Mặc dù sự tàn phá hệ sinh thái đã xảy ra triền miên trong cả thập kỷ qua do nhiều tác động, nhưng may thay vẫn còn những quần hợp thực vật sót lại, như một minh chứng khoa học và thực ti
Trang 1ĐẶNG THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LOÀI CÂY CHỊU HẠN TRÊN ĐẤT CÁT
VEN BIỂN TẠI XÃ XUÂN HÒA, THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta có bờ biển dài 3.260 km kéo dài từ Bắc xuống Nam, trong đó
có hơn 500.000 ha đất cát ven biển và rất nhiều cồn cát di động Phần đất này
có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt là chức năng phòng hộ môi trường vùng ven biển Tuy nhiên, đây là loại đất rất dễ bị thoái hóa, thảm thực vật tự nhiên trên cát luôn bị mất dần vì khí hậu khô hạn
và khắc nghiệt Hiện nay, vùng cát ven biển luôn được sự quan tâm và tạo điều kiện của nhiều ngành để nghiên cứu, đánh giá về giá trị khoa học, kinh
tế, xã hội và môi trường để có những chiến lược lâu dài cho việc bảo tồn và định hướng phát triển
Thị xã Sông Cầu thuộc tỉnh Phú Yên có diện tích vùng cát lớn nhất, so với các huyện, thị trong tỉnh Vùng đất cát này có sinh thái khắc nghiệt và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu, thời tiết Hàng năm vào mùa khô nguồn nước ngầm có lưu lượng nhỏ và mùa mưa phải gánh chịu hậu quả nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc mang hơi mặn Chính vì thế điều kiện sống của các loài thực vật sống trên vùng này rất đặc trưng
Vùng đất cát là nơi sinh sống của cư dân nghèo, luôn chịu áp lực của sóng gió, sạt lở bờ nghiêm trọng hàng năm Nhiều khu dân cư phải di dời do mất đất sống, nhiều bãi du lịch vốn nổi tiếng cũng đã mất đi Thực trạng này ngày càng trầm trọng hơn bởi nguyên nhân lại do chính con người đã hủy hoại các hệ sinh thái ven bờ một cách trực tiếp hay gián tiếp, làm suy thoái đa dạng sinh học, phá vỡ chức năng phòng hộ khiến cho thực trạng ngày càng một xấu đi Trước tình hình biến đổi khí hậu, nhiều dự báo mực nước biển sẽ dâng cao và xâm thực mảnh liệt thì vùng sinh thái và hệ thực vật ven biển thị
xã Sông Cầu càng là điểm nóng cần được quan tâm
Trang 4Mặc dù sự tàn phá hệ sinh thái đã xảy ra triền miên trong cả thập kỷ qua do nhiều tác động, nhưng may thay vẫn còn những quần hợp thực vật sót lại, như một minh chứng khoa học và thực tiễn cho những ai quan tâm đến môi trường và diễn thế sinh thái, đồng thời cũng là một ngân hàng gen thiên nhiên quý giá cung cấp cho chúng ta tiếp tục nghiên cứu và bảo tồn để phát triển hệ sinh thái ven biển theo hướng phòng hộ bền vững
Xuất phát từ thực tế đó thì việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động
của người dân địa phương trong bảo tồn và phát triển một số loài cây chịu hạn trên đất cát ven biển tại xã Xuân Hòa, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên”
là cần thiết, góp phần bổ sung những thông tin làm cơ sở cho việc bảo tồn, khôi phục và phát triển thảm thực vật trên đất cát ven biển tại địa bàn thị xã Sông Cầu theo hướng đa dạng sinh học và tận dụng các loài cây chịu hạn bản địa
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng và quản lý rừng bền vững
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới khái niệm quản lý rừng cộng đồng lần đầu tiên được tổ
chức FAO đưa ra vào năm 1978 trong hội nghị lâm nghiệp thế giới đó là “tất
cả các hoạt động lâm nghiệp mà cộng đồng người dân tham gia, bao gồm những hoạt động nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thu hái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu cầu cuộc sống của người dân và đến việc trồng cây ở các trang trại cây hàng hoá, sản xuất chế biến các sản phẩm lâm nghiệp ở quy
mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nhập cho những cộng đồng sống trong rừng” Tổ chức Fern (2005) lại đưa ra một khái niệm cô đọng và đơn giản
hơn đó là “tiến trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng dựa vào những kiến
thức bản địa, cấu trúc truyền thống, những lễ hội và luật tục của cộng đồng”
Hoạt động quản lý rừng cộng đồng bao gồm cả các hoạt động của cá nhân và cộng đồng liên quan đến rừng, đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Về phương diện khoa học, quản lý rừng cộng đồng chỉ mới được nhận diện vào những năm đầu của thập kỷ 70, khi mà hạn hán ở châu Phi và lũ lụt
ở châu Á đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm một cách nghiêm trọng Nhiên liệu và chất đốt cho các cộng đồng nông thôn trở nên ngày càng khó khăn Chính tại thời điểm này các kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng ở
Ấn Độ (mô hình lâm nghiệp xã hội), Hàn Quốc (mô hình vườn cây cấp bản), Thái Lan (mô hình rừng cấp bản) và ở Tanzania (trồng rừng cấp bản) đã được
Trang 6các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt chú ý và chúng được coi như là một giải pháp nhằm phát triển rừng và giải quyết vấn đề chất đốt ở nông thôn Đến những năm cuối thập kỷ 70 thì khái niệm về quản lý rừng cộng đồng đã được thừa nhận một cách rộng rãi trên toàn thế giới Năm 1978 đại hội thế giới về lâm nghiệp đã lấy tiêu đề là “rừng cho cộng đồng” nhằm tôn vinh và thúc đẩy các hoạt động rừng cộng đồng (Arnold, 1992) [53]
Trong thập kỷ 80 các dự án phát triển rừng cộng đồng được mở rộng ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Ấn Độ và Nepal Tên gọi về rừng cộng đồng cũng có những thay đổi như “cùng quản lý rừng - Join Forest Management”; “lâm nghiệp xã hội - Social Forestry”, “quản lý rừng dựa vào cộng đồng - Community Based Forest Management”… Tuy nhiên, về bản chất của các hoạt động quản lý rừng cộng đồng vẫn không thay đổi, đó là quá trình lấy người dân làm trung tâm trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Cuối những năm 80 và thập kỷ 90, các nhà khoa học tập trung nhiều hơn về nghiên cứu thể chế trong quản lý rừng cộng đồng, kể cả những thể chế truyền thống và thể chế của nhà nước, nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển rừng cộng đồng Trong giai đoạn này các khái niệm về quyền sở hữu được đưa ra để thảo luận một cách rộng rãi, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu cộng đồng và sử dụng tự do Đã có lúc khái niệm rừng cộng đồng bị phê phán một cách kịch liệt theo cách nhìn nhận của Hardin trong “Bi kịch của sở hữu chung” (1968) [58] rằng phương thức sở hữu cộng đồng về rừng là đồng nghĩa với sử dụng tự do Đó là hình thức sử dụng mà mọi thành viên đều muốn lợi dụng của chung để tối đa hoá lợi ích cho mình, vì thế rừng
bị khai thác một cách kiệt quệ
Trái ngược với Hardin, Arnold (1978) [53] lại cho rằng rừng cộng đồng mang lại hiệu quả lớn trong phát triển rừng và phát triển cộng đồng Ông nhấn mạnh rằng rừng cộng đồng phải là một hợp phần không thể thiếu trong phát
Trang 7triển nông thôn, mà mục tiêu chủ yếu là nhằm giúp đỡ những cộng đồng nghèo tự duy trì và phát triển cuộc sống của họ … Vì thế, rừng cho phát triển cộng đồng phải là rừng của người dân, cho người dân và phải có sự tham gia của người dân trong quản lý và phát triển Với cách như như vậy thì Arnold
đã chỉ ra 3 mục tiêu cơ bản của rừng cộng đồng là (1) cung cấp nhiên liệu và những nhu yếu phẩm khác nhằm phục vụ cho những nhu cầu cơ bản của cộng đồng, (2) cung cấp bền vững nguồn lương thực và môi trường sống cho một quá trình sản xuất lương thực liên tục, và (3) tạo nguồn thu nhập, giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương Burda (1997) [54] cũng đã nhìn
nhận về quản lý rừng cộng đồng rằng: “Những người dân sống lâu ở trong
rừng có những kiến thức đặc biệt về sinh thái bản địa và những ảnh hưởng dài hạn về mặt xã hội, môi trường của rừng đến cuộc sống của họ Sự tập trung hoá trong hệ thống quản lý quan liêu thiếu đi sự linh động và khả năng thích ứng với những điều kiện thực tiễn của các địa phương khác nhau Trong khi đó quản lý rừng cộng đồng giúp cho con người sống gần gũi hơn với thiên nhiên và từ đó lập ra những thiết chế, kế hoạch nhằm quản lý và sử dụng rừng một cách hiệu quả hơn Quản lý rừng cộng đồng đã tạo ra một hệ thống nhạy bén để nhanh chóng đưa ra những quyết định và hành động nhằm thích ứng với những thay đổi của điều kiện cụ thể Các quyết định này nhằm đáp ứng lợi ích của toàn thể cộng đồng, những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc đưa ra những quyết định đó”
Herb (1991) [57] cũng đã đưa ra những lập luận nhằm ủng hộ quản lý
rừng cộng đồng rằng “quản lý rừng bởi cộng đồng tạo ra những cơ hội để tìm
kiếm các giải pháp mà ở hệ thống tập trung quyền lực không có được Cộng đồng là nơi mà các hoạt động được thực tế diễn ra, và kế hoạch được xác lập hàng ngày Quá trình lập kế hoạch và hành động được lồng ghép một cách có
Trang 8trách nhiệm bởi vì chúng được thực hiện ở tại một nơi và bởi cùng một cộng đồng”
Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế) [19], QLRBV là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam cả trên phương diện về lý thuyết và thực tế thì các hoạt động quản lý rừng cộng đồng đã và đang được công nhận Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã xác nhận quyền sở hữu của cộng đồng đối với rừng và từ đó đã có những quy định về giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản Ở các vùng cao, đặc biệt là các vùng dân tộc thiểu số đều có các hoạt động quản lý rừng cộng đồng thông qua các khu “rừng thiêng”, “rừng ma”,
“rừng nhóm hộ” Các khu rừng này được người dân quản lý, bảo vệ một cách khá chặt chẽ và có hiệu quả Có 4 loại hình quản lý rừng cộng đồng được nhận dạng ở Việt Nam bao gồm: rừng truyền thống, rừng thôn bản, rừng nhóm hộ, rừng cộng đồng được xã giao
Quản lý rừng bền vững có thể tóm lược là quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra (sản xuất gỗ nguyên liệu,
gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ ; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo
vệ chống cát bay, chống sạt lở đất ; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái ) Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể: Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng;
Trang 9duy trì và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng); Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương; Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác
1.2 Vai trò và tác động của cộng đồng đối với rừng
Theo nghĩa chung, quản lý tài nguyên được hiểu là tập hợp những hoạt động nhằm bảo vệ, sử dụng và phát triển tài nguyên Một nguồn tài nguyên được quản lý tốt là nó được bảo vệ tốt, phát triển thêm về số lượng, nâng cao
về chất lượng và sử dụng hiệu quả Tài nguyên rừng là một bộ phận của tài nguyên nói chung Vì vậy, quản lý tài nguyên rừng thực chất là những hoạt động bảo vệ, sử dụng và phát triển chúng vì lợi ích của con người và môi trường Để tài nguyên rừng được quản lý một cách bền vững, đòi hỏi phải có
sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành, các cá nhân trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình này Phân tích vai trò của các bên liên quan trong quản
lý tài nguyên rừng nhằm tìm ra điểm thống nhất chung giữa các bên, góp phần
đề xuất các giải pháp giải quyết những mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tài nguyên rừng nhằm bảo vệ, sử dụng và phát triển chúng một cách có hiệu quả (Hoàng Mạnh Quân và ctv, 2005) [15]
Theo Nguyễn Hồng Quân, Phạm Xuân Phương và Vũ Long (2006) [20], ở Việt Nam, khái niệm “cộng đồng” được dùng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng có thể khái quát thành 2 loại quan điểm chính sau đây:
Thứ nhất, “cộng đồng” là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh
Trang 10tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn bản Theo quan niệm này,“cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cư thôn bản”
Thứ hai, “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến các nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống Như vậy, theo quan niệm này, “cộng đồng” không phải chỉ là cộng đồng dân
cư toàn thôn mà còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc trong thôn; cộng đồng các dòng họ hoặc các nhóm hộ trong thôn
Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn Tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa “Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình,
cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” [35]
Theo Bùi Việt Hải (2005) [13], nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng đòi hỏi phải phân tích sự tham gia của các thành viên hay các bên liên quan Những ai tham gia? Họ tham gia vào công tác quản lý và phát triển rừng như thế nào? Các động cơ nào chi phối đến sự tham gia của họ? Câu trả lời phụ thuộc vào bối cảnh tự nhiên và xã hội của cộng đồng Do đó, không có một mô hình chung cho việc quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng, mặc dù có nhiều nguyên tắc có thể rút ra nhằm thúc đẩy sự tham gia
Theo Hoàng Hữu Cải (2006) [5], động cơ thúc đẩy sự tham gia của người dân trong công tác quản lý tài nguyên chính là động cơ kinh tế Điều này có nghĩa là các chiến lược thúc đẩy sự tham gia phải giúp tạo ra những tình huống quản lý mà tất cả các bên liên quan đều cảm thấy cùng có lợi Giải quyết các vấn đề về quyền lợi chính đáng của các bên liên quan trong quản lý
Trang 11và phát triển tài nguyên rừng trở thành một yếu tố quan trọng Tuy nhiên, lợi ích mà các bên liên quan nhận được không phải chỉ là lợi ích kinh tế trực tiếp, các cộng đồng muốn bảo vệ rừng vì muốn tạo ra một cơ sở tài nguyên, một môi trường tự nhiên đảm bảo cho các sinh kế của họ và một bối cảnh văn hóa, gắn liền môi trường sống với các giá trị văn hóa mà các cộng đồng đã gắn bó lâu dài Hơn thế nữa, việc hưởng dụng các lợi ích này có thể liên quan đến công bằng xã hội
Sự tham gia trong quản lý rừng không đơn thuần là một thuật ngữ mà
đã và đang trở thành một khái niệm, một thực tiễn Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sự tham gia Theo Ngân hàng thế giới, sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể hay các bên liên qua cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng ra quyết định Năm 1994, Hoskin đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn về sự tham gia trong lâm nghiệp, đó là “Sự tham gia là sự thực hiện trồng và quản lý rừng của nam và nữ trong cộng đồng (những người bên trong cộng đồng) với sự hỗ trợ của những người bên ngoài cộng đồng” Năm 1996, Hosley đưa ra các mức độ từ thấp đến cao của sự tham gia, đó là: tham gia có tính chất vận động; tham gia bị động; tham gia qua hình thức tư vấn; tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài; tham gia theo chức năng; tham gia
hỗ trợ; tự huy động và tổ chức Fisher (1984) cho rằng, không có vai trò trong quá trình quyết định thì sự tham gia chỉ là vô nghĩa Câu hỏi quan trọng nhất
ở đây không phải “ai thực hiện” mà “ai quyết định” trong quản lý rừng (dẫn theo Nguyễn Bá Ngãi và Trần Ngọc Thể, 2009) [37]
Khi chúng ta tạo điều kiện cho người dân địa phương, đặc biệt là người nghèo tham gia vào quản lý bảo vệ và phát triển rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu
đa dạng của họ như chất đốt, lương thực… và khi nhu cầu, nguyện vọng của
Trang 12người dân được đáp ứng thì người dân sẽ tham gia tích cực hơn vào quản lý bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững (Võ Văn Thoan, 2002) [41]
1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật, hệ thực vật, thành phần loài, thành phần dạng sống và cấu trúc
1.3.1 Trên thế giới
H.G Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao
J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần
hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần
hệ rừng xanh từng mùa, loạt quần hệ khô thường xanh, loạt quần hệ miền núi, loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm
Maurand (1943) [61] nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó
Tổng số loài thực vật hiện nay trên thế giới có nhiều biến động và chưa
cụ thể, tuỳ từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ Các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.000 - 600.000 loài
Năm 1965, Al A Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000 - 20.000 loài địa y; 85.000 - 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác Năm 1962, G N Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt
Trang 13kín phân bố ở các châu lục như sau: Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài, Châu
Âu có khoảng 15.000 loài, Châu Phi có khoảng 40.500 loài, Châu Á có khoảng 125.000 loài và Châu Úc có khoảng 21.000 loài
Lecointre và Guyader (2001) đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau: Nấm 100.800 loài (5,80%), Ngành Rêu 15.000 loài (0,90%), Ngành Thông đất 1.275 loài (0,07%), Ngành Dương xỉ 9.500 loài (0,50%), Ngành Thông 601 loài (0,03%), Ngành Ngọc lan 233.885 loài (13,40%)
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)… Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của
nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật
Ramakrishman (1981 - 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy
ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài
ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có
Trang 14thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm
Braun - Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản: (1) Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất; (2) Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất; (3) Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn; (4) Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn; (5) Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB): SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm
cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản…
Trang 15Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái học hơn của Raunkiaer Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần hay một lần trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ Trong bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh Trong bảng phân loại này ông còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường
1.3.2 Ở Việt Nam
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn: Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi Loại II: gồm những rừng non mới mọc Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng
bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh chưa bị phá hoại hoặc khai thác hợp lý
Trần Ngũ Phương (1970) [32] đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền Bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Trang 16Thái Văn Trừng (1978) [46] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân
gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật
Thái Văn Trừng (1998) [47] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu
tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [20] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Trong thực vật chí Đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp theo
đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã giới thiệu khái quát
Trang 17những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta [4] Gần đây, Phan Kế Lộc (1985) [23] đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới
Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia - Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ Nguyễn Đăng Khôi (1971)
đã bổ sung thêm 26 loài không được F Gagnepain ghi nhận ở Miền bắc Việt Nam trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương” Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Văn Phú (1975) đã thống kê 39 loài cây bộ Đậu thân bò và thân leo làm thức ăn giàu protein cho gia súc Miền Bắc Việt Nam Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [46] Phan Kế Lộc (1978) điều tra phát hiện 20 loài
cây có tannin thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc
ở Việt Nam có tannin [22] Hoàng Chung (1980) [6] khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương [3]
Trang 18Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê
số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [14] Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [24]
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây
bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi
Ardisia, Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae) [47]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và
1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ [38, 39]
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Doãn Ngọc Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ Hoà thảo Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [6]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [7]
Phan Nguyên Hồng (1991) [16] khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây
Trang 19bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
ký sinh (K), bì sinh (B)
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80% [18]
Lê Ngọc Công (2004) [11] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật thành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trọng hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau Các nhân tố trong cấu trúc rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu trúc tuổi…
Phạm Minh Nguyệt (1994) [31] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ Cấu trúc thích hợp tức
là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp nhàng Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu Tầng cây tái sinh mọc
Trang 20xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu dài
Nguyễn Văn Trương (1982) [48] đưa ra một số cấu trúc tiêu chuẩn cần được đảm bảo điều chế rừng theo phương pháp chặt chọn Ông cho rằng nếu
áp dụng chặt chọn như hiện nay thì không thể tạo lại vốn rừng như trước khi chặt nên dùng thuật ngữ khai thác nuôi dưỡng rừng
Vũ Đình Phương (1987) trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên ở nước
ta, ông cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh rừng tự nhiên cần phải hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của rừng Những quy luật tự nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng, nghiên cứu về cấu trúc rừng hỗn loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là cơ sở cho việc đề xuất biện pháp thâm canh rừng [33] Nguyễn Hải Tuất (1991), nghiên cứu quy luật cấu trúc quần thể cây rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng [50]
1.4 Những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng
1.4.1 Trên thế giới
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng, các nguồn tài nguyên sinh học không ngừng bị suy giảm Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cứ liệu quan cho công tác bảo tồn, từ năm 1964, hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã cho xuất bản các Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới
Trang 21Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe dọa trên thế giới [59] Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)…
1.4.2 Ở Việt Nam
Tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của tập thể tác giả thuộc
Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học
và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất
bản vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007 Trong cuốn “sách đỏ
Việt Nam (phần thực vật)” năm 2007 đã công bố 847 loài (thuộc 201 họ) quý
hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ
Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP [27] về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2 nhóm:
- Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I được phân thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là: ngành Thông với 7 loài và ngành Mộc lan với 8 loài, nhóm IB gồm các loài động vật rừng
- Nhóm II: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc
có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy
Trang 22cơ tuyệt chủng Thực vật rừng, động vật rừng nhóm II cũng được chia thành: nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài
và ngành Mộc lan với 27 loài, nhóm IIB gồm các loài động vật rừng [33]
Nguyễn Thị Yến (2008) [52] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính
đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của Sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN
Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ (2009) khi nghiên cứu hiện trạng hệ thực vật ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng gồm có 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và
22 loài có tên trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP [27]
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà số lượng loài thực vật
có giá trị đang bị giảm sút, bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng Tuỳ từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá
số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và phải đánh giá thường xuyên nhằm có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
1.5 Những nghiên cứu về thảm thực vật tự nhiên vùng cát ven biển ở Việt Nam
Vùng cát ven biển ở Việt Nam là một trong những vùng sinh thái khắc nghiệt và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu, thời tiết Điều kiện môi trường của vùng đất này trong vài thập niên vừa qua có sự biến động khá mạnh do
Trang 23tác động của thiên nhiên và con người Bão lụt hàng năm thường xuyên đe dọa đời sống của cư dân địa phương Nguy cơ sạt lở bờ biển và hiện tượng cát bay, cát trôi, cát chuồi là những mối đe dọa thường xuyên Ngay cả việc phát triển sản xuất nâng cao đời sống trong mấy năm gần đây như đào hồ nuôi trồng thủy sản cũng đã làm xáo trộn không ít cảnh quan, môi trường; cộng với việc khai khoáng đại trà đã làm cho những vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó lại càng khốn khó hơn Thực trạng nhiễm mặn đất trồng, sa mạc hóa cảnh quan, gia tăng hạn hán, ngập úng do lún sụt địa tầng do hậu quả của khai khoáng và đào hồ nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát gây ra, đã và đang là vấn nạn của đời sống cư dân tại chỗ
Một trong những phương thức phát triển bền vững là phải là xây dựng hệ thống nông lâm kết hợp lấy nguồn gen bản địa làm gốc, bảo tồn, phát triển thảm thực vật tự nhiên đã có trên cơ sở hiểu biết tường tận tiềm năng đất đai
và đa dạng sinh học
Năm 2000, tác giả Đỗ Xuân Cẩm, Đặng Thái Dương và cộng tác viên của Trường Đại học Nông Lâm Huế đã nghiên cứu trồng thử nghiệm một số loài cây trồng bản địa thân gỗ trên vùng đất cát nội đồng huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế [2]
Năm 2005, Trường Đại học Nông Lâm Huế đã có nghiên cứu về tiềm năng sử dụng cây bản địa ở vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, qua bước đầu điều tra đã xác định được 372 loài, thuộc 268 chi và 112 họ thực vật khác nhau Trong đó có họ Myrtaceae có giá trị nhất về phục hồi rừng tự nhiên và khai thác gỗ củi Trong số 7 chi hiện hữu của họ này ở vùng nghiên cứu, chi Syzygium có đến 6 loài, trong đó có 5 loài cây gỗ có ý nghĩa sinh thái và sử dụng vào đời sống… Từ đó đã đề xuất một số nhóm cây gỗ, cây bụi sử dụng
Trang 24để trồng rừng, xúc tiến tái sinh tự nhiên góp phần tạo ra những dải rừng hỗn loài phòng hộ bền vững cho bờ biển
1.6 Những nghiên cứu về thảm thực vật tự nhiên vùng cát ven biển tại tỉnh Phú Yên và khu vực nghiên cứu
Vùng đất cát ven biển của tỉnh có diện tích trên 10 nghìn hécta, phân bố dọc ven biển của 4 huyện thị, tập trung nhiều ở huyện Tuy Hòa và thị xã Sông Cầu Đây là loại đất tích tụ do một quá trình lâu dài của gió biển, trong đó phần lớn là ổn định, một số lượng lớn diện tích đã được đưa vào canh tác
Thảm thực vật tự nhiên chủ yếu là cỏ gồm các loại chính sau đây: ở vùng gió nhiều có Từ bi, Ma dương, Cỏ lông chồn, vùng kín gió có một số cây gỗ lớn: Cóc, mù u, Chai lá cong là loài cây họ dầu quí hiếm, có kích thước lớn mọc trên cát Loài này mới được phát hiện ở bãi cát Từ Nham (Sông Cầu), bán đảo Cam Ranh
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật và đa dạng thực vật ở Phú Yên còn rất ít Cuối năm 1996, Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên đã
có điều tra khảo sát về các loài thực vật quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trên địa bàn tỉnh Loài bị đe dọa: Gáo vàng, Xúng đáo (Sến); loài nguy cấp: Gõ đỏ, Trầm hương (gió); loài hiếm: Bàng vuông, Vù hương (Xá xị), Dầu đọt tím, Cam thảo đá bia, Gai ma vương, Ổ kiến; loài rất hiếm: Mun; …
Ở khu vực nghiên cứu (xã Xuân Hòa), các công trình nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật ở đây chưa có công trình nào nghiên cứu, đặc biệt là về vai trò của người dân địa phương trong quản lý bảo vệ và phát triển TTV vùng cát Do vậy cần phải có những nghiên cứu sâu hơn để làm cơ sở cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển thảm thực vật bền vững tại địa phương Đề tài luận văn này của tác giả góp phần nghiên cứu giải quyết các yêu cầu đó
Trang 25Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
+ Nam giáp huyện Tuy An
+ Đông giáp biển Đông
+ Tây giáp huyện Đồng Xuân
- Tổng diện tích tự nhiên toàn thị xã là 48.928,48 ha, chiếm 9,7% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Phú Yên Sông Cầu có quốc lộ 1A đi xuyên qua suốt chiều dài của thị xã, hầu hết các khu dân cư và các vùng kinh tế trọng điểm đều nằm trãi dài theo dọc tuyến quốc lộ 1A và 1D Tập trung nhiều nhất nằm
ở phía Bắc thị xã Sông Cầu dọc theo tuyến quốc lộ 1D
- Địa danh khu vực nghiên cứu: xã Xuân Hòa - thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên
Trang 262.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng đất đai khu vực nghiên cứu
2.1.2.1 Địa hình
Địa hình Sông Cầu dốc thoải dần từ Tây sang Đông, phía Tây có nhiều
hệ dông núi cao bao bọc, nhìn chung địa hình khá phức tạp, phía Tây và Tây - Bắc là những dãy núi cao với độ cao từ 500 đến trên 870 mét (dãy núi Gà), phía Đông là những đồi thấp và những thung lũng nhỏ hẹp xen lẫn với gò đồi, nhiều nhánh núi ăn sâu ra Biển tạo nên những bán Đảo (Túy Phong, Từ Nham), các đầm vịnh như: Cù Mông, Xuân Đài và tạo nên những cánh đồng nhỏ hẹp phân bố manh mún và có các dạng địa hình sau:
- Dạng địa hình núi cao:
Chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của thị xã, phân bố chủ yếu ở phía Tây, Tây - Bắc và Bắc với các xã: Xuân Lâm, Xuân Lộc và Xuân Hải và một phần của các xã: Xuân Bình, Xuân Phương Ở đây tập trung các đỉnh núi cao trên 500 mét, độ dốc phổ biến trên 250, mức độ chia cắt mạnh Đây là vùng đầu nguồn, có vai trò quan trọng, quyết định khả năng dữ trữ nước và cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp vùng hạ lưu
Trang 272.1.2.1 Thổ nhưỡng đất đai
Trên địa hình toàn thị xã có 7 nhóm đất chính
a Cồn cát và đất cát ven biển: Do sản phẩm của nền lục địa ven biển tạo thành, bao gồm cồn cát hiện đại, cát trắng cổ và đất cát ven biển Phân bố dọc theo bờ biển, một số nơi bị lấn sâu vào đất liền do cát di động gió bay
b Đất đỏ và nâu vàng: Gồm 3 loại trên địa bàn thị xã, là các loại đất đỏ vàng phát triển trên đá mẹ Granít, đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét,
đá biến chất nâu vàng phát triển trên đá Bazan Phân bố chủ yếu trên các đồi núi khắp địa bàn thị xã
c Đất mặn: Đất do sự bồi tụ, lấn biển tự nhiên và nhân tạo, thường được cải tạo nuôi trồng thủy sản và làm muối, phân bố dọc theo các đầm vịnh
d Đất xám: Phát triển trên đá Riolít, diện tích tương đối ít, phân bố chủ yếu trên các đỉnh núi đã bạc màu
e Đất phù sa: Đất do sản phẩm bồi tụ của sông, suối tạo thành Phân bố dọc theo sông, suối
f Đất thung lũng: Đất do sản phẩm dốc tụ từ các sườn đồi quanh các thung lũng tạo thành, đất có hàm lượng dinh dưỡng cao Phân bố chủ yếu ở các thung lũng
g Đất đen: Là đất nâu thẩm phát triển trên đá Bazan, đất bị bạc màu, có
ít ở xã Xuân Phương
Nhìn chung, điều kiện thổ nhưỡng đất đai vùng dự án tương đối khắc nghiệt, tầng đất mỏng, đá lẫn, đá nổi nhiều, độ dốc lớn … vì thế cần có giải pháp trồng cây cải tạo đất trước khi trồng cây bản địa vào chu kỳ tiếp theo Cần phải chú trọng công tác trồng thử nghiệm các loài cây chịu hạn
Trang 282.1.3 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn
Nhiệt độ cao kết hợp với khí hậu nóng gây nên tình trạng hạn đất và hạn không khí là điều kiện khó khăn cho điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây trồng Để khai thác tài nguyên khí hậu của vùng chú ý lựa chọn các loài cây trồng bản địa, có khả năng chịu hạn, đồng thời kết hợp các biện pháp như: Giữ ẩm, chống xói mòn, xây dựng các công trình thủy lợi cung cấp nước tưới, trồng đai rừng chắn gió giữ ẩm
* Hướng gió: Gió chịu 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông - Bắc từ tháng 10 đến tháng 02 năm sau với vận tốc là 10m/s; gió Tây - Nam thổi từ tháng 03 đến tháng 08 tập trung thổi mạnh nhất vào tháng 06, 07 với vận tốc trung bình là 4,8 m/s Số ngày có cường độ thổi mạnh từ 8 đến 10 ngày với vận tốc lên tới 15 m/s
* Lượng mưa: Lượng mưa bình quân trong năm của thị xã dao động trong khoảng (1.600mm - 1.700mm) Mùa mưa thường diễn ra từ tháng 9 đến tháng 12, tập trung ở tháng 10 và 11 Trong 04 tháng mùa mưa lượng mưa có thể đạt 900 - 1.200mm, chiếm 70-80% tổng lượng mưa cả năm Do ảnh hưởng giải hội tụ nhiệt đới gió mùa nên các tháng 4, 5 và 6 có lượng mưa tiểu mãn nhưng chỉ chiếm 20-30% lượng mưa cả năm Mùa nắng từ cuối tháng 12 đến trung tuần tháng 08, nắng nóng hạn nhất vào tháng 07
Trang 29Lượng mưa là nhân tố quan trọng nhất để xác định các vùng tiểu khí hậu trên địa bàn thị xã, từ đó cho phép xác định loài cây trồng phù hợp cho từng vùng
* Bức xạ - nắng: Là vùng có chế độ bức xạ hàng năm dồi dào, số ngày nắng trong ngày cao, trung bình đạt 08 giờ/ngày, đây là điều kiện tốt cho quá trình quang hợp của cây trồng cũng như bốc hơi trong sản xuất muối
* Chế độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm từ 75 - 80%, ẩm độ cao nhất vào tháng 11, 12 từ 85 - 90%, ẩm độ thấp nhất vào tháng 06 và tháng 07 từ 65-70%
* Lượng bốc hơi nước: Lượng bốc hơi biến thiên theo từng vùng và tùy thuộc vào các điều kiện sông ngòi, thảm thực vật và số giờ nắng, gió Tổng lượng bốc hơi nước bình quân 1.250 mm, cao nhất vào tháng 7 và thấp nhất là tháng 11
2.1.3.2 Thủy văn
Sông lớn chính của thị xã Sông Cầu là sông Tam Giang, bắt nguồn từ dãy hòn Kê phía Tây - Bắc của thị xã dài 25,5km, chạy xuyên qua các xã: Xuân Lộc, Xuân Bình, Xuân Lâm và phường Xuân Phú Đặc điểm chính của sông là bắt nguồn từ những dãy núi cao nên sông có độ dốc lớn, khả năng tập trung nước nhanh, dễ gây ngập úng, lũ quét
- Đặc điểm về chế độ thủy văn:
+ Mùa khô: Mùa khô hầu hết các sông, suối bị cạn kiệt khô, thường thiếu nước cho các công trình thủy lợi
+ Về mùa mưa: Mùa mưa ngắn, mưa tập trung trong 04 tháng nhưng tập trung vào 02 tháng 10-11 giữa mùa mưa Phía đầu nguồn rừng nguyên
Trang 30sinh không còn và rừng tự nhiên ít nên sự thẩm thấu, ngấm trên lưu vực và điều tiết cho mùa nắng bị hạn chế
2.1.4 Tình hình dân sinh, kinh tế xã hội
- Dân số và phân bố dân cư
Theo số liệu điều tra năm 2009 thị xã Sông Cầu có 101.521 nhân khẩu, chủ yếu là dân tộc kinh Toàn thị xã có 10 xã và 04 phường
- Tình hình kinh tế
Ngành nghề chủ yếu của người dân ở đây là sản xuất nông nghiệp còn một số theo nghề ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp nên trong những năm gần đây nhiều hộ gia đình đã chuyển sang phát triển nghề trồng rừng Rừng là một trong những nguồn cung cấp chính về lương thực phục vụ cho đời sống con người, nhưng rừng ở nhiều nơi đã cạn kiệt do lửa rừng gây nên
Nghề chính của người dân ở đây đa số sản xuất nông nghiệp, lúc nông nhàn lại lên rừng làm rẫy, chặt củi, đốt than; còn một số theo nghề ngư nghiệp
và nuôi trồng thủy sản Hiện nay do dân số ngày càng tăng, diện tích đất canh tác nông nghiệp trên đầu người thấp, kết hợp thiên tai thường xuyên xảy ra do vậy nhiều gia đình gặp khó khăn trong đời sống đã chuyển sang nghề rừng bằng các hình thức như: Lấn chiếm đất lâm nghiệp để làm rẫy, chặt củi, đốt than, khai thác gỗ, đào gốc cây cảnh và vận chuyển lâm sản trái phép Nếu không bố trí việc làm cho phù hợp thì đây sẽ là đối tượng trực tiếp tác động
để phá, khai thác rừng và gây ra các vụ cháy rừng
- Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng
Tình hình giao thông của thị xã Sông Cầu rất thuận lợi so với một số địa phương khác trong tỉnh và chủ yếu vẫn là đường bộ, do đường quốc lộ 1A
Trang 31và 1D có chiều dài trên 70 km đi qua 14 xã, Phường; đường ĐT 644 và ĐT
642 nối với huyện Đồng Xuân và Sông Cầu; ngoài ra có các tuyến đường liên
xã, liên thôn được lưu thông Đây là điều kiện thuận lợi cho thị xã phát triển kinh tế, trao đổi văn hóa
Hệ thống cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) của thị xã trong những năm gần đây đã có hướng chuyển biến rõ nét Hiện nay có 14/14 xã, phường đã hòa mạng điện lưới quốc gia với trên 98% số hộ dân dùng điện; đường làng ngõ hẻm được nâng cấp do Nhà nước cùng nhân dân đóng góp, các trường học, bệnh viện, bệnh xá đã được đầu tư sửa chữa và xây mới Vì vậy đời sống của nhân dân ngày càng ổn định và được nâng cao
2.2 Hiện trạng tài nguyên rừng
Tổng diện tích tự nhiên toàn thị xã là: 48.928,48ha
Trang 32- Rừng tự nhiên của thị xã Sông Cầu tập trung phía Tây Bắc, phân bố chủ yếu là 03 xã: Xuân Lộc, Xuân Lâm và Xuân Thọ 1 Độ cao từ 400m đến 500m rừng thường xanh, hỗn giao nhiều loài và chủ yếu là rừng nghèo và rừng non mới phục hồi sau chiến tranh, các trạng thái chủ yếu là IIa, IIb
- Rừng trồng diện tích được phân bổ hầu hết tại các xã, phường trong thị xã ở độ cao từ 100-200m, thường là những diện tích nương rẫy hết khả năng canh tác, gần khu dân cư, rừng trồng đa dạng độ tuổi và loài cây, trồng hỗn giao nhiều loài như: Đào, Phi Lao, Keo lá Tràm, Bạch Đàn và Keo + Dầu rái… Căn cứ kết quả cập nhật tài nguyên rừng năm 2009 độ che phủ bình quân trên toàn thị xã là 37,8%
Tóm lại, Rừng tự nhiên khu vực Sông Cầu nhiều tầng tán nhưng phân bố không đều, độ tàn che không đồng đều trên một khoảnh rừng, tạo nhiều khoảng trống Mật độ cây rừng thấp hơn so với các nơi khác
- Hệ thực vật rừng: Do đặc điểm về địa lý và sự đa dạng về địa hình, khí hậu, đất đai cùng các nhân tố hình thành rừng khác, địa hình nhiều đá nổi, đá tảng nên đã tạo cho hệ thực vật rừng ở thị xã Sông Cầu nói chung và rừng tự nhiên khá phong phú và đa dạng về thành phần loài Hệ thực vật mang đặc tính của vùng tiêu biểu cho vùng duyên hải ven biển, vùng khô cằn Ngoài các loài đặc hữu như Chai lá cong, Trâm, Bằng Lăng, Song mây, Mà ca, Nhãn rừng, Nhàu …, ở đây còn là điểm hội tụ của nhiều luồng thực vật chính: Tiêu biểu cho luồng thực vật thuộc khu hệ các loài cây thuộc họ Đậu, họ Thầu dầu, họ Mộc lan, họ Dâu tằm, họ Na, họ Long não, họ Giẻ, họ Tử vi Ngoài các loài cây lấy gỗ, rừng còn có nhiều loài cây làm cảnh, cây đặc sản, cây dùng làm dược liệu có giá trị kinh tế cao như: Sa nhân, Sâm nam, Ngũ gia bì, Song, Mây…
2.3 Đánh giá chung
Trang 33Xuân Hòa là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng trực tiếp và đầu tiên của những cơn bảo đổ bộ vào đất liền Mấy năm trở lại đây, để đảm bảo phòng hộ cho cư dân và các hoạt động sản xuất vùng ven biển, tỉnh Phú Yên đã tiến hành trồng rừng phủ xanh vùng đất khắc nghiệt này bằng nguồn vốn Ngân sách, vốn PAM , PASSA ở khu vực này Nhìn chung hiện nay rừng trồng đã và đang sinh trưởng tốt, loài cây thích ứng và có thể sống được thành rừng trên vùng đất này là Phi lao Tuy nhiên cần phải có chế độ thâm canh, biện pháp kỹ thuật Lâm sinh tối ưu mới đảm bảo phi lao thành rừng Rõ ràng đây là vùng có hệ sinh thái không ổn định, chịu nhiều tác động của các tác hại
do bão, gió mùa Đông Bắc mang hơi nước mặn từ biển do vậy hệ thực vật ở đây hầu hết là cây chịu hạn, khô cằn, gió hại mới có khả năng tồn tại và phát triển
Năm 2002 được sự tài trợ của GEF SGP, Hội Nông dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đã tiếp nhận và triển khai dự án VIE 01/007 từ tháng 2/2002 đến tháng 6/2006 Dự án VIE 01/007 được triển khai trong thời gian hơn 4 năm đã góp phần nâng cao nhận thức, đánh thức mối quan tâm của cộng đồng và chính quyền địa phương trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường toàn cầu; cung cấp kiến thức cơ bản về các phương thức sử dụng bền vững hệ sinh thái khô hạn ven biển địa phương Nhờ vào dự
án, loài cây Chai lá cong đứng trước nguy cơ đe dọa tuyệt chủng đã được cả cộng đồng và chính quyền địa phương quan tâm Do vậy cần có những nghiên cứu tiếp tục về mặt lâm học và di truyền đối với loài cây Chai lá cong và một
số loài khác có khả năng chịu hạn ở khu vực này nhằm bảo tồn và đa dạng hệ sinh thái khô hạn ven biển
Trang 34Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nhằm đề xuất một số giải bảo tồn và phát triển các loài cây chịu hạn, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển rừng phòng hộ ven biển tại xã Xuân Hòa, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng các số loài cây chịu hạn trên đất cát ven biển tại
xã Xuân Hòa, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên
- Đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn một số loài cây chịu hạn làm cơ sở cho việc phát triển hệ sinh thái rừng phòng hộ trên đất cát ven biển tại xã Xuân Hòa, thị xã Sông cầu, tỉnh Phú Yên
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác động của người dân đến một số loài cây chịu hạn trên đất cát ven biển
- Địa điểm nghiên cứu: xã Xuân Hòa, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thực trạng một số loài cây chịu hạn trên đất cát ven biển
- Phân tích tác động của người dân địa phương tới bảo tồn và phát triển một số loài cây chịu hạn
Trang 35- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển thảm thực vật thân gỗ trên vùng đất cát ven biển
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp luận
Hệ sinh thái đất cát ven biển được hình thành và phát triển từ trước đến nay là sự thống nhất giữa điều kiê ̣n lâ ̣p đi ̣a với thảm thực vật tự nhiên… và nằ m trong mố i quan hệ không thể tách rời với các hoa ̣t đô ̣ng phát triển kinh tế
xã hội của vùng Từ đó, cần có những nghiên cứu, tác đô ̣ng phù hợp, không phá vỡ sự thố ng nhất biê ̣n chứng cũng như các mố i quan hê ̣ sinh thái - nhân văn của đất cát trong sự phát triển bền vững
Bản chất của việc bảo tồn và phát triển thảm thực vật tự nhiên vùng đất cát ven biển chính là các hoạt động về mặt kỹ thuật lâm sinh và xã hội nhằm tạo điều kiện cho thảm thực vật tự nhiên được duy trì, bảo vệ và phát triển
Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm bảo tồn chính là những tác động nhằm thúc đẩy sự tái sinh tự nhiên của thảm thực vật cũng như gây trồng các loài thực vật bản địa của hệ sinh thái vùng cát ven biển để thúc đẩy sự phát triển rừng phòng hộ ven biển
Các giải pháp về xã hội thực chất là tạo điều kiện cho cộng đồng, người dân tham gia công tác bảo vệ, hưởng lợi từ vùng đất cát ven biển Cộng đồng tham gia các mô hình phát triển sản xuất, tạo cơ hội sinh kế lâu dài cho người dân Trên cơ sở đó người dân có điều kiện để bảo tồn hệ sinh thái đất cát ven biển tốt hơn
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1 Kế thừa các tài liệu thứ cấp
Trang 36Kế thừa số liệu của các nghiên cứu trước đây về thảm thực vật rừng tự nhiên ở tỉnh Phú Yên như:
- Những văn bản quy phạm về bảo tồn và phát triển rừng
- Các dự án, đề tài nghiên cứu về rừng tự nhiên trên địa bàn thuộc Ban Quản lý rừng thị xã Sông Cầu
- Những số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
- Các nghiên cứu về thảm thực vật tự nhiên vùng cát ven biển tại tỉnh Phú Yên
3.4.2.2 Phương pháp điều tra hiện trường
a Điều tra sơ bộ
- Khảo sát sơ bộ thực trạng rừng ở khu vực nghiên cứu
- Xác định các điểm nơi đại diện cho các đối tượng điều tra
- Tiến hành khảo sát theo các tuyến lựa chọn ÔTC tạm thời để thu thập
số liệu Các ÔTC đảm bảo bao gồm các nhóm đối tượng điều tra
b Điều tra tỷ mỷ
- Điều tra theo tuyến :
+ Lập 3 tuyến điều tra
+ Hướng đi của tuyến: Từ Bắc vào Nam, song song với đường bờ biển Tuyến được thực hiện từ phía biển vào đất liền
- Thiết lập ô tiêu chuẩn :
Lập 10 ÔTC 1000 m2 (25x40)m để điều tra đặc điểm tầng cây cao
Trang 37Trong mỗi ÔTC lập 4 ÔDB 25 m2 (5x5)m để điều tra cây tái sinh và 4 ÔDB 4m2 (2x2)m để điều tra đặc điểm cây bụi thảm tươi
Sử dụng các phương pháp điều tra rừng truyền thống để nghiên cứu một số đặc trưng cấu trúc và tái sinh của hệ sinh thái rừng tại thảm thực vật trên đất cát ven biển
Sơ đồ bố trí các ÔTC theo 3 cấp
ÔTC cấp 1 ÔTC cấp 2 ÔTC cấp 3
Hình 3.1a: Sơ đồ bố trí ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn (1.000m 2 )
ÔTC cấp 1: 25m x 40m = 1.000 m2ÔTC cấp 2: 5m x 5m = 25 m2
ÔTC cấp 3: 2m x 2m = 4m2
Điều tra ô tiêu chuẩn:
- Điều tra tầng cây cao
Điều tra toàn diện tầng cây cao trong ÔTC về các chỉ tiêu: Tên cây lấy theo tên phổ thông còn đối với những loài chưa xác định được tên là Sp
Trang 38
+ Đường kính ngang ngực (D1,3, cm): Đo chu vi cây (đường vanh) sau đó tính ra đường kính, vanh được đo bằng thước dây tại vị trí 1,3 m tất cả các cây
của tất cả các cây trong phân ô
+ Đánh giá chất lượng cây thông qua 3 cấp: Tốt; trung bình; xấu, trong đó:
Cây phẩm chất tốt (A): Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, cân đối, tròn đều, tán lá cân đối, không sâu bệnh hoặc rỗng ruột
Cây phẩm chất trung bình (B): Cây có đặc điểm như thân hơi cong, tán lệch, có thể có u bướu hoặc một số khuyết tật nhỏ nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây đã trưởng thành, có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng hoặc lợi dụng gỗ
Cây phẩm chất xấu (C): Là những cây đã trưởng thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn …) hầu như không có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành có nhiều khiếm khuyết (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn, sinh trưởng không bình thường…) khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành
- Điều tra cây tái sinh
Cây tái sinh được điều tra trên 4 ô dạng bản (ÔDB), mỗi ô có diện tích
25 m2 (5m x 5m), các ÔDB được bố trí theo hệ thống trong ÔTC (4 ô ở 4 góc
Trang 39của ô tiêu chuẩn) Cây tái sinh được điều tra gồm các cây có đường kính nhỏ hơn 6cm Các chỉ tiêu xác định là:
+ Tên loài cây
+ Đo chiều cao vút ngọn (Hvn): 3 cấp (0-50cm, 50-100cm, trên 100 cm) + Xác định chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu Cây tốt: Là những cây có tán lá phát triển đều đặn, tròn, xanh biếc, thân tròn thẳng, không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh
Cây trung bình: Là những cây có thân thẳng, tán lá không đều, ít khuyết tật, không bị sâu bệnh
Cây xấu: Là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng kém, khuyết tật nhiều và bị sâu bệnh
+ Xác định nguồn gốc cây tái sinh: được xác định theo tái sinh hạt hoặc tái sinh chồi
- Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi: Được tiến hành trên 4 ÔDB (ô cấp 3)
có diện tích 4m2
+ Điều tra cây bụi và thảm tươi theo các chỉ tiêu: Tên loài chủ yếu, số lượng khóm (bụi), chiều cao (0-0,5m, 0,5-1m và > 1m ) độ che phủ trung bình của từng ô, kết quả ghi vào phiếu điều tra cây bụi
3.4.3 Phương pháp chuyên gia
- Phỏng vấn trực tiếp người dân hoặc các cơ quan chuyên môn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Cầu, UBND xã Xuân Hòa) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), giám định tên các loài cây
Trang 40- Tìm hiểu tác động của cộng đồng dân cư cũng như mối quan hệ giữa thảm thực vật trên cát ven biển với đời sống người dân và diễn thế của thảm thực vật bằng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia để điều tra (PRA), phỏng vấn 50 hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu dựa vào các nội dung trên phiếu điều tra
- Quan sát, ghi chép trực tiếp tại hiện trường
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Áp dụng phần mềm MS.Excel và phần mềm thống kê SPSS ứng dụng trong Lâm nghiệp
3.4.4.1.Tính các chỉ tiêu của tầng cây cao
X
1
1
Trong đó: X : chỉ tiêu điều tra trung bình
Xi: Giá trị của D 1 , 3 và H vn của cây thứ i
fi: Số cây thứ i
n: Tổng số cây trong ÔTC
b Tính tổng tiết diện ngang (G)
1 (m2/ÔTC) (3.2)
Tính G/ha: G = G.10 (m2/ha) (3.3)
Trong đó: G: tổng diện ngang trên ha
g: tổng diện ngang trên ÔTC