1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ học sinh THCS vùng bãi ngang ven biển ở thị xã sông cầu, tỉnh phú yên

101 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy việc nghiên cứu sự phát triển các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ ở các độ tuổi học sinh nói chung và học sinh trung học cơ sở THCS nói riêng có vai trò quan trọng cho việc đề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

NGUYỄN VĂN THỦY

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC VÀ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ HỌC SINH TRUNG HỌC

CƠ SỞ VÙNG BÃI NGANG VEN BIỂN Ở THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM

Bình Định – Năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

NGUYỄN VĂN THỦY

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC VÀ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ HỌC SINH TRUNG HỌC

CƠ SỞ VÙNG BÃI NGANG VEN BIỂN Ở THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 8420114

Người hướng dẫn: PGS.TS Võ Văn Toàn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả điều tra trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Bình Định, tháng 7 năm 2020 Tác giả

Nguyễn Văn Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt của các

cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo cũng như gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của tổ bộ môn sinh học thuộc khoa khoa học tự nhiên, phòng đào tạo sau đại học và các phòng ban khác của trường Đại học Quy Nhơn

Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Võ Văn Toàn, người

đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh trường TH & THCS Cù Chính Lan và trường THCS Nguyễn Hồng Sơn đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu

Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã quan tâm giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Bình Định, tháng 7 năm 2020 Tác giả

Nguyễn Văn Thủy

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thị xã Sông Cầu 23

Trang 6

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hình thái - thể lực 26 2.3.3 Phương pháp nghiên cứu chỉ số chức năng tuần hoàn 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 33

Trang 7

3.3.2 Sự phân bố học sinh theo mức trí tuệ 57

3.3.5 So sánh trí nhớ thị giác và thính giác của học sinh 63

3.4.1 Mối tương quan giữa chỉ số BMI với các chỉ tuần hoàn 65 3.4.2 Mối tương quan giữa chỉ số IQ với trí nhớ ngắn hạn 68

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

BMI : Body mass index (Chỉ số khối cơ thể)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính, theo tuổi 25

3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính 33 3.2 Chiều cao đứng của học sinh theo nghiên cứu một số tác

3.3 Cân nặng của học sinh theo tuổi và giới tính 36 3.4 Cân nặng của học sinh theo nghiên cứu một số tác giả 38 3.5 Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính 39 3.6 Vòng ngực trung bình của học sinh theo nghiên cứu một

3.7 Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi và giới tính 42 3.8 Chỉ số Pignet của học sinh theo nghiên cứu một số tác giả 43 3.9 Chỉ số BMI của học sinh theo tuổi và giới tính 44 3.10 Chỉ số BMI của học sinh theo nghiên cứu một số tác giả 46 3.11 Tần số tim của học sinh theo tuổi và giới tính 47 3.12 Tần số tim của học sinh theo nghiên cứu một số tác giả 49 3.13 Huyết áp tâm thu của học sinh theo tuổi và giới tính 50 3.14 Huyết áp tâm thu của học sinh theo nghiên cứu một số tác

Trang 10

3.19 Phân bố học sinh theo mức trí tuệ, độ tuổi và giới tính 57 3.20 Trí nhớ thị giác của học sinh theo tuổi và giới tính 59 3.21 Trí nhớ thị giác của học sinh theo nghiên cứu một số tác

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính 34 3.2 Cân nặng của học sinh theo tuổi và giới tính 37 3.3 Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính 40 3.4 Chỉ số Pignet của học sinh theo tuổi và giới tính 42 3.5 Chỉ số BMI của học sinh theo tuổi và giới tính 45 3.6 Tần số tim của học sinh theo tuổi và giới tính 48 3.7 Huyết áp tâm thu của học sinh theo tuổi và giới tính 51 3.8 Huyết áp tâm trương của học sinh theo tuổi và giới tính 53 3.9 Chỉ số IQ của học sinh theo tuổi và giới tính 55 3.10 Phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo độ tuổi 58 3.11 Phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo giới tính 58 3.12 Trí nhớ thị giác của học sinh theo tuổi và giới tính 60 3.13 Trí nhớ thính giác của học sinh theo tuổi và giới tính 62 3.14 So sánh trí nhớ thị giác và thính giác của học sinh nam 64 3.15 So sánh trí nhớ thị giác và thính giác của học sinh nữ 65 3.16 Tương quan giữa chỉ số BMI với tần số tim của học sinh 65 3.17 Tương quan giữa chỉ số BMI với huyết áp tâm thu của học

3.18 Tương quan giữa chỉ số BMI với huyết áp tâm trương của

3.19 Mối tương quan giữa chỉ số IQ với trí nhớ ngắn hạn thị

3.20 Mối tương quan giữa chỉ số IQ với trí nhớ ngắn hạn thính

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực con người là nhân tố quan trọng, là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi rất lớn đến phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Trẻ em là nguồn nhân lực quan trọng cho tương lai của đất nước, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vì vậy việc nghiên cứu sự phát triển các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ ở các độ tuổi học sinh nói chung và học sinh trung học cơ sở (THCS) nói riêng có vai trò quan trọng cho việc đề ra các giải pháp nhằm nâng cao thể lực và trí tuệ cho học sinh

Các chỉ số sinh học và trí tuệ ở các lứa tuổi không phải là số hằng định và không giống nhau giữa các vùng miền Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, các chỉ số luôn có sự biến đổi, cần phải được tiến hành nghiên cứu thường xuyên Chính vì thế mà từ trước đến nay ở nước ta đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về hình thái-thể lực và năng lực trí tuệ Tuy nhiên ở Phú Yên nói chung và thị xã Sông Cầu nói riêng thì các công trình, đề tài nghiên cứu về thể lực và năng lực trí tuệ con người, đặc biệt là ở học sinh THCS còn rất ít

Vì vậy để làm cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp, biện pháp nâng cao tầm vóc, trí tuệ người Việt Nam; góp phần đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho

xã hội nói chung và cho thị xã Sông Cầu nói riêng, chúng tôi tiến hành đề tài

“Nghiên cứu một số chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ học sinh trung học

cơ sở vùng bãi ngang ven biển ở thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên”

2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá thực trạng phát triển về một số chỉ số hình thái, thể lực, sinh lý tuần hoàn và năng lực trí tuệ của học sinh trung học cơ sở vùng bãi ngang ven biển ở thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên

Trang 13

Xác định mối tương quan giữa chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Xác định được sự phát triển một số chỉ số hình thái - thể lực, chỉ số chức năng tuần hoàn và năng lực trí tuệ của học sinh tại một số trường THCS ở vùng ven biển bãi ngang trên địa bàn bãi ngang ven biển thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên Các số liệu trong đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong các công trình nghiên cứu và giảng dạy về đặc điểm phát triển của trẻ em lứa tuổi học đường nhằm nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Đồng thời từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thêm cơ

sở dữ liệu về tình hình phát triển thể lực, trí tuệ hiện nay của học sinh của vùng

ven biển bãi ngang ở thị xã Sông Cầu nói riêng và cả nước nói chung

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ thấy được sự phát triển thể lực, trí tuệ của học sinh vùng ven biển bãi ngang ở tỉnh Phú Yên Từ đó đề xuất một

số biện pháp nâng cao thể lực, trí tuệ cho các em, đồng thời giúp các em nâng

cao ý thức tự chăm sóc cho bản thân mình

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Các chỉ số sinh học và trí tuệ ở người

1.1.1 Các chỉ số về hình thái - thể lực

Vấn đề về thể lực con người từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Song tất cả đều thống nhất rằng, thể lực phản ánh cấu trúc tổng hợp của cơ thể, nó liên quan chặt chẽ với thể trạng, hình thái, sức khỏe, sức lao động, thẩm mĩ; là khả năng, năng lực vận động của mỗi cá nhân Một trong những biểu hiện cơ bản của thể lực là các số đo kích thước của cơ thể trong đó

có chiều cao, cân nặng và vòng ngực Từ các chỉ số cơ bản kể trên có thể tách thành các chỉ số khác biểu hiện mối liên quan giữa chúng như chỉ số pignet, chỉ

số sinh khối cơ thể (BMI)… Các chỉ số đó có ý nghĩa trong việc đánh giá sự phát triển thể lực của trẻ em, biểu hiện sự tăng trưởng của cơ thể con người từ lúc mới sinh ra đến lúc chết

1.1.1.1 Chiều cao đứng

Chiều cao đứng là chiều cao của cơ thể kể từ mặt phẳng của bàn chân lên đến đỉnh đầu ở tư thế đứng nghiêm, hai tay buông xuôi; đuôi mắt và mép trên

bình tai nằm trên mặt phẳng ngang

Chiều cao là một trong những chỉ số được dùng nhiều trong điều tra cơ bản về nhân trắc học và để đánh giá thể lực, sức khỏe của mỗi cá thể và của cả cộng đồng Sự phát triển chiều cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố bên trong cơ thể như di truyền và những yếu tố bên ngoài như yếu tố dinh dưỡng, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội…Các yếu tố này tác động lên sự phát triển chiều cao một cách dần dần, liên tục và không đồng nhất Trên thế giới sự phát triển chiều cao của con người ở mỗi châu lục diễn ra khác nhau và

ngay trong cùng một châu lục, ở mỗi quốc gia cũng có sự phát triển khác nhau 1.1.1.2 Cân nặng

Cân nặng là chỉ số phát triển tổng hợp, biểu thị mức độ và tỷ lệ giữa quá

Trang 15

trình hấp thu và tiêu hao năng lượng Cân nặng ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố di

truyền mà liên quan chủ yếu tới chế độ dinh dưỡng [50], [55]

Sự phát triển cân nặng liên quan đến nhiều yếu tố khác cho nên dùng để khảo sát nhằm đánh giá thể lực của con người Cân nặng cơ thể cũng thay đổi theo lứa tuổi Cân nặng cơ thể tăng không đồng đều trong quá trình phát triển của con người Từ khi sinh ra, cân nặng cơ thể tăng nhanh và đạt đến tối đa khi

đến tuổi trưởng thành sau đó tốc độ tăng giảm dần [6]

Ở các châu lục khác nhau, cân nặng của cơ thể con người cũng khác nhau

và trong cùng một nước ở mỗi miền cũng khác nhau So với cân nặng của người

châu Âu, châu Mỹ, người Việt Nam nhẹ cân hơn [21], [22]

1.1.1.3 Vòng ngực

Vòng ngực là một chỉ số hình thái đặc trưng cơ bản của thể lực, là tiêu chí

để đánh giá mức độ phát triển của phổi, các xương và cơ vòng ngực Mức độ phát triển của vòng ngực có liên quan đến hoạt động hô hấp và sức khỏe của

con người Kích thước vòng ngực càng rộng thì sự phát triển thể lực càng tốt 1.1.1.4 Chỉ số Pignet

Là chỉ số đánh giá mối tương quan giữa chiều cao với cân nặng và chu vi

vòng ngực

1.1.1.5 Chỉ số BMI

Là chỉ số được dùng để đánh giá thể trạng cơ thể thông qua mối quan hệ giữa cân nặng và chiều cao cơ thể

Chỉ số BMI có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ khối lượng mỡ trong cơ thể

Do đó là một chỉ số được tổ chức y tế Thế giới khuyên dùng để đánh giá mức

độ gầy béo Chỉ số này cho phép đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cơ thể

1.1.2 Các chỉ số chức năng hệ tuần hoàn

Hoạt động của hệ tuần hoàn đảm bảo cung cấp oxi và chất dinh dưỡng cho toàn bộ cơ thể sống, trong đó tần số tim và huyết áp động mạch là những chỉ số

Trang 16

cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn

1.1.2.1 Tần số tim

Tim có chức năng vừa hút và vừa đẩy máu, là cơ quan có vai trò rất quan trọng trong hệ tuần hoàn, tim hoạt động có tính chu kỳ Tần số tim là là số chu

kỳ tim trong một phút, phản ánh gián tiếp hoạt động của tim Vì vậy, tần số tim

là một trong những chỉ số dùng để đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn và tình trạng sức khỏe của con người

1.1.2.2 Huyết áp động mạch

Huyết áp là áp lực máu lên thành mạch máu Huyết áp được tạo ra do lực

co bóp của tim và sức cản của thành mạch Sự biến đổi của huyết áp có quan

hệ mật thiết với lưu lượng tâm thu, tần số tim, trở ngại ngoại vi, tính đàn hồi của các mạch máu, độ nhớt của máu

1.1.3 Trí tuệ

1.1.3.1 Khái niệm chung về trí tuệ

Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định (trí tuệ minh mẫn) Trí năng: Năng lực hiểu biết (phát triển trí năng của con người) Trí lực: Năng lực trí tuệ (tập trung trí lực vào công việc) Trí óc: Óc của con người, coi là biểu trưng của khả năng nhận thức, tư duy (mở mang trí óc) Trí thông minh

có hai nghĩa: thứ nhất là có trí lực tốt, hiểu nhanh, tiếp thu nhanh Thứ hai là là nhanh trí và khôn khéo, tài tình trong cách ứng đáp, đối phó [26], [28]

Theo Nguyễn Khắc Viện, có sự khác nhau giữa trí khôn và trí tuệ Trí khôn là khả năng hành động thích nghi với những biến động của hoàn cảnh, thiên về hành động Trí tuệ cũng là khả năng thích nghi nhưng thiên về tư duy trừu tượng [74]

Một số nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam như Nguyễn Kế Hào, coi trí thông minh là một phẩm chất cao của trí tuệ, mà cốt lõi là tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo của tư duy để giải quyết tối ưu những tình huống mới [20]

Trang 17

Như vậy, qua các cách giải thích trên, có thể quy các thuật ngữ trí khôn,

trí tuệ, trí thông minh vào khái niệm trí tuệ và chúng thể hiện các mức độ khác

nhau của khái niệm này

Cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về trí

tuệ nhưng chưa có một quan điểm thống nhất Tuy nhiên, có thể khái quát một

cách tương đối các quan niệm đã có về trí tuệ thành 3 nhóm chính [52]

Nhóm thứ nhất: Coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập cá

nhân thể hiện qua khả năng lao động và học tập Vì vậy, với những người theo

quan niệm này, hai khái niệm học tập và trí tuệ gắn liền với nhau Theo nhà tâm

lý học người Nga B.G Ananhev, trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp của con

người mà kết quả học tập, lao động phụ thuộc vào nó [29]

Các nhà tâm lý học phương Tây như N.D.Levitov, Ducansen.I.P và một số

tác giả khác cũng cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa học tập và trí tuệ [61]

Tuy nhiên, trên thực tế quan niệm này chưa hoàn toàn chính xác, có những

cá nhân có học lực yếu nhưng có chỉ số năng lực trí tuệ cao Điều đó chứng tỏ kết

quả học tập không chỉ phụ thuộc vào năng lực trí tuệ mà còn phụ thuộc vào những

nguyên nhân khác như cảm xúc, khả năng chú ý, động cơ học tập, thái độ [63]

Nhóm thứ hai: Đồng nhất trí tuệ với năng lực tư duy trừu tượng của cá

nhân Nhóm này về thực chất, đã quy hẹp khái niệm trí tuệ vào các thành phần

cốt lõi của nó là tư duy và gần như đồng nhất chúng với nhau Trên thực tế, nhóm

quan niệm này khá phổ biến: A.Binet (1905), L.Terman (1937), G.X Cotchuc

(1971), V.A Cruchetxki (1976), R.Sternberg (1986), D.N Perkins (1987) [52]

Nhóm thứ ba: Trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân Theo quan điểm

này, trí tuệ là khả năng tổng thể để hoạt động một cách có suy nghĩ, tư duy hợp

lý, chế ngự được môi trường xung quanh Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin

và nhanh chóng đưa ra cách thích nghi trong hoàn cảnh mới Quan niệm này

khá phổ biến và thu hút được nhiều nhà nghiên cứu lớn mà đại diện là U.Sterner

Trang 18

Ông coi trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con người đối với những hoàn cảnh và nhiệm vụ mới của đời sống [28]

Theo D.Wechsler, trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được thể hiện trong hoạt động có mục đích, trong sự phán đoán, thông hiểu và làm cho môi trường phù hợp với những khả năng của mình

Các quan niệm đó không loại trừ nhau mà cùng tồn tại song song Tuy nhiên, cho dù trí tuệ được hiểu bằng cách nào đi nữa thì trí tuệ vẫn có những

đặc trưng riêng của nó:

- Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể

- Trí tuệ là yếu tố tâm lý có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lý

khác của cá nhân

- Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể

với môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân

- Sự phát triển của trí tuệ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh học của cơ thể

và chịu sự chế ước của các yếu tố văn hóa xã hội [52]

1.1.3.2 Phương pháp đánh giá trí tuệ

Muốn đánh giá năng lực trí tuệ, người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong đó có phương pháp trắc nghiệm (test) là phổ biến Thuật ngữ trắc nghiệm hay test có nghĩa là phép thử hay phép đo, nó là hệ thống các câu hỏi được thiết kế và sắp xếp có chủ định, nhằm đánh giá một hay nhiều khía cạnh của một nhân cách hoàn chỉnh qua những câu trả lời trắc nghiệm

Việc sử dụng trắc nghiệm được phát triển rộng rãi trên thế giới từ sau năm

1905, khi nhà tâm lý học Pháp A.Binnet (1857 - 1911) cộng tác với T.Simon tiến hành một loạt các thực nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau và công bố hệ thống trắc nghiệm để xác định mức độ phát triển trí tuệ Hệ thống trắc nghiệm trí tuệ của A.Binnet và T.Simon được dùng làm kiểu mẫu để phát triển nhiều trắc nghiệm khác như test phân tích nghiên

Trang 19

cứu của R.Meili (1928), test trí tuệ đa dạng của R.Gille (1944), test khuôn hình tiếp diễn của J.Raven (1936), test trí thông minh của trẻ em WISC (Weschler Intellingence Scale for Children) (1949), test trí thông minh cho người lớn WAIS (Weschler Adult Intellingence Scale) của D.Weschler (1955)

Năm 1920, nhà tâm lý học người Đức W.Stern lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm chỉ số trí tuệ (chỉ số trí khôn), chỉ số thông minh (Intelligence Quotient), viết tắt là IQ Đó là chỉ số đo nhịp độ phát triển trí tuệ đặc trưng cho mỗi đứa

trẻ và được tính theo công thức:

IQ ═ 𝑀𝐴

𝐶𝐴 × 100 (1)

MA (Mental Age) - tuổi trí tuệ

CA (Chrorological Age) - tuổi đời

Tuy nhiên, cách tính này đã bộc lộ nhược điểm là không đại diện cho mọi lứa tuổi và mọi hình thái trí tuệ phức tạp của con người [52]

Để khắc phục những hạn chế của công thức tính chỉ số trí tuệ theo truyền thống của W.Stern Nhà tâm lý học mỹ D.Wechsler đề xuất phương pháp trắc nghiệm trí thông minh bằng cách tính IQ theo công thức: [83]

SD

X X

(2)

Trong đó:X: Điểm trắc nghiệm của nghiệm thể

X : Điểm số trắc nghiệm trung bình cùng độ tuổi

SD: Độ lệch chuẩn

Trong các test trí tuệ, test Raven được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả nhất Test Raven là trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn do J.C.Raven (Anh) xây dựng và công bố năm 1936 [80]

Sau hai lần được chuẩn hóa vào năm 1954 và 1956, test Raven chính thức được UNESCO công nhận và đưa vào sử dụng để đo lường trí tuệ con người từ những năm 1960 Bộ trắc nghiệm này được xây dựng trên cơ sở thuyết Tân

Trang 20

phát sinh của Charles E.Spearman và thuyết tri giác hình thể của Gestal Thuyết Tân phát sinh bao gồm ba quy luật Quy luật thứ nhất là sự nắm bắt toàn bộ, hoàn chỉnh khuôn hình Quy luật thứ hai là sự phân tích, tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố Quy luật thứ ba là trên cơ sở mối liên hệ giữa các yếu tố thành phần trong tổng thể để đưa đến kết luận cuối cùng Thuyết tri giác hình thể nhấn mạnh tính chỉnh thể, thống nhất của các sự vật, hiện tượng được hợp thành từ các yếu tố có mối liên hệ qua lại với nhau Dựa trên hai quan điểm trên mà Raven đã xây dựng bộ bài tập theo trật tự logic như sau: Một chỉnh thể trọn vẹn hoàn chỉnh - phân tích ra các thành phần - hợp thành phần còn thiếu để có được một hình ảnh hoàn chỉnh Tất cả những thao tác trên đều góp phần phát hiện ra những chi tiết còn thiếu của hình vẽ trong bộ trắc nghiệm Khi thực hiện trắc nghiệm này, các quá trình tâm lý như chú ý, tri giác và tư duy được thể hiện [1], [51], [52], [80]

Hiện nay, test Raven được sử dụng rộng rãi trong sinh lý học và tâm lý học để đo năng lực tư duy trên bình diện rộng nhất với các năng lực: Hệ thống hóa, tư duy logic và năng lực vạch ra những mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng Ưu điểm của test Raven là nội dung ngắn ngọn, dễ tiến hành xử lý, không phức tạp, thiết bị đơn giản Hơn nữa, khả năng loại trừ những khác biệt

về văn hóa khi nghiên cứu các đối tượng Do đó, có thể áp dụng với tất cả các quần thể người trên thế giới Tuy nhiên, một trong những hạn chế của trắc nghiệm Raven là không phản ánh được xu hướng phát triển của trí tuệ, chỉ chú

ý đến kết quả cuối cùng [29], [80]

Mỗi phương pháp đánh giá trí tuệ đều có những ưu nhược điểm khác nhau

Vì vậy, muốn đánh giá chính xác và đạt hiệu quả cao cần phối hợp với nhiều phương pháp khác nhau Tuy vậy, trắc nghiệm Raven vẫn được coi là phương

pháp phổ biến nhất

Trang 21

1.1.4 Trí nhớ

1.1.4.1 Khái niệm chung về trí nhớ

Trí nhớ là hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tâm lí của con người

và là một thành phần quan trọng của trí tuệ Trí nhớ của con người là một quá trình hoạt động phức tạp, có bản chất là việc hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời, lưu giữ và tái hiện chúng Trí nhớ là sự tiếp nhận và tái hiện những sự vật, hiện tượng mà con người đã cảm giác, suy nghĩ và hành động Khi các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tác động vào cơ thể sẽ tạo ra cảm giác Trên cơ sở những cảm giác đơn lẻ, bộ não phân tích và tổng hợp để cho tri giác trọn vẹn các sự vật, hiện tượng và để lại dấu vết của chúng trên hồi hải mã, thể hạnh nhân và vỏ bán cầu đại não Khả năng ghi lại, tái hiện ra trong trí óc những điều đã biết, đã trải qua gọi là trí nhớ Điều quan trọng là những dấu vết này phải được tái hiện trong hoàn cảnh thích hợp [33], [62]

1.1.4.2 Phân loại trí nhớ

Trí nhớ gắn liền với hoạt động và toàn bộ cuộc sống của con người Do vậy, trí nhớ của con người rất phong phú và đa dạng Có nhiều cách phân loại khác nhau, mỗi cách phân loại đều dựa trên một hay một số tính chất đặc trưng của trí nhớ

Căn cứ vào tính chất tích cực nhất của một hoạt động nào đó, người ta chia trí nhớ thành nhiều loại: Trí nhớ hình tượng, trí nhớ vận động, trí nhớ cảm xúc , trí nhớ ngôn ngữ [70], [71]

Căn cứ vào tính mục đích của hoạt động: Trí nhớ chủ định và trí nhớ không chủ định Trong hoạt động cũng như trong cuộc sống hàng ngày, hai loại trí nhớ này đan xen vào nhau, hỗ trợ nhau trong việc ghi nhớ, giữ gìn, tái hiện tri thức, tình cảm và kỹ năng hành động [71]

Căn cứ vào thời gian tồn tại của trí nhớ trong não và cơ chế hình thành, có thể chia trí nhớ thành hai loại: Trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn

Trang 22

Trí nhớ dài hạn tồn tại trên cơ sở những thay đổi bền vững về mặt vi thể trong mối tương quan giữa các tế bào thần kinh với nhau Trí nhớ dài hạn có khả năng lưu giữ hình ảnh trong vòng nơron nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm Còn trí nhớ ngắn hạn là sự lưu thông hưng phấn trong vòng nơron chỉ tồn tại trong thời gian ngắn Trí nhớ ngắn hạn chỉ tồn tại trong vòng vài phút sau khi tiếp nhận một sự kiện hay một hiện tượng nào đó [35], [70], [71]

1.1.4.3 Cơ sở sinh lý của trí nhớ

Về cơ chế nhớ có nhiều quan điểm khác nhau Theo P I Pavlov, cơ chế sinh lý của trí nhớ là sự hình thành, lưu giữ và tái hiện lại những đường liên hệ tạm thời Những đường liên hệ thần kinh tạm thời này được cũng cố tương đối vững chắc do lặp đi lặp lại nhiều lần Khi chúng ta nhớ lại một sự vật, hiện tượng nào đó cũng có nghĩa là những đường liên hệ thần kinh tạm thời được thành lập trước đây đã được phục hồi [29], [79]

Thuyết điều kiện hóa mà đại diện là B F Skiner cho rằng, việc hình thành các phản xạ có điều kiện đã tạo nên các “vết hằn” của trí nhớ Như vậy phản xạ

có điều kiện là cơ sở sinh lý của trí nhớ [81]

Thuyết phân tử của Conell M C và Jacobson cho rằng, trí nhớ liên quan đến lượng deoxyribonucleic acid (DNA)

1.2 Lược sử nghiên cứu các chỉ số sinh học và trí tuệ ở người

1.2.1 Lược sử những nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực

1.2.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Từ giữa thế kỉ VXIII, việc nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển ở trẻ em bắt đầu được chú ý Công trình đầu tiên trên thế giới nghiên cứu sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lứa tuổi từ 1 đến 25 theo phương pháp cắt ngang là luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jampert - người Đức [82] Cũng trong thời gian này Philibert Guerneau de Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc trên con trai mình từ

năm 1759 đến năm 1777, phương pháp này đã được áp dụng cho đến nay [81]

Trang 23

Năm 1942, D’Arcy Thomson đưa khái niệm về tốc độ tăng trưởng và

nghiên cứu [78]

Năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập, đánh dấu

một bước phát triển mới cho việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới [67]

Năm 2007 WHO công bố chuẩn tăng trưởng của trẻ em học đường và người trưởng thành, là một mốc quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng các chỉ số hình thái để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con

người [85], [86]

1.2.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về thể lực được tiến hành muộn hơn so với trên thế giới Hình thái, thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên ở trẻ em về chiều cao và cân nặng vào năm 1875 do Mondiere thực hiện, sau này

là của P Huard, A Bigot trong công trình “ Những đặc điểm nhân chủng học của người Đông Dương” (1938) và “ Hình thái học người và giải phẩu thẩm mỹ học” của Đỗ Xuân Hợp và P.Huard (1943) được xem là những công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến vấn đề nghiên cứu thể lực của người Việt Nam [42] Sau năm 1954, có nhiều tác giả nghiên cứu các đặc điểm hình thái, giải phẩu, sinh lý của người Việt Nam trong đó có cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [69] xuất bản năm 1975 do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về hình thái - thể lực của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi trong đó có nhóm tuổi 11 - 17 và là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam Sau khi thống nhất đất nước 1975, các công trình nghiên cứu hình thái - thể lực đã được triển khai trên toàn quốc

Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và Cs đã nghiên cứu một số chỉ số sinh học ở người Việt Nam từ 3 đến 110 tuổi [75]

Kết quả nghiên cứu cho thấy ở mọi lứa tuổi, chiều cao, cân nặng của người

Trang 24

Việt Nam nhỏ hơn so với người châu Âu, châu Mỹ, nhịp độ tăng trưởng chậm, thời kỳ tăng trưởng kéo dài hơn và bước vào thời kỳ nhảy vọt tăng trưởng dậy thì cũng muộn hơn Tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nữ xuất hiện vào lúc 12-13 tuổi, của nam lúc 13-16 tuổi và đến 23 đạt giá trị tối đa Tăng trưởng nhảy vọt về cân nặng ở nữ lúc 13 tuổi, ở nam lúc 15 tuổi và kết thúc tăng trưởng cân nặng cơ thể lúc 19 tuổi ở nữ và 20 tuổi ở nam Do đó, nữ bước vào thời kỳ tăng tiến và ổn định về chiều cao, cân nặng sớm hơn so với nam

Từ năm 1980 đến 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi đã đưa ra kết luận, chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11- 12 tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi ở nam, cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam [16]

Năm 1989, tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs đã tiến hành nghiên cứu chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới… trên 8000 người từ 1-55 tuổi ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam Nhóm tác giả nhận thấy, chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi, của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi và có quy luật gia tăng chiều cao cho người Việt Nam (tăng 4 cm/ 20 năm) Vòng ngực tăng nhanh nhất ở nam lúc 13-16 tuổi và nữ lúc 11-14 tuổi [17]

Năm 1992, Nguyễn Văn Lực và cộng sự (cs) nghiên cứu về thể lực của học sinh từ 12 đến 16 tuổi ở Bắc Cạn và trường An Ninh III đã cho thấy trẻ em dân tộc Tày, Hmông và Kinh ở miền núi có chiều cao và cân nặng lớn hơn trẻ miền xuôi Trẻ em dân tộc Hmông có cân nặng tương đương nhưng chiều cao đứng thấp hơn dân tộc Tày và Kinh [43]

Năm 1992 Trịnh Văn Minh và cs đã tiến hành điều tra một số chỉ số nhân trắc trên 1039 người bình thường trưởng thành tại xã Liên Minh, Hà Nội và tại phường Thượng Đình và xã Định Công, Hà Nội [47] Kết quả đáng chú ý qua hai cuộc điều tra này là các kích thước nhân trắc cũng như các chỉ số thể lực vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến tuổi 19-20 ở nữ và 22 tuổi ở nam Cũng năm

Trang 25

này Trần Thiết Sơn và cs chọn ngẫu nhiên 165 sinh viên năm thứ nhất Đại học

Y Hà Nội để nghiên cứu đặc điểm hình thái và thể lực Kết quả cho thấy thể lực của sinh viên Y Hà Nội thuộc loại trung bình và có chiều cao trung bình ( nam 162,9 cm và nữ là 155,5 cm) cao hơn so với thanh niên Việt Nam cùng lứa tuổi [57]

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực… của người Việt Nam từ 1 - 25 tuổi

ở một số vùng Nghệ An và Hà Tĩnh Tác giả nhận thấy, sự phát triển chiều cao

ở tất cả các độ tuổi của cư dân vùng Nghệ Tĩnh thấp hơn so với cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ và ở tất cả các độ tuổi các kích thước của nam đều lớn hơn của nữ [59]

Năm 1993 - 1997, Trần Văn Dần và cs đã nghiên cứu các chỉ tiêu chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình trên 13.747 học sinh từ 8 - 14 tuổi ở các địa phương Hà Nội, Vĩnh Phú (cũ), Thái Bình Kết quả nghiên cứu đã cho thấy,

so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học” thì sự phát triển chiều cao của trẻ em từ 6 - 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố và thị xã, nhưng sự tăng về cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội, còn ở ba khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể Qua so sánh kết quả nghiên cứu của năm 1971 và năm 1993 các tác giả nhận thấy, sau hơn một thập kỉ, đối với học sinh Hà Nội

có sự khác biệt rõ rệt về chiều cao và cân nặng Còn đối với học sinh Vĩnh Phú (cũ) thì về chiều cao có sự khác biệt rõ, còn về cân nặng chưa có sự khác biệt

rõ So với học sinh nông thôn ở cùng một độ tuổi thì học sinh ở thành phố, thị

xã có xu hướng phát triển thể lực tốt hơn [11], [12]

Năm 1990 - 1996, Trần Đình Long và cs nghiên cứu đặc điểm phát triển

và một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể của học sinh phổ thông tại một số trường ở Hà Nội Kết quả đã cho thấy, sự phát triển cơ thể của cả hai giới đều chậm lại rõ rệt từ 17 đến 18 tuổi [40], [41] Điều này cũng có thể tìm

Trang 26

thấy trong công trình nghiên cứu học sinh 18 tuổi của Nguyễn Kim Minh [48] Năm 1996, Phan Thị Sang khi nghiên cứu chiều cao và cân nặng của học sinh từ 9 - 17 tuổi cho thấy, cả hai chỉ số này của nữ sinh Huế đều tăng dần theo tuổi [56]

Năm 1996, Nguyễn Hữu Chỉnh và cs trong nghiên cứu của mình đã đưa

ra nhận xét, dân cư ở Kiến An, Hải Phòng có các chỉ số nhân trắc tốt hơn so với các dẫn liệu trong “Hằng số sinh học người Việt Nam” Các chỉ số nhân trắc của nữ phát triển nhanh hơn của nam ở thời điểm 10 - 11 tuổi, nhưng từ 14 đến 15 tuổi các kích thước này của nam bắt kịp và vượt hơn so với của nữ Sau tuổi 25 chiều cao không tăng nữa, cân nặng tăng đến 30 - 39 tuổi sau đó ổn định rồi suy giảm, trong đó nam chậm hơn nữ Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống và quá trình rèn luyện thân thể là những yếu tố tác động đến thể lực của thanh niên [8]

Năm 1997, Nguyễn Yên và cs đã nghiên cứu trên các dân tộc Việt, Mường, Dao thuộc các nhóm tuổi 1 - 5 và nhóm tuổi 18 - 55 ở tỉnh Hà Tây (cũ) đã cho thấy tầm vóc - thể lực của người Việt là tốt nhất, tiếp theo là của người Mường

và cuối cùng là người Dao [77]

Năm 1998, Nguyễn Kỳ Anh và cs, sau khi so sánh các kết quả nghiên cứu của mình với một số tác giả khác đã đưa ra một số nhận xét rằng, thanh niên Việt Nam từ 14 - 18 tuổi ở nữ và 16 - 18 tuổi ở nam lớn chậm hơn so với các lớp tuổi trước đó [2]

Âu Xuân Đôn (1998) nghiên cứu về đặc điểm hình thái của học sinh Khơ

Me ở An Giang từ 11 - 14 tuổi đã cho nhận xét, chiều cao đứng, cân nặng của học sinh Khơ Me tuy lớn hơn học sinh Vĩnh Phúc nhưng nhỏ hơn học sinh Hà Nội, còn các chỉ số vòng ngực trung bình, vòng cánh tay, vòng đùi đều lớn hơn trong “Hằng số sinh học người Việt Nam” [18]

Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cs nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít

Trang 27

người ở tỉnh Vĩnh Phú đã cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao và cân nặng trung bình của nữ sinh dân tộc ít người thấp hơn so với nữ sinh vùng đồng bằng và thành thị Theo giải thích của các tác giả, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của các yếu

tố tự nhiên, môi trường, chủng tộc và điều kiện kinh tế - xã hội [46]

Năm 2000, Đào Mai Luyến trong luận án tiến sĩ của mình đưa ra kết luận, hình thái - thể lực của người Êđê tốt hơn của người Kinh định cư ở Đăklăk Ông cho rằng, đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống

có ảnh hưởng nhất định đến khả năng tăng trưởng các chỉ số hình thái [44]

Dự án “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỉ 90 - thế

kỷ XX” do trường Đại học Y Hà Nội và Bộ Y tế thực hiện trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam bao gồm cả nông thôn, thành thị, miền núi và đồng bằng đã cho thấy kết quả về các chỉ số về nhân trắc, huyết học… Theo kết quả của dự án này, các chỉ số sinh học chịu ảnh hưởng của môi trường sống và yếu tố dân tộc [7]

Năm 2009, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu trên đối tượng học sinh THCS các dân tộc của tỉnh Hòa Bình đã nhận thấy các chỉ tiêu hình thái tăng dần theo tuổi và khác nhau giữa các trẻ em thuộc các dân tộc khác nhau [10]

Như vậy, các công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của trẻ em Việt Nam khá phong phú Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau giữa nam

và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, giữa trẻ em thuộc các địa bàn nghiên cứu khác nhau, giữa các nhóm dân tộc khác nhau và giữa các thời điểm nghiên cứu khác nhau

Các tác giả còn nhận thấy, sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường Dưới tác động của yếu tố di truyền và điều kiện sống, đã diễn ra quá trình cải

tổ về mặt hình thái, chức năng làm cho cơ thể trẻ em ngày càng hoàn thiện [3], [15], [17], [27], [34], [73]

Trang 28

1.2.2 Lược sử các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn ở trẻ em Việt Nam

Các chỉ số chức năng của tim - mạch người Việt Nam được nghiên cứu từ rất sớm, cùng với các nghiên cứu về thể lực Việc nghiên cứu tần số tim và huyết

áp động mạch của trẻ em đã được nhiều tác giả thực hiện, [7], [14], [37], [45], [75]

Theo các tác giả, tần số tim của trẻ em giảm dần theo tuổi, sự giảm dần

đó có liên quan đến hoạt động của nút xoang và sự giảm ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim Tần số tim có thể thay đổi theo trạng thái cơ thể, khí hậu, bệnh lí Có sự khác biệt huyết áp theo giới tính, huyết áp động mạch phụ thuộc rất nhiều vào di truyền và yếu tố dinh dưỡng

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu cư dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh thuộc nhóm tuổi 12 - 15 và 18 - 25 Kết quả cho thấy, tần số tim và huyết

áp ở các độ tuổi đều chịu ảnh hưởng của khí hậu Tần số tim tăng theo sự tăng của nhiệt độ môi trường và biến đổi theo chu kì ngày, theo mùa, theo mức độ bức

xạ và bị tính chất của lao động và trạng thái tâm lí chi phối [59]

Năm 1993, Đoàn Yên và cs nghiên cứu trên đối tượng 17 - 20 và 23 - 30 tuổi

đã cho thấy, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Huyết

áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng dần Còn tần số tim lại giảm dần cho đến 25 tuổi, sau đó ổn định ở tuổi 69 Huyết áp động mạch của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi đều thấp hơn so với người Âu, Mĩ [76] Năm 1996, Trần Đỗ Trinh và cs nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam thập kỉ 90 đã đưa ra nhận xét, huyết áp tăng dần theo tuổi với mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi 15 - 19 và huyết áp của nam giới cao hơn so với của nữ giới [68]

Năm 1998, Nguyễn Văn Mùi tiến hành nghiên cứu trên đối tượng trẻ em

từ 7-15 tuổi cho thấy, tần số tim của học sinh giảm dần theo tuổi còn huyết áp tâm thu và tâm trương tăng dần theo tuổi Tần số mạch của nam cao hơn so với

Trang 29

của nữ ở lứa tuổi từ 7 - 12, còn từ 13 - 15 không có sự khác biệt giữa nam và nữ

về chỉ số này Huyết áp tâm thu của nam từ 7 - 9 tuổi cao hơn so với của nữ Từ

10 - 15 tuổi không có sự khác biệt chỉ số này theo giới tính Huyết áp tâm trương của các em nam từ 7 -13 tuổi cũng lớn hơn so với của nữ [49]

Năm 2002, Trần Thị Loan trong nghiên cứu của mình cũng đưa ra kết luận, tần số tim của trẻ em giảm dần từ 6 - 17 tuổi, huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của học sinh tăng dần theo tuổi và không có sự khác biệt về chỉ số huyết áp so với các đối tượng trẻ em trong nghiên cứu của các tác giả khác [38] Năm 2006, Đỗ Hồng Cường cũng đưa ra kết luận, tần số tim của học sinh THCS các dân tộc Kinh, Mường, Thái và Tày đều giảm dần theo tuổi Huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi, huyết áp động mạch của nữ cao hơn so với của nam [9]

Năm 2006, Trần Trọng Thủy và cs nghiên cứu huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của học sinh phổ thông từ 8 đến 20 tuổi Kết quả cho thấy, cả hai chỉ

số này ở học sinh nông thôn đều cao hơn so với ở học sinh thành phố và vẫn thấp hơn so với chuẩn về huyết áp theo độ tuổi của Tổ chức Y tế thế giới [65] Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy, tần số tim

và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Tần số tim giảm dần, huyết

áp tâm thu và tâm trương tăng dần, nhưng tốc độ tăng không đều Tần số tim, huyết áp động mạch ở bất kỳ lứa tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu Ngoài ra tần số tim còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố xã hội như lao động, trạng thái tâm lí

1.2.3 Lược sử những nghiên cứu về trí tuệ

Xuất phát từ tầm quan trọng của trí tuệ trong thực tiễn, nhiều tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về trí tuệ, trong đó có các nghiên cứu về cơ sở sinh lý thần

kinh của hoạt động trí tuệ và các phương pháp đánh giá trí tuệ

Năm 1905, nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet đã đưa ra khái niệm

Trang 30

tuổi trí khôn, là đại lượng đầu tiên thể hiện ý tưởng đo lường trí tuệ trẻ em Ông cùng bác sỹ T.Simon thực hiện một loạt các thực nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ em ở những lứa tuổi khác nhau (3 đến 5 tuổi) Thang đo lường trí tuệ Binet - Simon đã ra đời, đó là trắc nghiệm được tiêu chuẩn hóa đầu tiên không chỉ về sự thống nhất hóa các bài tập và thủ tục thể hiện chúng mà cả về

việc đánh giá các tài liệu thu được [64]

Năm 1912, nhà tâm lý học Đức V.Stern đã đưa ra khái niệm hệ số thông minh, xem nó như là chỉ số của nhịp độ phát triển trí tuệ, đặc trưng cho một đứa trẻ nào đó Hệ số này chỉ ra sự vượt lên trước hay chậm lại của tuổi trí khôn

so với tuổi thời gian [64]

Khi trào lưu phân tích nhân tố xuất hiện và thịnh hành trong nghiên cứu trí tuệ, đã hình thành hai xu hướng lý luận điển hình, đặt cơ sở cho việc xây dựng các trắc nghiệm: Các mô hình trí tuệ hai thành phần và cấu trúc đa nhân

tố Trong số trắc nghiệm dựa trên thuyết hai thành phần có trắc nghiệm trí tuệ như R.Cattell [52]

Ngày nay, các trắc nghiệm trí tuệ chủ yếu dựa trên mô hình cấu trúc trí tuệ

đa nhân tố Ngoài ra, cũng phải kể đến trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của nhà tâm lý học người Anh J.C.Raven, dựa trên quan điểm của các nhà Ghestal

về sự phát sinh tri giác và tư duy Ông đã mô tả trắc nghiệm lần đầu tiên vào năm 1936 Phương pháp trắc nghiệm này của J.C Raven được gọi là trắc nghiệm phi ngôn ngữ về trí thông minh [80]

Năm 1914, nhà tâm lý học người Pháp Rơne Gille soạn thảo trắc nghiệm trí tuệ đa dạng dựa trên cơ sở lý luận cấu trúc trí tuệ đa thành phần và lý thuyết phát sinh trí tuệ [28]

Đã có rất nhiều phương pháp nghiên cứu trí tuệ được đề xuất vào năm

1939, phương pháp của D.Weschler - nhà tâm lý của bệnh viện tâm thần Bellevne, giáo sư tâm lý học lâm sàng của trường Đại học Y khoa NewYork là

Trang 31

phổ biến nhất Năm 1949, ông đưa ra WIC (Weschler Intellgence Scale for Chilren) dành cho trẻ em từ 5 đến 15 tuổi Năm 1955, ông lại đưa ra WAIS (Weschler Adult Intellgence Scale) là loại dành cho người từ tuổi 16 trở nên Năm 1967 lại có thêm loại WPPSI (Weschler Pre - School and Primary Scale

of Intellgence) dành cho trẻ em từ 4 đến 6 tuổi rưỡi [28], [83]

Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam diễn ra chậm hơn so với thế giới, mới chỉ được bắt đầu cách đây vài chục năm Trần Trọng Thủy là tác giả đầu tiên

sử dụng test Raven để nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh quận Hoàn Kiếm - Hà Nội (1989) Ông đã nghiên cứu chiều hướng, cường độ, trình độ và chất lượng phát triển trí tuệ học sinh bằng test Raven Ông còn đề cập tới mối tương quan giữa trí tuệ và thể lực của học sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy,

sự phân bố học sinh theo chỉ số IQ gần với mức phân phối chuẩn, có sự khác biệt về chỉ số IQ giữa học sinh thành thị và nông thôn, so với học sinh nước ngoài thì trình độ phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam không thua kém [63] Năm 1991, Ngô Công Hoàn và cs nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh thành phố Huế và Hà Nội giữa hai nhóm đối tượng là học sinh thường và học sinh chuyên toán Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch về mức trí tuệ giữa hai nhóm đối tượng này [23], [24]

Năm 1993, Nguyễn Thạc và Lê Văn Hồng đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Hà Nội độ tuổi từ 10 - 14 tuổi Kết quả cho thấy, sự phát triển trí tuệ của học sinh tăng theo độ tuổi và có sự phân hóa từ 11 tuổi trở đi, trong

đó trí tuệ của nam có xu hướng cao hơn của nữ [58]

Năm 1994, Trịnh Văn Bảo và cs nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố di truyền và sự phát triển trí tuệ của học sinh Kết quả nghiên cứu đã có nhận xét yếu tố di truyền là tiền đề cho sự phát triển trí tuệ của học sinh [4]

Năm 1995, Võ Văn Toàn nghiên cứu trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở Hà Nội và Quy Nhơn bằng test Raven và điện não đồ cho thấy, trí

Trang 32

tuệ của học sinh phát triển theo lứa tuổi và điểm năng lực trí tuệ của học sinh Quy Nhơn thấp hơn so với của học sinh ở Hà Nội Khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh liên quan với quá trình hoàn chỉnh hóa điện não đồ thể hiện qua nhịp α tại thùy chẩm và nhịp β tại thùy trán [66]

Năm 1996 - 2002, Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan nghiên cứu trí tuệ của học sinh thành phố Hà Nội và một số tỉnh bằng test Raven Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh nông thôn thấp hơn so với học sinh

Hà Nội, giữa học sinh nam và học sinh nữ không có sự khác biệt rõ ràng về mức

độ hoạt động trí tuệ Sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ tuân theo quy luật phân bố chuẩn [30], [31], [39]

Cùng năm 1996, Trần Thị Loan nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực trí tuệ và học lực của học sinh phổ thông Kết quả cho thấy, trí tuệ và học lực của học sinh có mối tương quan khá chặt chẽ [30], [31], [36]

Tạ Thúy Lan và Mai Văn Hưng nghiên cứu trí tuệ của học sinh Thanh Hóa

và đã nhận thấy rằng, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và có mối tương quan thuận với học lực [32]

Như vậy, ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu về trí tuệ và mối tương quan giữa trí tuệ và một số chỉ tiêu sinh học khác trên nhiều đối tượng

thuộc các vùng miền khác nhau

1.2.4 Lược sử những nghiên cứu về trí nhớ

Thế kỷ XX, việc nghiên cứu cơ sở sinh lý của trí nhớ bắt đầu được mở ra với những phát hiện của Pavlov Theo Pavlov, phản xạ có điều kiện là cơ sở sinh lý của trí nhớ Phản xạ có điều kiện được hình thành trên cơ sở xuất hiện các đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa hai nhóm tế bào thần kinh [79] Năm 1960, Haiden nghiên cứu trí nhớ ở mức nơron và cho thấy cơ sở việc giữ lại dấu vết hưng phấn liên quan tới sự biến đổi về cấu trúc của ribonucleic acid (RNA) [35]

Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về trí nhớ trên học sinh và

Trang 33

sinh viên Người đầu tiên nghiên cứu về trí nhớ ở Việt Nam là Phạm Minh Hạc Bằng thực nghiệm ông đã chứng minh được cả hai thuỳ của não (thuỳ trán và thuỳ đỉnh) đều tham gia vào sự lưu trữ thông tin, nhưng thuỳ đỉnh

có vai trò quan trọng hơn [19]

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu về khả năng ghi nhớ của học sinh và sinh viên Nghệ Tĩnh từ 10 - 20 tuổi trong những điều kiện khí hậu khác nhau đã cho thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh biến đổi theo sự biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và sự đối lưu không khí [59]

Năm 1994, Trịnh Văn Bảo nghiên cứu trí nhớ của học sinh lớp 6 của trường năng khiếu Marie Curie và trường phổ thông cơ sở Tô Hoàng, thành phố Hà Nội Tác giả đưa ra nhận xét, trí nhớ gần của nhóm học sinh năng khiếu tốt hơn so với nhóm học sinh bình thường và tồn tại mối liên quan giữa yếu tố di truyền với sự phát triển trí tuệ của học sinh [4]

Năm 2002, tác giả Trần Thị Loan khi nghiên cứu về trí nhớ của học sinh từ 6 - 17 tuổi tại Quận Cầu Giấy - Hà Nội đã đưa ra kết quả: Trí nhớ của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng mức độ tăng không đều Từ 6 - 11 tuổi trí nhớ tăng với mức độ nhanh dần, từ 11 - 17 tuổi tăng với mức độ chậm Mức độ tăng trí nhớ của các em nam và nữ thấp nhất lúc 6 - 7 tuổi, cao nhất lúc 10 - 11 tuổi Ở cùng một lứa tuổi, trí nhớ của em nam cao hơn

em nữ nhưng sự chênh lệch này không lớn [39]

Năm 2012, Nguyễn Thị Bích Ngọc nghiên cứu trí nhớ của học sinh từ

11 - 17 tuổi dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ

đã cho thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh trong nghiên cứu tăng dần theo tuổi, khả năng ghi nhớ thị giác tốt hơn so với khả năng ghi nhớ thính giác, học sinh dân tộc Kinh có khả năng ghi nhớ tốt hơn học sinh dân tộc Mường

và Sán Dìu [53]

Trang 34

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thị xã Sông Cầu

1.3.1.1.Vị trí địa lý

Thị xã Sông Cầu nằm ở phía Bắc của Tỉnh Phú Yên, có tọa độ 13021’ đến

13042’ vĩ độ bắc và 109006’ đến 109020’ kinh độ đông; phía Bắc giáp thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định, phía Nam giáp huyện Tuy An, phía Tây huyện Đồng Xuân, phía Đông giáp Biển Đông [72]

1.3.1.2 Đặc điểm khí hậu

Khí hậu Sông Cầu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai mùa rõ rệt Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng của gió Tây và gió Tây Nam Tháng 4 là tháng khô nhất, tháng 7, 8 có gió Nam hay còn gọi là gió Lào khô, nóng Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông - Bắc Hằng năm, thường mưa nhiều vào tháng 10, tháng 11, chiếm 60% lượng mưa hàng năm Tổng số ngày mưa trong năm là 130 ngày, độ ẩm trung bình 81% Số giờ nắng trung bình trong năm là 2500 giờ Số giờ nắng trung bình trong một ngày 6-8 giờ Nhiệt độ trung bình cao nhất là 290C, thấp nhất là 200C, trung bình là 250C [72]

1.3.1.3 Đặc điểm địa hình

Địa hình Sông Cầu có những nhánh núi tách ra từ dãy Trường Sơn chạy theo hướng Đông - Nam ra đến biển, tạo thành những đèo, dốc tương đối cao, hiểm trở như đèo Cù Mông, dốc Găng…đồng thời chia vùng đồng bằng thành những cánh đồng, vùng đất trồng hoa màu nhỏ hẹp Bờ biển Sông Cầu dài 80

km, với 15.700 km2 mặt nước [72]

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội thị xã Sông Cầu

Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên trên cơ sở hiện trạng diện tích tự nhiên 489,28 km2, dân số 101.521 người, với 14 đơn vị hành chính, bao gồm: 04 phường và 10 xã (các phường Xuân Yên, Xuân Phú, Xuân Thành, Xuân Đài và

Trang 35

các xã Xuân Thọ 1, Xuân Thọ 2, Xuân Lâm, Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Cảnh, Xuân Hoà, Xuân Bình, Xuân Lộc, Xuân Hải) Theo quyết định số 131/QĐ TTg ngày 25/1/2017 của thủ tướng chính phủ thì thị xã Sông Cầu được công nhận là vùng bãi ngang ven biển giai đoạn 2016 – 2020

Đến nay, nền kinh tế của thị xã có tốc độ tăng trưởng khá và toàn diện trên các lĩnh vực; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng tăng tỷ trọng dịch vụ - du lịch - công nghiệp - xây dựng Cơ cấu GDP: dịch vụ chiếm 47,5%, công nghiệp

- xây dựng chiếm 19,7%, ngư - nông - lâm nghiệp chiếm 32,8% [72]

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là học sinh THCS từ 11 đến 14 tuổi

Tổng số đối tượng nghiên cứu là 864 Trong đó, Nam: 417, nữ: 447 Đối tượng nghiên cứu ở trạng thái khỏe mạnh và không có các dị tật về hình thể, không bị bệnh mãn tính và tâm sinh lý bình thường Tuổi các đối tượng được tính theo quy ước chung của tổ chức y tế thế giới Sự phân bố đối tượng nghiên cứu được trình bày trong bảng 2.1:

Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính, theo tuổi

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ ngày 1 tháng 10 năm 2019 đến ngày

30 tháng 7 năm 2020

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 2 trường thuộc vùng bãi ngang ven biển ở thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên gồm trường TH & THCS Cù Chính Lan, THCS Nguyễn Hồng Sơn

2.2 Nội dung nghiên cứu

Các chỉ số sinh học: chiều cao, cân nặng, vòng ngực, Pignet, BMI, huyết

áp, tần số tim

Chỉ số IQ theo test Raven và mức trí tuệ của học sinh

Trang 37

Chỉ số về trí nhớ gồm: Trí nhớ thị giác và trí nhớ thính giác của học sinh Mối tương quan giữa chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang (cross - sectional study)

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hình thái - thể lực

2.3.2.1 Phương pháp đo chiều cao đứng

Được đo ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm (chẩm, lưng, mông, gót chân) chạm vào thước đo Tư thế thẳng đứng được xác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang song song với mặt đất Thước đo bằng vải

có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học - Bộ giáo dục và Đào tạo sản xuất Lấy trị số chiều cao chính xác đến 0,1 cm Đơn vị tính chiều cao đứng là centimet (cm)

2.3.2.2 Phương pháp đo cân nặng

Cân nặng được xác định bằng cân y tế có độ chính xác đến 0,1 kg Cân đặt trên nền đất bằng phẳng Khi cân học sinh mặc quần áo mỏng, không đi giày dép và đứng yên ở giữa bàn cân; cân vào buổi sáng khi chưa ăn Khi số đo ổn định người làm nhiệm vụ cân ghi chép kết quả vào phiếu Khi đọc cân nặng, đọc chính xác đến 0,1 kg, đơn vị tính trọng lượng cơ thể là Kilôgam (kg)

2.3.2.3 Phương pháp đo vòng ngực trung bình

Vòng ngực trung bình được xác định bằng số trung bình cộng của số đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra gắng sức Vòng ngực được đo ở tư thế thẳng đứng, đo bằng thước dây quấn quanh ngực qua mũi ức, dưới núm vú sao cho mặt phẳng của thước dây tạo ra song song với mặt đất Thước đo bằng vải có độ chính xác đến 0,1 cm do trung tâm thiết bị trường học - Bộ giáo dục

và Đào tạo sản xuất Trước khi đo hướng dẫn học sinh cách hít vào tận lực và

Trang 38

thở ra gắng sức Khi đo, học sinh chỉ mặc áo mỏng Lấy trị số vòng ngực chính xác đến 0,1 cm Đơn vị tính chỉ số vòng ngực là centimet (cm)

2.3.2.4 Chỉ số Pignet

Chỉ số pignet được tính theo công thức sau:

Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)] Đánh giá chỉ số Pignet (theo [6]) được trình bày rõ bảng 2.2:

Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số Pignet

0 - 20,8 Cường tráng 20,9 - 24,1 Rất khỏe 24,2 - 27,4 Khỏe 27,5 - 33,9 Trung bình

34 – 37,2 Yếu 37,3 - 40,5 Rất yếu > 40,5 Cực yếu

2.3.2.5 Chỉ số BMI

Chỉ số BMI được tính theo công thức:

BMI = Cân nặng (kg) / [Chiều cao đứng (m)]2

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu chỉ số chức năng tuần hoàn

- Cách xác định:

Được xác định bằng máy đo huyết áp Omron hiệu HEM 8712 Máy được

tự động bơm lên nhờ sử dụng pin, có độ chính xác ± 3mmHg hoặc ± 2% trị số

đọc được đối với huyết áp và tần số tim là ± 5% giá trị đọc được

Khi đo trẻ thoải mái, ngồi trên ghế khoảng cách giữa ghế và mặt bàn là 25

- 30 cm, lưng thẳng, đặt bàn chân xuống nền nhà phẳng, trẻ ngồi yên, không cử

động, không nói chuyện và không ăn uống Nhiệt độ phòng đo không quá nóng hay quá lạnh Đo tay trái Nghỉ ngơi độ 15 phút trước khi đo

Trang 39

- Quy trình đo như sau:

+ Kiểm tra máy trước khi đo và so sánh với máy đo huyết áp thủy ngân + Quấn vòng bít quanh cánh tay trái, không quấn trên lớp áo dày và không xoắn tay áo quá chặt Mép dưới của vòng bít phải cách khuỷu tay từ 1 - 2 cm + Dán miếng dính để cố định vòng bít

+ Đặt tay trên bàn sao cho vòng bít ở ngang tim, bàn tay mở, giữ nguyên

tư thế trong suốt quá trình đo

+ Ấn phím START/STOP máy sẽ tự động đo và hiển thị kết quả nhịp tim, huyết áp Sau khi ghi kết quả xong ấn phím START/STOP để tắt máy

Tiến hành đo 3 lần, mỗi lần cách nhau 2 - 3 phút và lấy kết quả trung bình Nếu kết quả 3 lần đo chênh lệch nhiều thì cho đối tượng nghỉ 15 – 20 phút, sau

đó đo lại

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu năng lực trí tuệ

2.3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chỉ số IQ

- Biến số rời rạc: đơn vị tính là điểm

- Cách xác định:

Chỉ số IQ được xác định bằng test Raven Test Raven gồm 5 bộ A, B, C,

D, E với 60 khuôn hình có cấu trúc theo nguyên tắc phức tạp dần từ khuôn hình

1 đến khuôn hình 12 của mỗi bộ và từ bộ A đến bộ E (loại dùng cho người bình thường từ 6 - 65 tuổi) Mỗi học sinh được phát 1 quyển test Raven và 1 phiếu trả lời (phụ lục 1) Học sinh làm bài trắc nghiệm một cách độc lập sau khi đã được hướng dẫn với thời gian từ 45 - 60 phút Mỗi nhóm đối tượng nghiên cứu tối đa khoảng 50 học sinh, được thực hiện tại phòng học yên tĩnh

Chấm điểm từng bài theo khóa điểm của test Raven (1956) (phụ lục 2) Mỗi bài đúng 1 điểm, điểm tối đa là 60 Sau đó cộng điểm thô của tất cả các bộ

A, B, C, D, E Tổng số điểm ghi vào cột tổng số Đối chiếu với chuẩn kì vọng của từng bộ A, B, C, D, E Lấy điểm thực trừ điểm kì vọng, nếu hiệu số dao

Trang 40

động trong khoảng ± 2 thì cho phép dùng kết quả đó Nếu vượt quá ± 2 thì loại

bỏ Tổng số điểm thực trừ điểm kì vọng của tất cả các bộ phải ≤ 6

Phiếu nào không đạt 2 tiêu chuẩn trên sẽ bị loại

Sau khi xử lí thô để loại trừ những trường hợp không hợp lệ, đổi điểm Test Raven sang điểm IQ theo công thức sau:

SD

X X

(2)

Trong đó: X: Điểm trắc nghiệm của nghiệm thể

X : Điểm số trắc nghiệm trung bình cùng độ tuổi

SD: Độ lệch chuẩn

Mỗi điểm trắc nghiệm sẽ có một giá trị IQ tương đương Dựa vào chỉ số

IQ, người ta chia thành 7 mức độ trí tuệ khác nhau [61]

Bảng 2.3 Phân bố mức trí tuệ theo chỉ số IQ

2.3.4.2 Phương pháp nghiên cứu trí nhớ của học sinh

Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn thị giác và trí nhớ ngắn hạn thính giác

Nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn thị giác bằng cách sử dụng một bảng số, gồm

12 số có 2 chữ số (từ số 12 đến số 98) Các số được sử dụng không trùng nhau, sắp xếp không theo quy luật, không có số với hai chữ số giống nhau, không có

số chẵn chục, có 6 số chẵn và 6 số lẻ

Trắc nghiệm viên phát phiếu và phổ biến cách làm cho nghiệm thể Sau

Ngày đăng: 11/08/2021, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hồng Anh (1991), Tình hình dùng test tâm lý ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, Hà Nội, số 10/1991, tr. 44 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình dùng test tâm lý ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hồng Anh
Năm: 1991
2. Nguyễn Kỳ Anh (1998), “Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, cân nặng của học sinh phổ thông Việt Nam trong những năm qua”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp, Nxb thể dục thể thao, Hà Nội, tr. 184-187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, cân nặng của học sinh phổ thông Việt Nam trong những năm qua”, "Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp
Tác giả: Nguyễn Kỳ Anh
Nhà XB: Nxb thể dục thể thao
Năm: 1998
3. Trịnh Văn Bảo (1993), “ Một số ý kiến về ảnh hưởng của di truyền và môi trường đến việc hình thành tài năng”, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về ảnh hưởng của di truyền và môi trường đến việc hình thành tài năng
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1993
4. Trịnh Văn Bảo (1994), Nghiên cứu thăm dò một số chỉ số di truyền và chỉ số sinh học có liên quan ở một số học sinh năng khiếu, Đề tài KX - 07 - 07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thăm dò một số chỉ số di truyền và chỉ số sinh học có liên quan ở một số học sinh năng khiếu
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Năm: 1994
5. Trịnh Văn Bảo (1997), “Vấn đề di truyền với sự tăng trưởng”, bàn về đặc điểm tăng trưởng của người Việt Nam, Đề tài KX-07-07, Hà Nội, tr. 150 -161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề di truyền với sự tăng trưởng”, "bàn về đặc điểm tăng trưởng của người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Năm: 1997
6. Bộ môn nhi khoa, trường đại học Y dược Hà Nội, (1996), Đặc điểm về phát triển và phát dục ở trẻ em, Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm về phát triển và phát dục ở trẻ em
Tác giả: Bộ môn nhi khoa, trường đại học Y dược Hà Nội
Nhà XB: Nxb Khoa học và kĩ thuật
Năm: 1996
7. Bộ Y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2003
8. Nguyễn Hữu Chỉnh và cs (1996), “Báo cáo thực hiện điều tra một số chỉ tiêu nhân trắc ở người Việt Nam trên 7 tuổi ở Hải Phòng”, Chương trình điều tra cơ bản đặc điểm người Việt Nam thập kỷ 90, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện điều tra một số chỉ tiêu nhân trắc ở người Việt Nam trên 7 tuổi ở Hải Phòng”, "Chương trình điều tra cơ bản đặc điểm người Việt Nam thập kỷ 90
Tác giả: Nguyễn Hữu Chỉnh và cs
Năm: 1996
9. Đỗ Hồng Cường (2006), “Nghiên cứu về tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh trung học cơ sở các dân tộc tại tỉnh Hòa Bình”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 6, tr. 112-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh trung học cơ sở các dân tộc tại tỉnh Hòa Bình”, "Tạp chí Khoa học
Tác giả: Đỗ Hồng Cường
Năm: 2006
10. Đỗ Hồng Cường (2009), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh trung học cơ sở các dân tộc tỉnh Hòa Bình, Luận án tiến sĩ sinh học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh trung học cơ sở các dân tộc tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Đỗ Hồng Cường
Năm: 2009
11. Trần Văn Dần, Đoàn Ngọc Phong, Nguyễn Bá Cẩn (1993), “Một số nhận xét về sự phát triển thể lực học sinh Hà Nội ở lứa tuổi từ 6 -14 sau thập kỷ 80 (1981 - 1990)”, Tuyển tập NCKH giáo dục sức khỏe thể chất, Nxb Thể dục Thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về sự phát triển thể lực học sinh Hà Nội ở lứa tuổi từ 6 -14 sau thập kỷ 80 (1981 - 1990)”, "Tuyển tập NCKH giáo dục sức khỏe thể chất
Tác giả: Trần Văn Dần, Đoàn Ngọc Phong, Nguyễn Bá Cẩn
Nhà XB: Nxb Thể dục Thể thao
Năm: 1993
12. Trần Văn Dần và cs (1997), “Một số nhận xét về sự phát triển thể lực học sinh lứa tuổi từ 8 - 14 trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt Nam trong thập kỷ 90”, bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Đề tài KX-07-07, Hà Nội, tr. 480-503 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về sự phát triển thể lực học sinh lứa tuổi từ 8 - 14 trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt Nam trong thập kỷ 90
Tác giả: Trần Văn Dần và cs
Năm: 1997
13. Lê Thị Mỹ Dung (2013), Nghiên cứu năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học của học sinh trường trung học cơ sở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ sinh học, Trường Đại học Quy nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học của học sinh trường trung học cơ sở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Lê Thị Mỹ Dung
Năm: 2013
14. Trịnh Bỉnh Dy (1994), “Tổng quan tài liêu về một số đặc điểm chức năng sinh lý người Việt Nam”, Bàn về đặc điểm sinh thể con người Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội, tr. 67-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tài liêu về một số đặc điểm chức năng sinh lý người Việt Nam”, "Bàn về đặc điểm sinh thể con người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 1994
15. Nguyễn Phú Đạt (2002), Nghiên cứu tuổi dậy thì của trẻ em và một số yếu tố ảnh hưởng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tuổi dậy thì của trẻ em và một số yếu tố ảnh hưởng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phú Đạt
Năm: 2002
16. Thẩm Thị Hoàng Điệp (1992), Đặc điểm hình thái và thể lực của học sinh một số trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Y dược, Đại học Y khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thái và thể lực của học sinh một số trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội
Tác giả: Thẩm Thị Hoàng Điệp
Năm: 1992
17. Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Huy Khôi và cs (1996), Một số nhận xét về phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 đến 55 tuổi, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội, tr. 68-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 đến 55 tuổi
Tác giả: Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Huy Khôi và cs
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
19. Phạm Minh Hạc (2003), Tuyển tập tâm lí học, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 21-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
20. Nguyễn Kế Hào (1991), “Khả năng phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam”, Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Năm: 1991
21. Nguyễn Văn Hoài, Nguyễn Thế Công, Nguyễn Đức Hồng (1994), “Tầm vóc thể lực người Việt Nam”, Bàn về đặc điểm sinh thể con người Việt Nam, Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội, tr. 146 – 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm vóc thể lực người Việt Nam”, "Bàn về đặc điểm sinh thể con người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hoài, Nguyễn Thế Công, Nguyễn Đức Hồng
Nhà XB: Nxb Khoa học và kĩ thuật
Năm: 1994

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w