Quán triệt tinh thần trên,vần đề bảo vệ môi trường đã được Đảng và nhà nước ta quan tâm sâu sắc.Chỉ thị CT/TW của Bộ chính trị,tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN PHI HIỀN
GI¸O DôC Kü N¡NG B¶O VÖ M¤I TR¦êNG BIÓN
CHO HäC SINH c¸c TR¦êNG TIÓU HäC THÞ X· S¤NG CÇU
TØNH PHó Y£N
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN PHI HIỀN
GI¸O DôC Kü N¡NG B¶O VÖ M¤I TR¦êNG BIÓN
CHO HäC SINH c¸c TR¦êNG TIÓU HäC THÞ X· S¤NG CÇU
TØNH PHó Y£N
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM MINH MỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nguyên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo cùng bạn bè và người thân
Trước hết, tôi bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
- PGS.TS Phạm Minh Mục, người đã tận tình chỉ bảo,giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa GDTL,trường ĐHSP đã giảng dạy tôi trong suốt khóa học; tạo mọi điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và các em học sinh của các trường tiểu học của Thị xã Sông Cầu
Cuối cùng tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè,đồng nghiệp và những người thân đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn nhưng chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót.Kính mong sự chỉ bảo của quí thầy, cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của các bạn quan tâm
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trần Phi Hiền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Dự kiến bố cục luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản về môi trường và giáo dục môi trường 10
1.2.1 Khái niệm môi trường 10
1.2.2 Khái niệm môi trường biển 12
1.2.3 Bảo vệ môi trường 12
1.2.3 Giáo dục môi trường 14
1.2.4 Kĩ năng 16
1.2.5 Kĩ năng bảo vệ môi trường biển 17
1.3 Một số nội dung cơ bản của giáo dục bảo vệ môi trường biển 18
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học 18
1.3.2 Mục tiêu, nội dung giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học 22
1.3.3 Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp 25
Trang 51.3.4 Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển thông qua hoạt
động giáo dục trên lớp 32
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SÔNG CẦU 39
2.1 Địa bàn và khách thể khảo sát 39
2.2 Đánh giá thực trạng giáo dục kỹ năng bảo về môi trường biển của học sinh các trường tiểu học TX Sông Cầu, tỉnh Phú Yên 42
2.2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 42
2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN 70
3.1 Các nguyên tắc giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển thông qua tổ chức hoạt động giáo dục và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 70
3.1.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính mục đích trong hoạt động giáo dục môi trường thông qua HĐGD và HĐGD NGLL 70
3.1.2 Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính hệ thống và liên tục 70
3.1.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo kết hợp sự tổ chức sư phạm của giáo viên với việc phát huy tính chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh 71
3.1.4 Nguyên tắc 4: Đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh 72
Trang 63.1.5 Nguyên tắc 5: Đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa giáo dục
trong giờ lên lớp với HĐGD NGLL, giữa giáo dục của nhà trường
với giáo dục của gia đình và xã hội 72
3.1.6 Nguyên tắc 6: Đảm bảo tính tự nguyện của học sinh trong giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển 73
3.1.7 Nguyên tắc 7: Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 73
3.2 Các biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học 73
3.2.1 Biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển thông qua tổ chức một số HĐGD NGLL 73
3.2.2 Biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển thông qua tổ chức hoạt động giáo dục 87
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 101
3.3.1 Đánh giá mức độ cần thiết 101
3.3.2 Đánh giá mức độ khả thi 102
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC 1PL
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT: Bảo vệ môi trường GDBVMT: Bảo vệ môi trường GDKNBVMT: Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường GDMT: Giáo dục môi trường
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Bảng 2.1: Nhận thức, thái độ của giáo viên tiểu học đối với việc giáo dục
kĩ năng bảo vệ môi trường biển thông qua HĐGD và HĐGD NGLL cho học sinh 44 Bảng 2.2: Nhận thức của học sinh về khái niệm môi trường và bảo vệ
môi trường 46 Bảng 2.3: Hiểu biết của học sinh về nguyên nhân dẫn đến hành động
phá hoại môi trường 49 Bảng 2.4: Nhận thức của học sinh TH về trách nhiệm bảo vệ môi
trường biển 49 Bảng 2.5: Thực trạng kỹ năng bảo về môi trường biển của học sinh
tiểu học 52 Bảng 2.6: Thái độ của học sinh đối với những hành động bảo vệ môi
trường và hành động gây ô nhiễm môi trường 53 Bảng 2.7: Thống kê các chủ đề theo môn Khoa học 55 Bảng 2.8: Các biện pháp giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển của
giáo viên tiểu học trong thực tiễn giảng dạy 58 Bảng 2.9: Thực trạng các hoạt động GDKNBVMT biển được sử dụng
qua HĐGD NGLL của giáo viên tiểu học trong giảng dạy 60 Bảng 2.10: Đánh giá về mức độ thực hiện công tác giáo dục kỹ năng
bảo vệ môi trường biển thông qua HĐGD và HĐGD NGLL
ở 2 trường tiểu học 62 Bảng 2.11: Nguyên nhân dẫn đến kết quả GDKN BVMT biển thông
qua HĐGD và HĐG DNGLL 64 Bảng 2.12: Nhu cầu bồi dưỡng về chuyên môn của giáo viên đối với
công tác giáo dục kỹ năng bảo môi trường biển 67 Bảng 3.1: Khảo nghiệm mức độ cần thiết của 6 biện pháp nâng cao
hiệu quả GDBVMT biển ở trường TH 101 Bảng 3.2 Khảo nghiệm mức độ khả thi của 5 biện pháp nâng cao hiệu
quả GDBVMT biển ở trường TH 102Biểu đồ 2.1: Đánh giá mức độ thực hiện công tác giáo dục môi trường
thông qua HĐGD và HĐGĐNGLL ở trường tiểu của cán
bộ, giáo viên 62 Hình 1.1 Hình ảnh bờ biển đầy rác thải tác động mạnh với các em HS 34 Hình 1.2 Nước biển bị ô nhiễm 35
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay,cuộc sống đang phát triển ngày càng hiện đại đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, đối lập với nó,tình trạng ô nhiễm môi trường lại có những diễn biến phức tạp.Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề không chỉ riêng của một vùng nào,mà ở khắp nơi,cả nông thôn,thành thị, miền núi, miền biển,cả các nguồn nước và không khí… Theo các tổ chức bảo vệ môi trường ở nước ta 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước,40% các bãi biển đã bị ô nhiễm hủy hoại về môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm nghiêm trọng Cùng với đó,tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất trống đồi núi trọc và sự suy thoái các nguồn gen động thực vật đang có chiều hướng gia tăng là hệ quả của việc hủy hoại môi trường.Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội ngay bây giờ chúng ta cần vận động tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân.Chúng ta phải cho họ biết bảo vệ môi trường là bảo vệ cho chính mình,bảo vệ cho con cháu của chúng ta được sống an toàn và khỏe mạnh
Trong các giải pháp cho môi trường khỏi sự ô nhiễm,sự suy thoái và có thể duy trì bền vững thì giáo dục được coi là công cụ cơ bản.Vì chỉ thông qua giáo dục môi trường mới có thể thay đổi hành vi tiêu cực đối với môi trường trong tương lai
Quán triệt tinh thần trên,vần đề bảo vệ môi trường đã được Đảng và nhà nước ta quan tâm sâu sắc.Chỉ thị CT/TW của Bộ chính trị,tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và triển khai quyết định 1363 QĐ/TTg “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” nhằm tác động lên thái độ,hành vi của học sinh bằng chương trình giáo dục môi trường trong trường học
Trang 10Trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp tiểu học đóng vai trò là cấp học nền móng.Đó là cấp học để tạo ra những bước đi cơ bản và bền vững cho học sinh,hình thành cho học sinh những tri thức, kĩ năng, hành vi cần thiết trong cuộc sống.Vì vậy, đưa hoạt động giáo dục môi trường vào trường học nói chung,vào trường tiểu học nói riêng có vai trò to lớn trong việc xây dựng cho thế hệ trẻ hành vi đúng đắn với môi trường.Do giáo dục môi trường được hình thành để đối phó với các vấn đề môi trường nảy sinh và ngày càng trở nên trầm trọng nên một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục môi trường
là phải hình thành ở học sinh không chỉ nhận thức mà cả hành vi cụ thể để giải quyết các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường.Hay nói cách khác.giáo dục hành vi có thể được coi là tiêu điểm và đặc trưng quan trọng của giáo dục môi trường
Trong thực tiễn giáo dục hiện nay, nội dung giáo dục môi trường đã được đưa vào nhiều môn học ở trường tiểu học với mục tiêu là hình thành cho học sinh nhận thức, thái độ và hành vi bảo vệ môi trường.Trong đó mục tiêu hình thành hành vi bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học được coi là quan trọng nhất
Học sinh tiểu học là những học sinh ở lứa tuổi nhi đồng, các em mới đang hình thành và phát triển, các phẩm chất nhân cách, những thói quen cơ bản chưa có tính ổn định mà đang được hình thành và củng cố Do đó việc giáo dục cho học sinh tiểu học những kỹ năng bảo vệ môi trường biển để giúp các em có thể sống một cách an toàn và khỏe mạnh là việc làm cần thiết Hiện nay kĩ năng bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường biển nói riêng của các em còn rất nhiều hạn chế Trong quá trình giáo dục chúng ta thường mới chỉ quan tâm tới việc dạy chữ và chưa quan tâm nhiều tới việc dạy làm người cho học sinh Vì vậy việc bảo vệ môi trường chưa đi vào cuộc sống hằng ngày của các em
Trang 11Qua điều tra,quan sát cho thấy tình trạng học sinh xả rác không đúng nơi qui định, vệ sinh trường lớp chưa sạch đẹp, đi vệ sinh không dội nước sạch sẽ vẫn xảy ra,các em còn xả rác trên các con sông, bờ biển, đi vệ sinh ngoài biển Trong đó các kĩ năng như kĩ năng bày tỏ ý kiến của bản thân, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề phù hợp với lứa tuổi, kĩ năng giữ gìn
vệ sinh nơi công cộng, kĩ năng thu thập và xử lý thông tin về các vấn đề liên quan tới bảo vệ môi trường biển được các thầy cô giáo tích cực hình thành và củng cố nhưng các em chưa thể hiện được nhiều Học sinh ngày càng thực dụng, ích kỉ, lười, bỏ rác và vệ sinh cá nhân chưa đúng nơi qui định.Thực tế cũng cho thấy giáo viên tiểu học và các nhà quản lý chưa thực sự quan tâm tới việc giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường biển nói riêng cho học sinh tiểu học.Chính vì vậy mà tôi quyết định chọn đề tài
nghiên cứu: “Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh các trường tiểu học Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng giáo dục KN bảo vệ môi trường biển cho học sinh các trường tiểu học, đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh các trường tiểu học ở thị xã Sông Cầu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho học sinh các trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho học sinh các trường tiểu học Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên
4 Giả thuyết khoa học
Nguy cơ về ô nhiễm môi trường nói chung, môi trường biển biển nói
Trang 12riêng đang là vấn đề toàn cầu; truy nhiên trong thực tiễn giáo dục bảo về môi trường nói chung, môi trường biển nói riêng chưa được quan tập, nội dung và hình thức tổ chức giáo dục còn nhiều hạn chế Vì vậy, đề xuất được các biện pháp GD KN bảo vệ môi trường biển phù hợp,vừa sức,thiết thực với đặc điểm phát triển của học sinh tiểu học thì sẽ góp phần nâng cao ý thức, hình thành được kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh các trường tiểu học ở thị
xã Sông Cầu,tỉnh Phú Yên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sỡ lí luận giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh các trường tiểu học
5.2 Nghiên cứu thực trạng kỹ năng và giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Sông Cầu tỉnh Phú Yên
5.3 Đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh các trường tiểu học thị xã Sông Cầu tỉnh Phú Yên
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận môi trường, bảo về môi trường và giáo dục KN bảo vệ môi trường biển thông qua các buổi ngoại khóa,thông qua một số bài học môn Địa lí, Khoa học,Tập đọc có nội dung liên quan đến bảo vệ môi trường cho học sinh các trường tiểu học
6.2.Về địa bàn nghiên cứu
Các nghiên cứu được triển khai tại thị xã Sông Cầu với 5 trường tiểu học nằm trên địa bàn thị xã
6.3 Về khách thể khảo sát:
Lựa chọn một số lớp ở khối 5 của 5 trường trên địa bàn thị xã Sông Cầu
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
Trang 137.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
7.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết: Thông qua đọc tài liệu, sách, báo, tạp chí và các tài liệu khác, chúng tôi dùng phương pháp này
để phân tích, tổng hợp lí thuyết liên quan đến đề tài thu thập tông tin cần thiết
7.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết: Trên cơ sở phân loại, hệ thống hóa lí thuyết cần thiết để làm rỏ cơ sở lý luận của vấn
đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm:
- Quan sát học sinh: Thông qua các hoạt động giáo dục,thông qua các buổi ngoại khóa, quan sát giáo viên tổ chức hoạt động giáo dục,dự giờ để tìm hiểu thực trạng giáo dục môi trường trong dạy học môn Khoa học,Địa lí,Tập đọc,
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn để lấy ý kiến chuyên gia,cán bộ quản lí,giáo viên tiểu học
7.2.3 Phương pháp điều tra viết: Sử dụng Ankét lấy ý kiến của giáo viên, học sinh để thu thập thông tin cần nghiên cứu
7.2.5: Phương pháp khảo nghiệm sư phạm: Để kiểm nghiệm tính khoa học, khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Trang 148 Dự kiến bố cục luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận, khuyến nghị
Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển
cho học sinh các trường tiểu học
Chương 2: Thực trạng kỹ năng bảo vệ môi trường biển và giáo dục
kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn ở thị xã Sông Cầu thông qua các hoạt động giáo dục và các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Chương 3: Đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường
biển cho học sinh các trường tiểu học thông qua các hoạt động giáo dục, và các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình phát triển con người chinh phục, khai phá thiên nhiên
để phục vụ nhu cầu của mình Chính sự tác động mạnh mẽ của con người đến thiên nhiên đã làm chất lượng môi trường giảm sút và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người cũng như sự sống của tất cả các loài sinh vật trên Trái Đất
Trước nguy cơ chất lượng môi trường ngày càng giảm sút, thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng ngày càng quan tâm đến vấn đề bảo vệ và giáo dục môi trường
Trên thế giới, giáo dục môi trường được quan tâm rất sớm Giáo dục môi trường được tiến hành từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỉ xx Cùng với sự khuyến khích phát triển của Liên hợp quốc, giáo dục môi trường ngày càng phát triển mạnh mẽ
Từ năm 1972, Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường con người diễn ra tại Stockholm (Thụy Điển) từ ngày 5 đến ngày 16/6/1972 với sự tham gia của các nguyên thủ quốc gia, các nhà hoạt động trong lĩnh vực môi trường của 113 quốc gia Tại hội nghị này các thành viên đều nhất trí với nhận định: Việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường là một trong hai nhiệm vụ hành đầu của toàn nhân loại
Hội nghị quốc tế về giáo dục môi trường lần thứ hai được tổ chức tại Belgrade (Nam Tư) vào tháng 10 năm 1975 Tại đây tổ chức khoa học giáo dục và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã khởi thảo chương trình về giáo dục môi trường, vạch ra các nguyên lí và chiến lược giáo dục môi trường cho thế hệ trể trên toàn thế giới
Trang 16Năm 1992, Hội nghị liên hợp quốc về môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) từ ngày 3/6 đến ngày 14/6/1992 với sự tham gia của đại diện 178 quốc gia Tại đây Hội nghị đã xác định chương trình hành động về môi trường và phát triển của thế kỉ XXI
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững diễn
ra từ ngày 26/8 đến ngày 4/9/2002 được tổ chức tại Johannesburg (Nam Phi) Đây là Hội nghị quy mô nhất từ trước đến nay với sự tham gia của hơn 180 quốc gia Hội nghị đã tập trung thảo luận nhiệm vụ phát triển và giải quyết 5 vấn đề chủ chốt: “Cung cấp nước sạch và sử lí nước thải”, “Cung cấp nguồn năng lượng mới để thay thế năng từ lượng dầu mỏ, than đá”, “Phòng chống các loại dịch bệnh”, “Phát triển sản xuất nông nghiệp, chống xa mạc hóa đất đai”, “Bảo vệ sự đa dạng sinh học và cải tạo hẹ thống sinh thái”
Ở nước ta, giáo dục môi trường được bắt đầu vào những năm cuối của thập niên 70 Tuy nhiên việc tiến hành giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông đến đầu thập niên 80 mới được thực hiện cùng với công cuộc cải cách giáo dục Đặc biệt, vào năm 1986 tác giả Nguyễn Dược đã đề cập đến việc giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông, tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của giáo dục môi trường ở Việt Nam Từ đó công tác giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông mới thật sự được chú trọng
Từ năm học 1986 đến 1992 các sách giáo khoa tiểu học, trung học cơ
sở, trung học phổ thông với một số nội dung được cải tiến, trong đó vấn đề giáo dục môi trường đang dần được quan tâm nhiều hơn Đặc biệt, bắt đầu từ năm học 2002 – 2003, Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa với nhiều bài, nhiều mục, nhiều nội dung giáo dục môi trường được tích hợp vào nội dung các môn học đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Điều đó được thể hiện bởi sự ra đời của các công trình nghiên cứu như:
Trang 17- Một số phương pháp tiếp cận giáo dục môi trường của tác giả Hoàng Đức Nhuận và Nguyễn Văn Khang
- Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông của tác giả Nguyễn Phi Hạnh – Nguyễn Thị Thu Hằng
- Công trình nghiên cứu “Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục môi trường qua môn Địa lí ở chương trình giáo dục phổ thông
cơ sở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng
- Giáo dục môi trường qua môn Địa lí của tác giả Nguyễn Thị Kim Cương và Nguyễn Phi Hạnh
Giáo dục môi trường cho cấp tiểu học cũng có nhiều công trình nghiên cứu Trong đó có thể nói đến một số công trình nghiên như:
* Về mục tiêu, nội dung và các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môi trường:
- Vị trí và bước đầu định hướng nội dung, biện pháp giáo dục môi trường ở bật tiểu học ở Việt Nam của tác giả Phạm Đình Thái
- Một số biện pháp năng cao giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương
- Hai phạm vi của khái niệm giáo dục môi trường và mục tiêu giáo dục môi trường ở nhà trường tiểu học và về phương pháp tiếp cận trong giáo dục môi trường của tác giả Nguyễn Thị Thấn
- Nghiên cứu một số phương pháp giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học qua môn Tự nhiên và xã hội của tác giả Lê Thị Tuyết Thanh
* Về vấn đề giáo dục môi trường thông qua các môn học:
- Giáo dục môi trường qua hình thức dạy học ngoài lớp môn Tự nhiên
và xã hội của tác giả Võ Trung Minh
- Bước đầu nghiên cứu việc giáo dục môi trường qua dạy học môn Đạo đức ở lớp 4 tiểu học của tác giả Hà Thị Thúy Lan
Trang 18- Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học thông qua môn tìm hiểu tự nhiên và xã hội của tác giả Nguyễn Hồng Ngọc
* Về vấn đề tích hợp giáo dục môi trường địa phương thông qua môn học:
- Tích hợp giáo dục môi trường địa phương trong dạy học các môn về
Tự nhiên và xã hội cho học sinh tiểu học ở Đăklăk của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thơm
* Về vấn đề giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa ở trường tiểu học:
- Giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa môn Tự nhiên và
xã hội lớp 3 của tác giả Nguyễn Thị Thu Hường
* Về vấn đề nghiên cứu việc vận dụng trò chơi học tập để giáo dục môi trường:
- Vận dụng trò chơi học tập để giáo dục môi trường trong dạy học môn
Tự nhiên và xã hội lớp 2 của tác giả Nguyễn Thị Trúc Mai
Như vậy, hiện nay việc giáo dục môi trường ở tiểu học đang được quan tâm, các công trình nghiên cứu tập trung nghiên cứu ở nhiều nội dung khác nhau Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đề cập đến việc giáo dục kĩ năng bảo
vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học chưa nhiều Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phi Hạnh – Nguyễn Thị Thu Hằng đã đề cập giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Qua tìm hiểu tôi thấy chưa có nội dung nghiên cứu “Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học” Vì thế, tôi nghĩ việc nghiên cứu “Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học” là cần thiết và cần được quan tâm nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản về môi trường và giáo dục môi trường
1.2.1 Khái niệm môi trường
Môi trường là một khái niệm tương đối rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và trong nhiều phạm vi khác nhau
Trang 19Hiểu theo một nghĩa rộng thì môi trường của một sự vật hay một vấn đề nào đó là sự tổng hợp tất cả các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự vật hay vấn đề đó Điều đó có nghĩa là bất cứ mọi sự vật hay vấn đề nào đó cũng đều tồn tại và phát triển trong môi trường
Hiện nay vấn đề môi trường được rất nhiều nhà khoa học, các chuyên gia về môi trường quan tâm.Vì thế khái niệm về môi trường hiện nay cũng rất rộng và phong phú
Năm 1981 khái niệm về môi trường đã được tổ chức UNESCO phát
biểu như sau: “Môi trường là toàn bộ hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra ( các hệ sinh thái,các môi trường văn hóa …) ở xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài nguyên tự nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người”
Trong “Hướng dẫn xanh hóa nhà trường phổ thông” của dự án quốc gia VIE/95/041 đã đưa ra khái niệm về môi trường như sau: “Môi trường nói chung chỉ là một tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội có mặt ở chung quanh một hệ thống nhất định và những yếu tố này có tác động tương hỗ, có thể làm thay đổi hệ thống đó”
Theo luật bảo vệ môi trường được sữa chữa và bổ sung được ban hành vào tháng 12 năm 2005, môi trường được định nghĩa: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [13, tr.160]
Đối với con người môi trường quan trọng nhất là môi trường sống Có nghĩa môi trường không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà môi trường còn là khung cảnh lao động, của
sự sống và nghỉ ngơi của con người Nó là một thể thống nhất bao gồm nhiều yếu tố như: đất đai, địa hình, khí hậu, nước, động thực vật, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo vệ tự nhiên phong cảnh…
Trang 20Như vậy, tuy có rất nhiều khái niệm về môi trường được các tài liệu đề cập đến những khái quát lại ta có thể hiểu môi trường trong một dạng tổng thể như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao gồm con người, có ảnh hưởng đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [13, tr.160]
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau Hội nghị Môi trường và Phát triển của liên hợp quốc tại Rio de Janero ( Baraxin ) vào năm 1992, quan niệm
về việc bảo vệ môi trường không đơn thuần chỉ là về vấn đề bảo tồn nữa mà
nó trở thành quan điểm bảo vệ và đảm bảo cho sự phát triển bền vững đã được phát biểu như sau: “ Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” ( WCED, 1987 ) Hay nói cách khác đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người Như vậy, khái niệm này phần nào nhấn mạnh đến việc giải quyết những mâu thuẫn giữa sự phát triển kinh tế, xã hội mà không làm ảnh hưởng đến môi trường sống của con người, tạo sự hài hòa lâu dài và bền vững giữa sự phát triển sản xuất và bảo
vệ môi trường
1.2.2 Khái niệm môi trường biển
Thông qua khái niệm môi trường,có thể diễn đạt khái niệm môi trường biển như sau: “Môi trường biển bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao gồm con người của biển, có ảnh hưởng đời sống, sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và sinh vật biển.”
1.2.3 Bảo vệ môi trường
Môi trường có quan hệ mật thiết với đời sống của con người do đó con người muốn phát triển thì trước tiên và cần thiết phải bảo vệ môi trường Hiện nay việc bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm đảm
Trang 21bảo sự phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững đang trở thành nhiệm vụ cấp bách mang tính toàn cầu
Có thể nói, để phát triển thì việc bảo vệ môi trường không những là cần thiết mà còn đòi hỏi tất yếu Vậy bảo vệ môi trường là gì? Và muốn bảo vệ môi trường thì phải làm những gì? Trong Luật bảo vệ môi trường, khái niệm
về môi trường được phát biểu như sau: “Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường,ứng phó sự cố môi trường;khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học” [13, tr.160]
Theo khái niệm trên thì thực hiện việc bảo vệ môi trường chính là chúng ta đang tiến hành việc ngăn ngừa nguy cơ hủy hoại tương lai của con người Việc bảo vệ mô trường cũng có nhiều nội dung khác nhau tùy theo sự phát triển của xã hội.Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, do sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, xã hội nên nội dung bảo vệ môi trường được đưa ra trong Luật bảo vệ môi trường là: [13, tr.162]
- Khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường
- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỉ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường
- Sử dụng hợp lí tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế tái sử dụng và giảm thiểu chất thải
- Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lí các
cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị,khu dân cư
- Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn
Trang 22vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoảng chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm
- Ưu đãi về đất đai,thuế, hỗ trợ về tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hòa giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp bảo vệ môi trường
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
- Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính qui, hiện đại
Có thể nói bảo vệ môi trường là lời kêu gọi sự quan tâm đúng hướng của mọi người, mọi quốc gia tới môi trường Cho tới thời điểm này tất cả mọi người cần phải nhìn nhận lại về vấn đề môi trường từ đó phải có được mối quan tâm thích đáng, cũng như cần có sự hợp tác hợp lí trong việc sử dụng, quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo đảm
sự cân bằng sinh thái, phòng chống suy thoái và sự ô nhiễm môi trường
1.2.3 Giáo dục môi trường
Thuật ngữ “Giáo dục môi trường” (Environmental educationc) đã được xuất hiện từ khá lâu Theo các tác giả như Abe,Kirk thì thuật ngữ “Giáo dục môi trường” lần đầu tiên được xuất hiện trên thế giới vào năm 1948
Vậy giáo dục môi trường là gì và tại sao phải giáo dục môi trường? Như đã đề cập, theo các tài liệu về gáo dục môi trường, giáo dục môi trường được xem là tiền đề của sự phát triển bền vững Chỉ có thông qua giáo dục môi trường thì con người mới hiểu được đầy đủ bản chất của môi trường
Trang 23tự nhiên và môi trường nhân tạo bởi môi trường có lẽ là những gì rất gần gũi xung quanh chúng ta nhưng có lẽ cũng rất xa xui, phức tạp Chính vì thế thông qua giáo dục môi trường con người có được tri thức, thái độ và kĩ năng thực tế để tham gia một cách có trách nhiệm, có hiệu quả vào việc giải quyết
có hiệu quả vấn đề môi trường và quản lí chất lượng môi trường Hiện nay có nhiều tài liệu định nghĩa về giáo dục môi trường Ở một mức độ nào đó, nhìn chung các định nghĩa này được trình bày đa dạng Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét giáo dục môi trường theo góc độ của các mục tiêu giáo dục đã được nêu trong các định nghĩa về giáo dục môi trường thành hai loại [15]
Thứ nhất, giáo dục môi trường được định nghĩa là quá trình hình thành cho người học những hiểu biết, những tri thức về môi trường và các vấn đề liên quan đến môi trường Tiêu biểu cho kiểu định nghĩa này là định nghĩa được nêu trong luật giáo dục môi trường của Mỹ được ban hành vào năm
1970 Giáo dục môi trường được định nghĩa như sau: “Giáo dục môi trường
là quá trình giúp người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kĩ thuật phát triển độ thị và nông thôn
có ảnh hưởng đến mọi người như thế nào”
Thứ hai, giáo dục môi trường hình thành cho người học không chỉ những hiểu biết về môi trường và những vấn đề liên quan đến môi trường mà còn hình thành ở họ những thái độ và hành động giải quyết các vấn đề môi trường, bảo vệ và cải thiện môi trường.Tiêu biểu cho kiểu định nghĩa này là định nghĩa về giáo dục môi trường được đề cập trong hội thảo “Giáo dục môi trường trong chương trình của trường học”
Tại hội thảo “ Giáo dục môi trường trong chương trình của trường học” của IUCN (Hiệp hội quốc tế về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên) năm 1970,
giáo dục môi trường được định nghĩa: “Giáo dục môi trường là một quá trình
Trang 24hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh con người Hơn nữa, giáo dục môi trường cũng đòi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định và những hành động liên quan tới chất lượng môi trường” [15]
Phần lớn các tài liệu về giáo dục môi trường của các nước trên thế giới đều đưa ra những định nghĩa về giáo dục môi trường chứa đựng những mục tiêu lớn như định nghĩa của IUCN đã đề ra Như vậy, giáo dục môi trường cần phải được tiến hành ngay từ khi con người còn nhỏ và phải xuyên suốt trong cuộc đời qua quá trình học tập, lao động
1.2.4 Kĩ năng
Cho đến nay, trên thế giới và ở nước ta vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng và nó được hình thành dưới nhiều góc độ khác nhau
Khi nhìn về kĩ năng, các nhà tâm lý học có những quan niệm khác nhau
về kĩ năng, nhưng nhìn chung có thể hiểu kĩ năng là mặt kĩ thuật của thao tác hành động hay hoạt động, nhưng lại liên quan trực tiếp tới năng lực của cá nhân phải có tri thức hiểu biết, có các điều kiện về hành động đó
Các nhà GD Việt Nam quan niệm kĩ năng như là khả năng của con người thực hiện có kết quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Một số tác giả lại quan niệm, kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một thao tác phức hợp của hành động bằng cách lựa chọn và vận dụng tri thức vào quy trình đúng đắn
Theo Lê Văn Hồng, kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ mới Còn tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng: kĩ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể, hay tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: kĩ năng là năng lực của con người biết vận hành có thao tác của một hành động theo đúng quy trình
Trang 25Từ những khái niệm của những nhà nghiên cứu trên cho thấy những điểm chung trong quan niệm về kĩ năng:
‐ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kĩ năng Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động
‐ Kĩ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cá nhân
‐ Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đã đạt ra
Như vậy, kĩ năng được xem xét theo nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, những quan niệm ấy không hề mâu thuẫn mà chỉ khác nhau ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần kĩ năng mà thôi
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu kĩ năng như sau: Kĩ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động, thao tác đúng đắn để đạt được mục đích đề ra
1.2.5 Kĩ năng bảo vệ môi trường biển
Từ khái niệm kỹ năng, khái niệm bảo về môi trường, có thể hiểu khái
niệm kỹ năng bảo về môi trường biển như sau “ Là năng lực thực hiện các hoạt động thông qua việc tích lũy kiến thức, kỹ năng và thái độ giữ cho môi trường biển trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường biển, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên biển
và bảo vệ đa dạng sinh học biển”
Những kỹ năng bảo vệ môi trường biển cơ bản bao gồm:
‐ Kỹ năng tuyên truyền về tầm quan trọng bảo về môi trường biển
và chống gây ô nhiễm môi trường biển;
Trang 26‐ Kỹ năng vận động mọi người cùng tham gia bảo về MTB;
‐ Kỹ năng phát hiện nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển;
‐ Kỹ năng ngăn ngừa các hành vị gây ô nhiễm môi trường biển;
‐ Kỹ năng làm sạch môi trường biển
1.2.6 Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển
Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển là việc hình thành cho học sinh những hiểu biết về môi trường biển, nguy cơ ô nhiễm, những tác động của của ô nhiễm đến đời sống con người, qua đó hình thành cho học sinh những kỹ năng cần thiết để bảo vệ môi trường biển, khai thác tài nguyên biển phù hợp đảm bảo cho sự phát triển bền vững
1.3 Một số nội dung cơ bản của giáo dục bảo vệ môi trường biển
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học
Trong dạy học ở tiểu học, để giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh thu được hiệu quả và việc giáo dục phải được tiến hành như thế nào, điều đó phù thuộc rất nhiều vào đối tượng giáo dục Tùy vào từng lứa tuổi khác nhau thì nội dụng, hình thức và phương pháp giáo dục cũng sẽ khác nhau do đó để việc giáo dục KN bảo vệ môi trường biển có hiệu quả thì việc hiểu biết đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trong nhận thức, thái độ, hành vi đối với môi trường và bảo vệ môi trường là rất cần thiết
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh tiểu học (từ 6 đến 11 tuổi) Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm đến một số đặc điểm tâm lí có thể chi phối đến quá trình học tập về giáo dục KN bảo vệ môi trường và bảo vệ môi trường biển của học sinh từ đó có thể xác định một số hình thức tổ chức dạy học phù hợp và có hiệu quả nhằm giáo dục môi trường cho học sinh trong dạy học môn Khoa học lớp 5
Trước khi vào trường tiểu học, học sinh chủ yếu được sống ở môi trường văn hóa của gia đình và của lớp mẫu giáo Đến khi vào trường tiểu học
Trang 27các em bắt đầu chuyển từ vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập Lúc này môi trường học tập cưa các em có sự thay đổi rất lớn như mối quan hệ bạn bè, thầy cô, lớp học, sách vở và đồ dùng học tập Tất cả những điều đó điều có thể tạo ra tâm lý e dè, lúng túng, làm cho các em luôn quan sát kỹ đến những
sự vật và hiện tượng trong môi trường mới Ở thời điểm này tất cả những sự kiện gì cũng đều có thể gây ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc cho học sinh Chính
vì những đặc điểm này nên việc giáo dục môi trường cho học sinh cũng phai được tiến hành ngay từ đầu để định hướng cho các em những tri thức và hành
vi lành mạnh đối với môi trường xung quanh các em Một trong những mục tiêu giáo dục môi trường cho trẻ cần đạt được là hình thành cho trẻ những hành vi tương ứng, để thể hiện được các hành vi này buộc học sinh phải tham gia hoạt động Vì vậy nếu không xét đến sự phát triển cơ thể của trẻ thì rất có thể sẽ có những hành động làm ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sự phát triển
về thể lực của học sinh Vào thời kì này, khung sương của các em đang trong giao đoạn phát triển và vẫn còn nhiều mô sụn Nếu tiến hành cho học sinh tham gia bảo vệ môi trường thì giáo viên cần chú ý không nên cho các em mang vác quá nặng và cần thiết phải chú ý đến tư thế hoạt động của các em
Hệ thần kinh của học sinh ở lứa tuổi tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh, khả năng kiềm hãm của hệ thần kinh còn yếu, dễ bị kích thích Điều này có phần gây hạn chế trong quá trình hoạt động để hình thành thoái quen, hành vi bảo môi trường cho học sinh Cũng trong thời kỳ này, các cơ quan nội tạng của các em như hệ tuần hoàn hoặc hệ hô hấp vẫn chưa hoàn chỉnh Vì vậy khi tổ chức hoạt động cần tránh cho các em những xúc động mạnh, tiêu cực có thể làm ảnh hưởng đến tim Đồng thời phải tránh xa những môi trường ô nhiễm trong không khí như khói thuốc lá để tránh sự tổn thương
về phổi cho học sinh
Đối với học sinh tiểu học nhận thức cảm tính chiếm ưu thế Để quá
Trang 28trình giáo dục môi trường có thể mang lại hiệu quả cao cần phải lưu ý đến mặc biểu hiện của kiểu nhận thức này
a Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học không mang tính chủ định, học sinh không tập trung sức lực xem xét đối tượng mà dễ dàng dừng lại ở một chi tiết nào đó và xem nó là đối tượng Ở lứa tuổi tiểu học tri giác của học sinh mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và đặc biệt là không mang tính chủ định
Do đó các em chưa phân biệt đối tượng một cách chính xác, dễ mắc sai lầm
và đôi khi còn nhầm lẫn Tri giác của học sinh tiểu học thường gắn với những hành động, hoạt động thực tiễn Đối với học sinh tri giác không gì khác hơn là
có thể cầm, sờ mó, được thấy tận mắt Học sinh thường tri giác tốt với những
gì phù hợp với nhu cầu, với những sự vật hiện tượng gắn liền hoặc để lại dấu
ấn với các em trong cuộc sống Tuy nhiên bản thân tri giác không thể tự phát triển mà phải qua quá trình học tập, tích lũy tri thức, tri giác trở thành hoạt động có mục đích, có sự quan sát và phân tích sâu sắc
Trên thực tế, trong sự phát triển tri giác của học sinh tiểu học người giáo viên có vai trò rất quan trọng Hằng ngày người giáo viên không chỉ dạy cho trẻ kỹ năng nhìn nhận mà còn hướng dẩn cho học sinh xem xét và biết phát hiện những dấu hiệu thuộc tính, bản chất của các sự vật hiện tượng Tuy nhiên để có được kết quả này người giáo viên không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức trong phạm vi lớp học mà quan trọng nhất là phải tổ chức cho học sinh được tham gia các hoạt động ở phạm vi ngoài lớp học như tham quan dã ngoại hoặc các hoạt động ngoại khóa
b Trí nhớ
Trí nhớ là quá trình ghi nhận, giữ lại những thông tin, những tri thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động học và khi cần thiết thì có thể tái hiện lại Tùy thuộc vào từng lứa tuổi, đặc điểm tâm lý cá nhân, cách giảng dạy của
Trang 29các thầy cô giáo mà trí nhớ của từng cá nhân có sự khác biệt với nhau Phần lớn các công trình tâm lý học nghiên cứu về trí nhớ của trẻ em cho thấy rằng học sinh tiểu học có trí nhớ rất tốt Các em có thể ghi nhớ được nhiều vấn đề, nhiều sự kiện mà trong đó có thể có những vấn đề mà các em không hiểu Các
em có thể ghi nhớ tốt những gì mà các em nghe thấy hoặc nhìn thấy Đối với học sinh lớp 5 các em có trí nhớ tốt hơn nhiều so với học sinh các lớp đầu cấp Tuy nhiên trên thực tế học sinh lớp 5 vẫn thường có khuynh hướng học thuộc một cách máy móc Chính vì lý do này khiến cho các em không thuận lợi trong việc vận dụng những điều mình ghi nhớ vào học tập cũng như trong thực tiễn cuộc sống Để khác phục được điều này trong quá trình dạy học người giáo viên cần định hướng và giúp học sinh ghi nhớ có hiệu quả, giáo viên không nên đưa ra những câu hỏi có tính chất hình thức mà cần đưa ra những câu hỏi gợi
mở có hệ thống giúp học sinh ghi nhớ các kiến thức khoa học
Ngoài ra các công trình nghiên cứu còn cho rằng học sinh tiểu học ghi nhớ rất lâu những gì học sinh được trực tiếp hành động, trực tiếp khám phá
Do đó trong quá trình giáo dục nói chung, giáo dục môi trường nói riêng giáo viên cần chú trọng đến việc tổ chức cho học sinh nhận thức được các hành vi đúng thông qua hoạt động và hành động, việc làm của học sinh Khi được trực tiếp tham gia các hoạt động học sinh sẽ được cũng cố thêm về nguồn tri thức mới hình thành
c Tưởng tượng và tư duy
Theo một số công trình nghiên cứu thì hình ảnh tưởng tượng của học sinh đầu cấp tiểu học rất đơn giản, chưa bền vững tuy nhiên càng tiến dần đến các lớp cuối cấp thì hình ảnh tưởng tượng của học sinh đã có sự bền vững hơn Đặc biệt lúc này học sinh có khả năng tưởng tượng dựa trên những tri giác đã có từ trước và ngôn ngữ
Về tư duy, khác với học sinh đầu bậc tiểu học là khả năng tiến hành
Trang 30phân tích đang ở mức độ đơn giản, phần lớn học sinh phải căn cứ vào đặc điểm bên ngoài, cụ thể, trực quan, học sinh ở các lớp cuối cấp, đặc biệt là lớp
5 khả năng phân tích tổng hợp của học sinh đã có sự phát triển, học sinh đã biết tách trong các sự vật và hiện tượng cụ thể những nét chung cơ bản nhất Đây là cơ sở để chúng ta tiến hành đánh giá trình độ nhận thức của học sinh
về môi trường và bảo vệ môi trường
Như vậy, hoạt động nhận thức của con người chính là hoạt động lĩnh hội nhằm hiểu biết về thới giới khách quan Có thể nói quá trình nhận thức của con người là một quá trình biến đổi đa dạng và phức tạp Đối với học sinh tiểu học nhận thức của các em đã phát triển ở mức độ đi vào tìm hiểu những nét chung, bản chất của vấn đề Quá trình nhận thức có thể xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau, tuy nhiên để đánh giá học sinh tiểu học trong việc bảo vệ môi trường thì chúng tôi hướng tới việc đánh giá nhận thức của học sinh ở mức độ nhận thức đúng đắn, nhận thức đầy đủ và ngược lại
1.3.2 Mục tiêu, nội dung giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học
a) Mục tiêu giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học nhằm
- Hình thành cho học sinh những hiểu biết cơ bản về biển, môi trường biển, vai trò và ý nghĩa của biển trong đời sống; nguy cơ ô nhiễm biển và những tác động có hại về ô nhiễm biển;
- Hình thành cho học sinh kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với ô nhiễm biển;
- Giúp HS nhìn nhận, phân tích, đánh giá tình huống, thông tin để lựa chọn giải pháp tốt nhất giải quyết các vấn đề về ô nhiễm biển, về duy trì sự phát triển bền vững của biển
b) Nội dung giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học
Trang 31Nội dung giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học gồm các nội dung sau đây:
- Giáo dục cho học sinh những hiểu biết cơ bản về biển và nguy cơ ô nhiễm biển, những tác động tiêu cực của ô nhiễm biển đến đời sống dân sinh;
- Giáo dục cho học sinh có kĩ năng xác định các vấn đề về ô nhiễm biển, nhiệm vụ cần giải quyết để tránh ô nhiễm biển và làm sạch biển khi đã
bị ô nhiễm
- Giáo dục cho học sinh kĩ năng đề xuất các phương án bảo về sự trong sạch của biển; làm sạch biển;
- Kĩ năng lựa chọn các phương án giải quyết vấn đề ô nhiễm biển
c) Phương pháp và hình thức rèn luyện kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học
- Phân công lực lượng (nhà trường, gia đình, xã hội/cộng đồng) tham gia vào quá trình rèn luyện KN bảo vệ môi trường biển cho học sinh
- Triển khai thực hiện kế hoạch, tổ chức các hoạt động rèn luyện
- Kiểm tra các hoạt động, kịp thời điều chỉnh, hỗ trợ công tác
- Đánh giá kết quả thực hiện
- Tổng kết, rút kinh nghiệm các hoạt động
Hình thức tổ chức rèn luyện
- Các hoạt động rèn luyện được tiến hành theo từng khối lớp cụ thể Trong
Trang 32các môi trường thích hợp như: trong lớp học, sân trường, tham quan dã ngoại, trong các buổi chào cờ, sinh hoạt đội nhóm và các câu lạc bộ năng khiếu
- Tổ chức các HĐGD NGLL cho học sinh tham gia, xây dựng các bài tập, các yêu cầu, các tình huống dựa vào kiến thức và vốn sống của HS HS được tham gia thảo luận, thực hành, xử lý các tình huống
- Nhà trường phối hợp với phụ huynh trong việc rèn luyện KN bảo vệ môi trường biển cho HS trong cuộc sống hàng ngày ở gia đình Thường xuyên trao đổi thông tin phản hồi để có biện pháp rèn luyện thích hợp
- Các hành vi được thực hiện nhiều lần, có sự giám sát của GV để tạo cho HS hình thành thói quen tốt
- Tổ chức cho các em tự đánh giá KNGQVĐ của mình theo định kỳ, từ
đó GV phụ trách có sự uốn nắn, điều chỉnh và định hướng hoạt động tiếp nối cho HS
d) Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học
Để giáo dục KN bảo vệ môi trường biển cho học sinh tiểu học đạt được hiệu quả cao, cần phải thực hiện đúng quy trình giáo dục, trong đó có công tác đánh giá kết quả Đánh giá kết quả giáo dục KN bảo vệ môi trường biển, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác này là việc làm cần thiết, quan trọng nhằm nhìn nhận thực trạng của quá trình thực hiện, bổ sung, điều chỉnh và tổ chức thực hiện tốt hơn sau đánh giá
Đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cho HS phải được thực hiện qua đánh giá kĩ năng hành vi giải quyết vấn đề:
- Tính tự giác thực hiện: Học sinh tự giác thực hiện giải quyết vấn đề không cần sự kiểm soát của người khác
- Tính chuẩn xác: Thực hiện giải quyết vấn đề phù hợp trong quan hệ của học sinh ở gia đình, nhà trường và xã hội
Trang 33- Động cơ: Động cơ phải phù hợp với mục đích, nội dung bảo vệ môi trường biển, hoàn cảnh giải quyết vấn đề, phương tiện giải quyết vấn đề
- Mức độ thành thạo: Học sinh thực hiện hoạt động một cách linh hoạt,
có sự phối hợp một cách hợp lý giữa lời nói, cử chỉ, thái độ và hành động hỗ trợ khác, có phản ứng kịp thời trước những tình huống xảy ra
Việc đánh giá kết quả, chất lượng giáo dục KN bảo vệ môi trường biển cho học sinh trên cơ sở đánh giá những nội dung trên Ngoài ra, việc đánh giá
KN bảo vệ môi trường biển của học sinh còn phải quan tâm đến đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động GD Đó là đánh giá nhận thức và thái độ của học sinh về kĩ năng bảo vệ môi trường biển mà học sinh thể hiện Coi trọng việc đánh giá môi trường giáo dục, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển cũng như việc thực hiện chương trình giáo dục, việc triển khai và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực cho giáo viên trong hoạt động giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho HS
Thông qua việc đánh giá, nhà trường và giáo viên xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung mới trong giáo dục KN bảo vệ môi trường biển cũng như tổng kết, rút kinh nghiệm về các yếu tố tác động để có những điều kiện
tốt hơn trong giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển trong nhà trường
1.3.3 Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
a) Khái niệm HĐGD NGLL đã được đề cập đến trong nghiên cứu của nhiều tác giả
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: HĐGD NGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hóa nghệ thuật, thẩm
mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, để giúp các em hình thành và phát
Trang 34triển nhân cách
Theo các tác giả Bùi Sỹ Tụng, Lê Văn Cầu, Nguyễn Dục Quang cho
rằng, HĐGD NGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp; HĐGD NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp,
là con đường gắn lý thuyết với thực hành, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm tích cực, niềm tin đúng đắn
ở học sinh Ngoài ra HĐGD NGLL còn là con đường quan trọng để phát triển nhân cách toàn diện của các em
Như vậy, HĐGD NGLL là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp, nhằm hình thành và phát triển nhân cách học sinh đáp ứng yêu cầu của xã hội HĐGD NGLL có quan hệ chặt chẽ với hoạt
động giáo dục khác tạo môi trường cho người học gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận thức và hành động và cơ hội trải nghiệm hành
vi ứng xử của mình
b) Về vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HĐGD NGLL được khẳng định không chỉ là hoạt động ngoại khóa môn học, hay thuần túy là hoạt động ngoại khóa; HĐGD NGLL là một trong
ba kế hoạch đào tạo: dạy học, giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề; nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo cấp học theo hướng giáo dục: Đạo đức nhân văn, khoa học kĩ thuật
Học sinh sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước các em cần được phát triển toàn diện các mặt: Đức trí, thể, mỹ, nghề nghiệp Vì vậy, có thể nói HĐGD NGLL có vị trí then chốt trong quá trình giáo dục nhằm điều chỉnh và định hướng quá trình giáo dục toàn diện đạt hiệu quả
Về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- HĐGD NGLL bổ trợ cho dạy học trên lớp giúp học sinh mở rộng kiến
thức, cập nhật các thông tin các thành tựu khoa học tạo hứng thú học tập hiểu biết thêm lịch sử đất nước, nâng cao sự hiểu biết về các giá trị truyền thống
Trang 35của dân tộc từ đó khơi dậy trong học sinh lòng tự hào dân tộc, lí tưởng cống hiến cho dân tộc
- HĐGD NGLL với các chương trình hấp dẫn, kiến thức tích hợp từ nhiều lĩnh vực khoa học có tác dụng bổ trợ cho hoạt động dạy học trên lớp để nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời kiến thức học sinh được mở rộng và cập nhật thông tin mới về tự nhiên, xã hội, về các vấn đề có tính thời đại như vấn đề quốc tế, hòa bình hợp tác và hữu nghị, vấn đề bảo vệ môi trường, vấn
đề về quyền trẻ em
Từ đó giúp cho các em biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết vấn đề do cuộc sống đặt ra; biết tự điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống cho phù hợp; có khả năng thích ứng và sống vui vẻ, lành mạnh trong xu thế toàn cầu hóa
- HĐGD NGLL tạo điều kiện thuận lợi, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục
- HĐGD NGLL tạo cơ hội phát triển các kĩ năng và năng lực ở học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới để nước ta có thể hội nhập với giáo dục của khu vực và thế giới
Qua HĐGD NGLL giúp học sinh hình thành một số năng lực: năng lực
tổ chức quản lí, năng lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động chính trị xã hội, khả năng diễn đạt trước đám đông, khả năng phản xạ nhanh, hình thành quan niệm sống đúng đắn, biết đấu tranh với các biểu hiện sai trái của bản thân và của người khác, nâng cao tinh thần trách nhiệm với bản thân, bạn bè và xã hội
Như vậy, HĐGD NGLL có ý nghĩa tích cực trong việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh, đáp ứng yêu cầu xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
c) Mục tiêu và nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
Trang 36lớp ở trường tiểu học
‐ Mục tiêu tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
+ Tạo cơ hội cho HS được tham gia vào đời sống cộng đồng, bước đầu vận dụng những kiến thức đã học vào trong cuộc sống thực tiễn
+ Tạo cơ hội cho HS được thực hành, trải nghiệm, được rèn luyện những kĩ năng sống thực trong các tình huống của cuộc sống thực, bước đầu phát triển ở HS các kĩ năng sống cần thiết cho các lĩnh vực của cuộc sống hằng ngày, phù hợp với lứa tuổi
+ Phát triển năng khiếu của HS trong một số lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, phát triển tình cảm đạo đức của con người với con người và thế giới xung quanh, giáo dục một lối sống lành mạnh, tiết kiệm, chia sẻ, tự chủ, có văn hóa
+ Rèn luyện kĩ năng: HĐGDNGLL là sự tiếp nối các hoạt động dạy- học, là con đường gắn liền thực tiễn với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của HS
‐ Nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
+ HĐGD NGLL phải tạo cơ hội cho HS được phát triển tối đa tiềm năng bản thân
+ Nội dung và hình thức HĐGD NGLL phải phong phú, đa dạng, tươi vui, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi tiểu học và đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS
+ HĐGD NGLL phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của nhà trường; phải gần gũi với cuộc sống thực tiễn của HS; phù hợp với đặc điểm VH-XH và yêu cầu giáo dục của từng vùng, miền
+ Phải đảm bảo huy động được sự tham gia tích cực của HS vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động phù hợp với khả năng của các em
+ Cần phải bố trí, sắp xếp HĐGD NGLL đan xen với việc dạy học các môn học khác, với các hoạt động khác của nhà trường một cách hợp lí
Trang 37+ Phải có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
+ HĐGD NGLL ở tiểu học phải đảm bảo liên thông với HĐGD NGLL
và địa phương theo chiều hướng tích cực
Mục tiêu của hoạt động ngoại khóa giúp cho HS hiểu về tình hình môi trường của địa phương, toàn cầu Xây dựng cho các em tình cảm yêu thiên nhiên, yêu phong cảnh đẹp từ đó biết yêu thương quê hương đất nước
Bên cạnh đó còn rèn luyện cho các em những kĩ năng và phương pháp BVMTB thông thường để các em có thể tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở nhà trường và địa phương
d) Các hình thức giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường biển thông qua hoạt động giáo dục NGLL
Có rất nhiều hình thức tổ chức hoạt động giáo dục NGLL về BVMTB Sau đây là một số hoạt động ngoại khóa cơ bản:
‐ Báo cáo ngoại khóa về môi trường và bảo vệ môi trường biển
Mục tiêu của hoạt động này là giúp học sinh hiểu biết về môi trường địa phương, đất nước, toàn cầu và các biện pháp BVMTB Rèn luyện cho HS phương pháp thu thập tài liệu, khả năng diễn đạt bằng lời nói Người báo cáo thường là các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường như các nhà môi trường, địa chất, nông học, nhà khí tượng thủy văn,…
Trang 38Nội dung báo cáo bao gồm các đề tài liên quan đến:
+ Các vấn đề môi trường địa phương, đất nước, toàn cầu như sự nóng lên, sự suy giảm tính đa dạng sinh học, suy thoái đất đai, ô nhiễm môi trường biển…
+ Các phương pháp BVMTB thông thường như bảo vệ và sử lí nguồn nước bẩn, bảo vệ rừng, bảo vệ đất, xử lí và phân loại rác thải, xả thải rác ra biển…
‐ Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu môi trường ở địa phương đất nước Hình thức này giúp cho HS quan tâm đến môi trường địa phương, đất nước, phát triển năng lực tìm ẩn trong các em như khả năng viết, vẽ, sáng tác,
‐ Tổ chức tham quan môi trường biển
Hoạt động này nhằm mục tiêu giúp cho HS hiểu biết về thiên nhiên, mở rộng tầm nhìn về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội giáo dục HS tinh thần yêu quê hương đất nước, quan tâm đến môi trường nói chung, môi trường biển nói riêng
‐ Tổ chức HS tham gia các hoạt động BVMTB ở nhà trường và địa phương
Mục tiêu của hoạt động này giúp HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng
đã học vào thực tế tạo cho các em thái độ tình cảm đối với môi trường biển
‐ Tổ chức câu lạc bộ môi trường biển
Câu lạc bộ bở vệ môi trường biển với những hoạt động đa dạng: thảo
Trang 39luận tranh luận các vấn đề môi trường biển, văn nghệ (đố vui, kể chuyện, dạ hội có chủ đề khác nhau, tổ chức trò chơi tập thể về các chủ đề biển, sinh vật biển…) tham gia các hoạt động BVMTB
‐ Các phương pháp GDMTB thông qua hoạt đông ngoại khóa
Trong giáo dục BVMTB thông qua hoạt đông ngoại khóa có các phương pháp cơ bản sau đây:
+ Phương pháp tham gia, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa
Ngoài ra, có thể tổ chức các thí nghiệm để HS nhận thức và rèn luyện các kĩ năng xử lí hiện tượng ô nhiễm môi trường biển Chẳng hạn các cách xử
lí về rác thải, mô hình chu trình nước sạch, mô hình về khí nhà kính
+ Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế của HS
Môi trường biển có nhiều vấn đề, có những vấn đề to lớn mang tính toàn cầu như: tầng ô zôn, trái đất bị nóng lên, sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng…, nhưng đối với học sinh tiểu học cần cho HS thấy những vấn đề gần gũi như: Ô nhiễm nguồn nước, xói mòn đất, sạt lở đất ở ven biển, sự cạn kiệt
về nguồn hải sản…Các hiện tượng này các em có thể nhìn thấy, biết được qua đời sống thực tế và có được những kinh nghiệm thực tế Trong việc xử lí của cộng đồng ở quê hương
Khai thác vốn kinh nghiệm thực tế là một phương pháp được sử dụng rất hiệu quả đối với trường phổ thông
Trang 40+ Phương pháp tuyên truyền
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (Đài phát thanh, báo chí, tờ rơi, áp phích…) để phổ biến những vấn đề về BVMTB, qua đó tác động đến nhận thức và hành vi của HS Cách làm này có tác dụng trực tiếp và mang lại hiệu quả cao
+ Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng
Ở mỗi cộng đồng địa phương có thể có những vấn đề bức xúc về môi trường biển riêng Ví dụ: môi trường bờ biển và ven bờ,… giáo viên cần khai thác tình hình môi trường địa phương để giáo dục HS cho đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả, phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải thu thập số liệu, sự kiện và tìm hiểu tình hình môi trường biển địa phương, tổ chức các hoạt động phù hợp để HS tham gia góp phần cải tạo MTB
Tóm lại có rất nhiều phương pháp GDMTB Tuy nhiên không có một
phương pháp riêng biệt nào là vạn năng để GDKN BVMTB Vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viền cần phải sáng tạo và linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, nghĩa là phải tùy thuộc vào nội dung bài học, đối tượng HS cũng như phương tiện, điều kiện hiện có… để lựa chọn phương pháp tiến hành dạy học sao cho mang lại hiệu quả
1.3.4 Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường biển thông qua hoạt động giáo dục trên lớp
a) Dạy học trên lớp
Giáo viên có thể tiến hành phân tích những vấn đề về môi trường, môi trường biển trong môn học, khai thác thực trạng môi trường đất nước nói chung, của địa phương nói riêng, làm nguyên liệu để xây dựng bài học GDMTB, xây dựng bài tập xuất phát từ kiến thức môn học gắn liền với thực tế địa phương
Bên cạnh đó GV có thể sử dụng các phương tiện dạy học làm nguồn tri