nay các nhà khoa học đã xác định được rất nhiều loài ký sinh trùng ký sinh và gây bệnh cho chó như giun đũa, giun tóc, giun móc và sán dây, làm cho chó suy dinh dưỡng, dễ mắc các bệnh kế
Trang 1NGUYỄN VĂN TRƯỜNG
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH GIUN MÓC Ở CHÓ TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ"
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Hệ chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2NGUYỄN VĂN TRƯỜNG
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH GIUN MÓC Ở CHÓ TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ"
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Hệ chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Giảng viên hướng dẫn : ThS Dương Thị Hồng Duyên
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà Trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, em đã thực hiện đề tài tốt nghiệp tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên Đến nay, em đã hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp và khóa luận của mình
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, tập thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y - Trường đại học Nông Lâm đã tận tình giảng dạy, dìu dắt em trong suốt quá trình học tập và đợt thực tập tốt nghiệp này
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn tới cô giáo Ths Dương Thị Hồng Duyên
đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin cảm ơn trạm Thú y huyện Đồng Hỷ, các phòng ban liên quan và các hộ gia đình thuộc huyện Đồng Hỷ đã tạo điều kiện để em hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này
Nhân đây, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân, bạn
bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên em trong suốt đợt thực tập và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Trường
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Thành phần loài giun móc của chó nuôi ở huyện Đồng Hỷ 25
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó (qua xét nghiệm phân) 27
Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun móc ở nuôi chó tại Đồng Hỷ 29
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm giun móc ở một số loại chó nuôi tại Đồng Hỷ 30
Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm giun móc theo tuổi của chó nuôi ở Đồng Hỷ 32
Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó theo tháng 33
Bảng 4.7 Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị bệnh giun móc 35
Bảng 4.8 Bệnh ở cơ quan tiêu hoá chó bị bệnh giun móc 36
Bảng 4.9 Hiệu lực của một số loại thuốc tẩy giun móc cho chó 37
Bảng 4.10 Độ an toàn của một số thuốc tẩy giun móc cho chó 38
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó (qua xét nghiệm phân) 28 Hình 4.2 Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó nuôi tại Đồng Hỷ (qua mổ khám) 30 Hình 4.3 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm giun móc ở một số loại chó nuôi tại huyện
Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 31 Hình 4.4 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm giun móc theo tuổi của chó nuôi tại huyện
Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 33 Hình 4.5 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó theo tháng nuôi tại huyện
Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 34
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Acylostoma spp : loài Ancylostoma
A caninum : Ancylostoma caninum
A braziliense : Ancylostoma braziliense
T canis : Toxocara canis
T leonina : Toxocara leonina
T vulpis : Trichocephalus vulpis
S lupi : Spirocerca lupi
U stenocephala : Uncinaria stenocephala
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa thực tiễn 3
1.3.2 Ý nghĩa khoa học 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật học 4
2.1.2 Đặc điểm sinh học của giun móc ký sinh ở chó 5
2.1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo 5
2.1.2.2 Đặc điểm vòng đời sinh học 6
2.1.3 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó 8
2.1.3.1 Động vật cảm nhiễm 10
2.1.3.2 Tuổi cảm nhiễm 10
2.1.3.3 Mùa vụ 11
2.1.4 Cơ chế sinh bệnh 11
2.1.5 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun móc chó 11
2.1.5.1 Biểu hiện lâm sàng 11
Trang 82.1.5.2 Bệnh tích 12
2.1.6 Phòng trị bệnh giun móc đường tiêu hoá chó 12
2.1.6.1 Điều trị bệnh 13
2.1.6.2 Phòng bệnh 15
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 19
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 21
3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh giun móc ở chó 21
3.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun móc ở chó chó 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 21
3.4.2 Phương pháp mổ khám 21
3.4.3 Phương pháp kiểm tra mẫu 22
3.3.4 Phương pháp định loài giun móc 22
3.4.5 Phương pháp xác định hiệu lực của một số loại thuốc tẩy giun móc 22
3.4.6 Quy định một số yếu tố dịch tễ liên quan 23
3.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 23
Trang 9Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 25
4.1.1 Thành phần loài giun giun móc của chó nuôi ở huyện Đồng Hỷ 25
4.1.2 Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó tại một số địa phương (qua xét nghiệm phân) 27 4.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun móc ở chó nuôi tại Đồng Hỷ (qua mổ khám) 29 4.1.4 Tỷ lệ nhiễm giun móc theo từng loại chó nuôi ở Đồng Hỷ 30
4.1.5 Tỷ lệ nhiễm giun móc theo tuổi của chó ở Đồng Hỷ 32
4.1.6 Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó theo tháng 33
4.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của chó bị bệnh giun móc 35
4.2.1 Tỷ lệ và những biếu hiện lâm sàng của chó bị bệnh giun móc 35
4.2.2 Tỷ lệ và bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa chó bị bệnh giun móc 36
4.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun móc cho chó 37
4.3.1 Kết quả thử nghiệm các loại thuốc tẩy giun móc cho chó 37
4.3.2 Độ an toàn của một số thuốc điều trị bệnh giun móc cho chó 38
4.3.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh giun móc ở chó 39
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận và đề nghị 40
5.1.1 Kết luận 40
5.1.2 Tồn tại 41
5.1.3 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10vụ những mục đích kinh tế khác nhau
Chó được nuôi ngày một nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó ngày càng lớn, không những gây thiệt hại cho chó nuôi mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người Ngoài những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại cho chó như các bệnh dại, Carê, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus…, bệnh do ký sinh trùng cũng gây nhiều thiệt hại cho chó Khí hậu nóng ẩm ở nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh ký sinh trùng phát triển
Theo Vũ Triệu An và Jean Claude Homberg (1977) [1], bệnh ký sinh trùng xảy ra ở gia súc, gia cầm rất phổ biến, đã và đang gây ra nhiều tử vong hơn bất cứ dạng nhiễm trùng nào khác, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và các nước đang phát triển
Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới, gió mùa (Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc, 1993 [28]), người và động vật luôn tự nhiễm ký sinh trùng với số lượng nhiều và cường độ nhiễm cao (Trịnh Văn Thịnh, 1977 [22]) Cho tới
Trang 11nay các nhà khoa học đã xác định được rất nhiều loài ký sinh trùng ký sinh và gây bệnh cho chó như giun đũa, giun tóc, giun móc và sán dây, làm cho chó suy dinh dưỡng, dễ mắc các bệnh kế phát gây nhiều thiệt hại cho sức khỏe và
sự phát triển của đàn chó Theo Sally Gardiner (2006) [41] một giun móc
(Ancylostoma caninum) trưởng thành có thể hút 0,8 ml máu/ ngày, nếu một
chó có khoảng 100 giun móc ký sinh sẽ mất khoảng 80 ml máu/ ngày và nếu nhiễm nặng mỗi ngày sẽ mất 25% lượng máu của cơ thể
Ớ nước ta hiện nay, việc nuôi và phát triển đàn chó vẫn còn theo tập quán cũ, chó được nuôi thả tự do, thức ăn mang tính tận dụng nên tình
trạng chó nhiễm các loài ký sinh trùng là rất phổ biến, đặc biệt là A
caninum có tỷ lệ nhiễm cao nhất: (75,87%) (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn
Thịnh, 1978 [21])
Để có cơ sở khoa học đề ra những biện pháp phòng trừ bệnh giun móc cho chó có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương, nhằm hạn chế tác hại do các bệnh giun, sán ký sinh ở chó thì nghiên cứu về thành phần loài, tình trạng nhiễm các loài giun, sán nói chung, các loài giun tròn đường tiêu hoá nói riêng ở chó là cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, em tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun móc ở chó tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị"
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định thành phần loài giun móc ký sinh ở đường tiêu hoá của chó nuôi tại huyện Đồng Hỷ
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của chó bị bệnh giun móc
- Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc tẩy giun móc cho chó
Trang 121.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của một
số loài giun móc ký sinh trên chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác
- Khuyến cáo loại thuốc tẩy giun móc cho chó với hiệu quả đạt trên 90%
1.3.2 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và bệnh học của bệnh giun móc nói riêng và giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá của chó nói chung trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật học
Vị trí của giun móc trong hệ thống phân loại động vật:
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [29]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] thì vị trí của giun móc trong hệ thống phân hoại động vật như sau:
Loài Ancylostoma caninum Ercolani, 1859 Loài Ancylostoma braziliense Faria, 1910 Giống Uncinaria Froelich, 1789
Loài Uncinaria stenocephal, Railliet, 1884
Giun móc ký sinh ở ruột non của chó, mèo, đôi khi thấy ở người Giun móc có chu kỳ đơn giản, ấu trùng phát triển không qua ký chủ trung gian nên
có nhiều phương thức truyền bệnh (qua da, qua đường miệng, truyền từ mẹ sang con) Ấu trùng trong quá trình di hành sẽ gây tổn thương ở các cơ quan như da, phổi, niêm mạc ruột, mạch máu Giun trưởng thành hút máu gây tổn thương niêm mạc ruột và mạch máu Giun còn tiết độc tố phá vỡ hồng cầu, làm máu chậm đông… (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978) [21]
Lịch sử phát hiện giun móc: Được phát hiện lần đầu tiên bởi Froelich khi
nghiên cứu giống Uncinaria ở ruột non của cáo và tác giả đặt tên là “giun móc”
Trang 14do đặc điểm của nó Sau đó, năm 1838, bác sĩ Angelo Dubini người Ý, đã phát
hiện loài Ancylostoma duodenale(A duodenale) thuộc họ Ancylostomidae ở
ruột non của một tử thi là phụ nữ Năm 1884, Railliet đã tiến hành phân loại và
tìm thấy loài giun tròn Uncinaria stenocephala (U stenocephala) gây bệnh
Ancylostomiosis Năm 1948, Petrov xác định được vòng phát triển và đường
xâm nhập của ấu trùng vào cơ thể vật chủ là xuyên qua da ký chủ, hoặc qua đường tiêu hóa (dẫn theo Phan Thế Việt và cs, 1977) [29]
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Houdemer (1938) [38], Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [21], Phan Thế Việt và cs, (1977)
[29] thì: Ancylostomiosis là một bệnh phức hợp, có sự tham gia tấn công của nhiều loài giun tròn khác nhau, bao gồm cả Ancylostoma caninum (A
caninum), Ancylostoma braziliense (A braziliense) và U stenocephala
2.1.2 Đặc điểm sinh học của giun móc ký sinh ở chó
2.1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17]; Nguyễn Văn Đề và cs (2009) [3] cho biết,
ở chó thường có 3 loài giun móc ký sinh và gây bệnh sau:
- Loài Ancylostoma caninum: giun nhỏ, màu hồng nhạt hoặc vàng nhạt,
đoạn trước cong về phía lưng, túi miệng rất sâu, ở rìa mép phía dưới mặt bụng
có 3 đôi răng lớn, cong hình lưỡi câu, đáy túi miệng có một đôi răng hình tam giác Giun đực dài 9 - 12 mm, túi đuôi phát triển, có gai giao hợp mảnh dài 0,75 - 0,87 mm, đoạn cuối nhọn Bánh lái gai giao hợp hơi mập, gốc có vành rộng, mút đuôi nhọn Con cái dài 10 - 21 mm, âm hộ ở đoạn 1/3 nửa thân sau Đuôi có gai nhọn, trứng giun hình ô van, dài 0,06 - 0,066 mm, rộng 0,037 - 0,042 mm Khi vừa theo phân ra ngoài trứng có 8 tế bào
- Loài Ancylostoma braziliense: loài này có kích thước nhỏ hơn loài trên
Giun đực dài 6 - 7,75 mm, đầu hơi cong về phía mặt bụng, túi đuôi phát triển, hai gai giao hợp bằng nhau, dài 1,05 - 1,3 mm Giun cái dài 7 - 10 mm,
Trang 15hai rìa mép bụng đều có 3 đôi răng, một đôi to và hai đôi nhỏ, lỗ sinh dục hơi lồi Trứng hình ô van, dài 0,075 - 0,095mm, rộng 0,041 - 0,045 mm
-Loài Uncinari stenocephala: màu vàng nhạt, hai đàu hơi nhọn Túi
miệng rất lớn, mặt bụng của túi miệng có 2 đôi răng hình bán nguyệt xếp đối xứng nhau Giun đực dài 6 - 11 mm, rộng 0,28 - 0,34 mm, có túi đôi phát triển, hai gai giao hợp bằng nhau 0,65 - 0,75 mm, đầu mút gai rất nhọn Giun cái dài 9 - 16 mm, chỗ rộng nhất là 0,28 - 0,37 mm, lỗ sinh dục ở 1/3 phía trước cơ thể Trứng giun hình bầu dục, có kích thước 0,078 - 0,083 mm x
0,052 - 0,059 mm
Theo Nguyễn Kim Lan (2012) [13], loài Ancylostoma caninum là loài
giun móc phổ biến ký sinh và gây ra bệnh cho chó
2.1.2.2 Đặc điểm vòng đời sinh học
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [26], Phan Thế Việt và cs (1977) [29], Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [15]: toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên cho đến khi có khả năng sinh sản mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó gọi là chu kỳ
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13], cho biết: sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài Gặp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, sau một tuần trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng qua hai lần lột xác thành ấu trùng gây nhiễm (có màng bao bọc bên ngoài) dài 0,59 - 0,69 mm, ruột có 30
- 40 tế bào Ấu trùng có khả năng di chuyển mạnh, chúng bò lên cỏ, nền chuồng hoặc tường Ấu trùng gây nhiễm vào chó qua hai con đường:
-Qua da (là chủ yếu): sau khi chui vào da, ấu trùng theo máu về tim, phổi Phần lớn di hành giống giun đũa, chui vào tế bào, theo niêm dịch qua khí quản, tới hầu rồi về ruột Một số ấu trùng theo máu di hành đến các cơ quan gây nên những điểm xuất huyết sau đó ấu trùng chết đi
Trang 16Trong khi di hành, ấu trùng có thể từ mẹ truyền sang bào thai làm cho con non bị nhiễm trước khi được đẻ ra
-Qua đường tiêu hóa: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa ký chủ Ở đường tiêu hóa, ấu trùng chui vào thành ruột và thành dạ dày, ở đó vài ngày rồi về xoang ruột, bám vào niệm mạc ruột, hút máu và phát triển thành giun trưởng thành
2 lần
Qua da → Máu → Tim → phổi,
theo niêm dịch → hầu → ruột Ấu trùng kỳ 3 (có sức gây bệnh) Qua đường tiêu hóa
Thời gian giun móc A caninum xâm nhập vào cơ thể chó cho đến khi
phát triển thành giun trưởng thành, có khả năng đẻ trứng là 15 - 19 ngày, trung bình là 17,4 ngày Lê Hữu Khương và Lương Văn Huấn (1998) [10] cho biết, thời gian phát triển từ ấu trùng gây nhiễm đến giun trưởng thành trong cơ thể chó khi gây nhiễm qua đường tiêu hóa là 16 - 20 ngày
+ Ký chủ, nơi ký sinh:
Những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như Trịnh Văn Thịnh (1966) [20], Đỗ Hài (1972) [5], Phạm Sỹ Lăng, (1990) [14], Phạm Sỹ Lăng và cs, (1993) [15], Bowman (1999) [33], OIE (2005) [36], đều xác nhận:
vật chủ của A caninum là chó, mèo rừng, hổ, sư tử, báo Loài A braziliense
thường ký sinh ở ruột non của chó và mèo, giun trưởng thành sống khoảng
chừng 4 đến 8 tháng trong cơ thể chó Loài U stenocephala có vật chủ là chó
Trang 17và mèo, chúng thường ký sinh ở ruột non, tập trung chủ yếu ở đoạn tá tràng Giun móc trưởng thành sống ở ruột non của chó, tập trung ở tá tràng, không tràng, kết tràng và đẻ trứng tại đó, dạng ấu trùng có thể nằm im không hoạt động trong các tổ chức cơ, đặc biệt là dưới da khi chúng xâm nhập vào người Nếu vật chủ cuối cùng nhiễm phải dạng ấu trùng này thì chúng có thể được giải
phóng và phát triển tới dạng trưởng thành Sự phát triển của A caninum trong
ruột chó đến giai đoạn trưởng thành kéo dài 14 - 16 ngày Các nghiên cứu của (OIE, 2005) [36] đã xác nhận: thời gian sống của giun móc trong cơ thể chó từ
8 - 20 tháng Nguyễn Phước Tương (2000) [25] cho biết, người cũng có thể nhiễm giun móc chó A caninum, chu kỳ phát triển của giun móc ở người tương
tự như ở chó, mèo Ấu trùng L3 có khả năng xuyên qua lớp da mỏng mịn giữa ngón chân, da bụng để gây nhiễm cho người đôi khi người bị bệnh là do ăn phải ấu trùng L3 có trong thức ăn thực vật, trong nước nấu chưa chín
2.1.3 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó
Giun móc Ancylostoma caninum được phát hiện lần đầu tiên vào năm
1859 Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non của vật chủ chính là chó, mèo, hổ Loài giun này phân bố ở khắp nơi trên thế giới và cũng rất phổ biến tại Việt Nam Giun trưởng thành có miệng rộng với 3 đôi răng khỏe, có thể ngoạm vào thành ruột Trứng giun và ấu trùng giun giống như các loại giun móc khác
Nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới, nhiều tác giả đã cho biết: A
caninum và U stenocephala phân bố ở nhiều nơi trên thế giới Trong đó A caninum phổ biến ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới như: Anh, Mỹ,
Hungary, Tây Ban Nha, Mexico, Iran, Neiria, Việt Nam (Lapage 1968) [34]; Eva Fok và cs (1988) [37], Phan Thế Việt và cs (1977) [29], OIE (2005) [36], Landmann J K (2003) [39], Nguyễn Phước Tương, (2000) [25] Loài A
braziliese cũng được phát hiện thấy ở khắp nơi trên thế giới, như: Trung Mỹ,
Trang 18Nam Mỹ, một số vùng đông Nam Á như Malayxia, Philipin, Nhật Bản, Ấn Độ,
Tây Phi Loài U stenocephala thích hợp với vùng khí hậu lạnh hơn, như
Canada, Bắc Mỹ và ở Châu Âu Vùng ôn đới chó cũng có thể mắc bệnh nhưng
tỷ lệ nhiễm thấp hơn Nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, bệnh giun móc của chó phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước, tác giả người Pháp Houdemer
(1938) [38] đã phát hiện loài A braziliense, A caninum ký sinh trên chó ở Sài
Gòn, Huế Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả: Đỗ Hài (1972) [5], Phạm Sỹ Lăng (1990) [14], Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1993) [9], Ngô Huyền Thuý (1996) [27] cho biết, đã tìm thấy giun móc chó ở một số tỉnh thuộc Bắc bộ Trần Xuân Mai (1992) [19], Lê Hữu Khương và Lương Văn Huấn (1998) [10] tìm thấy giun móc chó ở các tỉnh phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh
Giun móc Ancylostoma braziliense được phát hiện lần đầu tiên vào năm
1910 Đây là loại giun móc nhỏ nhất, cũng ký sinh ở ruột non của vật chủ chính là chó, mèo, mèo rừng, hổ, báo, cầy giông Loại giun móc này cũng phân bố ở nhiều nơi trên thế giới như Nhật Bản, Ấn Độ, Malaysia, Tây Phi,
Mỹ La Tinh Ở Việt Nam, theo một số nhà khoa học chúng hiện diện phổ biến ở nhiều nơi Giun trưởng thành có miệng nhỏ với 2 đôi răng lớn ở phía ngoài, đôi răng nhỏ ở phía trong Trứng giun và ấu trùng giun của loại giun móc này rất giống với các loại giun móc khác nên khó phân biệt
Bệnh giun móc rất phổ biến ở loài ăn thịt Đỗ Hài (1972) [5] nghiên cứu
và thấy: chó săn 1 - 5 tháng tuổi ở nước ta nhiễm giun móc A caninum tới
83,3 % Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng (1990) [14], tỷ lệ nhiễm
giun móc A caninum ở chó là 72 % Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], bệnh do A braziliense phổ biến ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, bệnh do A
caninum phổ biến trên toàn quốc, bệnh thấy ở khắp các vùng Phạm Văn
Khuê và cs (1996) [8] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó săn là 75 - 82 %,
Trang 19chó ngoại nhiễm 83 %, chó nội nhiễm 63 %, chó con thường nhiễm tỷ lệ cao
và mắc bệnh nặng hơn chó trưởng thành Theo Hoàng Minh Đức và Nguyễn
Thị Kim Lan (2008) [4], chó ở Hà Nội Nhiễm giun tròn A caninum với tỷ lệ
68 - 71 %, cường độ nhiễm nặng chiếm tới trên 50 % số chó nhiễm
Sức đề kháng của trứng: nhiệt độ thích hợp để trứng phát triển là 25 -
300C, dưới 220C trứng phát triển chậm, 12 - 170C trứng ngừng phát triển, ở
00C trứng và ấu trùng đều chết Ở 370C trứng phát triển nhanh nhưng một số trứng bị chết, ở 400C toàn bộ trứng chết rất nhanh Tuy nhiên ấu trùng được phát hiện thấy thường xuyên, chúng có thể sống vài tuần trong đất ẩm, mát nhưng chết nhanh trong băng giá, hoặc trong điều kiện nóng hoặc khô
Theo Landmann J K và cs (2003) [39], trứng giun móc theo phân ra ngoài phát triển thành ấu trùng L1,ấu trùng L1 qua 2 lần lột xác sẽ phát triển thành ấu trùng L3 có sức gây nhiễm và hoạt động mạnh
Phạm vi hoạt động của ấu trùng giun móc tương đối hẹp, chủ yếu ở xung quanh đống phân, do đó chó nuôi nhốt trong chuồng hoặc sân chơi hẹp thường hay bị tái nhiễm giun móc Ấu trùng giun móc có sức gây bệnh sống
và hoạt động thích hợp ở những chỗ ẩm ướt, trong điều kiện thời tiết ấm áp
Giun A caninum trưởng thành có thể đẻ 7000 - 28.000 trứng/ ngày
Trang 20Thịnh và cs (1982) [24] thông báo, chó sơ sinh đến 4 tháng tuổi nhiễm A
caninum là 82%; chó từ 6 - 12 tháng tuổi nhiễm 75%; chó >12 tháng tuổi
nhiễm 74% Chó ngoại nhập nhiễm 83%, chó địa phương nhiễm 63% Ngô Huyền Thuý 1996) [27], cho biết, tình hình nhiễm giun không phụ thuộc vào tính biệt của chó, nhưng lứa tuổi có ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm, chó nhỏ thì tỷ
lệ nhiễm giun móc cao hơn chó trưởng thành
2.1.3.3 Mùa vụ
Tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó cao vào mùa hè, thu, nhất là vào mùa hè
Tỷ lệ nhiễm thấp vào mùa đông, xuân
2.1.4 Cơ chế sinh bệnh
Ấu trùng gây nhiễm chui qua da làm con vật bị tổn thương da, ngứa và viêm da Ấu trùng còn gây ra những tổn thương ở phổi Giun trưởng thành hút mất nhiều máu của ký chủ, răng của giun gây tổn thương niêm mạc ruột
và mạch máu Giun còn tiết độc tố, phá vỡ hồng cầu, làm máu khó đông, số lượng hồng cầu và huyết sắc tố giảm, tỷ lệ bạch cầu ái toan tăng trong công thức bạch cầu
2.1.5 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun móc chó
2.1.5.1 Biểu hiện lâm sàng
Con vật gậy còm, suy nhược, có khi thấy thủy thũng Niêm mạc nhợt nhạt hoặc trắng bệch do thiếu máu Khi nhiễm nặng, con vật bỏ ăn, kiết lỵ và táo bón xen kẽ nhau, trong phân có lẫn máu Chứng thiếu máu nặng làm con vật chuyển dần sang trạng thái suy tim, mạch yếu, dễ chết nếu không được chữa trị kịp thời
Theo Sally Gardiner (2006) [41] một giun móc (Ancylostoma caninum)
trưởng thành có thể hút 0,8 ml máu/ ngày, nếu một chó có khoảng 100 giun móc ký sinh sẽ mất khoảng 80 ml máu/ ngày và nếu nhiễm nặng mỗi ngày sẽ mất 25% lượng máu của cơ thể
Trang 21Biểu hiện lâm sàng ở chó do giun móc gây ra phụ thuộc trực tiếp vào giai đoạn phát triển của giun trong cơ thể ký chủ Ở giai đoạn ấu trùng, giun móc gây các bệnh như viêm da, các tổn thương ở các khí quan như tim, phổi… Ở giai đoạn giun trưởng thành gây tổn thương ở niêm mạc ruột, cùng
với các vi sinh vật đường ruột như E coli gây các bệnh tiêu chảy, viêm ruột…
Giai đoạn này thường có những triệu chứng mạn tính, có từng thời kỳ con vật kiết lỵ, chậm lớn, gầy còm… Giai đoạn ấu trùng là giai đoạn nguy hiểm nhất
vì nó gây ra nhiều tổn thương, đồng thời tiết nhiều độc tố cơ giới tại nhiều cơ quan của cơ thể ký chủ Ở giai đoạn trưởng thành, hầu như là thể mạn tính Tuy nhiên, bệnh do giun móc gây ra xuất hiện ở thể ghép vì có cả ấu trùng và giun trưởng thành cùng ký sinh trong cơ thể ký chủ
2.1.5.2 Bệnh tích
Xác con vật gầy, nhợt nhạt, thấy rõ tình trạng thiếu máu và thủy thũng Trên niêm mạc có xuất huyết, chất chứa ruột có lẫn máu, gan và thận thoái hóa mỡ
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [16], ấu trùng chui qua da chó con ít gây phản ứng, nhưng có phản ứng viêm rõ rệt khi chui qua da chó trưởng thành
2.1.6 Phòng trị bệnh giun móc đường tiêu hoá chó
Muốn điều trị bệnh giun sán có hiệu quả, cần bảo đảm các nguyên tắc cơ bản như chọn lựa thuốc, tập trung thuốc có nồng độ cao; dùng thuốc tẩy kết hợp thuốc điều trị triệu chứng và thuốc trợ sức, trợ lực Xử lý giun sán được tẩy ra và thực hiện các biện pháp vệ sinh sau khi tẩy giun sán; điều trị tẩy giun sán định kỳ theo yêu cầu
Việc chọn lựa thuốc phải bảo đảm loại thuốc được sử dụng có tác dụng hiệu quả đối với nhiều loại giun sán vì ở nước ta tình hình nhiễm nhiều loại giun sán phối hợp chiếm tỷ lệ cao Một cá thể có thể bị nhiễm từ 2 đến 3 loại giun sán khác nhau
Trang 22Khi điều trị, cần tập trung dùng thuốc với nồng độ cao để có tác dụng mạnh đến các loại giun sán Muốn thực hiện được vấn đề này, cần cho con vật uống thuốc vào lúc không đói quá vì dễ gây nên ngộ độc thuốc Phải chọn loại thuốc có độc tính thấp nhưng có hiệu quả cao
Sau khi uống thuốc điều trị giun sán, nên dùng thuốc tẩy cho gia súc để tống nhanh các loại giun sán ra khỏi cơ thể, tránh sự nhiễm độc do độc tố của giun sán bị chết hoặc bị vữa nát, đồng thời phòng ngừa được khả năng giun sán có thể phục hồi sống trở lại Vì vậy khi lựa chọn thuốc điều trị, nên chọn những loại thuốc được bào chế đã có thêm cả thuốc nhuận tràng phối hợp Sau khi tẩy giun sán ra khỏi cơ thể, phải xử lý chúng để tránh gây ô nhiễm môi trường vì trong cơ thể giun sán thường chứa đựng một lượng trứng rất lớn
Ngay sau khi tẩy giun, cần áp dụng các biện pháp vệ sinh thú y, vệ sinh
ăn, uống và vệ sinh môi trường sống để phòng chống sự tái nhiễm Ở nước ta, môi trường ngoại cảnh thường bị ô nhiễm bệnh giun sán và đây là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho sự tái nhiễm giun sán trở lại
Sau đợt điều trị giun sán, nên có kế hoạch điều trị định kỳ 6 tháng một lần để phòng chống tái nhiễm và tránh các biến chứng có thể xảy ra Việc điều trị giun sán định kỳ được xem là một giải pháp bổ sung cho chương trình phòng chống suy dinh dưỡng ở những vùng có bệnh giun sán lưu hành Ở Tanzania, các nhà khoa học đã nghiên cứu và ghi nhận tỷ lệ tăng trọng lượng
cơ thể của nhóm được điều trị giun sán định kỳ lớn hơn 9% so với nhóm đối chứng không được điều trị giun sán
2.1.6.1 Điều trị bệnh
Để sử dụng các loại thuốc tẩy trừ giun tròn đường tiêu hóa của chó nói chung, tẩy trừ giun móc chó nói riêng hiệu quả nhất, cần thiết phải sử dụng những thuốc có hoạt phổ rộng với nhiều loài giun, sán Phạm Sỹ Lăng và cs,
Trang 23(2009) [17] cho biết: từ những năm 80 của thế kỷ 20, các lacton đại phân tử vòng xuất hiện trên thị trường thuốc Thú y và có hiệu quả cao trong thực tiễn phòng chống ký sinh trùng, đặc biệt một số loại thuốc có hoạt phổ rộng như ivermectin, mebendazole, pyrantel…có tác dụng trị cả nội và ngoại ký sinh trùng, thuận tiện cho người dùng và an toàn cho vật nuôi Do đó, các hoá dược này ñược sử dụng rộng rãi trong phòng chống giun tròn Tuy nhiên, các tác giả Chu Thị Thơm và cs (2006) [26] lưu ý: việc lựa chọn các loại thuốc phù hợp và có tác dụng tốt phải dựa trên các tiêu chuẩn, có hiệu quả cao, an toàn đối với vật nuôi, giá thành hợp lý
Theo Stephen và cs (1996) [42] thì có nhiều loại thuốc tẩy trừ có hiệu lực cao để điều trị giun đũa Loại thuốc được sử dụng rộng rãi nhất là pyrantel, fenbendazole, piperazin, mebendazole Ở Việt Nam, theo Trịnh Văn Thịnh, (1966) [20] muốn tẩy giun, sán có hiệu quả cần phải chú ý nhiều khâu, ñặc biệt là khâu chọn thuốc tẩy trừ Những thuốc tẩy trừ giun, sán cho hiệu quả cao là những thuốc phải đặc hiệu cho từng loài giun, sán, tốt nhất là thuốc ñặc hiệu với nhiều loài, có hoạt phổ rộng, nhưng giá thành phải hợp lý mới có thể sử dụng rộng rãi được
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [12], việc dùng thuốc tẩy giun phải đạt những yêu cầu sau:
Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy ký sinh trùng cho vật nuôi Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không
bị nhiễm giun, tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Phải dùng thuốc tẩy giun từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun
Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và
dễ dùng nhất
Trang 24Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho vật nuôi vào lại
Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như:
Levamisol: là thuốc có phổ tác dụng rộng trên nhiều loài vật chủ (chó,
dê, cừu, lợn, gà ) Ưu điểm của thuốc chủ yếu là có tác dụng tốt để điều trị các bệnh ở đường tiêu hóa, nó có thể ở dạng viên, cho uống hay bổ sung và thức ăn hoặc dùng để tiêm dưới da Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng thành Hiệu lực đạt từ 90 - 100% Liều 6 - 7 mg/ kg TT, cho uống Nên cho chó ăn nhẹ sau 20 phút mới cho chó uống thuốc để phòng phản ứng với thuốc
Albendazol: liều 20 mg/ kg TT, cho uống thuốc có tác dụng tẩy giun
móc A caninum đạt 93,33% (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008) [12]
Mebendazole: Thuốc có tác dụng rộng diệt cả ấu trùng và giun trưởng thành thông qua ức chế sự hấp thu glucoza, glucozen, giảm ATP và gây tê liệt các hệ cơ của ký sinh trùng và từ đó chúng bị tống ra ngoài
Trong 100 gam bột chứa (10 gam Mebendazol) tá dược và chất bảo quản vừa đủ 100 gam Liều dùng cho chó là 3 mg/10 kg thể trọng (Nguyễn Hữu Hưng và Cao Thanh Bình, 2009) [7]
2.1.6.2 Phòng bệnh
Hagsten (2000) [31] cho rằng: Thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ chu kỳ (vòng đời) phát triển của giun sán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng chống các bệnh giun sán nói chung và bệnh giun móc nói riêng
Theo Skrjabin K I và Petrov A M (1977) [30], muốn thanh toán bệnh giun sán phải phòng bệnh có tính chất chủ động Dùng tất cả các phương pháp
Trang 25vật lý (ánh sáng, nhiệt độ…), cơ giới, hóa học, sinh vật học, để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh, ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun trưởng thành)
Theo phương pháp ủ nóng sinh vật học (nhiệt sinh vật) mà Sở nghiên cứu giun, sán Liên Xô (cũ) đề xuất có khả năng tiêu độc phân gia súc Phân gia súc được chất thành đống nhỏ có dung tích 1 m3, làm tơi xốp để không khí lưu thông trong đống phân Sau 3 - 7 ngày, nhiệt độ trong đống phân đạt tới
55 - 70 0C, phần lớn vi sinh vật, trứng, ấu trùng giun, sán trong đống phân bị chết (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh, 1966) [20] Khi khảo sát tình trạng nhiễm giun tròn đường tiêu hoá của đàn chó tại vườn thú Thủ Lệ, Phạm Sỹ Lăng và
cs (1993) [15] đã đề xuất biện pháp phòng bệnh giun tròn đường tiêu hoá cho chó như sau: định kỳ tẩy giun cho chó bằng các loại hoá dược: cứ 3 - 4 tháng tẩy 1 lần Thực hiện đầy đủ vệ sinh thú y trong ăn uống và môi trường nuôi chó cảnh để tránh lây nhiễm Thu dọn phân chó chậm nhất là 8 giờ sau khi phân được bài tiết ra môi trường ngoài Tẩy trùng chuồng trại theo định kỳ Dùng hoá dược thông thường để tẩy dự phòng theo các lứa tuổi của chó Đối với chó con: tẩy lần 1 lúc chó 14 - 24 ngày tuổi, tẩy lần 2 lúc chó 30 ngày tuổi, tẩy lần 3 lúc chó 60 ngày tuổi Đối với chó trưởng thành, cứ 3 - 4 tháng tẩy 1 lần đối với chó nuôi trong gia đình: cho chó ăn thức ăn, nước uống sạch Huấn luyện chó đi vệ sinh đúng chỗ, thu dọn phân chó càng sớm càng tốt Không thả rông, hạn chế sự tiếp xúc với chó khác, nhằm tránh tiếp xúc với phân của những chó bị bệnh giun móc
Biện pháp hữu hiệu để phòng trừ bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ tổng hợp, nghĩa là những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả giai đoạn phát triển, ở môi trường cũng như trong cơ thể ký chủ (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [18]
Trang 26Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9], biện pháp phòng trừ tổng hợp đối với các bệnh giun tròn nói chung là:
-Diệt căn bệnh trong cơ thể chó: Định kỳ tẩy giun cho chó
-Diệt căn bệnh bên ngoài: trứng giun khuếch tán ra bên ngoài là nguyên
nhân chủ yếu làm căn bệnh lan tràn, cần thực hiện các biện pháp:
+ Có thể diệt trứng giun bằng các biện pháp lý hóa Các loại thuốc hóa
học diệt trứng giun có hiệc quả như: Creolin, axit cacbonic kiềm tính,…
+ Vệ sinh môi trường, chuồng nuôi, quản lý và xử lý chặt chẽ nguồn phân có nhiễm ấu trùng giun móc
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11] cho biết: phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp, nhưng đều nhằm mục đích không cho mầm bệnh phát triển và thực hiện tốt các giai đoạn trong vòng đời của nó, để nó không thể tạo ra ký sinh trùng trưởng thành mới được Các phương pháp tấn công ký sinh trùng ở từng giai đoạn như sau:
-Giai đoạn thứ nhất: Ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký chủ cuối
cùng Có thể tiêu diệt bằng 2 phương pháp: Dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh
trùng hoặc diệt ký sinh trùng bằng cách diệt tất cả những vật mắc bệnh
-Giai đoạn thứ hai: tiêu diệt trứng bằng cách thu nhặt hết phân của gia
súc mắc bệnh, trôn hoặc ủ phân để tiêu diệt trứng
-Giai đoạn thứ ba và thứ tư: Diệt ấu trùng ngoài thiên nhiên bằng 2
cách: diệt ấu trùng bằng các thuốc hóa học như axit cacbonic kiềm tính…
hoặc không cho ấu trùng xâm nhập vào cơ thể ký chủ
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về ký sinh trùng và bệnh
ký sinh trùng ở chó nói chung, giun tròn và bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa của chó nói riêng đã được một số tác giả nghiên cứu như Trịnh Văn Thịnh
Trang 27(1977) [22], Đỗ Hài (1972) [5], Phạm Sỹ Lăng (1990) [14] và gần đây là Lê Hữu Khương và Lương Văn Huấn (1998) [10], Ngô Huyền Thúy (1996) [27], Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [4]…
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], bệnh do A braziliense phổ biến
ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, bệnh do A caninum phổ biến trên toàn quốc,
bệnh thấy ở khắp các vùng Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó săn là 75 - 82%, chó ngoại là 83%, chó nội
là 63%
Đỗ Hài (1972) [5] cho biết, tỷ lệ nhiễm A caninum ở chó một số khu
vực phía bắc là 83,3% Ở chó mẹ nuôi con, tỷ lệ nhiễm giun móc là 100%, chó mang giun móc suốt đời cho đến khi già và chết
Theo nhiều nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng (1990) [14], Phạm Sỹ Lăng
và cs (1993) [15] thì chó cảnh và chó nghiệp vụ nuôi tại hộ gia đình và các cơ
sở tập trung có tỷ lệ nhiễm giun móc tới 74,8%
Theo nghiên cứu của Ngô Huyền Thúy (1996) [27] những chó nuôi ở
khu vực thành phố Hà Nội thì tỷ lệ nhiễm A caninum là 81,65%
Nguyễn Hữu Hưng và Cao Thanh Bình (2009) [7] đã phát hiện 5 loài giun tròn đường tiêu hóa chó tại thành phố Cần Thơ, trong đó có giun móc Chó bị nhiễm giun móc ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên theo nghiên cứu của
Đỗ Hài (1972) [5], Phạm Sỹ Lăng (1990,1993) [14], [15] Thì chó từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm ở tỷ lệ cao và chết nhiều
Trịnh Văn Thịnh và cs (1977) [22], Phạm Văn Khuê và cs (1993) [8]
thông báo, tỷ lệ nhiễm A caninum ở chó săn dao động từ 75% - 82% tùy theo
lứa tuổi và giống chó, chó non nhiễm giun nặng hơn chó trưởng thành
Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978) [21] cho biết, chó sơ sinh đến
4 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm A caninum là 82%; chó từ 6 - 12 tháng tuổi nhiễm
75%; chó >12 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 74% Ngô Huyền Thúy (1996) [27] cho biết, tình hình nhiễm giun móc không phụ thuộc vào tính biệt của chó