồng thời, tôi mong rằng có thể rút ra ở đó những bài học quý giá về văn hóa ứng xử trong tình yêu đôi lứa

2 Lịch sử vấn đề

Thơ Nôm trong quá trình ra đời, vận động, phát triển đã đạt được nhiều thành tựu đặc sắc với nhiều tác gia và tác phẩm tiêu biểu Nó như một bức tranh văn hóa đa sắc màu và là một đề tài thu hút được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Sau đây là một số công trình nghiên cứu:

Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm khẳng định: “Trên cơ

sở chữ Hán, từ cuối thời Bắc thuộc, người Việt đã tạo ra chữ nôm dùng trong sáng tác văn chương Thời Tây Sơn, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã mở rộng ra, sử dụng chữ Nôm cả trong lĩnh vực hành chính và giáo dục” [43, tr.267] Tác giả đã khẳng định vị trí chữ Nôm và vai trò của nó trong việc hình thành bộ phận văn học chữ Nôm dùng trong sáng tác văn chương

Khẳng định giá trị của chữ Nôm, PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam trong bài viết

Chữ Nôm - Một di sản văn hoá dân tộc khẳng định chữ Nôm ra đời có ý nghĩa hết

sức lớn lao, đánh dấu bước phát triển của nền văn hoá dân tộc, ý thức tự cường và khẳng định vai trò địa vị của tiếng Việt Tiếng Việt của chúng ta giàu tình cảm, nhiều màu sắc và âm điệu, phản ánh tâm hồn trong sáng và cốt cách vĩ đại của nhân dân Việt Nam trải hàng ngàn năm lịch sử

Cuốn Việt Nam phong tình cổ lục của tác giả Vũ Ngọc Khánh là một trong

những công trình biên soạn các truyện kể về tình yêu Từ công việc sưu tầm, tác giả

Trang 10

đã giới thiệu cho chúng ta một kho tàng phong phú về những câu chuyện tình yêu của con người Việt Nam, đó là những con người thật, những danh tướng, nhà chí sĩ, nhà thơ, những người nổi tiếng trong lịch sử và cả những người nổi tiếng trong lĩnh vực văn chương

Đặng Thanh Lê với Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm xoay quanh mối tình

Thúy Kiều và Kim Trọng Qua đó, khẳng định nàng Kiều đã vượt qua khuôn khổ lễ giáo phong kiến để tìm đến tình yêu tự do

Giáo sư Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam

cho rằng khi viết về truyện thơ Nôm, các tác giả đã khái quát hình ảnh con người

trong truyện thơ Nôm đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ, đó là “những con người

chủ động trong tình yêu, rất tích cực đấu tranh bảo vệ hạnh phúc”

Nguyễn Mạnh Hùng với tài liệu Trên hành trình văn học trung đại trích dẫn:

“Xung đột nghệ thuật và tư tưởng thẩm mĩ của Hoa Tiên”, tác giả bài viết đã chỉ ra

tư tưởng của tác phẩm Hoa Tiên là ca ngợi tình yêu tự do, đồng thời là tư tưởng giải

phóng tình cảm, thể hiện tinh thần hòa hợp giữa tình yêu của cá nhân tự do với nghĩa vụ

Bùi Duy Tân trong công trình Khảo luận một số thể loại tác giả - tác phẩm

văn học trung đại tập 2 đã đề cập ba tác phẩm viết về tình yêu gồm Truyện Song Tinh, Chinh phụ ngâm và Truyền kì tân phả Theo ông, các tác phẩm trên hoặc ca

ngợi tình yêu tự do, hoặc ca ngợi sức mạnh tình yêu, sự chung thủy, gắn bó, chống lại các thế lực cường quyền, hoặc than thở cho hạnh phúc lứa đôi khi bị trắc trở bởi chiến tranh

Nguyễn Hữu Sơn viết “Mô típ tài tử giai nhân từ truyện Hoa Tiên đến Mai

Đình Mộng kí” đã khẳng định hình ảnh tài tử giai nhân trong các sáng tác thường

xây dựng theo mô hình lí tưởng về sự cuốn hút bởi vẻ bề ngoài cũng như tài năng

theo quan niệm “gái tham tài, trai tham sắc” và sự đồng điệu về tâm hồn

Hoàng Hữu Yên nhận định: trong truyện thơ Nôm, ca ngợi tình yêu tự do, nêu lên khát vọng cuộc sống lứa đôi ngoài khuôn khổ lễ giáo chính thống là đề tài phổ

biến và rất hấp dẫn Hoa tiên, Bích Châu kì ngộ, Sơ kính tân trang, Phan Trần xứng

đáng là những bản tình ca réo rắt và diễm lệ, trong trắng, chân thành và tha thiết

Trang 11

Nói đến chức năng tư tưởng và thẩm mĩ của truyện Nôm, Kiều Thu Hoạch cho rằng truyện Nôm thường chỉ thiên về lựa chọn loại đề tài tình yêu lứa đôi cùng với chủ đề đấu tranh bảo vệ tình yêu chung thủy, bảo vệ gia đình, các tác giả không thể không quan tâm tới vấn đề hôn nhân tự do như là một chủ đề cơ bản

Lê Thu Yến trong công trình Văn hóa ứng xử người Việt thể hiện qua tình yêu

Kim Kiều đã nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt thể hiện qua tình yêu của

Kim Trọng và Thúy Kiều - hai nhân vật chính trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Tiếp thu ý kiến của những người đi trước, kế thừa những thành tựu nghiên cứu, luận văn sẽ đi vào nghiên cứu làm rõ sự tiếp nối chủ đề tình yêu từ văn học dân

gian đến văn học trung đại, cụ thể hơn là nghiên cứu “Tình yêu trong thơ Nôm thế

kỷ XV đến thế kỷ XIX dưới góc nhìn văn hóa dân gian”

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chủ đề tình yêu trong thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX Tác giả luận văn sẽ tìm hiểu bộ phận thơ ca này từ góc nhìn văn hóa dân gian, hay nói cách khác, từ góc nhìn văn hóa dân gian, người thực hiện đề tài luận văn này sẽ khảo sát những tác phẩm thơ Nôm về chủ đề tình yêu đôi lứa từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX trên cả hai bình diện: nội dung và hình thức nghệ thuật

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tình yêu vốn dĩ là tất yếu của cuộc sống Vì thế, những sáng tác về đề tài tình yêu cũng vô cùng đồ sộ và phong phú Trong giới hạn đề tài này, chúng tôi chỉ xin tìm hiểu chủ đề tình yêu đôi lứa, tình vợ chồng, tình gia đình trong các bài thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX dưới góc nhìn văn hóa dân gian Xuyên suốt quá trình khảo sát, người viết sẽ hướng đến các bài thơ về tình yêu, bao gồm cả những

bài thơ, truyện thơ khuyết danh và các sáng tác của các tác giả như sau: Quốc Âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Đức Quốc Âm thi tập ( Lê Thánh Tông), Truyện Phan Trần (khuyết danh), Thoại Khanh - Châu Tuấn (khuyết danh), Hồng Hoan lương sử (Khuyết danh), Phương Hoa (khuyết danh), Hoàng Trừu (khuyết danh),

Mã Phụng - Xuân Hương (khuyết danh), Lý Công (khuyết danh), Bạch Viên tân truyện (khuyết danh), Phù dung tân truyện (Trúc Lâm Cư Sĩ), Thạch Sanh tân

Trang 12

truyện (khuyết danh), Nhị độ mai (khuyết danh), Truyện Tây Sương (Lý Văn Phức), Truyện Ngọc Kiều Lê (Lý Văn Phức), Song Tinh bất dạ (Nguyễn Hữu Hào), Sơ kính tân trang (Phạm Thái), Phạm Công - Cúc Hoa (Khuyết danh), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Truyện Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự ), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Lục Vân Tiên (Nguyễn

Đình Chiểu)

Ngoài ra, để tiện so sánh, mở rộng vấn đề, trong quá trình khảo sát đề tài, tác giả luận văn cũng có sử dụng tác phẩm ở những bộ phận thơ văn khác

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận vấn đề bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp:

4.1 Phương pháp liên ngành

Nghiên cứu văn học dưới góc độ văn hoá dân gian Từ điểm nhìn văn hóa dân gian, cụ thể là văn học dân gian, soi chiếu vào thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX sáng tác về chủ đề tình yêu đôi lứa để nhìn thấy những dấu ấn văn hóa dân gian và những tư tưởng mới mà các tác giả để lại trong từng sáng tác

4.2 Phương pháp phân tích logic

Phương pháp này nhằm chỉ ra sự hợp lý, chặt chẽ của nội dung và hình thức,

từ đó chỉ ra những giá trị văn hóa về tình yêu trong thơ Nôm

4.3 Phương pháp thống kê miêu tả

Phương pháp này nhằm thu gọn lại những giá trị văn hóa trong thơ Nôm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX về chủ đề tình yêu để qua đó chỉ ra được những giá trị văn hóa cốt lõi trong quá trình phát triển của thơ Nôm

5 Đóng góp của luận văn

5.1 Về mặt khoa học

Luận văn là công trình nghiên cứu nhỏ về chủ đề tình yêu trong thơ Nôm thế

kỷ XV đến thế kỷ XIX từ góc nhìn văn hoá dân gian cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ đem lại một cái nhìn khái quát, đầy đủ hơn về chủ đề tình yêu trong thơ Nôm giai đoạn này, từ đó thấy được những tìm tòi, đổi mới, vận động và phát triển của thơ Nôm trung đại mang đậm bản sắc văn hóa dân gian

Trang 13

5.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp một phần nhỏ cho tư liệu có tính ứng dụng nhất định trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn hóa dân gian, giảng dạy

và nghiên cứu thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo; nội dung chính của luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1 Văn hóa dân gian với chủ đề tình yêu trong thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX

Chương 2 Nội dung thể hiện chủ đề tình yêu trong thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX dưới góc nhìn văn hóa dân gian

Chương 3 Phương thức thể hiện chủ đề tình yêu trong thơ Nôm thế kỷ XV đến thế kỷ XIX dưới góc nhìn văn hóa dân gian

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 VĂN HÓA DÂN GIAN VỚI CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ NÔM

THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX

1.1 Văn hóa dân gian Việt Nam về tình yêu và mối quan hệ văn hóa - văn học 1.1.1 Vài nét về văn hóa dân tộc Việt Nam về tình yêu trong buổi đầu

Giai đoạn văn hóa Văn Lang - Âu Lạc là thời kỳ hình thành nền tảng - cơ tầng văn hoá Việt Nam, được tính từ khi người nguyên thủy biết dùng đá để chế tác công cụ cách ngày nay vài chục vạn năm cho đến thời đại Hùng Vương dựng nước - thời đại làm nên hai thành tựu lớn lao có ý nghĩa lịch sử Đó là sự hình thành của nền văn minh sông Hồng và sự ra đời của hình thái nhà nước sơ khai: nhà nước Văn Lang của các vua Hùng và tiếp đó là nước Âu Lạc của An Dương Vương Trong sự hình thành nếp sống gia đình của người Việt, tình yêu, hôn nhân là một nội dung đóng vai trò vô cùng quan trọng

Nhìn chung, xã hội Văn Lang - Âu Lạc đã chuyển sang chế độ phụ quyền, người nắm giữ quyền hành và quyết định mọi việc trong gia đình chính là người cha, điều này thể hiện vô cùng rõ ở các gia đình Lạc hầu, Lạc tướng Thế nhưng, không phải vì điều đó mà vai trò của người phụ nữ trong gia đình bị đánh mất đi tầm quan trọng Điều này đã được chứng minh rất rõ trong các câu chuyện cổ tích, nhưng câu chuyện về người phụ nữ mạnh mẽ không chỉ trong gia đình mà còn có công trạng to lớn đối với Tổ Quốc Những nữ tướng Hai Bà Trưng vào đầu thế kỷ I

đã chứng minh điều đó

Văn hóa dân tộc Việt Nam trong buổi đầu là một lối sống nặng tình nghĩa, đoàn kết gắn bó với họ hàng, làng nước Trong tổ chức cộng đồng, ứng dụng nguyên tắc trọng tình nghĩa, coi trọng cộng đồng Trong ứng xử với môi trường xã hội, có sự dung hợp tiếp nhận Trong làng xóm, người già có một vị trí rất quan trọng, đó là bậc đáng để mọi người tôn trọng và kính phục; họ nắm giữ vai trò dàn xếp các cuộc tranh chấp, quyết định các mối quan hệ trong nội bộ cộng đồng mình cũng như vấn đề đối ngoại; họ được xem như là người già, người cha của thế hệ trẻ, người gìn giữ và lưu truyền những tục lễ từ xa xưa của cộng đồng

Trang 15

Vấn đề hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi lứa mà còn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ tiết Hôn nhân một vợ một chồng dần dần được phổ biến, mặc dầu đây đó, đặc biệt là những vùng sâu xa hẻo lánh của các dân tộc thiểu số còn giữ lại những chế độ hôn nhân anh em chồng, tục bắt cô dâu

1.1.2 Văn học trong mối quan hệ với văn hóa dân gian

1.1.2.1 Văn hóa dân gian là nền tảng của văn học dân gian

Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động Vì vậy, khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng Văn hóa, trong đó có văn hóa dân gian là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định Tuy nhiên, sau khi hình thành và định hình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư cách là “nền tảng tinh thần của xã hội”,

là “động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội”

Gắn bó lâu đời với nông nghiệp nên ông cha ta đã có được hệ thống kinh nghiệm rất phong phú và điều đó được thể hiện thông qua ca dao tục ngữ, đó là những kinh nghiệm về kĩ thuật canh tác và trồng trọt:

Khoai đất lạ, mạ đất quen Nhất nước nhì phân tam cần cứ giống

Chúng ta biết rằng tre thường đâm măng vào mùa hè, vào cuối mùa hè nước

ta thường xuất hiện những cơn bão sớm, những thời kỳ đó đầu măng phải biết dựa vào tre mới tránh được sự ngã gãy nên ông cha ta mới có câu:

Đầu măng ngã gục vào hè Nương nhờ vào mẹ kẻo e bão về

Hay những kinh nghiệm về dự báo thời tiết:

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng bay vừa trời râm

Trang 16

Các loài côn trùng có cánh dễ dàng cảm nhận khi độ ẩm không khí thay đổi, nhất là loài chuồn chuồn Chuồn chuồn là loài côn trùng có cánh mỏng manh, nếu có

độ ẩm cao thì không thể bay cao được, nếu độ ẩm không khí thấp thì bay lên rất cao

Rễ Si mọc trắng, điềm nắng đã đến,

Rễ Si ra trắng chẳng nắng được đâu

Mỗi khi thời tiết thay đổi thì một số loại thực vật như cây Si (hay còn gọi là cây Sanh) rất nhạy cảm với thời tiết nên các hoạt động sinh lý của nó biến đổi Si là loại cây to, lá nhỏ, rậm cành, có nhiều rễ phụ xuống, thường mọc ở bờ nước nên rất nhạy cảm với độ ẩm không khí, khi độ ẩm không khí tăng lên rễ Si sinh ra trắng xoá

vì hút nhiếu nước Như vậy thời tiết rất dễ mưa nên nhân dân ta có cách dựa vào đó

để dự báo thời tiết

Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa nông nghiệp và văn minh thực vật Nét đẹp văn hóa của dân tộc ta là lối sống giản dị, chất phác, mộc mạc đầy những cung bậc và sắc màu khác nhau Trong cuộc sống đời thường, người Việt Nam thích những cái đơn giản, nhỏ xinh, hài hòa, thích sống có cộng đồng, làng xóm Qua đó,

ta thấy một nếp sống trọng tình nghĩa và tinh thần cộng đồng cao đã trở thành bề dày truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta

Văn hóa dân gian được thể hiện qua văn học dân tộc, nhất là văn học dân gian Văn hóa là cái nền, là động lực để văn học phát triển, văn học là một biểu hiện cụ thể sinh động của văn hóa Vì vậy, văn học bao giờ cũng có mối quan hệ mật thiết với văn hóa Văn học nghệ thuật muôn đời gắn liền với con người và cuộc sống

1.1.2.2 Văn hóa dân gian là cội nguồn tư tưởng của văn học

Trên thực tế của đời sống tinh thần, không có hiện tượng sự vật nào mà không có mối quan hệ với văn học Văn hóa là toàn bộ những gì do con người tạo

ra, là thước đo của sự phát triển Vì thế, văn hóa của mỗi dân tộc bao giờ cũng gắn liền với hệ tư tưởng của dân tộc ấy

Với sự khởi nguồn từ văn minh nông nghiệp lúa nước, hầu hết dân Việt đều xuất thân từ ruộng đồng, gắn bó với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành môi trường sinh tồn của họ, ý thức này luôn sâu đậm vào suy nghĩ người nông dân Nó trở thành khía cạnh của văn hóa dân gian, định hướng cho người sáng tác như Giáo sư Nguyễn

Khánh Toàn đã từng nói: “Văn học là xương sống của nền văn hóa dân tộc”

Trang 17

Macxim Gocky khẳng định: “Văn học là nhân học”, văn học bao giờ cũng

xây dựng và khẳng định giá trị con người Văn học giúp thanh lọc tâm hồn con người, tác động vào tình cảm, lý trí con người bằng các tiêu chuẩn và yêu cầu thẩm

mỹ Trong bản chất, tự thân văn học đã có mối quan hệ gắn bó với các giá trị văn hóa vốn là sự kết tinh các giá trị người Trong bản chất, tự thân văn học đã có quan

hệ gắn bó với các giá trị văn hóa vốn là sự kết tinh của các giá trị người

Văn hóa dân gian là văn hóa của quần chúng lao động và do quần chúng lao động sáng tạo ra Vì thế, văn hóa dân gian chứa đựng các giá trị phổ quát của bản sắc văn hóa dân tộc như lòng yêu nước thương nòi, tính cộng đồng, sự cần cù và sáng tạo trong lao động sản xuất Tất cả những giá trị ấy có ý nghĩa chi phối, tác

động và định hướng tư tưởng cho người sáng tác

1.2 Sự thể hiện chủ đề tình yêu trong văn học dân gian

1.2.1 Những nội dung chủ đề tình yêu trong văn học dân gian

1.2.1.1 Về mặt sinh lý

Loài người có hai giới tính, đó là nữ giới và nam giới, sự sinh sôi nảy nở từ giao phối giữa nam và nữ, con người sống thành bầy đàn, dần dần thành bộ lạc, bộ tộc, chủng tộc, xã hội nguyên thủy theo quy luật của tự nhiên Các tín ngưỡng về

“vạn vật hữu linh” đã xuất hiện trong đó có tín ngưỡng “phồn thực” và con người thờ cúng sinh thực khí của nam và của nữ, nghênh rước mô hình nỏ, nường được nhận thức là thiêng liêng Vùng đất Phú Thọ, văn hóa đất Tổ có những tập tục độc đáo như tục cướp kén cầu con, tục cầu tế nỏ nường, lễ cầu đinh

Tín ngưỡng này xuất hiện từ xa xưa trên đất Việt Trong các tháp Chàm, Linga và Yoni được thờ tại trung tâm ngôi đền chính Kalan Hay ở đầu thị xã Phan Rang, có hai ngọn tháp tọa lạc trên đồi Trầu, tháp to gọi là tháp Ông, tháp nhỏ gọi là tháp Bà Trong đó tôn thờ hai tượng Linga và Yoni

Trong xã hội loài người, tình dục là quy luật tự nhiên để phát triển nòi giống, gia đình, dòng họ Trai gái lớn lên đến tuổi dậy thì, quan hệ với nhau về yêu đương sinh lý và văn hóa dân gian về hôn nhân bắt nguồn từ đó:

Đàn ông nằm với đàn ông Như gạch, như ngói, như chông, như chà

Trang 18

Đàn ông nằm với đàn bà, Như lụa như lĩnh như hoa trên cành!

Về sau, sự ảnh hưởng của Nho giáo đã chi phối đến đạo đức, lối sống của con người Sự chi phối ấy có tác động mạnh mẽ trong giới thượng lưu, còn trong nhân dân lao động, sự chi phối ấy nhẹ nhàng hơn - họ cho việc tự do yêu đương là bình thường, dân chủ, hợp quy luật, hợp tình người Thông qua sinh hoạt lao động sản xuất, sự giao lưu nam nữ càng trở nên tự do hơn, nhưng lời nói tiếng hát thường tập trung biểu thị tình yêu lứa đôi Với văn hóa của mình, tình yêu đó không hề thô bạo sỗ sàng, sự tiếp xúc thể xác kín đáo riêng tư:

Gặp nàng anh nắm cổ tay Anh say vì nết, anh yêu vì tình

Với sự điều chỉnh của xã hội, của văn hóa, người con gái ấy biết giữ mình và

có thái độ đúng mực, tự trọng:

Thương thì dựa vế kề lưng

“Việc ấy” xin đừng để trọng về sau

Và khi đã nên cặp nên đôi, bước vào cuộc sống hôn nhân, trở thành vợ

chồng, quan hệ sinh lý trở thành trò vui dí dỏm rất hài hước:

Đương khi tắt lửa cơm sôi Lợn kêu, con khóc chồng đòi tòm tem

Bây giờ lửa đã đỏ lên Lợn no, con nín tòm tem thì tòm

Tình dục là một tạo tác mang tính lịch sử Dân gian đề cập đến vấn đề sinh lý với mục đích con người tất yếu cần đến nó để duy trì và phát triển nòi giống, nhưng không phải là những ham muốn quá trớn, khiêu dâm mà tạo nên lối sống trái với đạo đức, phong tục của dân tộc

1.2.1.2.Về mặt tâm lý

Muốn hôn nhân vững bền, gia đình hạnh phúc, yếu tố đầu tiên phải kể đến đó

là tình cảm, tình yêu nam nữ Tình yêu thương luôn được xây dựng trên cơ sở tôn trọng, cảm thông và quý mến nhau, chỉ có tình yêu thương mới đảm bảo được hạnh phúc dài lâu, đem đến sự hòa thuận giữa vợ chồng, gia đình đầm ấm, xã hội thái

Trang 19

hòa Tình yêu chính là một điều kiện cần và đủ để có được hạnh phúc trong hôn nhân và gia đình Bởi vậy, tình yêu đôi lứa là một nhu cầu cần thiết và quan trọng trong sinh hoạt của nhân sinh Trong kho tàng văn học dân gian, rất nhiều những câu tục ngữ, những bài ca dao đã thể hiện được quan niệm của người xưa về chủ đề tình yêu đôi lứa và hạnh phúc gia đình

Tục ngữ cũng có câu: “Tình có mặn, nghĩa mới nồng”, “Đạo vợ, nghĩa

chồng” vì thường vợ chồng chung sống với nhau trước tiên bằng tình yêu, đến tuổi

về già, con cháu đầy đàn, tình yêu đó không thể sống mãi mãnh liệt như tuổi trẻ được, lúc này vợ chồng lại sống với nhau bằng cái nghĩa, bằng tinh thần trách nhiệm cùng chung làm bổn phận của cha mẹ để nuôi dưỡng và dạy dỗ con cháu thành người Vì thế, dân gian vô cùng đề cao sự trong sáng, thủy chung, son sắt, một lòng một dạ, trước sau như một trong tình yêu

Anh đi đường ấy xa xa,

Để em ôm bóng trăng tà năm canh

Nước non một gánh chung tình, Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng?

Người xưa vẫn nói: dấu ấn của tình yêu là lòng chung thủy Chung thủy có nghĩa là trước sau như một, như vậy, khi nói đến một tình yêu chung thủy là nói đến một mối tình mà từ ngày đầu đến khi kết thúc hai người vẫn có nhau, vẫn giữ trọn

lời hứa yêu nhau ban đầu của họ Dù có xa cách muôn dặm thì những người yêu nhau cũng luôn nhớ và nghĩ đến nhau Cô gái thức trắng đêm, thao thức trong trăng

tà năm canh để nghĩ về gánh chung tình, nhớ về người thương nơi xa, dù xa mặt

nhưng không hề cách lòng

Khi hai người có tình cảm yêu đương, thì bất kỳ đặc điểm nào của người yêu cũng đẹp, cũng là dấu ấn để đối phương luôn nhớ đến Người con trai dường như thuộc lòng đến từng đường nét, lối ăn cách ở của người mình yêu Chỉ cần đọc lên,

ta có thể hình dung rõ về người con gái anh yêu, đó là một cô gái tóc bỏ đuôi gà, ăn

nói mặn mà có duyên, má lúm đồng tiền, răng nhánh hạt huyền, cổ yếm đeo bùa, nón thượng quai tua, nết ở khôn ngoan Tất cả những đặc điểm đó là vẽ đẹp thiên

phú của người con gái Việt Nam được dân gian đúc kết lại

Trang 20

Ấy ai dắt mối tơ mành, Cho thuyền quen bến cho anh quen nàng

Tơ tằm đã vấn thì vương,

Đã trót dan díu thì thương nhau cùng

Tình yêu được xem như mối tơ mành, sự gắn bó quyến luyến nhau được ví như tơ tằm, đã có tình ý yêu thương nhau, dan díu nhau thì hãy nên cùng yêu thương nhau với tình yêu son sắt nhất

Nước sông Tô vừa trong vừa mát

Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh Dừng chèo muốn tỏ tâm tình Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu

Quả là một tình cảm sâu đậm và chân thật Tình yêu được ví như dòng nước vừa trong vừa mát, tình yêu mà chàng trai dành cho cô gái là vô tận như chính con sông kia, làm sao đếm được sông bao nhiêu nước, bởi lẽ bản chất nước là không thể định lượng được

Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày

Dù có xa nhau đi nữa cũng ba vạn chín nghìn ngày mới xa

Còn gì sâu sắc nồng ấm hơn khi ví tình yêu với muối và gừng, hai vật thể mặn mà, đậm đà nhất Dù có trải qua thời gian bao lâu, tình yêu vẫn vững bền

Thậm chí thời gian càng dài thì tình yêu càng bền chặt hơn, giống như “gừng càng

già càng cay”

Chừng nào cho sóng bỏ gành

Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em Bao giờ cạn lạch Đồng Nai Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền Biển đông sóng gợn cát đùa Sánh đôi không đặng lên chùa anh tu

Trang 21

Có một sự thật hiển nhiên và tất yếu là, sóng sẽ chẳng bao giờ bỏ ghành được

và đảo chỉ có thể mọc lên từ biển Chàng trai đã lợi dụng sự gắn bó vĩnh cửu của sóng và gành, cù lao và biển; sự vững bền của lạch Đồng Nai và chùa Thiên Mụ để

ví tình cảm của mình là bền chặt vĩnh viễn không thể xóa nhòa được

Rủ nhau xuống bể mò cua Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

Em ơi chua ngọt đã từng Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau

Lời thơ không bóng bẩy nhưng vô cùng sâu sắc và gần gũi Tình yêu được ví còn to hơn cả non nước, dù cho non có xanh, nước có bạc thì hai người yêu nhau cũng không bao giờ quên nhau

Khi yêu nhau, sự xa cách về không gian trở nên nhỏ bé, bởi:

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua

Vậy nên trước con mắt của kẻ đang yêu, con sông không đủ để làm cách trở Đến đây ta hiểu được rằng, cây cầu mơ ước trên chỉ là cách để những người dang yêu thổ lộ tình yêu của mình Ta thấy được sự trìu mến trong ước mơ, sự khát khao được gặp gỡ, gần gũi và sẻ chia của những chàng trai, cô gái

Tình yêu trai gái là những nhu cầu tự nhiên của con người, tình yêu đến với con người khi trưởng thành như là một quy luật tất yếu, như một lẽ đương nhiên của tạo hóa Cuộc đời mỗi con người, không ai có thể thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh lão bệnh tử, đã là con người, ai cũng có những phút giây đau khổ và hạnh phúc Tình yêu

là một ý niệm mà ngay từ khi sinh ra con người đã tự biết cảm nhận, gắn liền như một phần của thân thể con người Vì thế, tình yêu không phải bao giờ cũng suôn sẻ, êm đẹp mà luôn có những sóng gió, những trắc trở mà đôi lứa có thể không vượt qua

Ngày nào em nói em thương, Như trầm mà để trong rương chắc rồi

Bây giờ khóa rớt chìa rơi, Rương long nắp vỡ, bay hơi mùi trầm

Những đấng nam nhi đôi khi cũng ngậm đắng nuốt cay trước sự từ chối hoặc

Trang 22

tan vỡ khi tình duyên trắc trở Nhưng rồi thân phận người phụ nữ tái tê làm sao, thân gái “mười hai bến nước”, trong nhờ đục chịu cũng đành Ông cha ta, dân gian

ta đã từng cho rằng gái có thì, có lứa, tội tình làm sao:

Còn duyên đóng cửa kén chồng, Hết duyên mở cửa gọi ông ăn mày

Tôi van ông rẽ vào đây, Giường cao chiếu sạch gối mây ông nằm

Duyên tôi xưa đáng một trăm, Bây giờ ế ẩm xin ông năm tiền

Cũng có những cô gái duyên phận dở dang, long đong, không nắm được duyên tình của mình, tựa như tiêu gẫy, đàn đứt dây:

Phận em sao lắm dở dang Cầm tiêu tiêu gẫy, cầm đàn đứt dây

Nước ta là một nước gốc nông nghiệp lúa nước, người dân Việt có tính cách chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất Người dân quê tuy suốt ngày đầu tắt mặt tối với công việc ruộng vườn, vất vả kiếm sống, bon chen mưu sinh giữa cuộc sống thiếu thốn trăm bề, nhưng tình cảm thì luôn phong phú Có thể nói, tình yêu trong văn học dân gian gắn liền với lao động, sinh hoạt đời thường Trong sinh hoạt hàng ngày của trai gái thôn quê, họ vẫn thường gặp nhau trong ngày mùa, khi gánh lúa về trên đường cái quan thơm mùi toóc rạ, hay gặp nhau trong những đêm giã gạo dưới trăng, những lúc hội hè đình đám; họ cũng đã trao nhau những câu hò điệu hát, mà nội dung cũng nói lên được những hoài vọng thầm kín Hình ảnh lao động đã đi vào thơ ca như một lẽ thường tình, vì thế, trong văn học dân gian, tình yêu cũng gắn liền với lao động sản xuất; gắn liền với những hình ảnh điển hình của làng quê Việt Nam

Hôm qua tát nước đầu đình,

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà?

Chàng trai thổ lộ tình cảm với cô gái thông qua công việc hôm qua tát nước

ở đầu đình làng Mượn chiếc áo như là vật làm tin để kết nối tình cảm hai người

Trang 23

Tình yêu trong văn học dân gian không gắn liền với những hình ảnh to lớn, trừu tượng mà gắn liền với những hình ảnh rất đổi đơn sơ và thân quen Đó là những hình ảnh điển hình của làng quê Việt Nam hay chỉ một vài nét đơn sơ của đối tượng, đôi câu trò chuyện vu vơ, hay những buổi hẹn hò vụng trộm Tất cả những thứ ấy đã để lại trong lòng người những yêu mến dạt dào, những băn khuăn mỗi khi nghĩ đến Ở đây, ta thấy hình ảnh đình làng và hoa sen là hai hình tượng lớn, là biểu tượng của làng quê Việt Nam Hay như hình ảnh người nông dân chăm chỉ với công việc cày bừa, tuy vất vả nhưng họ luôn luôn có nhau để tạo dựng cuộc sống:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Hình ảnh một anh chàng tỏ tình với cô gái khi đang cắt cỏ:

Cô kia cắt cỏ một mình, Cho anh cắt với chung tình làm đôi

Cô còn cắt nữa hay thôi, Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng

Thấy cô gái đang cắt cỏ một mình, chàng trai vờ xin cắt chung nhưng mục đích chung là muốn kết duyên vợ chồng với cô gái để làm một đôi uyên ương

Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một bản sắc riêng Dân tộc Việt Nam cũng vậy, thơ ca dân gian là tiếng ca đàn muôn diệu, đáng tự hào của con người Việt Nam Từ trong những lời ca dao câu hát từ xa xưa mà dân gian để lại, ta thấy lấp lánh vẻ đẹp muôn đời của tình cảm con người ẩn dưới mỗi dòng chữ, điều đó khẳng định tình cảm truyền thống của dân tộc Việt từ ngàn đời, tình yêu lứa đôi là một chủ

đề đặc sắc trong những câu ca dao xưa ấy Tình yêu đôi lứa từ trong văn hóa dân gian có cái gì rất trẻ trung, nên thơ và rất đẹp, đẹp từ cách nói giản đơn của người xưa, đẹp đến từng câu hò long lanh mát rượi lòng người Có thể nói, tình yêu trong văn hóa dân gian, mang tính chung, tính dân tộc và ít có sự riêng tư và chi phối bởi những tiêu cực xã hội Đó là thứ tình cảm sâu sắc, bền chặt xuất phát từ những điều giản dị, chân chất nơi thôn dã

1.2.1.3 Về mặt tâm linh

Trong cuộc sống, hai mặt tâm lý và sinh lý là hiện hữu thì về mặt tâm linh,

Trang 24

mang màu sắc siêu hình Khi trai gái yêu nhau thắm thiết, trải qua các lễ tiết,trở thành vợ chồng, cuộc sống sẽ có những nốt thăng trầm, có thể cuộc hôn nhân sẽ hạnh phúc thuận buồm xuôi gió, nhưng cũng có thể không thuận chiều Vì thế, nhân gian tin vào chuyện duyên phận, cho rằng có trời, thần linh hay một đấng siêu hình nào nó định đoạt số phận con người Ca dao về tình yêu đôi lứa ngợi ca những ông

Tơ bà Nguyệt:

Hôm qua anh đi chợ trời Thấy ông Nguyệt lão đang ngồi ở trên Tay cầm bút tay cầm nghiên, Tay cầm tờ giấy đang biên rành rành:

Biên đây lấy đấy, biên mình lấy ta Chẳng tin lên hỏi trăng già, Trăng già cũng bảo rằng ta lấy mình!

Đó là sự vui mừng cho hạnh phúc nhưng cũng có khi họ căm ghét, oán hận

vì ông Tơ bà Nguyệt đã không kịp thời xe duyên cho đôi lứa đến khi đã muộn màng buộc họ thấy hối tiếc:

Anh đừng rầu rĩ làm chi, Trai nam nhi kiếm vợ, gái nữ nhi kiếm chồng

Tôi giận bà Nguyệt Lão Tôi muốn giết ông Tơ Hồng Thưở xuân xanh anh chưa vợ,

Em chưa chồng mà ông không xe!

Dân gian đã thể hiện sự tin tưởng của mình đối với những ông Tơ bà Nguyệt

thông qua tranh dân gian Đông Hồ Ông Tơ và Bà Nguyệt, bức tranh thể hiện khát

vọng trai gái đến tuổi cập kê tìm được ý trung nhân tâm đầu ý hợp, gắn kết bên nhau trọn đời Tình yêu đôi lứa, sự kết duyên trong ngày xuân sẽ càng trở nên hợp mùa, bởi mùa xuân là mùa chồi non nảy lộc, sinh vật phát triển mạnh mẽ, nên kết duyên vào mùa này cặp trai gái sẽ có cuộc sống sung túc, đủ đầy, tươi vui, con cái đông đúc sau này - theo quan niệm của các cụ ngày xưa.(Xem hình 1)

Trang 25

Trong cái duyên số của tình yêu, hôn nhân, ca dao thường phản ánh tâm trạng lo lắng của người con gái, đó là một sự may rủi, hên xui Hạnh phúc có mỉm cười với mình hay không còn tùy thuộc vào chữ duyên chữ phận:

Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân

Dân gian thường quan niệm về tuổi tác có một mối liên hệ với số mạng con người Trong tình duyên cũng vậy, số mạng con người có thể là tốt đẹp nhưng cũng

có thể không ra gì :

Người ta tuổi tí, tuổi mùi Còn em thì chịu bùi ngùi tuổi thân!

Nhưng rồi họ an ủi, mặc dù sinh vào năm không “tốt số” nhưng vẫn hi vọng

số phận mỉm cười với họ khi họ được sinh vào “giờ đẹp”:

Tuổi thân thì mặc tuổi thân Sinh vào giờ dần vẫn sướng như tiên!

Từ xưa, dân gian đã tin vào tiền kiếp, tiền duyên, nợ tình nợ nghĩa của kiếp trước đến kiếp này phải trả, nếu chưa trả được thì có chết đi cũng không xí xóa được:

Nợ đời trả trả vay vay

Nợ tình biết trả đến ngày nào xong

Nợ tình chưa trả cho ai Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan

Từ những sự thuận chiều tốt đẹp cũng như sự trái chiều không thuận lợi trong tình yêu, về mặt tâm linh, dân gian thường tìm những nguyên nhân, nguyên

cớ tốt xấu ở duyên và phận Duyên phận xấu hay tốt cũng do trời đã định sẵn khó

lòng thay đổi được Đó là một niềm tin ngây thơ, hồn nhiên của dân gian

1.2.2 Hình thức thể hiện chủ đề tình yêu trong văn học dân gian

1.2.2.1 Kết thúc có hậu

Tâm lý của những tác giả dân gian là luôn đón chờ một điều gì đấy công bằng, tốt đẹp, nhìn thấy cái thiện được thưởng xứng đáng và cái ác bị trừng trị đích đáng:

Trang 26

“Ở hiền thì lại gặp hiền Người ngay thì gặp người tiên độ trì”

Và luôn tin tưởng một thế giới có điều nhân quả, gieo nhân nào gặt quả ấy

Điều ấy tạo nên sức lôi cuốn, hấp dẫn trong các tác phẩm dân gian, làm cho con người luôn lạc quan, yêu đời, hướng tới những hành động đẹp và cao cả Trong tình yêu cũng vậy, dân gian quan niệm, chỉ cần con người sống đúng đạo lý, nết ăn ở hiền lành thì tình yêu sẽ trở về, đôi lứa sẽ sớm được đoàn tụ, hạnh phúc sum vầy bên nhau

Trong chuyện cổ tích Tấm Cám, diễn biến chuyện có biến thiên nhưng kết

cục có hậu là nét thi pháp điển hình của truyện cổ tích thần kỳ đã được thể hiện đậm

cô gái hiền lành chăm chỉ được trao tặng

Tình yêu với đủ các cung bậc cảm xúc, dù là vợ chồng nhưng đôi lúc vẫn

có những sự hiểu nhầm, có những khó khăn trắc trở trong cuộc sống Kết thúc câu

chuyện Sự tích trầu cau, vợ chồng người anh dù phải chết, nhưng đó là cái chết

đẹp Người chồng hóa thân thành cây cau, người vợ gục bên hóa thân thành cây dây trầu leo quấn quýt bên thân cau Không bàn đến những giá trị khác của câu chuyện, ta tập trung chú ý đến tình yêu của vợ chồng người anh, quả thật, đây là một cái kết đẹp là những người yêu nhau, được hóa thân thành những sự vật - hiện tượng mãi mãi bên nhau Tình yêu của họ không bị khép lại khi họ chết đi, nhân gian đã cho họ một sự hóa thân để vĩnh cửu hóa tình yêu, vợ chồng họ sẽ đời đời được sum vầy Để từ nay về sau, mỗi khi nhai miếng trầu cau là người ta lại nhớ đến tình cảm keo sơn gắn bó, miếng vôi (do người em hóa thân thành) khi quyện

Trang 27

với trầu cau sẽ tạo nên một dòng máu đỏ tươi Câu chuyện về gia đình ấy sẽ lưu truyền mãi trong dân gian

Tình yêu trong dân gian không chỉ nói về nhưng con người xinh đẹp về ngoại hình mà tình yêu sẽ luôn dành cho tất cả mọi người, dù người ấy có ngoại hình kỳ

dị và xấu xí thế nào đi nữa Dân gian luôn đề cao cái nết, cái phẩm chất quý giá của

con người Sọ Dừa là một minh chứng điển hình, dù anh có hình dạng kỳ dị, nhưng

với bản tính chăm chỉ, thật thà, cần mẫn của mình cũng chiếm được trái tim người con gái Út của Phú Ông Cô con gái Út cũng là một người nhân hậu, tốt đẹp, cô đem lòng ưng thuận Sọ Dừa vì cô hiểu rõ tâm hồn đẹp đẽ khuất bên trong một ngoại hình xấu xí như thế Tình yêu của hai người cũng được đền đáp vô cùng xứng đáng,

Sọ Dừa đỗ trạng nguyên, ra làm quan, đưa vợ về dinh hưởng cuộc sống sung túc đủ đầy hạnh phúc bên nhau, làm cho hai người chị - vốn trước đây khinh miệt họ đã xấu hổ quá phải trốn đi biệt tích

Triết lý sống của tác giả dân gian trong truyện cổ tích trước hết là chủ nghĩa lạc quan Tinh thần lạc quan trong cổ tích chính là lòng yêu thương quý trọng con người, từ đó mà yêu đời, tin vào cuộc đời, cho dù cuộc sống hiện tại đầy khổ đau, người ta vẫn luôn hướng về cuộc sống ngày mai tốt đẹp Kết thúc có hậu là biểu

hiện dễ thấy của tinh thần lạc quan vào niềm tin Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác vừa là

triết lý sống lạc quan vừa là đạo lý, ước mơ công lý của nhân dân trong cổ tích Tình yêu cũng không là ngoại lệ, những người có bản chất tốt, chăm chỉ thật thà, sống đúng đạo lý cuối cùng cũng sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn

1.2.2.2 Ngôn từ diễn đạt

Thơ ca dân gian là một thể loại nghệ thuật ngôn từ mang tính đặc trưng riêng biệt Ngôn ngữ thơ ca dân gian có nguồn gốc dân dã, thể hiện bản chất bình dị, chất phác, hồn nhiên của người nông dân lao động Đó cũng chính là đặc tính cơ bản của loại hình ngôn ngữ trong ca dao

Ngôn từ diễn đạt trong văn học dân gian là ngôn ngữ thuần Việt trong sáng, thể hiện nét đẹp văn hóa truyền thống mang tính nhân văn cao Đó là tiếng hát của những con người lao động nơi ruộng vườn vất vả nhưng vô cùng lãng mạn và tình tứ:

Trang 28

Ai về cuốc đất trồng cau Cho em vun ké cây trầu một bên Chừng nào trầu nọ bén lên Cau kia có trái lập nên của nhà

Với truyền thống văn hóa trong giao tiếp: “miếng trầu là đầu câu chuyện”,

trầu cau là những vật lễ không thể thiếu được trong các ngày lễ lớn của dân tộc Việt Vì thế, câu ca dao trên thay vì nhắc đến ngô, khoai, hay lúa thì lại nhắc đến hình tượng trầu cau

Bởi luôn gắn với môi trường dân gian, truyền thống văn hóa của dân tộc đã tạo ra sự mượt mà, trau chuốt trong lời thơ dân gian Vũ Ngọc Phan từng nhận định

về ca dao: “Nó có vẽ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt”

Gió vàng hiu hắt đêm thanh, Đường xa dặm vắng, xin anh đừng về

Mảnh trăng đã trót lời thề, Làm chi để gánh nặng nề riêng ai

Lời tỏ tình đã thể hiện được tình cảm trai gái làng quê vô cùng dễ thương và

Ngôn ngữ ca dao vừa hàm chứa những giá trị suy tư, suy lý như Bao giờ cho

đến tháng ba, Con vua thì lại làm vua, Dã Tràng xe cát biển đông vừa giàu chất

tự sự trong Thằng Bờm, Hôm qua em đi hái dâu, Cái cò cái vạc cái nông Hơn thế,

ngôn ngữ ca dao còn mang phong cách trữ tình dân gian bay bổng lãng mạn với

Đêm trăng thanh, Trèo lên cây bưởi hái hoa Ngôn ngữ mộc mạc giản dị khiến

những lời thơ trong ca dao dường như trở nên lung linh, đằm thắm hơn thể hiện đậm nét những giá trị nghệ thuật truyền thống

Trang 29

Ngôn ngữ ca dao không tô vẽ bóng loáng mà hết sức cô đọng, logic Đó là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, mang đậm tính dân tộc và tính địa phương đã thấm sâu vào lòng người đọc, vào tâm hồn của những người con đất Việt

1.2.2.3 Thể thơ dân gian

Là những tác phẩm thơ ca dân gian, ca dao được sáng tác dưới nhiều hình thức thơ khác nhau: song thất, song thất lục bát, bốn chữ, hỗn hợp, tuy nhiên được vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát Đa số các bài ca dao đều được sáng tác theo thể lục bát, vì thơ lục bát là “những lời nói vần” gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, dễ nhớ, dễ thuộc

Các tác giả dân gian sử dụng thể thơ lục bát để sáng tác thơ ca, hò vè, một số truyện thơ dân gian Có tới hơn 95% bài ca dao được sưu tầm trong kho tàng ca dao Việt Nam được làm theo thể lục bát Như vậy, ta có thể khẳng định không có thể thơ nào được sử dụng rộng rãi trong đời sống, trong văn chương như thể lục bát Nếu tính riêng về số câu, số bài thì chắc chắn lục bát đạt con số kỉ lục

Ngoài thể lục bát truyền thống, dân gian còn dùng lục bát biến thể Lục bát biến thể là một thể thơ linh hoạt trong cách ngắt nhịp, gieo vần, trong việc sử dụng luật bằng trắc, trong cách thêm chữ trong câu, số câu trong bài mà các tác giả có điều kiện tung hứng, biến hóa, góp phần làm cho thơ lục bát tránh được sự khuôn sáo, nhàm chán Điều này đã và đang làm mới thể thơ truyền thống này:

Có thương thì thương cho chắc Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn Đừng như con thỏ nọ đứng đầu truông Khi vui giỡn bóng, khi buồn giỡn trăng

Đây là một dạng lục bát biến thể, câu hai và câu ba có những điểm hơi khác biệt với những câu lục bát thông thường Tác giả dân gian đã dùng từ láy “trục trặc” (đều là thanh trắc) đặt vào chữ thứ hai và thứ ba tạo nên một nhịp thơ thoáng nghe

đã thấy được sự “trục trặc”, không được êm xuôi Lục bát thông thường chủ yếu ngắt nhịp chẵn (2-2, 2-4, 4-4 hoặc 4-2), ở đây, tác giả dân gian ngắt theo nhịp 1-2-1-2-2 Cách ngắt nhịp liên tục cùng với việc hạ thanh trắc ở chữ thứ hai đã góp phần thể hiện sự không suôn sẻ trong mối tình này

Trang 30

Lục bát là thể thơ mang đậm bản sắc dân tộc nhất, người Việt Nam đã được đắm mình trong nhịp điệu của thơ lục bát ngay từ khi thơ dại Chính thơ lục bát đã nuôi dưỡng dân tộc ta thành những con người vừa “đa tình” vừa “nhân hậu” Cái chất đa tình của các chàng trai cô gái Việt phần nào được bộc lộ:

Bây giờ mận mới hỏi đào, Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa:

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Người phụ nữ chẳng may lấy phải người chồng không ra gì nhưng vẫn nói với người mình yêu rằng:

Anh nói em cũng nghe anh Bát cơm lỡ đã chan canh mất rồi Nuốt vào đắng lắm anh ơi Nhả ra thì để tội trời ai mang

Cốt cách của cả một dân tộc:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng, lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trăng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Thể lục bát truyền thống trong ca dao bộc lộ trực tiếp những tâm tình nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống; thể hiện từ những bức tranh lao động đến những suy nghĩ về cuộc đời, từ khoảnh khắc hồn nhiên vô tư của con người đến những diễn biến tình cảm trữ tình phong phú Kho tàng lục bát của những bài ca dao trong văn học dân gian Việt Nam vô cùng rộng lớn đã đi vào tâm thức của người Việt Nam, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, cốt cách người dân Việt Có thể nói, lục bát chính là thể thơ mang đậm bản sắc, tâm hồn, cốt cách dân tộc Việt

1.3 Sự đồng cảm của dân gian trước chủ đề tình yêu của văn chương trung đại

Những nội dung tình yêu trong văn chương trung đại đã nhận được sự đồng cảm của dân gian Dân gian ủng hộ cho những tình yêu sâu sắc, mặn nồng của các

nhân vật trong văn chương trung đại

Trang 31

Trong lòng người dân Nam Bộ, những nhân vật trong Lục Vân Tiên của

Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành biểu tượng Chẳng hạn, khi có một người dũng cảm giữa đường thấy chuyện bất bằng bèn ra tay can thiệp, chàng bèn được ví như Vân Tiên Nguyệt Nga thì lại là vừa là tấm gương và vừa là thần tượng của sự chung thuỷ sắt son Mặt khác, một gã có máu dê thường bị gọi là Bùi Kiệm:

Anh đi lục tỉnh giáp vòng Đến đây trời khiến đem lòng thương em

Gá duyên thì phải lựa phải xem Coi thử đó là thằng Bùi Kiệm, hay anh Vân Tiên, em mới trao lời

Những cô gái trung trinh rất sợ gặp những tay đàn ông mang máu Bùi Kiệm; Vậy nên, mấy chàng trai khi tán tỉnh người đẹp lúc nào cũng phải hứa rằng mình không bao giờ có những tâm địa tồi tệ như Bùi Kiệm:

Má hồng mình cũng như ta, Đêm nằm thơ thẩn vào ra một mình

Em thương hay không tự ý của mình, Không phải anh như Bùi Kiệm ép tình Nguyệt Nga

Và cô gái cũng thường khuyên người con trai không nên bắt chước Bùi Kiệm

mà ép uổng duyên nàng:

Kiến bất thủ như tầm thiên lý, Thương không thương tự ý của mình

Đừng như Bùi Kiệm ép tình Nguyệt Nga

Dân gian đã nhân truyện Lục Vân Tiên để sáng tác ra những những vần thơ theo nhiều thể loại khác nhau được lưu truyền Mượn ý từ truyện Lục Vân Tiên từ khi Vân Tiên cứu Nguyệt Nga ra khỏi tay bọn cướp Phong Lai và hai người đã trao thơ tỏ tình với nhau và về nhà Nguyệt Nga vẽ bức hình Vân Tiên để luôn luôn tưởng nhớ đến chàng, dân gian đã làm nên bài ca dao:

Đêm năm canh trong dạ bồi hồi Ngày sáu khắc không nguôi dạ ngọc

Đó em noi cô Nguyệt Nga mà học Họa tượng chồng thờ Lục Vân Tiên

Trang 32

Nào hay đâu cống sứ qua Phiên Nhảy xuống sông xa vời hồn phách Lòng dặn lòng xin em chí mực

Em đừng thương đó bỏ đăng Tiếc cuộc đời như thể bóng trăng Khi tỏ rạng đến ngày lại khuyết

Hay:

Tình cờ ta lại gặp ta, Vân Tiên mới gặp Nguyệt Nga một lần

Câu ca dao có vẻ bình thường, nghe thật thà như văn chương của truyện Lục Vân Tiên nhưng nó cũng đã nói lên được giá trị đặc biệt của tác phẩm mà câu ca dao đã chuyển tải Quả đúng là cuộc gặp gỡ giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga

là một cuộc gặp gỡ tình cờ Và quả là họ chỉ gặp nhau có một lần rồi phải xa nhau cho đến cuối truyện họ mới được tái hợp trong một hoàn cảnh đầy vẻ mơ ước Vậy thì, câu ca dao trên đây, dù thật thà mộc mạc, nhưng cũng đã nói lên được ước vọng của hai con người - một nam và một nữ - dù mới gặp mặt nhau một lần họ cũng ước mong giữ mãi được mối tình thủy chung như Nguyệt Nga đối với Vân Tiên và họ cũng ước vọng có một kết hợp đẹp như cuộc kết hợp giữa Lục Vân Tiên với nàng Kiều Nguyệt Nga ở cuối truyện:

Nguyệt Nga là gái trung trinh,

Vì cha, nên phải đăng trình ra đi

Ai ngờ gặp lúc hiểm nguy, Phong Lai nó bắt, đem đi lên rừng

Tớ thầy than khóc tưng bừng, Trời ơi! Nó hại nửa chừng hồng nhan

Vân Tiên vừa lúc đi ngang, Chàng bèn ra sức phá tan hung đồ

Nguyệt Nga trong dạ sầu bi, Đêm ngày tơ tưởng nhớ thì Vân Tiên

Trang 33

Đặt bàn hương án cầu nguyền, Họa ra bức tượng Vân Tiên để thờ

Tình yêu đôi lứa được ví như trúc- mai, Lục Vân Tiên - Kiều Nguyêt Nga:

“… Trúc kia đã sánh cùng mai Như Lục Vân Tiên gá nghĩa với chị Hai họ Kiều…”

Ngay cả dân ca vùng Nam Trung Bộ, Bình Trị Thiên cũng rất “chuộng” chủ

đề truyện thơ “Lục Vân Tiên” và có những câu ca đầy lòng ngưỡng vọng, nhân văn Tiêu biểu là một bài hò mái nhì - dân ca Bình Trị Thiên:

“Bớ em ơi! Em đừng suy nghĩ thiệt hơn Hãy ở như Nguyệt Nga ngày trước lòng dạ keo sơn chẳng dời”

Lại một câu trong lời hát rao của hát Phường Vải vùng Thanh Nghệ Tĩnh nhắc đến mối tình Vân Tiên và Nguyệt Nga:

Tình cờ ta lại gặp ta, Vân Tiên mới gặp Nguyệt Nga một lần

Câu ca dao có vẻ bình thường, nghe thật thà nhưng cũng đã nói lên được giá trị đặc biệt của tác phẩm mà câu ca dao đã chuyển tải Quả đúng là cuộc gặp gỡ giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là một cuộc gặp gỡ tình cờ Và quả là họ chỉ gặp nhau có một lần rồi phải xa nhau cho đến cuối truyện họ mới được tái hợp trong một hoàn cảnh đầy vẻ mơ ước Vậy thì, câu ca dao trên đây, dù thật thà mộc mạc, nhưng cũng đã nói lên được ước vọng của hai con người - một nam và một nữ

- dù mới gặp mặt nhau một lần họ cũng ước mong giữ mãi được mối tình thủy chung như Nguyệt Nga đối với Vân Tiên và họ cũng ước vọng có một kết hợp đẹp như cuộc kết hợp giữa Lục Vân Tiên với nàng Kiều Nguyệt Nga ở đoạn cuối đoàn

tụ sum vầy

Đôi lứa yêu nhau luôn mong muốn tình yêu của mình luôn bền chặt, dù có khó khắc cách trở cũng không thay lòng đổi dạ Ví như tình yêu Nguyệt Nga vẫn mặn nồng dành cho chàng Vân Tiên dù mắt anh đã mù lòa đi:

Đạo vợ chồng anh phải xét cho xa, Anh Vân Tiên mù mắt, chị Nguyệt Nga còn chờ

Trang 34

Kiều Nguyệt Nga trong con mắt dân gian luôn là một phụ nữ trung trinh tiết liệt, giàu sang quyền quý không khuất phục được tấm lòng thủy chung như nhất của nàng đối với Lục Vân Tiên Và chính đức tính cao quý này đã để lại trong tâm thức quần chúng một lòng chân thành trọng vọng đối với nàng:

Chiều chiều vịt lội ao sen Tình cờ tôi gặp người quen tôi chào

Chào cô trước mũi tiên phuông, Chào cô sau lái mặt vuông chữ điền

Người nào là vợ Vân Tiên?

Cho tôi biết để chào liền chị dâu

Người nào người ngãi tôi đâu?

Nói cho tôi biết để gởi câu ân tình

Lòng thủy chung trước sau như một của Kiều Nguyệt Nga là một tấm gương cho giới phụ nữ noi theo Bất cứ người con gái trung trinh nào cũng muốn được noi theo tấm gương tiết liệt như nàng:

Dầu ai gieo tiếng ngọc, Dầu ai đọc lời vàng, Bông sen hết nhụy bông tàn,

Em đây giữ tiết như nàng Nguyệt Nga

Học theo gương Kiều Nguyệt Nga, những người phụ nữ kiên trinh luôn tự nhắc nhở rằng dù gặp phải bất cứ hoàn cảnh éo le, ngang trái nào, dù ai có dùng lời ngon tiếng ngọt, dùng bã phú quý vinh hoa để dụ dỗ họ vẫn không sờn lòng như Kiều Nguyệt Nga đã từng chứng tỏ như thế:

Lòng lại dặn lòng, dầu non mòn biển cạn,

Dạ lại dặn dạ, dầu đá nát vàng nhòa,

Em đây quyết noi gương chị Nguyệt Nga, Mặc ai phỉnh dỗ, chẳng xa lời nguyền

Hay:

Chim lẻ bạn khó về nơi non đảnh Cảnh nhớ thương là tình cảnh mặn nồng

Trang 35

Dẫu ai kia có lỗi đạo vợ chồng

Em đây chí quyết một lòng như chị Nguyệt Nga

Truyện Kiều phổ biến rộng rãi trong khắp nước ta, nên không mấy người là

không thuộc những tên: Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải, Thúc Sinh, Hoạn Thư Dân gian thuộc tên những nhân vật này đến mức coi họ như những người có da, có thịt và cảm nghĩ, hành động cũng như mọi người Người có đặc điểm nào thì gắn cho cái tên ấy, chẳng hạn như đẹp như Thúy Kiều, đểu như Thúc Sinh, ghen như Hoạn Thư

Miêu tả nỗi xa cách của hai bạn tình, nhân dân đã sáng tác những câu ca dao theo thề tỷ Sự xa cách trong tình yêu là một điều không may mắn và không hề ai mong muốn Khi hai người yêu nhau mà phải xa nhau thì cũng héo mòn như sen xa

hồ, sen sẽ khô héo, nước hồ cạn kiệt; liễu xa đào sẽ tan tác hoang tàn:

Sen xa hồ, sen khô, hồ cạn;

Liễu xa đào, liễu ngả, đào nghiêng

Anh xa em như bền xa thuyền, Như Thúy Kiều xa Kim Trọng, biết mấy niên cho tái hồi!

Để diễn tả nỗi nhớ khi xa cách, chàng trai cảm tưởng sự xa cách người yêu của mình dài dẳng và đầy đau đớn như Thúy Kiều xa Kim Trọng, mặc dù xa cách nhưng mong mong ngày tái hợp:

Anh xa em ngày tháng đeo phiền Cũng như thể Thúy Kiều xa Kim Trọng mười lăm niên đoạn trường

Mượn hình ảnh Hán mới gặp Hồ, giống như Kim Trọng gặp cô Thúy Kiều, chàng trai gạn lời hỏi tình cảm nơi cô gái, rằng cô có tình cảm gì với anh không, hay là cô đã có đôi có cặp bỏ anh lại cô đơn phòng không một mình:

Bửa nay Hán mới gặp Hồ

Tỷ như Kim Trọng gặp cô Thúy Kiều Nên anh hỏi thiệt một điều

Có thương có nhớ ít nhiều hay không?

Hay là nàng đã có chồng

Bỏ anh luống chịu phòng không một mình

Trang 36

Nhiều khi nói thẳng tên người yêu, nghe thật sỗ sàng, nói ngay vào mình thì cũng ngượng ngùng, nên người ta cũng đi mượn chàng Kim, nàng Kiều, nàng Vân thay bạn, thay mình cho đỡ thẹn:

Bóng ai thấp thoáng vựờn hoa

Hình như Kim Trọng đến nhà Kiều, Vân !

Hoặc lắng nghe có tiếng “người của mình” đến thì gọi chệch ra là “tiếng nhạc ngựa của chàng Kim” cho đỡ khó ăn khó nói:

Đêm khuya trời lạnh sương im, Tai nghe liếng nhạc chàng Kim tới gần

Khi nói đến sự quyến luyến day dứt chia xa, đôi lứa cũng cảm thấy sự biệt ly đầy nỗi băn khoăn như Kim - Kiều:

Dứt tình kẻ ở người đi, Cũng như Kim Trọng biệt ly Thúy Kiều

Có khi đó là sự so sánh tình cảm nặng nhẹ trong tình yêu, cô gái mượn hình ảnh Từ Hải chung tình chờ đợi nàng Kiều sau mười mấy năm lưu lạc để so sánh với tình yêu mà chàng trai dành cho mình:

Chỗ anh thương ít Sao anh xít ra nhiều Anh hổng coi Từ Hải Thương nàng Kiều mấy năm?

Cũng có khi là một lời thách thức trong tình yêu Cô gái thách thức chàng trai nếu không chung tình và giả dối như Thúc Sinh kia thì cũng đừng trách cô nổi cơn ghen như Hoạn Thư:

Anh mà bắt chước Thúc Sinh Thì anh đừng trách vợ mình Hoạn Thư!

Và rất nhiều câu ca dao ví tình yêu của mình như mối tình Thúy Kiều - Kim Trọng:

- Lòng dặn lòng ai đổ đừng xiêu

Ví như Kim Trọng Thúy Kiều thuở xưa

Trang 37

- Sông Tiền Đường cá lội giao đuôi

Kiều thương Kim Trọng giả như tui thương mình

- Đi ngang trước cửa nàng Kiều

Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu Nhìn lên sơn lâm nhớ nguồn nước suối

Ăn gạo bên bắc, nhớ buổi Đường, Nghiêu Nhón chân lên vang tiếng: ơ, Kiều Trước có quen Kim Trọng, giừ có nhớ ít nhiều chi không?;

- Xưa Kim Trọng trao trâm gửi quạt

Mười lăm năm man mác nhớ thương Nay chừ Kim Trọng gặp Kiều nương Nhớ trâm trao quạt gởi, chén rượu quỳnh nương thưở nào!

- Lơ láo cuốc ăn bến nước

Bơ vơ chim nhạn lẻ đôi Điệu chung tình thảm lắm em ơi!

Ví như Kim Trọng gá duyên nơi Thúy Kiều

Ba năm duyên mặn tình xiêu

Nợ duyên đôi ngã, gió hiu hiu trên cành Thì thòm trống điểm tàn canh

Để coi người ngọc, duyên lành trao ai?

Trong dân ca Việt Nam, những câu hát đố và hát đối về Kiều rất phong phú Trong những ngày hội thời xưa, có thể suốt đêm, nam nữ túm năm tụm ba lại đề hát

đố và hát đáp toàn về “chữ nghĩa”, toàn về “sự tích” và “nhân vật” trong Kiều Có

nhiều câu đố đáp vừa tài tình duyên dáng vừa dí dỏm

Bên nữ lên tiếng đố:

Nghe tin anh học trò tài, Đào tiên một cõi thiên thai ai trồng ?

Bên nam liền đáp :

Thiên thai là của nàng Kiều, Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

Trang 38

Bến nữ đố:

Truyện Kiều anh thuộc đã làu

Đố anh kể được một câu mười người

Bên nam đáp:

Đôi bên mười vị tướng quân Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu

Như vậy, dân gian đã có cái nhìn đồng cảm, đầy chia sẽ, ủng hộ cho những

tình yêu sâu sắc, mặn nồng của các nhân vật trong văn chương trung đại Dân gian

đã lấy những mối tình đẹp ấy để ví von với những tình cảm yêu đương của những con người bình dân trong cuộc sống đời thường

Trang 39

Chương 2 NỘI DUNG THỂ HIỆN TÌNH YÊU TRONG THƠ NÔM

THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX NHÌN TỪ VĂN HÓA DÂN GIAN

2.1 Tình yêu trong hồn điệu dân tộc

Tình yêu - hai tiếng ngắn gọn nhưng cũng đủ chứa đựng trong nó vô số sự bất ngờ, cho dù là ở bất kỳ nơi đâu, cho dù là vào khoảng thời gian nào Đó là một quy luật đã tồn tại từ muôn đời nay Nơi nào có tình yêu, nơi đó có sự tỏa sáng Nơi nào có tình yêu, nơi đó có niềm hạnh phúc Đồng thời, cũng có những khổ đau, nhung nhớ, lo nghĩ… với biết bao cung bậc cảm xúc Qua từng trang thơ Nôm viết

về chủ đề tình yêu đôi lứa trong mạch nguồn văn hóa dân gian, với pháp luật và lễ giáo phong kiến hoàn toàn không thừa nhận con người có quyền tự do yêu đương,

tự do kết hôn thì vấn đề tự do yêu đương đã trở thành nội dung quan trọng nhất trong mỗi tác phẩm Các tác giả khẳng định vấn đề tự do yêu đương, họ say mê hứng thú với quá trình đi đến tình yêu của các nhân vật Lật từng trang thơ, tiếng nói bênh vực quyền cá nhân con người, đặc biệt là quyền tự do luyến ái dường như

vẫn luôn vang vọng mãi đến tận các thế hệ sau

2.1.1 Ánh mắt đầu tiên - sự khởi nguồn cho một tình yêu đẹp

Trên cơ sở ca ngợi tình yêu tự do, các tác giả đã xây dựng nên hình tượng nhân vật “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, yêu nhau say đắm một cách tự nhiên ngay từ những ánh mắt đầu tiên Chính ánh mắt đầu tiên tìm thấy nhau trong lần đầu tiên gặp gỡ là mốc khởi đầu cho những câu chuyện tình yêu trong kho tàng thơ Nôm trung đại Thực tế đã nhiều lần chứng mình, tình yêu đôi lứa, sự quyến luyến lẫn nhau được sinh ra thông qua cái nhìn trong giây phút đầu gặp gỡ là một điều hiển nhiên Khi đứng trước một nửa của đời mình, dường như có một điều khó lý giải nào đó, làm cho người ta có giác quan nhạy bén để nảy sinh ra một cảm xúc kỳ

lạ mà ta khó có thể cưỡng lại được, đó chính là tình yêu Bởi vậy dân gian thường nói: “con gái yêu bằng tai, con trai yêu bằng mắt”, các bậc thánh hiền cũng cho rằng miệng “anh hùng nan quá mĩ nhân quan”

Trang 40

Trong các sáng dân gian về tình yêu đôi lứa, ta dễ dàng bắt gặp bất kỳ đâu một tình yêu nảy nở kỳ diệu, mạnh mẽ ngay từ cái nhìn đầu tiên, đó là một mối tình

vô cùng mộc mạc, giản dị, tự nhiên và cũng rất người, rất đậm tình như chính con người xưa:

Gặp đây mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

(Ca dao)

Dân gian quan niệm: “Có duyên mới gặp, có nợ mới yêu”, con người gặp gỡ nhau đó cũng là cái duyên, cái phận Chữ duyên, chữ phận có một ý nghĩa to lớn trong việc hình thành mối quan hệ giữa người với người:

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

Vô duyên đối diện bất tương phùng

Thúy Kiều và Kim Trọng nhân một buổi dạo chơi trong tiết trời xuân xanh

đã gặp gỡ nhau và nãy sinh tình cảm yêu mến ngay trong lần đầu tiên nhìn thấy nhau, cảm xúc đầu tiên giữa hai người đó là ngập ngừng, e thẹn, vương vấn Vẫn thẹn thùng, nhẹ nhàng và kín đáo mắ dù hai tâm hồn, hai trái tim đa tình đa cảm đã tìm được tiếng chung:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài Tình trong như đã mặt ngoài còn e

Trước tiếng sét ái tình, Kim Trọng vốn hào hoa, phong nhã đã làm chủ được

tâm hồn trong một cuộc tình trường:

Chập chờn cơn tỉnh cơn mê Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chẳng khôn (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Sau giây phút đầu gặp gỡ ấy, “Kẻ thiên tài" đã mang theo hình bóng “người quốc sắc" trở về nhà Thúy Kiều và Kim Trọng bén duyên tơ vương, trong lòng ai cũng ấp ủ những suy tư về nữa kia Trong lúc Kiều băn khoăn:

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w