Các chỉ tiêu về tầm vóc thể lực của con người luôn thay đổi, phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên, di truyền, xã hội, cần phải thường xuyên điều tra nghiên cứu nhằm đưa ra được những phương
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC – TỰ NHIÊN
-
TRẦN THỊ THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TẦM VÓC – THỂ LỰC, SINH LÍ VÀ TRÍ NHỚ CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC – TỰ NHIÊN
-
TRẦN THỊ THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TẦM VÓC – THỂ LỰC, SINH LÍ VÀ TRÍ NHỚ CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có được điều kiện thực hiện Khóa luận Tốt nghiệp cũng như hoàn thành chương trình học 4 năm tại trường Đại học Hùng Vương em đã nhận được sự chỉ dạy tận tình với những kinh nghiệm quý báu từ quý thầy cô trong nhà trường
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Lãnh đạo cùng thầy cô trường Đại học Hùng Vương đã tạo cho em một môi trường học tập tích cực, đặc biệt là thầy, cô giáo bộ môn Sinh học – Khoa Khoa học Tự nhiên đã truyền đạt cho em những kiến thức chuyên môn quý báu là hành trang giúp
em vững bước trong tương lai
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo Ths Nguyễn Thị Thanh Hương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo và các em học sinh trường THCS Sa Đéc, Hùng Vương, Thanh Minh, Văn Lung, Trần Phú, Phong Châu tại Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người
đã luôn động viên, giúp đỡ để em hoàn thành tốt khóa luận
Phú Thọ, tháng 5 năm 2018 Sinh viên
Trần Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là của tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận là trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc và được phép công bố
Phú Thọ, tháng 5 năm 2018 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thanh Huyền
Trang 5DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
nghiệp Liên hợp quốc
Trang 61 Bảng 2.1 Phân bố ĐTNC theo tuổi, giới tính và KV sống 21
2 Bảng 3.1 Chiều cao đứng trung bình của HS theo tuổi, giới tính
3 Bảng 3.2 So sánh chiều cao đứng trung bình của HS với nghiên
4 Bảng 3.3 Cân nặng trung bình của HS theo tuổi, giới tính và
5 Bảng 3.4 So sánh cân nặng trung bình của HS với nghiên cứu
6 Bảng 3.5 VNTB của HS theo tuổi, giới tính và KV sống 33
7 Bảng 3.6 So sánh VNTB của HS với các nghiên cứu của các tác
10 Bảng 3.9 Chỉ số pignet của HS theo tuổi, giới tính và KV sống 39
11 Bảng 3.10 So sánh chỉ số Pignet của HS với nghiên cứu của các
Trang 7KV sống
15 Bảng 3.14 Tuổi có kinh lần đầu của HS nữ KV thành thị 50
16 Bảng 3.15 Tỷ lệ dậy thì hoàn toàn của HS nữ KV thành thị 51
17 Bảng 3.16 Tuổi có kinh lần đầu của HS nữ KV nông thôn 52
18 Bảng 3.17 Tỷ lệ dậy thì hoàn toàn của HS nữ KV nông thôn 52
19 Bảng 3.18 So sánh thời điểm có kinh lần đầu của HS nữ với
20 Bảng 3.19 Tuổi xuất tinh lần đầu của HS nam KV thành thị 54
21 Bảng 3.20 Tỷ lệ dậy thì hoàn toàn của HS nam KV thành thị 55
22 Bảng 3.21 Tuổi xuất tinh lần đầu của HS nam KV nông thôn 56
23 Bảng 3.22 Tỷ lệ xuất tinh lần đầu của HS nam KV nông thôn 56
24 Bảng 3.23 So sáng thời điểm xuất tinh lần đầu của HS nam với
25 Bảng 3.24 Trí nhớ ngắn hạn thị giác của HS theo tuổi, giới tính
26 Bảng 3.25 Trí nhớ ngắn hạn thính giác của HS theo tuổi, giới
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
g
1 Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện chiều cao đứng trung bình của HS
2 Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của HS 28
3 Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện cân nặng trung bình của HS theo
4 Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của HS 31
5 Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện VNTB của HS theo tuổi, giới tính
6 Hình 3.6 Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng VNTB của HS 34
7 Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện chỉ số BMI trung bình của HS theo
8 Hình 3.8 Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng chỉ số BMI trung bình
9 Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện chỉ số Pignet của HS trong nghiên
10 Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn tốc độ giảm chỉ số pignet trung
Trang 914 Hình 3.14 Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng chỉ số huyết áp tâm
20 Hình 3.20 Biểu đồ tỷ lệ dậy thì hoàn toàn ở từng lứa tuổi của
21 Hình 3.21 Biểu đồ thể hiện trí nhớ ngắn hạn thị giác của HS
22 Hình 3.22 Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng chỉ số trí nhớ ngắn
23 Hình 3.23 Biểu đồ thể hiện trí nhớ ngắn hạn thính giác của HS
24 Hình 3.24 Biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng chỉ số trí nhớ ngắn
Trang 10MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
2.1 Ý nghĩa khoa học 2
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
3 Mục tiêu đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của một số chỉ tiêu trong nghiên cứu 3
1.1.1 Quy luật chung về sinh trưởng và phát triển 3
1.1.2 Cơ sở khoa học của một số chỉ số đánh giá thể lực 4
1.1.3 Cơ sở khoa học của một số chỉ tiêu sinh lý trong nghiên cứu 7
1.1.4 Cơ sở khoa học của chỉ tiêu trí nhớ trong nghiên cứu 8
1.1.5 Cơ sở khoa học của chỉ tiêu sinh lí dậy thì trong nghiên cứu 9
1.2 Một số công trình nghiên cứu về thể lực – tầm vóc con người 10
1.3 Một số công trình nghiên cứu về sinh lý tuần hoàn 15
1.4 Một số công trình nghiên cứu về trí nhớ của trẻ em Việt Nam 17
1.5 Một số công trình nghiên cứu về sinh lí dậy thì trong nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.1.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp luận 21
Trang 112.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.3.2.1.Phương pháp điều tra 21
2.3.2.2.Phương pháp nghiên cứu các chỉ số 22
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu 23
2.3.3.1 Phương pháp tính tuổi 23
2.3.3.2 Phương pháp xử lí số liệu 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết qủa nghiên cứu về tầm vóc – thể lực của học sinh 26
3.1.1 Chiều cao đứng của học sinh 26
3.1.2 Cân nặng của học sinh 29
3.1.3 Vòng ngực trung bình của học sinh 33
3.1.4 Chỉ số BMI của HS 35
3.1.5 Chỉ số pignet của HS 39
3.2 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh lý tuần hoàn của HS 42
3.2.1 Nhịp tim của HS 42
3.2.2 Huyết áp của HS 45
3.2.2.1 Huyết áp tâm thu của HS 45
3.2.2.2 Huyết áp tâm trương của HS 48
3.3 Tuổi dậy thì của HS 50
3.3.1 Tuổi dậy thì của HS nữ 50
3.3.2 Tuổi dậy thì của HS nam 54
3.4 Trí nhớ ngắn hạn của HS 58
3.4.1 Trí nhớ ngắn hạn thị giác 58
3.4.2.2 Trí nhớ ngắn hạn thính giác 60
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 KẾT LUẬN 63
2 KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 12PHỤ LỤC PHIẾU NGHIÊN CỨU
MỘT SỐ CHỈ TIÊU TẦM VÓC – THỂ LỰC VÀ SINH LÝ CỦA HỌC
SINH TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG THCS
A NHỮNG THÔNG TIN CHUNG
1 Họ và tên : ………
2 Lớp:……Trường:……… ……….………
3 Ngày tháng năm sinh: ………
4 Giới tính Nam Nữ 5 Dân tộc:………
6 Chỗ ở hiện tại:
B MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ TẦM VÓC – THỂ LỰC VÀ SINH LÝ 1 Một số chỉ tiêu về tầm vóc – thể lực STT Các chỉ tiêu Kết quả đo(đơn vị) 1 Chiều cao đứng Cm 2 Cân nặng Kg 3 Vòng ngực trung bình Cm 2 Sinh lý tuần hoàn STT Các chỉ tiêu Kết quả đo(đơn vị) 1 Tần số tim (nhịp/phút) 2 Huyết áp tối đa (mmHg) 3 Huyết áp tối thiểu (mmHg) 3 Dậy thì - Ngày có kinh lần đầu (nữ):
- Ngày xuất tinh đầu tiên (nam):
Trang 13PHIẾU ĐIỀU TRA TRÍ NHỚ Phần I: Dành cho học sinh
A Ghi đầy đủ các thông tin
1 Họ và tên: Ngày sinh: Giới tính: Dân tộc:
2 Lớp: Trường:
B Học sinh làm bài
1 Trí nhớ thị giác: Ghi lại các số nhớ được (không cần theo thứ tự)
2.Trí nhớ thính giác: Ghi lại các số nhớ được (không cần theo thứ tự)
Phần II: Chấm điểm
- Điểm trí nhớ thị giác:
- Điểm trí nhớ thính giác:
Trang 14BẢNG SỐ KIỂM TRA THỊ GIÁC
Trang 15Phú thọ, ngày tháng năm 2018
Ý kiến giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Thanh Hương Trần Thị Thanh Huyền
Trang 16Các chỉ tiêu về tầm vóc thể lực của con người luôn thay đổi, phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên, di truyền, xã hội, cần phải thường xuyên điều tra nghiên cứu nhằm đưa ra được những phương pháp khoa học về cách sống, học tập, rèn luyện để giúp cho sự phát triển của cơ thể được toàn diện hơn Vì vậy việc nghiên cứu xác định một số chỉ số thể lực của học sinh THCS hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Thị xã Phú Thọ thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng đồi núi, trung du Dân số năm 2013
là 91.650 người Cơ cấu dân số thành thị 36%, nông thôn chiếm 64% Thị xã Phú Thọ hiện nay có 10 trường trung học cơ sở với tổng số 3470 học sinh trên
113 lớp học Mặc dù trong nước và trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tầm vóc thể lực song tại địa bàn thị xã Phú Thọ tính đến nay chưa có nghiên cứu nào về tầm vóc thể lực và trí tuệ của học sinh để có thể dựa vào đó định hướng phương pháp giảng dạy, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe học sinh
Xuất phát từ những lí do thực tiễn trên mà em chọn đề tài : “ Nghiên cứu một số đặc điểm tầm vóc - thể lực, sinh lí và trí nhớ của học sinh một số trường Trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ”
Trang 172 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thêm các thông tin phản ánh
sự phát triển về tầm vóc – thể lực, sinh lý và trí nhớ của học sinh tại khu vực đang nghiên cứu
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần xây dựng những cơ sở để nhà trường, gia đình và xã hội có thể đề ra các biện pháp nhằm phát triển tầm vóc – thể lực, sinh lý và trí nhớ của học sinh trong thời điểm hiện nay
3 Mục tiêu đề tài
Xác định được một số chỉ tiêu về tầm vóc - thể lực, sinh lí và trí nhớ của học sinh THCS, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao tầm vóc và trí nhớ ngắn hạn cho học sinh
Trang 18PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của một số chỉ tiêu trong nghiên cứu
1.1.1 Quy luật chung về sinh trưởng và phát triển
Khái niệm về sinh trưởng và phát triển
Sinh trưởng và phát triển là đặc điểm cơ bản của cơ thể sống Hai quá
trình này diễn ra đồng thời trong quá trình sống của cá thể và ở mỗi giai đoạn
lại có đặc điểm và tính chất khác nhau [9]
Sinh trưởng là quá trình thay đổi về lượng, biểu hiện ở sự tăng về kích
thước, khối lượng cơ thể Phát triển là quá trình biến đổi về chất bao gồm sự
biệt hóa về hình thái và biến đổi chức năng từng bộ phận của cơ thể làm xuất
hiện các thuộc tính mới Sự phát triển của cơ thể diễn ra qua nhiều giai đoạn
khác nhau với những đặc điểm tâm sinh lý cũng khác nhau tương ứng, mỗi
giai đoạn đều chứa đựng trong nó dấu ấn nhất định về kết quả phát triển của
giai đoạn trước, đồng thời cũng bao hàm cả mầm mống về sự phát triển tiếp
sau đó Các giai đoạn phát triển diễn ra không đều về cả thời gian cũng như
tốc độ, có giai đoạn phát triển nhanh, có giai đoạn phát triển chậm – kéo dài
và có thời kì ổn định tương đối Điều đó đã dẫn đến sự khác nhau về đặc điểm
hình thái, cấu tạo giải phẫu và sinh lý ở các giai đoạn phát triển của cơ thể [9]
Quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em cũng tuân theo những
quy luật phát triển chung của sự tiến hóa sinh vật, từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp Quá trình cơ thể lớn lên không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về
lượng mà quan trọng hơn là cả sự biến đổi về chất với những bước phát triển
nhảy vọt Vì vậy mỗi lứa tuổi đều có những đặc điểm sinh lý riêng chi phối sự
sinh trưởng, phát triển của cơ thể [9]
Tăng trưởng là một yếu tố hằng định trong giai đoạn dậy thì Có thể
chia tăng trưởng trong giai đoạn dậy thì làm 3 giai đoạn liên tiếp: giảm chậm
trước dậy thì tạo nên một trong những dấu hiệu đầu tiên của dậy thì với tốc độ
Trang 19tăng chiều cao 4-5 cm/năm và đỉnh cao của tăng trưởng giai đoạn tiền dậy thì phù hợp với một đợt tăng trưởng nhanh của tốc độ tăng trưởng (chiều cao tăng tối đa), giảm dần rồi sau đó ngừng tăng trưởng các chi và dấu hiệu liền các đầu xương Các giai đoạn liên tiếp này liên quan đến sự tăng trưởng thành xương và phát triển các đặc tính sinh dục phụ Tốc độ tăng trưởng đạt tới đỉnh điểm vào giữa thời kì dậy thì khoảng 12,5 tuổi ở nữ và 14 tuổi ở nam [9]
Ở nam, tốc độ tăng trưởng chiều cao trung bình là 8,5cm/năm đầu thời
kì dậy thì, 6,5 cm/năm thứ 2, tốc độ tăng tối đa vào khoảng 13 tuổi (có thể lên tới 12 cm/năm) Tăng trưởng kết thúc thường là 5 năm sau khi bắt đầu dậy thì Nhịp độ này thay đổi khác nhau ở từng cơ thể và tùy thuộc vào thời điểm bắt đầu dậy thì của mỗi người
Ở nữ, tốc độ tăng trưởng chiều cao trung bình 7,5 cm/năm đầu thời kì dậy thì và 5,5 cm/năm thứ 2 Cũng như các em nam, tốc độ tăng trưởng về chiều cao cơ thể cũng đạt tối đa lúc 13 tuổi (có thể tăng từ 7 – 12 cm/năm), sự tăng trưởng thường diễn ra khoảng 5 năm kể từ lúc bắt đầu dậy thì và tốc độ thay đổi là tùy vào đặc điểm cơ thể của mỗi người và thời điểm bắt đầu dậy thì của họ
Trong giai đoạn đỉnh tăng trưởng, các xương dài ra (đặc biệt là các xương chi và ở nam thường nhận thấy rõ hơn ở nữ), tỷ lệ đoạn dưới/đoạn trên
> 1 (trong khi đó tỉ lệ này ở giai đoạn sau 15 tuổi là ≈ 1)
1.1.2 Cơ sở khoa học của một số chỉ số đánh giá thể lực
Sức mạnh cơ bắp, hình thái thể lực của con người là vấn đề mà từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu Thể lực là khái niệm phản ánh đặc điểm tổng hợp của cơ thể, có liên quan chặt chẽ tới sức lao động và thẩm mỹ củacon người
- Thể lực là năng lực vận động của con người, nó phản ánh mức độ phát triển của các hệ thống cơ quan trong một cơ thể hoàn chỉnh Sự phát triển của thể lực là quá trình thay đổi hình thái, chức năng của cơ thể con người trong đời sống cá thể [3]
Trang 20Đặc điểm phát triển thể lực mang tính đặc thù về mặt chủng tộc, giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp trong môi trường sống nhất định
Thể lực là thước đo sức khỏe, khả năng lao động và học tập Chính vì vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu về thể lực được phổ biến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: khoa học, kỹ thuật thăm khám sức khỏe (tuyển sinh, tuyển quân, tuyển lao động, khám định y khoa…) đặc biệt là trong nghiên cứu thiết kế ecgonomi [3]
Tóm lại, thể lực là một chỉ số tổng hợp và cơ bản có liên quan mật thiết tới tình trạng sức khỏe và khả năng làm việc, học tập của mỗi người Do
đó việc nghiên cứu thể lực ngày càng được đẩy mạnh cùng với sự phát triển của Y – Sinh học [3]
- Chiều cao: là một trong những chỉ số phát triển thể chất và sức khỏe quan trọng nhất Sự tăng kích thước của chiều cao phụ thuộc vào sự phát triển của xương trong quá trình tăng trưởng Ngoài ra, chiều cao còn phụ thuộc vào khối lượng toàn thân và của các cơ quan riêng rẽ Việc tăng độ cao theo từng
độ tuổi diễn ra không đồng đều Sự không đồng đều trong quá trình tăng chiều cao thể hiện ở sự tăng trưởng các phần cơ thể, trong sự biến đổi tỷ lệ giữa các phần đó, nghĩa là của những kích thước tương đối Ví dụ kích thước của đầu
bị giảm đi một cách tương đối theo tuổi so với toàn thân, còn chiều dài tương đối và tuyệt đối của tay và chân lại được tăng lên [3]
Khi bắt đầu dậy thì (11 – 12 tuổi) chiều cao tăng nhanh đạt 5 – 8 cm/năm là thời kì thứ hai của sự vươn dài người ra Tuy nhiên sự tăng trưởng chiều cao trong giai đoạn dậy thì khác nhau giữa nam và nữ Khi 10 tuổi em trai và em gái lớn lên gần bằng nhau Từ 10 – 12 tuổi em gái vượt lên trước
em trai và tăng khoảng trung bình là 5 – 10 cm/năm Ở nam, nhịp độ tăng trưởng tăng dần từ 13 – 14 tuổi Nhưng từ 14 đến 15 tuổi ở nam và nữ lại gần giống nhau Đến khi 15 tuổi trẻ trai vượt trẻ gái về chiều cao và sự tăng trưởng này của nam giới được duy trì trong suốt thời gian sau này cho đến tuổi trưởng thành [3]
Trang 21- Cân nặng: sau chiều cao, cân nặng cũng được khảo sát thường xuyên trong các nghiên cứu về sự tăng trưởng Cân nặng gồm 2 phần: phần cố định (1/3 khối lượng cơ thể) và phần không cố định (2/3 khối lượng cơ thể) Trong
đó 3/4 khối lượng là các cơ và 1/4 mỡ, nước (ở nữ tỷ lệ mỡ thường cao hơn ở nam) Hiện tượng tăng cân là do tăng phần không cố định và có liên quan chặt chẽ tới chế độ dinh dưỡng Cân nặng trung bình ít chịu ảnh hưởng của yếu tố
di truyền mà thường chịu chi phối bởi điều kiện sống Giữa chiều cao và cân nặng không có sự phụ thuộc theo một tỷ lệ nghiêm ngặt nào, nhưng thông thường cùngmột lứa tuổi, trẻ em nào cao hơn thì có cân nặng lớn hơn [3]
Theo các nghiên cứu, cân nặng tăng mạnh nhất trong những năm đầu của đời sống Sau đó tốc độ tăng trung bình 2 kg/năm Đến năm 10 tuổi, cân nặng của em trai và em gái gần ngang bằng nhau, mặc dù em gái tăng chậm hơn nhưng không đáng kể Từ 11 – 12 tuổi cân nặng của các em gái vượt các
em trai là do cấu tạo cơ thể của nữ giới Em gái tăng từ 4 – 5 kg/năm, tới khi
14 – 15 tuổi thì mỗi năm tăng 5 – 8 kg/năm Khi 13 -14 tuổi cân nặng của các
em trai tăng từ 7 – 8 kg/năm, trong đó có sự khác biệt cơ bản trong sự tăng khối lượng của các cơ quan riêng biệt Sự tăng vượt về cân nặng đó được duy trì đến khoảng 15 tuổi, sau đó em trai vượt em gái và sự vượt cân nặng của
em trai được duy trì trong suốt thời gian về sau của đời sống [3]
- Chỉ tiêu thứ ba đánh giá thể lực sau chiều cao và cân nặng là vòng ngực: mỗi lứa tuổi có một tỷ lệ cân đối giữa chiều cao và vòng ngực Sự phát triển của vòng ngực liên quan mật thiết đến sự phát triển của trọng lượng cơ thể Các tác giả rút ra từ nghiên cứu của mình và thấy có sự tương quan giữa vòng ngực và cân nặng [3]
Sự phát triển và tăng trưởng thể lực được đánh giá vào 3 chỉ số cơ bản: cân nặng, chiều cao và vòng ngực Tuy nhiên thể lực là một thông số tổng hợp nên không thể đánh giá tình trạng thể lực một cách riêng rẽ mà phải dựa vào mối tương quan giữa các chỉ tiêu giải phẫu – sinh lý Các nhà khoa học Châu Âu đã lựa chọn vào mối tương quan này để xây dựng lên một chỉ
Trang 22tiêu hình thái thể lực tổng hợp Mới đầu các tác giả hợp nhất hai chỉ số thành một chỉ số như Broca, Quetelet, GRV, Skelie…Sau đó là những chỉ số được hợp nhất từ 3 chỉ số trở lên như chỉ số Pignet, Vervack, Pimo, chỉ số QVC…Việc hợp nhất nhiều chỉ số vào một chỉ số chung đã làm cho việc đánh giá thể lực được chính xác hơn và có cơ sở khoa học riêng của nó
a Chỉ số BMI: Biểu hiện mối quan hệ giữa chiều cao đứng và cân nặng
Công thức: BMI = cân nặng (kg) / [chiều cao đứng(m)]2
Đánh giá chỉ số BMI theo FAO và Hà Huy Khôi:
BMI = 18,5 – 24,99: bình thường BMI = 17 -18,45: CED độ I BMI = 25 – 29,99: quá cân độ I BMI = 16 – 16,99: CED độ II BMI = 30 – 39,99: quá cân độ II BMI < 16 CED độ III
BMI >= 40 quá cân độ III
b Chỉ số Pignet:
Dựa vào công thức của 3 kích thước và có công thức tính như sau:
Pignet = chiều cao đứng (cm) – [ cân nặng (kg) + VNTB (cm)]
Thang phân loại:
Pignet > 53: cực yếu Pignet = 29 - 34,9: khỏe
Pignet = 47,1 - 53: rất yếu Pignet = 23 - 28: rất khỏe
Pignet = 41,1 - 47: yếu Pignet < 23: cực khỏe
Pignet = 35 - 41: trung bình
1.1.3 Cơ sở khoa học của một số chỉ tiêu sinh lý trong nghiên cứu
a Huyết áp động mạch
Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch
Huyết áp tối đa (Huyết áp tâm thu) là áp suất máu khi tim co, phụ thuộc vào lực co bóp và thể tích tâm thu, bình thường là khoảng 90 -110 mmHg Huyết áp tối thiểu (Huyết áp tâm trương) là áp suất máu khi tim dãn, phụ thuộc vào trương lực mạch máu, bình thường khoảng 50 -70 mmHg
Trang 23Huyết áp phụ thuộc vào trạng thái cơ thể đặc biệt là lứa tuổi Ở trẻ sơ sinh, huyết áp tối đa bằng khoảng 40 mmHg, sau vài ngày là khoảng 70 mmHg, trẻ 1 tháng tuổi là 80 mmHg, giai đoạn 15 -50 tuổi là 105 -120 mmHg, 60 tuổi là 135 -140 mmHg Càng già huyết áp càng cao theo mức độ
xơ hóa của động mạch [8,9,11]
b Nhịp tim
Nhịp tim là số lần tim co bóp trong 1 phút (khoảng 70 – 75 nhịp/ phút
ở người bình thường), phản ánh quá trình hoạt động của tim theo từng lứa tuổi
và từng trạng thái cơ thể Trong giai đoạn dậy thì, hoạt động của tim được tăng cường dẫn đến kích thước của nó tăng rõ rệt nhưng các mạch máu phát triển chậm nên đã xuất hiện sự trục trặc trong hệ tuần hoàn dẫn đến có thể nhịp tim rối loạn [7]
Nhịp tim và huyết áp biến đổi theo lứa tuổi: nhịp tim giảm dần theo tuổi là do kích thước của tim tăng ở trẻ sơ sinh, mỗi lần tâm thất co chỉ đẩy được vào động mạch 2,5ml máu, đến 1 tuổi tâm thất co đẩy được 10ml, 2 tuổi 14ml, sau đó mỗi năm tăng trung bình 2ml Ở trẻ em, tim co bóp không đều
cả về tần số và cường độ Ở trạng thái nghỉ ngơi nhịp tim thay đổi một vài lần, đến 7 – 8 tuổi nhịp tim tương đối ổn định Nói chung từ 4 – 15 tuổi trở lên, nhịp tim là tương đối ổn định [7]
Tần số tim của học sinh giảm dần theo tuổi và có sự khác biệt giữa nam và nữ, tuy nhiên sự khác biệt không lớn (p> 0.05) Nhịp tim của nữ nông thôn và nữ thành thị cao hơn nhịp tim của nam nông thôn và nam thành thị cùng tuổi Thời điểm nhịp tim của nữ giảm nhanh xuất hiện sớm hơn nam 1 năm, ở nữ là 13 – 14 tuổi còn ở nam là 14 – 15 tuổi [7]
1.1.4 Cơ sở khoa học của chỉ tiêu trí nhớ trong nghiên cứu
- Trí nhớ: Là quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của con người dưới hình thức biểu tượng bao gồm sự ghi nhớ, gìn giữ và tái hiện lại sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động, suy nghĩ trước đây (Nguyễn Quang Uẩn) [23]
Trang 24Trí nhớ là quá trình tâm lí phản ánh những kinh nghiệm của con người dưới hình thức biểu tượng Do đó, trí nhớ đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống con người Con người muốn hoạt động phải có khả năng lặp lại các thao tác cũ, sử dụng hiểu biết đã có vào công việc hiện tại Trong những hành động phức tạp, vai trò của trí nhớ càng quan trọng Vì vậy, trí nhớ là điều kiện không thể thiếu để tiến hành hoạt động [7]
Trí nhớ có vai trò rất lớn đối với đa số cuộc sống của các loài động vật Động vật càng ở bậc cao, bộ não càng phát triển thì trí nhớ càng trở nên quan trọng Với giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ xét tới trí nhớ của con người, cụ thể là trí nhớ ngắn hạn Trí nhớ ngắn hạn là do hưng phấn trong các vùng nơron tạo ra Thời gian hưng phấn trong các vùng nơron chỉ có hạn Chính vì vậy, thời gian tồn tại của trí nhớ ngắn hạn cũng có giới hạn [7]
1.1.5 Cơ sở khoa học của chỉ tiêu sinh lí dậy thì trong nghiên cứu
Sự tăng trưởng bình thường của một cơ thể chỉ có được khi cơ thể đó khỏe mạnh Mọi sự biến động về sức khỏe đều ảnh hưởng rõ nét lên sự tăng trưởng bình thường của tuổi dậy thì
Các nhà khoa học đã nghiên cứu và phân tích thành hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đó là: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Sự hiểu biết về tác động của từng nhóm yếu tố sẽ giúp cho chúng ta có thể tạo được những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về thể chất và tinh thần của tuổi dậy thì
Các yếu tố bên trong đóng vai trò tạo đà cho sự phát triển cho cơ thể
ở tuổi dậy thì, nó bao gồm các tuyến nội tiết, các yếu tố bẩm sinh, di truyền, chủng tộc, giới tính
Cùng với các yếu tố bên trong cơ thể, các yếu tố bên ngoài như dinh dưỡng, môi trường sinh thái, môi trường xã hội cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển thể lực của trẻ ở thời kì dậy thì
Trang 251.2 Một số công trình nghiên cứu về thể lực – tầm vóc con người
* Thế giới:
Cùng với sự phát triển của Y – Sinh học, các công trình nghiên cứu về tầm vóc- thể lực con người được tiến hành rất sớm trong lịch sử, đến nay nó
đã trở thành vấn đề thời sự được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm
Công trình đầu tiên trên thế giới nghiên cứu sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lứa tuổi từ 1 đến 25 theo phương pháp cắt ngang là luận án tiến sĩ của Chiristian Friedrich – người Đức (theo [27]) Cũng trong thời gian này philibert Guerneau de Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc trên con trai mình từ năm
1975 đến năm 1977, phương pháp này đã được áp dụng cho đến nay (theo [26])
Năm 1829, Loui Ren Villerne nêu quan điểm “Tăng trưởng là tấm gương phản chiếu điều kiện xã hội”, khi ông công bố một cuốn sách chuyên khảo rằng: những lính nghĩa vụ ở quận nghèo có chiều cao trung bình thấp hơn chiều cao trung bình của lính ở quận giàu Nghĩa là điều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng lớn tới sự tăng trưởng chiều cao [22]
Năm 1883, Edwin Charlwick đã tiến hành nghiên cứu theo hướng của Leouis – rene tại Anh trên các đối tượng trẻ em đang làm việc tại các nhà máy dệt miền bắc nước Anh và nêu lên rằng cần phải cải cách xã hội, cải thiện điều kiện và thời gian làm việc cho trẻ em Hướng nghiên cứu này vẫn được tiếp tục cho đến nay, người ta đã sử dụng chiều cao trẻ em và người trưởng thành như là một chỉ số để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xã hội [22] Quy luật “tăng trưởng theo thời gian” (seculer changes) đã được rút ra từ những nghiên cứu trên
Những nghiên cứu về tăng trưởng cũng đã được tiến hành trong y tế học đường Nghiên cứu đầu tiên đã được thực hiện ở Đức vào những năm
1772 – 1794, nhưng tới những năm 1953 mới được bác sĩ R.Uhlan và giáo sư W.Theopold tìm thấy các số liệu đo được trên học sinh trường Carlschule là con em của các nhà tư sản và quý tộc lúc bấy giờ, bao gồm: 92 học sinh 8 tuổi, 442 học sinh 15 tuổi, 155 học sinh 21 tuổi Đây là nghiên cứu khá lớn,
Trang 26tương tự nghiên cứu của Hamoenden tại Mỹ thế kỉ XX, của HP Bowditch (1840 – 1911) Trong các nghiên cứu trên HP Bowditch - hiệu trưởng đầu tiên của khoa y trường Đại học Harvart, giáo sư Sinh Lý học đã đưa ra chuẩn tăng trưởng của trẻ em Mỹ và lần đầu tiên sử dụng hệ thống bách phân vị trong nghiên cứu tăng trưởng Mười năm sau đó, Frances Galton mới sử dụng hệ thống và chuẩn tăng trưởng này ở Anh [22]
Năm 1919, Paul Godin đã đưa ra thuật ngữ “Tăng trưởng học” (auxology) trong một bài báo có nhan đề “Lamethode auxologique” Từ đó cân nặng được coi như là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực [22]
Năm 1942, D’Arcy Thomson đưa khái niệm về tốc độ tăng trưởng vào nghiên cứu [25]
Vòng ngực là chỉ số thể lực được nghiên cứu từ những năm 20 của thế kỉ XIX đến cuối thế kỷ XIX vòng ngực trở thành một chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá thể lực sau chiều cao và cân nặng
Phương pháp đánh giá thể lực bằng chỉ số (BMI, Kaup, Crora QVC, Pignet… ) ra đời từ đầu thế kỉ XX
Cùng với việc đánh giá thể lực bằng chỉ số, một loạt các dụng cụ đo đạc khác như thước dây, cân,… đã được tiêu chuẩn hóa quốc tế trên những đề xuất của Martin
Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, lĩnh vực nhân trắc học ngày càng phát triển, các nhà khoa học đã sử dụng thống kê sinh học, các công nghệ phần mềm tin học trong việc tính toán phân tích, xử lý số liệu
Trang 27Các công trình nghiên cứu này tuy số lượng mẫu chưa lớn, còn lẻ tẻ và phương pháp nghiên cứu còn đơn giản song đã nêu được đặc điểm hình thái và thể lực của người Việt Nam, đặc biệt là của trẻ em lúc bấy giờ
Từ 1945 – 1960, các bộ môn nhân trắc học bắt đầu được lập ở một số viện nghiên cứu và trường Đại học làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu Sau năm 1954, các công trình nghiên cứu cơ bản trong đó có điều tra về cơ thể người được đẩy mạnh Do đó nhân trắc học thống kê đã có điều kiện phát triển và đạt được những kết quả đáng kể Những công trình nghiên cứu được tiến hành ở hầu hết các lứa tuổi và các dân tộc khác nhau Lúc này toán thống kê đã được sử dụng trong xử lí kết quả nên nghiên cứu được hoàn thiện và có giá trị khoa học cao hơn [11]
Năm 1974, để đáp ứng nhu cầu thực tế, Nguyễn Quang Quyền cho ra đời cuốn “Nhân trắc học và ứng dụng trên người Việt Nam” là cuốn sách đầu tay cho các nhà nhân trắc học,trong đó tác giả chia ra các thang phân loại cho các lứa tuổi nhỏ sống trong các điều kiện sinh thái khác nhau [17]
Năm 1975, cuốn sách “Hằng số sinh học người Việt Nam” đã ra đời sau Hội nghị Hằng số sinh học người Việt Nam những năm 1967 – 1972[4] Cuốn sách đã công bố một cách có hệ thống các chỉ số hình thái học do các tác giả nghiên cứu trong vòng hơn 10 năm (1960 – 1972), đặc biệt các chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em từ 1 – 15 tuổi được công bố một cách khá chi tiết và đầy đủ Các kết quả của các công trình nghiên cứu có giá trị định vị về mặt thời gian và được dùng làm tài liệu so sánh cho các công trình kế tiếp và hiện nay, về các đặc điểm hình thái, kích thước của trẻ em lứa tuổi 1 đến 16,
có 30 chỉ số được trình bày như chiều cao, cân nặng, vòng ngực…và Skelie, Pimo, Vervack, QVC, Pignet, BMI… [19]
Sau năm 1975, việc nghiên cứu thể lực ở trẻ em được những tác giả thực hiện Năm 1980, 1982, 1987 Đoàn Yên và cộng sự đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam trong đó có chiều cao và cân nặng và ông đưa ra nhận xét: chiều cao và cân nặng trung bình của người Việt Nam thấp
Trang 28hơn của người châu Âu và châu Mỹ ở mọi lứa tuổi Nhịp độ tăng trưởng chậm
và thời gian tăng trưởng kéo dài hơn, bước vào thời kì nhảy vọt tăng trưởng dậy thì cũng muộn hơn so với người châu Âu và người châu Mỹ, chiều cao tăng trưởng nhảy vọt ở nữ xuất hiện ở độ tuổi 12 – 13, ở nam là độ tuổi 13 -16
và đến năm 23 tuổi chiều cao đạt giá trị tối đa, cân nặng, tăng trưởng nhảy vọt
ở nữ là 13 và ở nam là 15 tuổi Kết thúc tăng trưởng ở nữ là 19 tuổi và ở nam
là 20 tuổi Và ông đưa ra nhận xét: nữ bước vào thời kì tăng tiến và ổn định chiều cao cũng như cân nặng sớm hơn nam [24]
Năm 1980 – 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp tiến hành nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 đến 17 tuổi với 31 chỉ tiêu sinh học và rút ra nhận xét: chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11 – 12 tuổi ở nữ và 13 – 15 tuổi
ở nam, cân nặng phát triển mạnh nhất ở nữ lúc 13 tuổi và ở nam lúc 15 tuổi,
có sự gia tăng về chiều cao và cân nặng ở lứa tuổi học sinh [6]
Năm 1989, nhóm tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Xuân Khôi và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu các chỉ số thể lực như: chiều cao, cânn nặng, vòng ngực, các chỉ số dài chi dưới…trên 8000 người tuổi từ1 – 55 ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam và nhận xét: chiều cao của nam tăng nhanh đến tuổi 18 và nữ đến tuổi 14, các tác giả còn đưa ra qui luật
ra tăng chiều cao của người Việt Nam là (4cm/20năm) : chiều cao tăng nhanh nhất ở nam từ 13 – 15 tuổi và ở nữ là 10 – 12 tuổi, vòng ngực tăng nhanh nhất
ở nam từ 13 – 16 tuổi và ở nữ là 11 – 14 tuổi [19]
Cần phải kể đến công trình của Đào Huy Khuê năm 1991 về đặc điểm hình thái thể lực và tăng trưởng của trẻ em thị xã Hà Đông từ 6 – 17 tuổi Tác giả nhận định: hầu hết các thông số hình thái tăng dần theo tuổi nhưng nhịp
độ tăng trưởng không đều Từ 6 – 9 tuổi các kích thước cơ thể ở nam và nữ không có sự khác biệt rõ rệt Từ 10 – 15 tuổi kích thước ở nữ thường vượt nam và đến 16 – 17 tuổi nam lại vượt lên trước nữ Ông cũng rút ra nhận xét là: có sự gia tăng chiều cao người Việt Nam so với các thập kỉ trước [9]
Trang 29Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ tiêu hình thái thể lực của người Việt Nam từ 1 – 25 tuổi ở Nghệ An và Hà Tĩnh như: chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chỉ số pignet, BMI, … tác giả đưa ra nhận xét: sự phát triển chiều cao ở tất cả các độ tuổi trong nghiên cứu (khí hậu nóng khô, nóng ẩm) ở Nghệ Tĩnh so với dân cư vùng đồng bằng Bắc bộ thấp hơn 0,5 – 4 cm, còn cân nặng của dân cư hai khu vực trên là như nhau Tất cả các độ tuổi kích thước các phần cơ thể của nam đều lớn hơn nữ Tuy vậy, có một số giai đoạn nữ phát triển nhanh hơn nam và đạt trị số lớn hơn nam Sự phát triển ở các lứa tuổi khác nhau không đều và phát triển nhanh ở các độ tuổi 5 – 7; 10 – 11 và 13 – 14 [20]
Năm 1995, Nguyễn Mạnh Cường, Trần Đình Long, Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường và cộng sự tiếp tục nghiên cứu một số chỉ tiêu phát triển thể lực của học sinh lứa tuổi 6 – 15 tại Thái Bình đã cung cấp một phần số liệu
về chỉ số hình thái thể lực trẻ em lứa tuổi học đường vùng sinh thái nông thôn ven biển [10]
Song song với việc nghiên cứu trên, các tác giả còn nghiên cứu trên đối tượng là học sinh thị xã Thái Bình và đưa ra nhận xét: các chỉ số chiều cao, cân nặng, vòng cánh tay và vòng đùi lớn hơn so với số liệu trong “Hằng số sinh học” năm 1975 nhưng lại thấp hơn so với các chỉ số của học sinh quận Hoàn Kiếm Hà Nội Chỉ số pignet có xu hướng cao do trẻ đang lớn, phát triển
ưu thế về phần xương nhưng chỉ số này không khác biệt so với chỉ số pignet của học sinh quận Hoàn Kiếm
Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan nghiên cứu trên học sinh 12 - 18 tuổi dân tộc ít người tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thu được kết quả cho thấy chiều cao và cân nặng của học sinh dân tộc ít người tăng dần theo tuổi Chiều cao tăng nhanh nhất ở độ tuổi 12 – 14 ở nữ và 14 – 15 tuổi ở nam Còn cân nặng ở nam tăng nhanh nhất ở tuổi 15 – 16 So với chiều cao và cân nặng trong “HSSH 1975” thì kết quả thu được trong nghiên cứu này cao
Trang 30hơn nhưng lại thấp hơn kết quả nghiên cứu trên học sinh Hà Nội Và Thái Bình [13]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu tầm vóc, thể lực trẻ em Việt Nam lứa tuổi 6 - 17 là tương đối nhiều Các nghiên cứu đều cho thấy các chỉ số đều biến đổi theo lứa tuổi, giới tính và có sự khác biệt giữa trẻ
em nông thôn và thành thị, giữa các vùng khí hậu và các dân tộc khác nhau
1.3 Một số công trình nghiên cứu về sinh lý tuần hoàn
* Thế giới
Lịch sử phát triển sinh lý song song với lịch sử phát triển các ngành khoa học tự nhiên đặc biệt là vật lý và hóa học Từ thế kỷ XIX – XX, những phát minh về khoa học và sáng chế các công cụ nghiên cứu đã giúp các nhà sinh lý học ngày càng đi sâu vào nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ chế sinh lý, chức năng của các cơ quan, bộ phận riêng rẽ trong quá trình phát triển cá thể Thế
kỉ V (TCN), Hypocrat là người đầu tiên đưa ra thuyết hoạt khí để giải thích hiện tượng không khí từ ngoài vào phổi, vào máu và lưu thông trong máu
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, từ thế kỉ XVI - XX, nhiều phát minh về sinh lý học đã ra đời
Khoa học kỹ thuật ngày càng đạt được những thành tựu mới trong lĩnh vực sáng chế công cụ nghiên cứu làm cho sinh học thực nghiệm ngày càng mở rộng và đạt nhiều bước tiến hơn Thế kỷ XVII Uyliam Hacvay ông
tổ của môn sinh lý học bắt đầu nghiên cứu về sinh lý tuần hoàn đã phát hiện
ra tuần hoàn mao mạch và dự đoán sự tồn tại của mao mạch Năm 1628, Uyliam Hacvay đã cho in cuốn “Nghiên cứu giải phẫu học về sự chuyển động của tim và mạch”
Đồng thời nhiều nghiên cứu về các cơ quan chức năng trong hệ tuần hoàn như đo nhịp tim và huyết áp được các nhà nghiên cứu bắt đầu từ rất sớm Nhưng đến đầu thế kỉ XX với sự phát triển của sinh lý học, sinh hóa
Trang 31học, toán thống kê,…thì việc nghiên cứu chức năng tuần hoàn được đẩy mạnh
ở nhiều nước trên thế giới
Năm 1910, Landsteiner phát hiện hệ kháng nguyên A,B,O trên màng hồng cầu Năm 1940, Landsteiner và Wiener phát hiện hệ kháng nguyên Rhesus (Rh) mở đầu cho việc tìm ra các hệ kháng nguyên khác của hồng cầu
Theo Tur năm 1954, Arsavaki (1975), và Biriu (1973) cho rằng tần số tim thay đổi theo từng lứa tuổi và từng trạng thái của cơ thể Atrong nghiên cứu ở trẻ em các tác giả rút ra kết luận: trẻ em đang bú mẹ tần số tim dao động từ 110 – 160 nhịp/phút, trẻ em trước tuổi đến trường là 85 – 100 nhịp/phút, trẻ em lứa tuổi học đường là 75 – 82 nhịp/phút [2]
Huyết áp động mạch cũng là thông số cơ bản được các tác giả nghiên cứu đồng thời với tần số tim Các công trình nghiên cứu sự biến đổi của huyết
áp theo lứa tuổi đưa ra kết luận: huyết áp tăng dần theo tuổi, huyết áp của trẻ
em thấp hơn ở người già [19]
Năm 1973, Wilson nghiên cứu sự thay đổi của huyết áp ở tuổi học đường và kết luận huyết áp tăng theo độ tuổi
Năm 1982, Waldo E Nelson, khi nghiên cứu ở trẻ em Anh đã đưa ra kết luận: tần số tim ở trẻ sơ sinh dao động nhiều (trung bình 124 - 140 nhịp/phút), nhịp tim giảm dần theo lứa tuổi Từ 12 tuổi trở lên nhịp tim ở nữ lớn hơn nam: nhịp tim của nam 12 tuổi là 85 nhịp/phút và nữ là 90 nhịp/phút, nam 16 tuổi là 75 nhịp/phút và nữ là 80 nhịp/phút [18]
Nhìn chung các tác giả đều cho rằng huyết áp thay đổi theo tuổi, giới tính
Từ cuối thế kỉ XX, Kortkov đã đề xuất phương pháp đo huyết áp gián tiếp và cách xác định trị số huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu [1, 3]
*Ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về tuần hoàn và máu như: Theo số liệu của HSSH [19], huyết áp động mạch, nhịp tim con người thay đổi phụ thuộc độ tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe, môi trường…
Trang 32Năm 1989-1992, Bác sĩ Trần Đỗ Trinh đã nghiên cứu đề tài “Trị số huyết áp động mạch người Việt Nam” trên đối tượng từ 15 tuổi trở lên ở 20 tỉnh nước ta [21]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng tiến hành nghiên cứu dân cư hai vùng Nghệ An và Hà Tĩnh tuổi từ 12 – 15 và 18 đến 25, kết quả nghiên cứu cho thấy tần số tim và huyết áp động mạch ở bất cứ độ tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu
Năm 1998, Nguyễn Văn Mùi nghiên cứu đặc điểm biến đổi tần số mạch và huyết áp ở trẻ em lứa tuổi 7 – 15 ở Hải Phòng nhận thấy: tần số mạch của các em nữ và nam giảm dần theo tuổi, còn huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương tăng dần theo tuổi.Tần số mạch ở lứa tuổi 7 – 12 ở các
em nam nhanh hơn so với các em nữ ở cùng độ tuổi, đến khi 13–15 tuổi không có sự khác biệt này Huyết áp tâm thu ở nam từ 7–9 tuổi cao hơn ở nữ, còn từ 10–15 tuổi không có sự khác biệt về huyết áp tâm thu ở hai giới Huyết
áp tâm trương ở các em nam từ 7–13 tuổi cũng lớn hơn so với các em nữ
Ngoài ra các nghiên cứu của Nguyễn Quang Mai và cộng sự cũng cho kết luận tương tự về tần số mạch và huyết áp động mạch
Theo nhận xét của Đoàn Yên năm 1993 sau 12 tuổi có sự khác biệt về nhịp tim theo giới, có thể nói rằng tuổi 12 là mốc bắt đầu thể hiện sự phân biệt giới tính về nhịp tim, nữ có nhịp tim nhanh hơn nam
Tóm lại nhịp tim và huyết áp động mạch là những thông số đã được nghiên cứu nhiều nhưng chưa đầy đủ và hoàn chỉnh theo các giai đoạn phát triển cơ thể
1.4 Một số công trình nghiên cứu về trí nhớ của trẻ em Việt Nam
Trí nhớ của con người là một quá trình phức tạp, có bản chất là việc hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời, lưu trữ và tái hiện chúng Người đầu tiên nghiên cứu về trí nhớ ở Việt Nam là Phạm Minh Hạc Bằng thực nghiệm ông đã chứng minh được cả hai thùy của não (thùy trán và thùy
Trang 33đỉnh) đều tham gia vào sự lưu trữ thông tin, nhưng thùy đỉnh có vai trò quan trọng hơn,
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu về khả năng ghi nhớ của học sinh và sinh viên Nghệ Tĩnh từ 10 – 20 tuổi trong những điều kiện khí hậu khác nhau Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy khả năng ghi nhớ của học sinh biến đổi theo sự biến động của nhiệt dộ, độ ẩm [19]
Năm 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trí nhớ của học sinh từ 6 – 17 tuổi tại quận Cầu Giấy (Hà Nội) Theo như kết quả thu được, Trần Thị Loan
đã đưa ra kết luận: khả năng ghi nhớ ngắn hạn của học sinh tăng dần theo tuổi, nhưng tăng không đều qua các năm Học sinh từ 6 – 11 tuổi, khả năng ghi nhớ của nam lẫn nữ đều tăng nhanh Học sinh từ 11 – 17 tuổi, khả năng ghi nhớ vẫn tiếp tục tăng nhưng tốc độ chậm hơn, giữa nam và nữ không có
sự khác biệt về khả năng ghi nhớ [11]
1.5 Một số công trình nghiên cứu về sinh lí dậy thì trong nghiên cứu
Ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát và toàn diện
về tuổi dậy thì ở trẻ em, mà chỉ mới có vài công trình khảo sát về một số biểu hiện dễ thấy nhất của giai đoạn dậy thì, nói chung của một số đối tượng rất hạn chế về mặt số lượng, thành phần xã hội và phân bố địa lí
Từ 1976 đến 1988, Đinh kỷ, Lương Bích Hồng, Cao Quốc Việt, Nguyễn Nguyệt Nga và nguyễn Thu Nhạn đã nghiên cứu những biến đổi của
cơ thể ở lứa tuổi dậy thì trên một số lượng lớn học sinh tiểu học và THCS thuộc nhiều tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Thái Bình Các chỉ
số được nghiên cứu là tuổi có kinh lần đầu, kích thước tinh hoàn, tuổi phát triển tuyến vú, lông mu, lông nách, xuất tinh lần đầu [14]
Gần đây nhất là các công trình nghiên cứu của Cao Quốc Việt và cộng
sự, Phạm Thị Minh Đức (thập kỉ 80, 90) Lê Thị Kim Cúc, Đào Huy Khuê và cộng sự nghiên cứu về tuổi dậy thì ở các vùng sinh thái khác nhau qua các thập kỉ, nghiên cứu về lượng máu kinh nguyệt, về độ dài kinh nguyệt Tất cả các nghiên cứu đều có chung nhận xét:
Trang 34• Tuổi dậy thì của trẻ trai và trẻ gái sớm dần so với các thập kỉ trước và vối thập kỉ 90
• Tuổi dậy thì của trẻ trai và trẻ gái ở nông thôn đặc biệt là các vùng xa
đô thị chậm hơn so với thành phố từ 1 – 2 năm
• Tuổi dậy thì của trẻ trai thường chậm hơn so với trẻ gái từ 1- 2 năm
• Độ dài kinh nguyệt không thay đổi theo thời gian
• Lượng máu kinh nguyệt khác nhau giữa các cá thể, và bước đầu có nhận xét lượng máu kinh nguyệt của phụ nữ nông thôn nhiều hơn phụ nữ thành phố và có xu hướng ít dần
Trang 35CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên đối tượng học sinh (từ 12 – 15 tuổi) ở một số trường trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã Phú Thọ
Đối tượng được lựa chọn để nghiên cứu phải là những học sinh có sức khỏe, trạng thái tâm lí bình thường Tuổi của các đối tượng được tính theo quy ước chung của Tổ chức Y tế Thế giới
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Một số trường trung học cơ sở trong Thị xã Phú Thọ (6 trường)
+ Trường Trung học cơ sở Sa Đéc (Sa Đéc, Hùng Vương, Phú Thọ)
+ Trường Trung học cơ sở Hùng Vương (Trường Chinh, Thanh Minh, Phú Thọ) + Trường Trung học cơ sở Văn Lung (Khu 3, Văn Lung, Tx Phú Thọ, Phú Thọ) + Trường Trung học cơ sở Thanh Minh (Cao Bang, Thanh Minh, Phú Thọ) + Trường Trung học cơ sở Trần Phú (Phường Âu cơ, Thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ)
+ Trường Trung học cơ sở Phong Châu (Phường Hùng Vương, Thị Xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ)
2.1.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu
Tổng số ĐTNC là 717 HS, trong đó có 353 HS nam và 364 HS nữ Phân bố các ĐTNC theo tuổi, theo giới tính và khu vực sống thể hiện trong bảng 2.1
Trang 36Bảng 2.1 Phân bố ĐTNC theo tuổi, giới tính và KV sống
2.2 Nội dung nghiên cứu
* Nội dung 1: Nghiên cứu một số chỉ tiêu về tầm vóc – thể lực của học sinh
từ 12 -15 tuổi thuộc Thị xã Phú Thọ như: cân nặng trung bình, chiều cao đứng trung bình, vòng ngực hít vào gắng sức, vòng ngực trung bình, vòng cánh tay phải lúc co, vòng đùi phải,…
* Nội dung 2: Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh lý tuần hoàn của học sinh lứa tuổi THCS (từ 12 - 15 tuổi)
* Nội dung 3: Nghiên cứu một số chỉ tiêu về trí nhớ của học sinh từ 12 -15 tuổi thuộc Thị xã Phú Thọ như: trí nhớ ngắn hạn thị giác, trí nhớ ngắn hạn thính giác
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu cơ sở lí thuyết của đề tài, các công trình nghiên cứu có liên quan tới lĩnh vực đề tài
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra nhân trắc thu thập các thông tin các nhân của đối tượng nghiên cứu
Trang 372.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số
- Chiều cao được đo ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm (chẩm, lưng, bụng, gút) nằm trên một đường thẳng Tư thế đứng thẳng được xác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân Đo bằng thước dây không co dãn có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học – Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất
- Cân nặng được xác định bằng cân đồng hồ có vạch chia đến 0,1 kg Khi đo đối tượng chỉ mặc quần áo mỏng, không mang dày, dép và đặc biệt phải đứng yên (không cử động) ở giữa bàn cân
- Vòng ngực trung bình được đo ở tư thế thẳng đứng, đo bằng thước dây quấn quanh ngực qua mũi ức, dưới núm vú sao cho mặt phẳng của thước dây tạo ra song song với mặt đất Đo bằng thước dây không co dãn có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học – Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất Khi đo, học sinh chỉ mặc áo mỏng
- Chỉ số pignet được tính theo công thức sau:
Pignet = Chiều cao (cm) – [Cân nặng (kg) + VNTB(cm)]
Chỉ số pignet được đánh giá dựa theo thang phân loại của Nguyễn Quang Quyền và Đỗ Như Cương
- Chỉ số BMI được tính theo công thức sau:
BMI = Cân nặng (kg) / [Chiều cao đứng (m) 2
- Phương pháp đo huyết áp động mạch: đo huyết áp động mạch bằng phương pháp Korotkov Dùng huyết áp kế đồng hồ, đo ở tay trái, đối tượng ở
Trang 38tư thế nằm thoải mái Quấn bao cao su quanh cách tay đối tượng, chặt vừa phải và đặt ống nghe ở động mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để nghe mạch đập và đặt đồng hồ trước mặt Vặn chặt ống ở bóp cao su, rồi bơm
từ từ cho đến khi không nghe thấy tiếng mạch đập và kim đồng hồ của huyết
áp kế chỉ vào số 140 -150 mmHg Sau đó, mở nhẹ ống cho hơi ra từ từ và vừa nghe Trị số trên đồng hồ lúc nghe thấy tiếng mạch đập thì đo lại và lấy trị số huyết áp tâm thu và bắt đầu không nghe thấy tiếng mạch đập nữa chỉ huyết áp tâm trương Trong trường hợp kim đồng hồ hạ dần tới 0 mmHg mà vẫn còn nghe tiếng mạch đập thì đo lại và lấy trị số huyết áp tâm trương ngang mức khi nghe tiếng đập thay đổi âm sắc Đo 2 lần rồi lấy trung bình cộng (mmHg)
- Sinh lí dậy thì: tuổi dậy thì đầu tiên ở nam và nữ, chu kì kinh nguyệt,
số này chảy máu trong chu kì kinh nguyệt thu được thông qua phiếu điều tra
Tiến hành đo đạc, các chỉ số thu được sẽ được ghi vào phiếu điều tra
- Dùng phương pháp Nechaiev để xác định trí nhớ Nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn thị giác và trí nhớ ngắn hạn thính giác
- Nghiên cứu chỉ số trí nhớ ngắn hạn thị giác bằng cách: Tạo một bảng
có 12 số, mỗi số có hai chữ số Hai chữ số này không chẵn chục, không giống nhau, các số không theo quy luật Cho HS 30 giây để ghi nhớ lại, không được ghi chép lại trong khi quan sát Sau đó HS có 30 giây để viết các số đó ra giấy, không cần theo thứ tự HS làm bài độc lập
- Nghiên cứu chỉ số trí nhớ ngắn hạn thính giác cũng bằng phương pháp Nechaiev nhưng thay cho việc học sinh nhìn bảng, đọc to, rõ ràng 12 số khác 3 lần Cho học sinh 30 giây để ghi lại Mỗi chữ số ghi đúng học sinh được một điểm
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu
2.3.3.1 Phương pháp tính tuổi
Tuổi của đối tượng nghiên cứu được tính như sau:
Số năm tuổi = số năm 6 tháng
Trang 39Ví dụ: học sinh 12 tuổi: từ 11 năm 6 tháng 1 ngày đến 12 năm 6 tháng
13 tuổi: từ 12 năm 6 tháng 1 ngày đến 13 năm 6 tháng
+ Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng để chấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng
+ Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu
+ Giá trị trung bình:
n
i 1
XiX
Xi – giá trị thứ i của đại lượng X
n – số mẫu nghiên cứu
+ Độ lệch chuẩn SD =
n
2 i
Trang 40X - Giá trị trung bình
i
X : Giá trị thứ i của đại lượng X
n – Số cá thể ở mẫu nghiên cứu
Sự sai khác của hai giá trị trung bình của hai mẫu nghiên cứu khác nhau ở mức ý nghĩa ∝ và được kiểm định bằng hàm “T-test” theo phương pháp Student – Fisher:
2 2
y x
X YZ
SDSD