1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá một số mô hình trồng rừng bằng cây bản địa của dự án KFW6 tại thị xã sông cầu, tỉnh phú yên

115 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới Kinh nghiệm nhiều năm về trồng rừng ở nhiều nước trên thế giới cho thấy do rừng trồng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nước trên thế giới đã quan tâm nghiên

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá 17, giai đoạn 2009 - 2011 Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được

sự quan tâm, giúp đỡ của Khoa Sau đại học cũng như của các thầy, cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp, các cán bộ của Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp và Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS Bùi Thế Đồi, người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quí báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn

Tác giả xin cảm ơn Ban quản lý rừng phòng hộ thị xã Sông Cầu, Dự án KfW6 thị xã Sông Cầu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả triển khai đề tài cũng như thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và được trích dẫn rõ ràng

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2011

Tác giả

Đinh Văn Thuân

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và từ viết tắt dùng trong luận văn i

Danh mục tên khoa học các loài cây dùng trong luận văn ii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các hình v

Đặt vấn đề 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.2 Ở Việt Nam 7

Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20

2.2 Đối tượng nghiên cứu 20

2.3 Giới hạn nghiên cứu 20

2.4 Nội dung nghiên cứu 20

2.5 Phương pháp nghiên cứu 21

2.5.1 Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu 21

2.5.2 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu có sẵn 22

2.5.3 Phương pháp chuyên gia 23

2.5.4 Phương pháp điều tra thực địa 23

2.5.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 25

Trang 3

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC

NGHIÊN CỨU 27

3.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.1 Vi ̣ trí đi ̣a lý, diê ̣n tích, ranh giới 27

3.1.2 Đi ̣a hình, Thổ nhưỡng 28

3.1.2 Khí hậu thuỷ văn 30

3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên: 32

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hô ̣i 32

3.2.1 Dân số, dân tô ̣c và lao động 32

3.2.2 Kinh tế, dich vụ 32

3.2.3 Giao thông, giáo dục, y tế 33

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Tổng kết, đánh giá một số mô hình trồng rừng cây bản địa lá rộng tại Miền Trung 37

4.1.1 Tỉnh Quảng Bình 37

4.1.2 Tỉnh Thừa Thiên Huế 39

4.1.3 Tỉnh Quảng Nam 41

4.1.4 Tỉnh Phú Yên 43

4.1.5 Bài học kinh nghiệm về công tác trồng rừng cây bản địa trên đất trống, đồi núi trọc 48

4.2 Đánh giá sinh trưởng của các loài cây bản địa trong các mô hình trồng rừng tại tỉnh Phú Yên 49

4.2.1 Mô hình 2a và mô hình 2b tại Đá Giăng, xã Xuân Lâm 49

4.2.2 Mô hình 4 và mô hình 5 tại Cù Mông, xã Xuân Lộc 58

4.3 Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây bản địa tại các mô hình 74

4.3.1 Nhân tố Đất 74

Trang 4

4.3.2 Tình hình thực bì, cây bụi, thảm tươi 78 4.3.2 Các nhân tố khác 81

4.4 Đề xuất mô hình và biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động 84

4.4.1 Đề xuất mô hình cây bản địa lá rộng cho chương trình trồng rừng trên đất trống đồi núi trọc tỉnh Phú Yên 84 4.4.2 Đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động áp dụng cho các chương trình trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc tỉnh Phú Yên 87

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

DÙNG TRONG LUẬN VĂN

PTNT Phát triển Nông thôn

SDoo Hệ số biến động đường kính gốc

SHvn Hệ số biến động chiều cao vút ngọn

SPSS Statistical Products for Social Services

Doo Tăng trưởng bình quân chung về đường kính gốc

Hvn Tăng trưởng bình quân chung về chiều cao vút ngọn

Trang 6

DANH MỤC TÊN KHOA HỌC CÁC LOÀI CÂY

DÙNG TRONG LUẬN VĂN

1 Bạch đàn trắng Eucalyptus camaldulensis Dehnh

2 Bạch đàn urophylla Eucalyptus urophylla S.T.Blake

3 Bồ đề Styrax tonkinensis Pierre

4 Căm xe Xylia xylocarpa (Roxb.) Taub

5 Cao su Hevea brasilensis Muell-Arg

6 Cẩm lai Dalbergia brariaensis Pierre

7 Chiêu liêu Terminalia hainanensis Exell

8 Cốt khí Tephrosia candida Pers

8 Chò chỉ Parashorea chinensis Wang Hsie

10 Chò nâu Diptercarpus retusus Bl

11 Dầu rái Diptercarpus alatus Roxb

12 Dẻ đỏ Lithocarpus ducampi (Hickel & A Camus)

14 Giổi xanh Michelia mediocris Dandy

15 Huỷnh Tarrietia javanica Blume

16 Keo dậu Leucaena leucocephala (Lamk) de Wit

17 Keo lá tràm Acacia auriculiformis Cunn

18 Keo lai Acacia mamgium x Acacia auriculiformis

19 Keo tai tượng Acacia mangium Willd

20 Kháo vàng Machilus bosii

21 Lát hoa Chukrasia tabularis A.Juss

22 Lõi thọ Gmelia arborea Roxb

23 Lộc vừng Barringtonia acutangula (l.) Gaertn

24 Lim xanh Erythrofloeum fordii Oliv

25 Lim xẹt Peltophorum tonkinensis A.Chev

Trang 7

TT Tên Việt Nam Tên khoa học

26 Luồng Dendrocalamus membranaceus Munro

28 Muồng đen Casia siamea Lamk

29 Ngân hoa Grevillea robusta

30 Pơ mu Fokienia hodginsic Henry et thomas

32 Ràng ràng mít Ormosia balansae Drake

33 Re gừng Cinnamomum obtusifolium Roxb

34 Sao đen Hopea odorata Roxb

35 Sồi phảng Lithocarpus fissus Barnett

36 Song mật Calamus platyacanthus Warb

37 Trẩu Arientes montana (Lour) Wils

38 Thanh thất Ailanthus malabarica DC

39 Thông đuôi ngựa Pinus massoniana Lamb

40 Thông nhựa Pinus merkusii Jungh et de Vires

41 Tếch Tectona grandis Linn.f

42 Trám trắng Canarium album (Lour.) Raeusch

43 Trầm hương Aquilaria crssna Pierre ex Lecomte

44 Thôi chanh Evodia bodinieri

45 Vạng trứng Endospermum chinense Benth

46 Vên vên Anisoptera costata Korth

47 Xà cừ Khaya senegalensis A.Juss

48 Xoan đào Pygeum arboreum Endl

49 Thẩu tấu Aporosa sphaerosperma Gagnep

50 Trâm vỏ đen Syzygium cumini (L.) Skeels

52 Thành ngạnh Cratoxylon ligustrinum (Spach) BL

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng của Sao đen và Gõ đỏ trồng hỗn giao

tại huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên - năm 2011 47

4.2 Đánh giá tỷ lệ sống của các loài cây trong mô hình 2a và 2b

4.3 Chất lượng sinh trưởng của các loài cây trong mô hình 2a và

4.4 Đánh giá sinh trưởng Doo của các loài cây trong mô hình 2a

4.5 Đánh giá sinh trưởng Hvn của 3 loài cây trong mô hình 2a và

4.6 Đánh giá tỷ lệ sống của các loài trong mô hình 4 60 4.7 Đánh giá tỷ lệ sống của các loài trong mô hình 5 61 4.8 Chất lượng sinh trưởng của các loài cây trong mô hình 4 63 4.9 Chất lượng sinh trưởng của các loài cây trong mô hình 5 64 4.10 Đánh giá sinh trưởng Doo của các loài cây trong mô mình 4 65 4.11 Đánh giá sinh trưởng Doo của các loài cây trong mô mình 5 67 4.12 Đánh giá sinh trưởng Hvn của các loài cây trong mô hình 4 68 4.13 Đánh giá sinh trưởng Hvn của các loài cây trong mô mình 5 70

4.15 Kết quả phân tích đất tại các mô hình 76

4.16 Tình hình sinh trưởng của cây tái sinh, cây bụi thảm tươi ở

4.17 Tiêu chuẩn cây con trồng trong các mô hình của dự án KfW6 82 4.18 Tiêu chuẩn cây con xuất vườn của các loài cây trồng 89

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Biểu đồ so sánh tỷ lệ sống của các loài cây trong

4.2 Biểu đồ so sánh chất lượng sinh trưởng của các loài

cây trong mô hình 2a và 2b qua các năm 2009 và 2010 53

4.3 Biểu đồ so sánh sinh trưởng D00 của 3 loài cây trong

mô hình 2a và mô hình 2b qua các năm 2009 và 2010 55

4.4 Biểu đồ so sánh sinh trưởng Hvn 3 loài cây trong mô

hình 2a và mô hình 2b qua các năm 2009 và 2010 57

4.5 Biểu đồ so sánh tỷ lệ sống của các loài cây trồng

4.6 Biểu đồ so sánh chất lượng sinh trưởng của các loài

cây trong mô hình 5 qua các năm 2009 và 2010 65

4.7 Biểu đồ so sánh sinh trưởng đường kính D00 của các

loài cây trong mô hình 4 qua các năm 2009 và 2010 66

4.8 Biểu đồ so sánh sinh trưởng Doo của các loài cây trong

4.9 Biểu đồ so sánh sinh trưởng Hvn của các loài cây trong

4.10 Biểu đồ so sánh sinh trưởng Doo của các loài cây trong

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hầu hết các chương trình trồng rừng trước đây và hiện nay như: Pam,

327, 661, đều trồng thuần loài Rừng trồng thuần loài có nhiều ưu điểm như cho sản phẩm nhanh và đồng nhất về quy cách song cũng có không ít nhược điểm như không bền vững, nhiều sâu bệnh hại, khả năng phòng hộ môi trường kém Đặc biệt, các loài cây trồng rừng chủ yếu là Thông, Keo, Bạch đàn, các loài này gần đây đã phát hiện sâu bệnh hại hàng loạt (sâu róm ở Thông, đốm

lá và cháy lá ở Bạch đàn, phấn hồng ở Keo, )

Trồng rừng bằng cây bản địa không những được các nhà khoa học quan tâm mà hiện nay nó còn là sự quan tâm của toàn ngành Lâm nghiệp Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tính đa dạng và phát triển bền vững tài nguyên rừng Trồng rừng bằng cây bản địa có thể là trồng dưới tán cây phù trợ (cây đến trước), cũng có thể là trồng bổ sung theo đám trống hay theo rạch, hay là trồng mới hoàn toàn Trong nhiều chương trình dự án thì hệ thống các dự án KfW là có sự đa dạng nhất về kỹ thuật phục hồi rừng

Từ năm 1995 đến nay Chính phủ Đức đã viện trợ không hoàn lại cho Chính phủ Việt Nam 7 dự án trồng rừng KfW Mục tiêu chung của Dự án là trồng rừng trên các vùng sinh thái bị đe dọa, góp phần cải thiện cuộc sống của đồng bào dân tộc sống gần rừng và cải thiện điều kiện sinh thái môi trường

Trong các dự án đó phải kể đến dự án “Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên” gọi tắt

là dự án KfW6, Dự án bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 10 năm 2005, với mục tiêu khôi phục và quản lý rừng bền vững cho khoảng 21.400 ha đất lâm nghiệp

bị suy thoái Đến hết năm 2010 dự án đã thiết lập được hơn 17.000 ha và quản

lý được 3.500 ha rừng cộng đồng Tỉ lệ cây bản địa chiếm tới 60% cơ cấu loài

Trang 12

cây bao gồm các loài chủ đạo như: Sao đen, Lim xanh, Dầu rái,… và một số loài cây khác

Những năm đầu dự án KfW6 chỉ thực hiện trên 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định Riêng tỉnh Phú Yên do là rốn bão của cả nước cộng thêm đất đai khô cằn, thời tiết khắc nghiệt nên ngay từ khi xây dựng dự

án Nhà tài trợ đã thống nhất chưa triển khai thực hiện dự án ngay mà chỉ thiết

kế một số mô hình thử nghiệm tại Thị xã Sông Cầu vào năm 2006 Đến năm

2008 sau khi dự án có đánh giá và thấy rằng mô hình có những thành công bước đầu sau 2 năm chăm sóc, vì vậy Nhà tài trợ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã quyết định cho tỉnh Phú Yên tham gia dự án và bắt đầu thiết lập rừng từ năm 2008 Mô hình thử nghiệm này hiện nay vẫn được dự án đầu tư, bảo vệ và sinh trưởng tốt Tuy nhiên, mô hình chỉ dừng lại ở việc phục

vụ cho các hộ dân tham gia dự án thăm quan, học tập, dự án cũng chỉ có đánh giá cơ bản về sinh trưởng hàng năm mà chưa có đánh giá sâu rộng các mô hình để có những bài học kinh nghiệm áp dụng cho việc trồng rừng bằng cây bản địa tại Phú Yên nói riêng hay các tỉnh Miền Trung nói chung Chính vì lý

do đó tôi chọn đề tài “Đánh giá một số mô hình trồng rừng bằng cây bản địa của dự án KfW6 tại Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên”

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Kinh nghiệm nhiều năm về trồng rừng ở nhiều nước trên thế giới cho thấy do rừng trồng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài bằng nhiều loài cây khác nhau nhằm kinh doanh rừng theo hướng bền vững Các công trình nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài trên thế giới đã quan tâm đến một

số biện pháp kỹ thuật như việc chọn loài cây trồng, phương thức, phương pháp trồng và mối quan hệ giữa qua lại giữa các loài cây trong các mô hình rừng

trồng hỗn loài

Các nghiên cứu liên quan đến chọn loài cây trồng đã được thực hiện từ

khi loài người biết trồng rừng Bắt đầu từ những thí nghiệm thăm dò đến khảo nghiệm loài và xuất xứ, các thí nghiệm được bố trí một cách nghiêm ngặt theo các nguyên tắc khoa học để từ đó chọn được loài thích hợp cho mỗi vùng sinh thái Tại nhiều nước đã có một số nghiên cứu dùng các mô hình toán để tối ưu

cơ cấu cây trồng cho từng vùng Ở các nước vùng ôn đới số loài cây chính dùng trong trồng rừng thường rất ít, nên người ta đã tìm hiểu mối quan hệ giữa cây và lập địa rất cụ thể, chi tiết cho từng loài (dẫn theo Trần Văn Con, 2005) [11]

Nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài đã được các nước châu Âu tiến hành

từ những năm đầu thế kỷ 19 Điển hình là công trình nghiên cứu trồng hỗn

loài Quercus và Ulmus campestris với tên kiểu hỗn loài Donsk của tác giả

Tikhanop (1872) Trong mô hình này do đặc tính sinh vật học và mối quan hệ

qua lại giữa các loài cây chưa được nghiên cứu kỹ, do đó loài Ulmus

campestris với đặc tính sinh trưởng nhanh hơn nên sau khi trồng vài năm đã

lấn át loài Quercus Để giải quyết sự cạnh tranh này năm 1884 tác giả

Trang 14

Polianxki đã cải tiến kiểu hỗn loài Donsk song vẫn không thành công Một số tác giả khác như Kharitonovis (1950); Grixenco (1951); Timofeev (1951); Encova (1960) và các cộng sự đã phân tích nguyên nhân thất bại của kiểu

Donsk và chỉ ra rằng các phitonxit của loài Ulmus campestris đã tác động xấu tới loài cây Quercus Nghiên cứu về ảnh hưởng tương hỗ giữa các loài, các

tác giả cho rằng sự cảm nhiễm tương hỗ là yếu tố quan trọng khi lý giải cơ chế cạnh tranh sinh học của thực vật [36] Trên cơ sở nghiên cứu tạo rừng hỗn

loài giữa Quercus và Fraxinus, tác giả JB Ball, T.J Wormald (1994) cho thấy sinh trưởng của Quercus trồng hỗn loài tốt hơn Quercus trồng thuần loài Ngoài ra, khi trồng Quercus hỗn loài với các loài cây khác theo băng hẹp (3 -

4 hàng) hoặc theo hàng cũng cho thấy sinh trưởng của Quercus tốt hơn [33]

Kết quả nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài các tác giả trên đều cho rằng việc bố trí các loài cây trong mô hình rừng trồng hỗn loài thường có ảnh hưởng tới sinh trưởng của chúng tùy theo số cá thể và cự ly trồng từng loài Đặc biệt là hoạt động hoạt hóa của các loài cây (kích thích, ức chế, kìm hãm quá trình sống) thông qua ảnh hưởng của Phitonxit là căn cứ để quyết định tỷ

lệ tổ thành các loài cây trong lâm phần hỗn loài Nghiên cứu về vấn đề này Kolexnitsenko (1977) đề nghị mật độ loài cây trồng chính trong mô hình trồng rừng hỗn loài không ít hơn 50 loài cây hoạt hóa không quá 30 - 40%, loài ức chế không quá 10 - 20% trong tổng các loài cây trong mô hình [36]

Năm 1995, các tác giả Ball, Wormald và Russo đã nghiên cứu quá trình điều chỉnh các lâm phần rừng trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng của

mô hình thông qua việc giảm bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây và tạo điều kiện để chúng cùng sinh trưởng và phát triển tốt [33] Bermar Dupuy (1995) nghiên cứu cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài và thấy rằng kết cấu tầng tán phụ thuộc vào đặc tính sinh trưởng và tính hợp quần của loài cây [31]

Trang 15

Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi

xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết Vì bản chất của khai thác phục hồi rừng bằng trồng cây bản địa là “trồng rừng dưới tán rừng”

Vì vậy, việc tạo lập môi trường rừng phải đi trước một bước bằng cách trồng một số loài cây mọc nhanh phù hợp với điều kiện lập địa ban đầu

Nghiên cứu về lĩnh vực này điển hình có tác giả Matthew (1995) Ông

đã nghiên cứu tạo lập mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây

họ đậu Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính [34] Như vậy, nghiên cứu này cho thấy sử dụng các loài cây họ đậu làm cây phù trợ cho các loài cây trồng chính trong mô hình rừng trồng hỗn loài là rất phù hợp Ngoài việc xác định được loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài Trên thế giới đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này Giai đoạn 1930 -

1960 các tác giả Rod Keenan, David Lamb, Gary Sexton đã gặp khó khăn khi nghiên cứu gây trồng các lâm phần hỗn loài do hiểu biết về yêu cầu sinh thái của các loài cây rừng mưa còn nghèo nàn [37] Vì vậy, việc bố trí kiểu rừng hỗn loài và điều chỉnh các mô hình này cũng rất khó khăn Đặc điểm nổi bật hay mục đích chính của phục hồi rừng bằng cây bản địa chính là tạo ra rừng hỗn loài có kết cấu nhiều tầng tán vì thế nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nước trên thế giới quan tâm Năm 1999, dự án xây dựng rừng nhiều tầng ở Malaysia đã nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng bằng nhiều phương thức khác nhau Tuỳ theo các đối tượng khác nhau là rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng 10-15 tuổi hay rừng Keo tai tượng 2-3 tuổi mà mở các băng chặt và chừa khác nhau Chiều rộng băng chặt và chừa từ 6m (chặt 1 hàng) đến 60m (chặt 20 hàng) Thời gian đưa các loài cây bản địa vào trồng hỗn loài trong các băng chặt cũng rất khác nhau, từ 1-7 năm sau khi mở băng

Trang 16

chặt Các loài cây bản địa đưa vào trồng trong các băng chặt tương đối phong phú, từ 14-23 loài cây khác nhau với số hàng từ 3 đến 16 hàng Kết quả cho thấy trong các loài cây bản địa được trồng trong các băng có 3 loài cây có

sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất là Shorea roxburghii; Shorea

ovalis; Shorea leprosula Sinh trưởng chiều cao của các loài cây trồng trong

băng 10m và 40m tốt hơn băng 20m Khu trồng theo hàng có sinh trưởng chiều cao tốt nhất ở công thức trồng 1 hàng Keo xen 1 hàng cây bản địa Dự

án còn đưa ra kế hoạch điều chỉnh quá trình sinh trưởng của các mô hình thí nghiệm theo 8 thời điểm từ 2 - 47 năm sau khi trồng [32] Như vậy, đây là một trong những công trình nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài trên thế giới tương đối toàn diện về các biện pháp kỹ thuật, từ việc chọn loài cây trồng đến nghiên cứu phương thức trồng, thời điểm trồng và sự điều chỉnh mô hình theo quá trình sinh trưởng trong thời gian dài Do đó những mô hình thí nghiệm này hứa hẹn nhiều thành công trong tương lai Ngoài các công trình đã được

đề cập ở trên, một số công trình nghiên cứu khác như trồng rừng dưới tán, trồng theo băng, theo rạch dưới tán che nhẹ ở các nước châu Phi và châu Á thực chất cũng nhằm tạo các lâm phần hỗn loài trên cơ sở các loài đã có sẵn trong tự nhiên Đối với những khu vực có tỷ lệ tổ thành các loài cây có giá trị kinh tế thấp thì có thể cải thiện chất lượng của rừng bằng cách tăng loài cây

và số lượng cá thể của các loài có giá trị kinh tế thông qua biện pháp gây trồng bổ sung Điển hình là ở các nước Nêgiêria, Công Gô, Camơrun, Đây

là những công trình đã đạt được nhiều kết quả tốt do lợi dụng được thảm che

tự nhiên, chúng đã hỗ trợ tốt cho cây trồng chính trong giai đoạn đầu Các loài cây mục đích trồng bổ sung vẫn được sống trong lòng rừng ẩm

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài trên thế giới tuy chưa nhiều, song với những thông tin thu thập được về cách lợi dụng độ tàn che tầng cây cao, cách sử dụng cây phù trợ và các phương pháp bố trí các loài

Trang 17

trong mô hình thí nghiệm cũng như ảnh hưởng sinh trưởng, tiểu hoàn cảnh rừng tới sự sinh trưởng, phát triển của các loài cây bản địa dùng để phục hồi rừng là những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm rất có ích cho những thử nghiệm sau này ở các nước nhiệt đới trong đó có Việt Nam

1.2 Ở Việt Nam

Trồng rừng hỗn loài ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ năm 1931 Điển hình là công trình nghiên cứu trồng rừng hỗn loài Sao đen, Dầu rái và Vên vên ở Trảng Bom, Đồng Nai của tác giả người Pháp Maurand Trong giai đoạn 1930-1985 có rất ít các công trình nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài và nghiên cứu chọn loài cây trồng cũng chỉ tập trung cho một số loài cây thuộc

họ Dầu Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả về loài cây và diện tích trồng rừng Trong giai đoạn này nhiều loài cây lá rộng bản địa đã được lựa chọn để nghiên cứu cho các vùng sinh thái trong cả nước Các loài cây lá rộng bản địa được lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế cao Một số loài cây bản địa được lựa chọn cho vùng Tây Nguyên và

Nam Bộ là Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm xe, Xà cừ, Tếch, và được trồng chủ yếu tại

các trạm thực nghiệm Trảng Bom, Lang Lanh, Ekmat, Măng Linh, Tân Tạo

Ở Miền Bắc, các loài cây chủ yếu được lựa chọn để trồng rừng hỗn loài là

Lim xanh, Lim xẹt, Giổi xanh, Re gừng, Mỡ, Bồ đề, Lát hoa, Ràng ràng mít,

Lim xẹt, Xoan đào, Vạng trứng, và được trồng chủ yếu ở Cầu Hai (Phú Thọ), Hữu Lũng (Lạng Sơn), Tân Lạc (Hoà Bình)

Trong thời gian qua ở nước ta đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừng trồng, đặc biệt là trong dự án 661

Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trong thời kỳ 1998-2010 đã được Quốc hội khoá X thông qua tại kỳ họp lần thứ 2 vào tháng 12/1997 Tiếp đó Thủ Tướng chính phủ đã có Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29-7-1998 về mục

Trang 18

tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Đây là một dự án mang tầm cỡ Quốc gia có quy mô rộng lớn trên toàn Quốc và là dự án lớn nhất của ngành Lâm nghiệp từ trước tới nay nhằm nâng cao độ che phủ của rừng Việt Nam lên mức 43% vào năm 2010 [24]

Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2005) [25] dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh

có trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số

có tới 188 mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài cây và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có thể chia các mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn thành 4 nhóm chính là cây bản địa trồng hỗn giao với nhau và cây bản địa hỗn giao với cây phù trợ; các loài Thông trồng thuần loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Keo trồng thuần loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Tre, luồng trồng thuần loài Trong những năm gần đây, các mô hình này đa dạng

và được phát triển rộng hơn ở nhiều tỉnh

Theo Lại Thanh Hải, Nguyễn Hoàng Tiệp (2009) [18] khi đánh giá các

mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn theo phương thức hỗn giao cây bản địa và cây mọc nhanh trong dự án 661 cho thấy:

- Về diện tích từ năm 1999 - 2004 cả nước đã trồng được 135.702,9 ha rừng phòng hộ đầu nguồn theo phương thức hỗn giao cây bản địa và cây phù trợ, diện tích rừng đã trồng trên chiếm tỷ lệ 22,52 % trong tổng số diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn

- Về tập đoàn cây trồng: Hầu hết các loài cây bản địa sử dụng trồng rừng phòng hộ đều phân bố ở các tỉnh, đã có 36 loài cây bản địa được sử dụng và 5 loài cây phụ trợ trồng theo phương thức hỗn giao cây bản địa và

Trang 19

cây phù trợ Trong đó có 12 loài đã có quy trình kỹ thuật

- Về các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhìn chung đã thực hiện đúng yêu cầu của Ban quản lý 661 các cấp, đảm bảo được thiết kế kỹ thuật theo từng

dự án cơ sở Tuy nhiên, việc xác định phương thức hỗn giao, mật độ và cự ly trồng chưa thích hợp nên dẫn đến sinh trưởng của tán cây Keo chèn ép cây bản địa làm ảnh hưởng đến sinh trưởng; tiêu chuẩn cây con đề ra hầu hết là thấp; vấn đề tỉa thưa xử lý tán Keo để tạo ánh sáng cho cây bản địa không được thực hiện

- Chất lượng của các mô hình nhìn chung chưa cao, tỷ lệ sống hầu hết đạt trên 85%, nhưng tỷ lệ tồn tại sau 3 - 4 năm là thấp Sinh trưởng đường kính chiều cao các mô hình đạt các tiêu chuẩn để bàn giao quản lý so với các

dự án khác và phương thức trồng khác đều thấp hơn

- Nghiên cứu cũng đã chọn được 55 mô hình tại 22 tỉnh có triển vọng phát triển và nhân rộng

- Năm 1931 tác giả Maurand đã sử dụng lớp cây bụi thảm tươi trong rạch làm cây phù trợ để tạo rừng hỗn loài giữa Sao đen, Dầu rái và Vên vên ở

Trảng Bom Đồng Nai Ban đầu tác giả đã áp dụng phương thức “trồng rừng

dưới tán che dày và thấp” sau 2 năm phương thức này đã được cải tiến thành

phương thức "trồng dưới tàn che cao và nhẹ" Sau khi được cải tiến phương

thức trồng, các loài cây trồng chính vẫn sinh trưởng phát triển kém nên tác giả tiếp tục dùng thảm che nhân tạo với các loài cây họ đậu là Muồng đen và Đậu tràm Kết quả cho thấy rằng dùng cây che phủ ban đầu kết hợp cây che trung gian là có hiệu quả (dẫn theo Nguyễn Bá Chất, 1976) [5] Như vậy, trong công trình này tác giả đã sử dụng cả 2 loại thảm che tự nhiên và thảm che nhân tạo

để làm cây phù trợ Tuy nhiên, sự kết hợp hai loại thảm che này không được tính đến từ đầu khi thiết kế rừng trồng, do đó chưa đánh giá được tác dụng riêng rẽ của từng loại thảm che

Trang 20

Ngoài việc sử dụng thảm che tự nhiên, một số tác giả đã nghiên cứu sử dụng các loài cây họ đậu làm cây phù trợ nhằm tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài Năm 1985 các tác giả Nguyễn Minh Đường và Lê Đình Cẩm đã

sử dụng các loài cây Muồng đen, Keo lá tràm, Đậu triều và Keo dậu làm cây

phù trợ để xây dựng rừng trồng hỗn loài Sao đen, Dầu rái, Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm xe cung cấp gỗ lớn ở lâm trường La Ngà (Đồng Nai) Các công thức

được trồng hỗn loài theo hàng và theo băng với kích thước các băng chặt, chừa

là 10m và 20m Xen giữa 2 hàng cây trồng chính là các hàng cây phù trợ Sau một năm trồng cho thấy cây phù trợ mới chỉ có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của các loài cây trồng chính [15] Nhìn chung, các thí nghiệm trồng Dầu rái, Sao đen, Gõ đỏ trên các loại đất xám phù xa cổ thoái hoá ở Trảng Bom, đất ba gian nông màu đen ở Bàu Cạn, trên đất phiến thạch sét ở Mã Đà (Đồng Nai), đất phù sa cổ sâu ẩm ở Dương Minh Châu cũng chỉ có nhận xét tương tự

- Giai đoạn 1971 - 1976 tác giả Nguyễn Bá Chất và các cộng sự đã sử dụng cây phù trợ là các loài cây có khả năng cố định đạm như: Cốt khí, Ràng ràng mít, Lim xẹt để tiến hành thí nghiệm trồng rừng hỗn loài Bồ đề với Mỡ

và Xoan đào ở Tuyên Quang và Phú Thọ Kết quả sau 5 năm cho thấy năng suất rừng Bồ đề trồng hỗn loài có cây phù trợ tăng 15 - 20% so với rừng Bồ

đề trồng thuần loài không có cây phù trợ Lượng thảm mục dưới rừng trồng hỗn loài cũng tăng lên 10 - 20%, đất đai dưới rừng trồng hỗn loài được cải thiện hơn so với rừng trồng thuần loài [5] Để có cơ sở chính xác cho việc bố trí các loài cây trong mô hình hỗn loài tác giả Ngô Quang Đê (1991) đã chú ý

đề cập nhiều đến mối tương tác hóa sinh trong trồng rừng hỗn loài Trong mô hình hỗn loài giữa Mỡ và Bồ đề tác giả cho thấy Mỡ trồng hỗn loài với Bồ đề cho năng suất khá hơn (105,73 m3/ha) trong khi Mỡ trồng thuần loài chỉ đạt 65,5 m3/ha [12]

Theo Trần Thị Nga (2009) [22] khi nghiên cứu các mô hình trồng rừng

Trang 21

phòng hộ tại tỉnh Hòa Bình cho thấy 3 loài cây Luồng, Lim xanh và Keo tai tượng là loài cây trồng rừng phòng hộ khá thích hợp Các mô hình bước đầu được đánh giá là thành công do đã chọn cây trồng phù hợp với lập địa nên cây

có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt, các mô hình hỗn giao sau:

- Mô hình trồng hỗn giao Keo tai tượng với Luồng (mật độ 400 Keo tai tượng + 200 luồng) tại xóm Càng 2, xã Hoà Bình, TX Hoà Bình trên đất feralit nâu vàng (trước đây là đất nương rẫy trồng lúa, canh tác nông lâm kết hợp trong năm đầu)

- Mô hình Keo tai tượng + Lim xanh (1000 keo tai tượng + 600 Lim xanh) ở xóm Nhót xã Thanh Hối, Tân Lạc trên đồi thấp, đất feralit nâu vàng, đất tốt Tại Thôn Khu, Văn Sơn, Lạc Sơn trên đất feralit nâu xám

- Mô hình hỗn giao Lim xanh với Keo chịu hạn (1000 Keo tai tượng +

600 Lim xanh) tại xóm Tam, Thanh Hối, Tân Lạc trên đất feralit nâu đỏ

không kết von Mặc dù trong mô hình này Keo chịu hạn đã bị dân chặt gần hết nhưng việc làm đó đã mở tán cho Lim xanh phát triển rất tốt

Bên cạnh đó việc nghiên cứu cơ sở khoa học về các loài cây bản địa cho trồng rừng và làm giàu rừng cũng rất được quan tâm, trong thời gian qua cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này

Nghiên cứu về cơ sở khoa học chọn loài cây bản địa trồng rừng phòng

hộ đầu nguồn điển hình là công trình của Trần Xuân Thiệp (1997) [27] Theo tác giả có 2 phương pháp để chọn loài cây bản địa phục vụ cho công tác trồng rừng là thứ nhất: Bố trí thực nghiệm và thử nghiệm (bán sản xuất) rồi đưa ra trồng rừng; thứ hai: Tổng kết kinh nghiệm gây trồng trong nhân dân để trồng thử nghiệm hoặc đưa ra thành quy trình kỹ thuật Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [23], lại đưa ra nghịch lý của cây bản địa đó là: Thiếu sự hiểu biết về đặc điểm của từng loài cây bản địa cụ thể: Nhu cầu về khí hậu, đất đai, ánh sáng ở các giai đoạn khác nhau, mối liên hệ giữa các loài trong quần thể

Trang 22

đa loài, khả năng tái sinh tự nhiên, khả năng gây trồng, Do đó khó có thể phát triển cây bản địa trên diện rộng Một nghịch lý nữa là cây bản địa quen sống trong một môi trường sống hoàn chỉnh, ít biến động nên có nhu cầu cao

về đất và các yếu tố khác Không thể đưa trồng ngay cây bản địa trên đất trống, đồi núi trọc khô cằn, trồng thuần loài tràn lan trên diện rộng Do đó muốn gây trồng thành công cây bản địa cần phải tạo được những hoàn cảnh tương đối thích hợp với từng loài cây bản địa

Trong nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên, Trần Xuân Thiệp (1997) [27] cho rằng trồng cây bản địa là một quá trình rút ngắn chu trình phát triển rừng

mà theo nhà sinh thái người Đức Lalle (1980) nếu để tự nhiên có khi đến hàng trăm năm Nếu rừng bị phá nhưng còn một độ tàn che nào đó, đem trồng các cây gỗ bản địa dưới tán rừng và làm như vậy đã vượt qua được rất nhiều giai đoạn diễn thế đi lên mà để tự nhiên phải mất 50 - 70 thậm chí tới 100 năm

Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất khi nghiên cứu đề tài: “Xác định cơ cấu cây trồng và xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ chương trình 327”, trong 2 năm 1997 - 1998 [8] đã chọn được tập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng được quy trình, hướng dẫn kỹ

thuật cho 20 loài như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Muồng đen (Cassia

siamea), Trám trắng (Canarium album), Tếch (Tectona grandis), Dầu rái (Dipterocarpus alatus)

Nguyễn Bá Chất (1995) [7] khi nghiên cứu phục hồi rừng Sông Hiếu

(1981 - 1985) đã thí nghiệm gây trồng hỗn loài Lát hoa (C tabularis) với các loài cây lá rộng bản địa khác: Lim xẹt (P tonkinensis), Giổi (Michelia sp), Thôi chanh (Evodia bodinieri), Lõi thọ (Gmelina arborea) nhằm tạo cấu

trúc hợp lý Theo dõi mô hình rừng hỗn loài đến năm thứ 10 thấy rõ sinh trưởng rừng Lát hoa hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa thuần loài Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài có sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên đã được tạo

Trang 23

lập có nhiều ưu điểm về sinh trưởng và phục hồi đất

Trong báo cáo chuyên đề về cây Huỷnh (Tarrietia javannica Kost), Bùi

Đoàn [13] đã có nhận xét: “Huỷnh được coi là một trong những cây bản địa chủ yếu trong công tác trồng rừng ở Trung Trung bộ, đặc biệt là ở Quảng Bình”

Lim xanh là loài cây bản địa, gỗ thuộc nhóm quý hiếm và hiện là loài cây bản địa rất được quan tâm sử dụng trong các chương trình trồng rừng ở nước ta Phùng Ngọc Lan (1994) [21], nghiên cứu một số đặc tính sinh thái

loài Lim xanh (E fordii) đã xác nhận: Vùng phân bố của loài Lim xanh rất

rộng và có mặt ở hầu hết các tỉnh phía Bắc nước ta (từ đèo Hải Vân trở ra) với

độ cao phân bố từ 900m trở xuống ở phía Nam và 500m trở xuống ở phía Bắc Sinh trưởng thích hợp ở đồi bát úp, độ dốc nhỏ hơn 200 hoặc ở chân đồi, chân núi nơi dốc tụ Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc đưa loài Lim xanh vào gây trồng ở các vùng sinh thái lâm nghiệp trên đất nước ta

Với đặc tính của hầu hết các loài cây lá rộng bản địa là thường ưa bóng trong giai đoạn còn nhỏ, do vậy việc tạo được lớp “áo che” cho các loài cây bản địa trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng là việc làm đầu tiên và rất cần thiết khi muốn tạo lập lâm phần hỗn loài, đặc biệt là trên đối tượng đất

trống, đồi trọc Nghiên cứu lựa chọn cây phù trợ để xây dựng rừng trồng hỗn

loài đã được nhiều tác giả quan tâm Điển hình là một số công trình sau:

Giai đoạn 1994 -1998 Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài ở Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng Trên đối tượng đất trống, đồi trọc, tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm làm “áo che” phủ Khi rừng Keo bắt đầu khép tán tác giả đã đưa vào trồng dưới tán Keo 10 loài cây

lá rộng bản địa khác nhau Sau 4 năm thí nghiệm tác giả cho thấy phương pháp trồng rừng ẩm dưới tàn che nhìn chung là thích hợp cho cả các loài trung sinh trong giai đoạn 1 - 2 năm đầu Biện pháp lột tán theo định kỳ thích hợp cho loài chịu bóng mọc chậm như Gội trắng, Giổi xanh, Re gừng nhưng lại

Trang 24

cản trở cây ưa sáng mọc nhanh như: Lát hoa, Sấu, Nhội và Muồng đỏ Kết quả cũng cho thấy dùng cây che phủ ban đầu Keo lá tràm là thích hợp nhất [16] Tuy nhiên, do thí nghiệm mới tiến hành trong giai đoạn ngắn nên chưa thể biết được 10 loài cây đó sẽ tồn tại như thế nào trong các giai đoạn sau Việc sử dụng các loài cây ưa sáng như Lát hoa và Muồng đỏ trồng dưới tán Keo hiện tại đã cho thấy khó khăn trong việc nuôi dưỡng mô hình này Mặt khác phương pháp trồng hỗn loài theo hàng dưới tán Keo tác giả chưa cho thấy rừng hỗn loài này sẽ có cấu trúc ra sao theo thời gian Tuy vậy, có thể nói rằng đây là mô hình tương đối toàn diện về các biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài, từ việc tạo áo che, đến việc xác định thời điểm đưa các loài cây bản địa vào trồng dưới tán và các biện pháp lột dần tán che để các loài cây trồng chính sinh trưởng, phát triển

Lưu Phạm Hoành, Lê Cảnh Nhuệ, Trần Nguyên Giảng, (1960) [28] đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm và làm giàu rừng bằng những loài cây bản địa

như Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Chò nâu (Dipterocarpus retusus), Ràng ràng mít (Ormosia balansae), Vạng trứng (Endospermum chinense)

theo phương thức cải tạo chặt trắng, cải tạo theo băng, trồng dưới tán

Lâm Phúc Cố (1995) [10] khi nghiên cứu một số loài cây bản địa được chọn trồng rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà ở Púng Luông, Mù Căng Chải

đã chọn được 4 loài cây bản địa là: Pơ mu (Fokienia hodginsic Henry et thomas), Tô Hạp Hương (Altingia takhtadjanii), Giổi (Tahauma Gioi A Chev) và cây Song Mật (Calamus ealusetris) có thể trồng làm giàu rừng theo

phương thức trồng xen dưới tán rừng hay làm giàu rừng theo băng

Chương trình 327 [24] với định hướng trồng rừng phòng hộ theo hướng hỗn loài 500 cây bản địa + 1.100 cây phụ trợ Khi thực thi, có hơn 60 tỉnh, thành phố có dự án đã trồng rất nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài khác nhau với hơn 70 loài cây

Trang 25

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [29] khi nghiên cứu cải tạo rừng nghèo kiệt tại Vũ Mễ (Bắc Sơn) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) bằng

cách trồng bổ sung 2 loài cây bản địa là Dẻ đỏ (Castanopsis hystrix) và Kháo vàng (Machilus bosii) theo phương thức trồng theo băng hoặc theo đám Từ

những năm 1972 đến những năm sau 1975 một số lâm trường như Bắc Sơn,

Võ Nhai, Đồng Hỷ đã nhân rộng mô hình trên Tuy nhiên, cho đến nay việc đánh giá các mô hình này gặp rất nhiều khó khăn vì đã bị tàn phá

Một công trình nghiên cứu khác tại Cầu Hai - Phú Thọ (Viện Khoa học

Lâm nghiệp Việt Nam) [29] cũng đã đưa cây Lim xẹt (P tonkinense) trồng

theo băng trên thảm cây bụi có chiều cao khoảng 3m Mở rạch 2m, trồng bằng cây con có bầu được tạo từ hạt nuôi trong vườn ươm 6 tháng tuổi Sau 3 năm

tỷ lệ sống đạt sấp xỉ 90%, khả năng sinh trưởng khá, tăng trưởng bình quân đạt 2,3cm/năm về đường kính và 2,0m/năm về chiều cao Nhưng đến năm thứ

4 trở đi thì khả năng sinh trưởng chậm lại Các loài cây tái sinh trong rạch chừa sinh trưởng khá nhanh, vượt chiều cao cây Lim xẹt trồng trong rạch Tán cây trong rạch chừa đã lấn át nên ở giai đoạn từ 6 - 7 năm tuổi khả năng sinh trưởng của Lim xẹt kém hẳn Điều này rất phù hợp với đặc điểm sinh thái cây Lim xẹt đã được xác định trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây Vì cây Lim xẹt là cây ưa sáng do đó không nên trồng làm giàu rừng bằng Lim xẹt trong rạch, khi thảm thực bì phát triển quá nhanh

Cũng tại Cầu Hai - Phú Thọ đã nghiên cứu thử nghiệm trồng cây Lim xanh trên 3 trạng thái thực bì khác nhau:

1 Trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt có chiều cao lớp thảm tự nhiên 3m Trồng lim xanh trên băng chặt rộng 20, 30, 40m; băng chừa 20m Trên băng chặt lại tiến hành gieo cốt khí để che phủ đất

2 Trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt được chặt trắng, đốt dọn sạch, giữ lại cây cỏ phục hồi trong quá trình chăm sóc

Trang 26

3 Trạng thái đất trống đã có lớp cây tiên phong phục hồi với chiều cao

từ 3 - 4m, mở rạch rộng 1,5m, hàng cách nhau 4m, cây cách cây 2m

Trần Nguyên Giảng (1985) [17] nhận xét rừng Lim xanh được trồng theo băng hoặc theo rạch (công thức 1 và công thức 3) có khả năng sinh trưởng tốt

và hình thân đẹp Cây Lim xanh là loài cây không có trục chính, thường ra cành sớm được sự hỗ trợ của băng chừa thu hẹp ánh sáng của băng trồng, đã hạn chế được cành ngang, làm cho đoạn thân dưới cành có chiều dài 5 - 7m,

có cây trên 10m, không bị sâu nấm Cây Lim xanh trồng trên đất trống (công thức 2), thiếu cây phù trợ nên đã trở thành rừng thuần loài và lộ rõ nhược điểm: Thân ngắn, cong queo, sâu nấm nhiều

Vi Hồng Khánh (2003) [20] khi đánh giá sinh trưởng của một số loài cây bản địa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển rừng ở Cầu Hai - Phú Thọ

đã kết luận: Phần lớn các xuất xứ Lim xanh (E fordii) đều có tỷ lệ sống cao

và sinh trưởng tốt, đồng thời trong 34 loài cây bản địa nơi nghiên cứu đã chọn

được các loài: Lim xanh (E fordii), Re gừng (C zeylanicum), Xoan đào

(Pygeum arboreum), Sồi phảng (Castanopsis cerebrina), Chiêu liêu (Terminalia chebula), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) là những loài

cây mọc nhanh, phát triển tốt, ít bị sâu bệnh có khả năng nhân rộng và phát triển cho các điều kiện lập địa tương tự

Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [29] đã đề xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồng rừng phục vụ cho cả 3 loại rừng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Qua khảo sát, dựa vào các tài liệu đã có và số liệu mới thu thập, 31 loài cây bản địa đã được chọn và có báo cáo chuyên đề cho từng loài Các loài cây bản địa đó được đánh giá theo 3 mức độ:

- Các loài cây đã được đưa vào sản xuất lớn, diện tích lên tới hàng nghìn ha, tối thiểu cũng vài trăm ha, có đủ quy trình, quy phạm, hưỡng dẫn kỹ

Trang 27

thuật như: Mỡ (Manglietia conifera), Quế (Cinnamomun cassia Bl), Sa mu

(Cunninghamia lanceolata), Trẩu (Vernicia fordii) , Sở (Camellia oleifera),

Thông mã vĩ (Pinus massoniana), Muồng đen (Senna siamea), Dầu nước

(Diptercarpus dyeri Pierre),

- Các loài cây đã đưa vào sản xuất mặc dù quy mô còn nhỏ song các mô

hình rừng trồng đủ lớn để đánh giá như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Lim xẹt (P tonkinense), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy), Dó giấy (Rhamnoneuron balansae),

- Các loài đã và đang được nghiên cứu, mô hình thực nghiệm nhỏ như:

Lim xanh (E fordii), Kháo vàng (M bosii), Re gừng (C zeylanicum), Trám

(Canarium sp), Vên vên (Anisoptera costata), Dẻ đỏ (C hystrix),

Công trình nghiên cứu phục hồi rừng vùng Sông Hiếu thông qua việc

xây dựng cấu trúc hỗn loài Lát hoa với một số loài cây khác của Nguyễn Bá

Chất (1981-1985) Tác giả đã trồng hỗn loài cây Lát hoa với các loài cây lá rộng bản địa như Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõi thọ, Ràng ràng nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp lý Mô hình này được theo dõi đến năm thứ

10 và cho thấy sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên có ưu điểm hơn về sinh trưởng của các loài cây trồng và có dấu hiệu phục hồi đất tốt hơn [5]

Dự án RENFODA (Rehabilitation of Natural Forest in Degraded Watershed Area in the North of Vietnam) do JICA tài trợ đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái ở Cao Phong - Hoà Bình bằng cách tạo ra rừng trồng hỗn loài các loài cây lá rộng bản địa theo phương thức hỗn loài giữa các loài cây cao ưa sáng và chịu bóng với nhau Các loài cây lá rộng bản địa được kết hợp để tạo rừng trồng hỗn loài là Giẻ

đỏ, Lim xanh, Trám trắng và Sồi phảng Phương pháp hỗn loài là theo rạch và

Trang 28

theo đám Kết quả sau 4 năm thí nghiệm (2004-2007) cho thấy các loài cây trồng đều rất có triển vọng, tỷ lệ sống của các loài đều đạt trên 95% So với phương pháp trồng hỗn loài theo đám thì sinh trưởng của các loài cây trồng theo rạch đều tốt hơn [29]

Các dự án trồng rừng Việt - Đức KfW1 ở Lạng Sơn và Bắc Giang; KfW2 ở Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị cũng đã đưa cây bản địa vào trồng dưới rừng Keo lá tràm theo hướng đa dạng hoá cây trồng

Tóm lại, ở Việt Nam các nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài đã được thực hiện từ rất sớm và được đẩy mạnh vào những năm 1990 khi Nước ta bước vào thực hiện chương trình 327 và dự án 661 Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là xác định loài cây trồng, tạo cây phù trợ, phương thức và phương pháp trồng rừng,… Phần lớn các nghiên cứu đều quan tâm đến tạo rừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa, một vài nghiên cứu khác đã chú ý đến đối tượng cây nhập nội hoặc cây có chu kỳ kinh doanh ngắn, Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chỉ thực hiện trong thời gian ngắn nên những diễn biến về đất đai, hoàn cảnh rừng, sự sai khác về năng suất chưa có đủ thời gian đánh giá và khẳng định sự thành công hay thất bại của mô hình; các mô hình chủ yếu được thiết lập trên đối tượng đất còn tốt, đất rừng thoái hoá chưa được chú ý nhiều; vấn đề quan trọng nhưng còn nhiều tồn tại ở nước ta nằm ở khâu nuôi dưỡng rừng, đặc biệt là việc xử lý và điều chỉnh cây phù trợ như thế nào cho cây bản địa sinh trưởng và phát triển tốt

Qua các tổng kết trên ta thấy các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về việc trồng rừng hỗn loài thường được dành cho rừng phòng hộ Việc trồng rừng hỗn loài cây bản địa lá rộng đã được trồng thử nghiệm tại nhiều cơ sở sản xuất nhưng chưa được đánh giá đúng mức Trong nhiều chương trình, dự án thì hệ thống các dự án KfW do Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ là tập trung chính vào việc trồng cây bản địa lá rộng trên đất trống, đồi núi trọc và là đất rừng sản

Trang 29

xuất Vì vậy việc đánh giá được kết quả các mô hình trong khuôn khổ dự án này là cần thiết, đặc biệt là Tỉnh Phú Yên là 1 tỉnh có vị trí địa lý luôn phải hứng chịu rất nhiều những trận bão, đất đai khô cằn thì thật cần thiết

Nhằm góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại nêu trên, đề tài: “Đánh

giá một số mô hình trồng rừng bằng cây bản địa của dự án KfW6 tại Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên”đặt ra là rất cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học

lẫn thực tiễn, phục vụ trực tiếp cho công tác trồng rừng cây bản địa trên địa bàn tỉnh Phú Yên nói riêng và khu vực Miền Trung nói chung

Trang 30

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát:

Góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn của kỹ thuật trồng rừng

bằng cây bản địa trên đất trống đồi núi trọc tại khu vực nghiên cứu và những

địa phương có điều kiện tương đồng

* Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá được hiện trạng của một số mô hình trồng rừng bằng cây

bản địa trên đất trống, đồi núi trọc tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất được loài cây trồng thích hợp và một số biện pháp kỹ thuật

lâm sinh trồng cây bản địa trên đất trống, đồi núi trọc tại khu vực Phú Yên nói

riêng và khu vực Miền Trung nói chung

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số mô hình trồng cây bản địa do dự án KfW6 xây dựng tại Thị xã

Sông Cầu, tỉnh Phú Yên

2.3 Giới hạn nghiên cứu

* Địa điểm nghiên cứu: Mô hình rừng trồng cây bản địa trên đất trống,

đồi núi trọc tại 2 địa điểm khu vực Đá Giăng, xã Xuân Lâm và khu vực Cù

Mông, xã Xuân Lộc thuộc huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên

* Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu đánh giá tình hình sinh

trưởng (chiều cao vút ngọn, đường kính gốc) của các loài cây bản địa để rút ra

bài học kinh nghiệm phục vụ cho công tác trồng rừng trong những năm tới

2.4 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu trên đề tài đặt ra những nội dung nghiên

cứu như sau:

Trang 31

- Tổng kết, đánh giá một số mô hình trồng rừng cây bản địa lá rộng tại Miền Trung

- Đánh giá sinh trưởng của các loài cây bản địa trong các mô hình trồng rừng tại tỉnh Phú Yên

+ Mô hình 2a và mô hình 2b tại Đá Giăng, xã Xuân Lâm

 Giới thiệu mô hình

 Đánh giá phẩm chất, chất lượng cây trồng

 Sinh trưởng của các loài cây trong mô hình

+ Mô hình 4 và mô hình 5 tại Cù Mông, xã Xuân Lộc

 Giới thiệu mô hình

 Đánh giá phẩm chất, chất lượng cây trồng

 Sinh trưởng của các loài cây trong mô hình

- Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây bản địa tại các mô hình

- Đề xuất mô hình trồng rừng cây bản địa và các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động

+ Đề xuất mô hình trồng cây bản địa lá rộng cho chương trình trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc tỉnh Phú Yên

+ Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động cho chương trình trồng rừng bằng cây bản địa trên đất trống, đồi núi trọc tỉnh Phú Yên

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu

2.5.1.1 Quan điểm

- Cây trồng phải gắn với điều kiện lập địa và các biện pháp kỹ thuật cụ thể nên trong quá trình đánh giá phải chú ý đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội

và kỹ thuật gây trồng

Trang 32

- Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại trong quá trình gây trồng cây bản địa

2.5.1.1 Phương pháp luận

- Sinh trưởng của từng loài cây rừng có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện nơi mọc của chúng Với đối tượng nghiên cứu ở đây là cây bản địa trồng đồng thời trên đất trống, đồi núi trọc, nó chịu sự chi phối trực tiếp của lớp cây bụi, thảm tươi và các điều kiện khác Trong quá trình sinh trưởng lâu dài, sự thay đổi của cây tái sinh, cây bụi, thảm tươi sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng

- Khi đánh giá sinh trưởng của một loài cây nếu xem các nhân tố khí hậu, tuổi cây là đồng nhất thì mức độ biến động các nhân tố không đồng nhất (ánh sáng, dinh dưỡng) chính là những nhân tố tạo ra sự sai khác về năng lực sinh trưởng của chúng Sự ảnh hưởng tích cực của các nhân tố chủ đạo ở một mức độ nhất định sẽ tạo ra cho cây trồng dưới tán sinh trưởng tốt nhất và có chất lượng cao nhất, tại đó gọi là giá trị tối ưu

- Trong mối quan hệ chồng chéo của các nhân tố môi trường đến các loài cây khác nhau, ta có thể tìm được khoảng thích hợp của chúng Vì vậy, nhiệm vụ chính của các nhà lâm sinh là tìm ra khoảng thích hợp đó nhằm đưa

ra hướng tác động phù hợp để cây trồng sinh trưởng, phát triển trong điều kiện thuận lợi nhất

2.5.2 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu có sẵn

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu

- Các quy trình, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật đã có về trồng cây bản địa lá rộng

- Các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm về cây bản địa lá rộng nói chung

và trồng rừng cây bản địa lá rộng trên đất trống đồi núi trọc nói riêng

Trang 33

- Hồ sơ thiết kế kỹ thuật các mô hình, quá trình thi công và các kỹ thuật

đã áp dụng trong các mô hình

- Kế thừa các số liệu đo đếm sinh trưởng và nghiệm thu chăm sóc của

dự án KfW6

2.5.3 Phương pháp chuyên gia

Lấy ý kiến từ các chuyên gia lâm sinh của dự án, cán bộ dự án đã và đang tham gia dự án, các cán bộ Chi cục lâm nghiệp một số tỉnh, sau đó tổng hợp ý kiến để viết luận văn

2.5.4 Phương pháp điều tra thực địa

Mỗi mô hình có một phương thức trồng khác nhau, vì vậy việc bố trí các ô tiêu chuẩn cũng nhằm phù hợp với từng mô hình cụ thể như sau:

- Mô hình 2a và mô hình 2b ở Đá Giăng, xã Xuân Lâm, mỗi mô hình điều tra 5 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có diện tích 700 m2 (20 x 35 m)

- Mô hình 4 ở Cù Mông, xã Xuân Lộc, lập 03 ô tiêu chuẩn 500 m2 (20 x

25 m)

- Mô hình 5 ở Cù Mông, xã Xuân Lộc, trồng 5 loài cây thành 5 khối lớn, mỗi khối trồng 1 loài vì thế tại mỗi khối lập 3 ô tiêu chuẩn, mỗi ô tiêu chuẩn có diện tích 500 m2 (20 x 25 m)

Trong các ô tiêu chuẩn, lập 4 ô dạng bản 25m2 (5 x 5 m) ở bốn góc để điều tra cây tái sinh, cây bụi, thảm tươi

a Điều tra cây bản địa

- Đo đếm sinh trưởng và đánh giá chất lượng tất cả các cây bản địa trong OTC Các chỉ tiêu đo đếm sinh trưởng là: Đường kính gốc (Doo), chiều cao vút ngọn (Hvn)

- Chiều cao vút ngọn (HVN) được đo bằng sào đo cao

- Đường kính gốc (D00), được đo bằng thước kẹp Panme

Trang 34

- Đánh giá chất lượng cây rừng: Kết hợp với điều tra sinh trưởng để phân loại phẩm chất cây rừng theo 3 cấp bằng kinh nghiệm:

+ Cây tốt (1): Có thân thẳng đẹp, tròn đầy, tán cây cân đối, không cong queo, không sâu bệnh, sinh trưởng tốt

+ Cây trung bình (2): Thân cân đối, tán đều, không cụt ngọn, không cong queo, sinh trưởng bình thường

+ Cây xấu (3): Là những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, tán lệch, sinh trưởng kém

b Điều tra cây tái sinh

Trong ô dạng bản tiến hành thống kê tất cả các cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu sau:

- Tên các loài cây tái sinh

- Đường kính và chiều cao cây tái sinh

- Đánh giá chất lượng cây tái sinh

- Xác định nguồn gốc tái sinh

c Điều tra cây bụi, thảm tươi

Trong các ô dạng bản tiến hành xác định loài cây bụi chủ yếu, chiều cao trung bình, chất lượng sinh trưởng của từng loài Độ che phủ (ĐCP) mặt đất của cây bụi, thảm tươi được xác định bằng phương pháp mục trắc ước lượng phần trăm số cây bụi thảm tươi che phủ kín mặt đất

d Điều tra đất dưới tán rừng trồng và nơi đất trống:

Tại mỗi một mô hình tiến hành đào một phẫu diện đất đại diện Kết quả ghi vào trong mẫu biểu điều tra đất theo hướng dẫn trong “Sổ tay điều tra quy hoạch rừng” (1995)

Tại mỗi mô hình lấy đất ở vị trị 0 - 30 cm tại nhiều vị trí trong mô hình, phơi khô trộn đều để lấy mẫu phân tích Mỗi mô hình 1 mẫu và nơi đất trống

1 mẫu để đối chứng

Trang 35

Chú ý : Vì lớp rễ hiệu dụng (trao đổi dinh dưỡng) của cây trồng tập

trung chủ yếu ở độ sâu từ 0 - 30 cm nên việc phân tích tính chất hóa học của đất chỉ thực hiện trên những tầng đất ở độ sâu chứa phạm vi từ 0 đến 30 cm

2.5.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi điều tra ngoại nghiệp được tổng hợp vào các mẫu biểu,

sử dụng phần mềm excel và SPSS 15.0 để xử lý các chỉ tiêu điều tra Cụ thể như sau:

a Cây bản địa

- Thống kê các loài cây bản địa được trồng theo các mô hình

- Thống kê các chỉ tiêu điều tra của các loài cây bản địa đã được điều tra trong khuôn khổ đề tài theo từng loài trong OTC

- Kiểm tra tính thuần nhất về các chỉ tiêu sinh trưởng của các loài cây bản địa bằng tiêu chuẩn H (Tiêu chuẩn phi tham số của Kruskal và Wallis)

- Tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng của từng loài cây bản địa được trồng trong các mô hình: Tính toán đặc trưng mẫu, tỷ lệ sống, tỷ lệ cây tốt, trung bình, xấu theo các công thức như sau:

+ Số trung bình mẫu: D oo; H VN

+ Tính toán hệ số biến động (của các loài trong từng mô hình)

S% = (Sai tiêu chuẩn/ Xbq) x 100%

+ Tính toán tỷ lệ cây sống theo từng năm

Tỷ lệ cây sống của từng loài trong mô hình = Count (Do các các cây của loài đó trong mô hình)/tổng số cây của loài đó trong mô hình*100

(Ghi chú: những cây chết không nhập giá trị D o)

- Tính toán tỷ lệ cây tốt, trung bình, xấu cho từng loài theo công thức:

% 100

Trang 36

- n là tổng số cây của loài

b Lớp cây tái sinh

- Thống kê các loài tái sinh trong các OTC

c Lớp cây bụi, thảm tươi

- Thông kê các loài cây bụi, thảm tươi chủ yếu trong OTC

- Chiều cao trung bình của lớp cây bụi, mật độ cây bụi, độ che phủ trung bình của cây bụi thảm tươi

Trang 37

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC

NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên

3.1.1 Vi ̣ trí đi ̣a lý, diê ̣n tích, ranh giới

Thị xã Sông Cầu nằm ở phía bắc của tỉnh Phú Yên, cách Thành phố Tuy Hòa khoảng 55 km (dọc theo quốc lộ IA) và cách Thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định khoảng 42 km (theo quốc lộ IA) Thị xã Sông Cầu nằm ở phía Bắc của Tỉnh Phú Yên, có tọa độ địa lý như sau:

- Từ 13021’ đến 13042’ vĩ độ Bắc

- Từ 109006’ đến 109020’ kinh độ Đông

Tổng diện tích tự nhiên toàn thị xã là 48.928,48 ha, chiếm 9,7% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Phú Yên Sông Cầu có quốc lộ IA đi xuyên qua suốt chiều dài của Thị xã, hầu hết các khu dân cư và các vùng kinh tế trọng điểm đều nằm trãi dài theo dọc tuyến quốc lộ IA & ID Tập trung nhiều nhất nằm ở phía Bắc thị xã Sông Cầu dọc theo tuyến quốc lộ IA

Địa giới hành chính của thi xã như sau:

- Phía Bắc giáp thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định

- Phía Nam giáp thị xã Tuy An

- Phía Tây giáp thị xã Đồng Xuân

- Phía Đông giáp Biển Đông

Thị xã Sông Cầu gồm 4 phường: Phường Xuân Đài, Phường Xuân Phú, Phường Xuân Thành, Phường Xuân Yên và 10 xã, Xã Xuân Bình, Xã Xuân Cảnh, Xã Xuân Hải, Xã Xuân Hòa, Xã Xuân Lâm, Xã Xuân Lộc, Xã Xuân Phương, Xã Xuân Thịnh, Xã Xuân Thọ 1, Xã Xuân Thọ 2

Trang 38

Hình 3.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu

3.1.2 Đi ̣a hình, thổ nhưỡng

Địa hình Sông Cầu dốc thoải dần từ Tây sang Đông, phía Tây có nhiều

hệ dông núi cao bao bọc, nhìn chung địa hình khá phức tạp, phía Tây và Tây - Bắc là những dãy núi cao với độ cao tuyệt đối từ 500 đến trên 870 mét (dãy núi Gà), phía Đông là những đồi thấp và những thung lũng nhỏ hẹp xen lẫn với gò đồi, nhiều nhánh núi ăn sâu ra biển tạo nên những bán đảo (Túy

THỊ XÃ SÔNG CẦU ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Trang 39

Phong, Từ Nham), các đầm vịnh như: Cù Mông, Xuân Đài và tạo nên những cánh đồng nhỏ hẹp phân bố manh mún và có các dạng điạ hình sau:

- Dạng địa hình núi cao: Chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của thị xã, phân bố chủ yếu ở phía Tây, Tây - Bắc và Bắc với các xã: Xuân Lâm, Xuân Lộc và Xuân Hải và một phần của các xã: Xuân Bình, Xuân Phương Ở đây tập trung các đỉnh núi cao trên 500 mét, độ dốc phổ biến trên 250, mức độ chia cắt mạnh Đây là vùng đầu nguồn, có vai trò quan trọng, quyết định khả năng dữ trử nước và cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp vùng hạ lưu

- Dạng địa hình núi thấp: Phân bố độ cao từ 200 đến 500 mét, thuộc các xã: Xuân Thọ 1, Xuân Thọ 2, Xuân Phương, Xuân Cảnh và Xuân Thịnh, độ dốc phổ biến từ 150 đến 250

- Dạng điạ hình thung lũng và đồng bằng hẹp: Phân bố dọc theo bờ biển

và các thung lũng nhỏ, dọc sông Tam Giang Vùng này có địa hình tương đối bằng, độ cao trung bình dưới 50 mét, độ dốc phổ biến là 50

Trên địa hình toàn Thị xã có 7 nhóm đất chính

a- Cồn cát và đất cát ven biển: Do sản phẩm của nền lục địa ven biển tạo thành, bao gồm cồn cát hiện đại, cát trắng cổ và đất cát ven biển Phân bố dọc theo bờ biển, một số nơi bị lấn sâu vào đất liền do cát di động gió bay

b- Đất đỏ và nâu vàng: Gồm 3 loại trên địa bàn Thị xã, là các loại đất đỏ vàng phát triển trên đá mẹ granít, đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, đá biến chất nâu vàng phát triển trên đá bazan Phân bố chủ yếu trên các đồi núi khắp địa bàn Thị xã

c- Đất mặn: Đất do sự bồi tụ, lấn biển tự nhiên và nhân tạo, thường được cải tạo nuôi trồng thủy sản và làm muối, phân bố dọc theo các đầm vịnh

d- Đất xám: Phát triển trên đá Riolít, diện tích tương đối ít, phân bố chủ yếu trên các đỉnh núi đã bạc màu

Trang 40

e- Đất phù sa: Đất do sản phẩm bồi tụ của sông, suối tạo thành Phân bố dọc theo sông, suối

f- Đất thung lũng: Đất do sản phẩm dốc tụ từ các sườn đồi quanh các thung lũng tạo thành, đất có hàm lượng dinh dưỡng cao Phân bố chủ yếu ở các thung lũng

g- Đất đen: Là đất nâu thẩm phát triển trên đá bazan, đất bị bạc màu, có

- Nhiệt độ không khí: Sông Cầu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có

nhiệt độ bình quân hàng năm là 270c, nhiệt độ cao nhất là 390c vào các tháng nắng hạn 6, 7, 8 và nhiệt độ thấp nhất là 20-210c vào tháng 12 và tháng 01 của năm sau

Nhiệt độ cao kết hợp với khí hậu nóng gây nên tình trạng hạn đất và hạn không khí là điều kiện khó khăn cho điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây trồng Để khai thác tài nguyên khí hậu của vùng chú ý lựa chọn các loài cây trồng bản địa, có khả năng chịu hạn, đồng thời kết hợp các biện pháp như: Giữ ẩm, chống xói mòn, xây dựng các công trình thủy lợi cung cấp nước tưới, trồng đai rừng chắn gió giữ ẩm

- Hướng gió: Gió chịu 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông - Bắc từ

tháng 10 đến tháng 02 của năm sau với vận tốc là 10m/s; gió Tây - Nam thổi

từ tháng 03 đến tháng 09 tập trung thổi mạnh nhất vào tháng 06, 07 với vận tốc trung bình là 4,8 m/s Số ngày có cường độ thổi mạnh từ 8 đến 10 ngày với vận tốc lên tới 15 m/s

- Lượng mưa: Lượng mưa bình quân trong năm của Thị xã trong

Ngày đăng: 19/09/2017, 09:22

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w