ở luận văn này chúng tôi cũng triển khai theo h-ớng đó nh-ng chúng tôi khảo sát sâu hơn những màu sắc đặc biệt là các sắc độ của màu xuất hiện trong thơ Ông từ đó để chuyển tải hết đ-ợc
Trang 1Lời cảm ơn!
Sau một thời gian nghiên cứu, với sự nỗ lực hết mình của bản
thân, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Từ chỉ màu sắc trong thơ
Tố Hữu Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè;
sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là ThS Trần Anh Hào và TS Hoàng Trọng Canh - ng-ời trực tiếp h-ớng dẫn tôi
Đây là những b-ớc đi đầu tiên của tôi trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, do đó, chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót Tôi hy vọng nhận
đ-ợc sự góp ý tích cực từ phía các thầy cô và các bạn.
Vinh, ngày 26 tháng 5 năm 2006
Sinh viên
Nguyễn Thị Yến
Trang 21.2.2 Mµu s¾c trong ng«n ng÷ vµ vai trß cña mµu s¾c trong th¬ 10
1.2.2.2 Vai trß cña mµu s¾c trong th¬ 15
Ch-¬ng 2: Thèng kª, ph©n lo¹i tõ chØ mµu s¾c trong th¬ Tè H÷u 16 2.1 KÕt qu¶ thèng kª vµ nhËn xÐt chung 16 2.2 Mét sè nÐt næi bËt vÒ s¾c th¸i mµu trong th¬ Tè H÷u 31
Ch-¬ng 3: HiÖu qu¶ nghÖ thuËt cña tõ chØ mµu s¾c trong th¬ Tè H÷u 463.1 Nh÷ng cÊu tróc b×nh th-êng vµ s¾c x¶o cña mµu s¾c th¬ Tè H÷u 47
Trang 3nghÖ thuËt 51
Trang 4Mở Đầu
0.1 Lí do chọn đề tài
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu đ-ợc coi là ngôi sao sáng ngời, là ng-ời mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu cho nền thơ ca cách mạng Sáu m-ơi năm gắn bó với hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca, thơ Ông dã thực sự tạo nên đ-ợc niềm yêu mến nỗi đam mê bền chắc trong lòng nhiều thế hệ độc giả
Ông đã đem đến đ-ợc cho công chúng và rồi cũng nhận lại từ họ một sự đồng
điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu
Từ tr-ớc đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu về thơ Tố Hữu trên nhiều ph-ơng diện: con ng-ời, đời thơ, tác phẩm, phong cách nghệ thuật… Tuy vậy nhiều vấn đề thơ ông vẫn còn phải tiếp tục tìm hiểu nghiên cứu nhất là những vấn đề thuộc lĩnh vực ngôn ngữ thơ
Đề tài này của chúng tôi khảo sát từ góc độ ngôn ngữ là tìm hiểu từ chỉ màu sắc trong ngôn ngữ thơ của Tố Hữu
Cuộc đời sáng tác thơ Tố Hữu trải dài theo chiều thời gian, các bài thơ, tập thơ mà Ông sáng tác từ ngày đầu làm cách mạng đến nay đều đ-ợc tồn tại và l-u truyền cho tới bây giờ theo thời gian lịch sử Trải qua bao năm tháng ấy, các tập thơ nh- những nhân chứng lịch sử chứng kiến bao cuộc chiến tranh tàn phá của bọn xâm l-ợc và sự chiến thắng cùng bao đổi thay của đất của dân tộc
Các tập thơ mà Tố Hữu đã sáng tác và đã xuất bản là: Từ ấy (1937- 1946); Việt Bắc (1946- 1954); Gió lộng (1955-1961); Ra trận (1962-1971); Máu và hoa (1972-1977); Một tiếng đờn (1977- 1992)
Mỗi tập thơ gắn với mỗi thời kì khác nhau, đồng thời nó mang những nội dung riêng, những t- t-ởng riêng để nhằm mục đích nói lên đ-ợc những vấn đề của xã hội, của đất n-ớc đang bị chiến tranh
Ngoài những vấn đề ấy ra Tố Hữu còn nói đến vẻ đẹp của con ng-ời, vẻ
Trang 5thuật nói chung” (15, Nguyễn Khánh Hà tr.3) từ tr-ớc đến nay đã không ít nhà văn nhà thơ nói về vẻ đẹp của đất n-ớc gắn với mầu sắc của thiên nhiên nh-: Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… Vì thế chúng tôi nghiên cứu đề tài này không ngoài mục đích tìm hiểu ý nghĩa giá trị mà nhà thơ gửi gắm vào những từ chỉ mầu sắc qua các tập thơ của Ông
0.2 Lịch sử vấn đề
ở Việt Nam màu sắc từ lâu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu
đ-ợc của truyền thống văn hoá của một đất n-ớc có bề dày văn hiến lâu đời và
đời sống tinh thần phong phú Từ nghệ thuật làm gốm sứ đến các dòng tranh dân gian, từ trang phục dân tộc rực rỡ độc đáo đến những vàng son cung điện, đền
đài, đâu đâu cũng hiện diện vai trò của màu sắc, với những ý nghĩa biểu t-ợng văn hoá gắn liền với truyền thống lịch sử Hơn thế nữa môi tr-ờng thiên nhiên của một n-ớc nhiệt đới lại vô cùng phong phú sắc màu Với thiên nhiên nh- thế, xã hội nh- thế sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu nói rằng ng-ời Việt có một kho từ ngữ để biểu thị màu sắc Đáng tiếc cho đến bây giờ chúng ta khai thác nó, tìm hiểu nó ch-a đ-ợc bao nhiêu Những công trình đề cập đến màu sắc trong văn hoá chủ yếu thuộc về các nhà dân tộc học, những ng-ời nghiên cứu nghệ thuật, văn hoá dân gian
Trong ngôn ngữ thơ ca thì ngôn ngữ chỉ màu sắc cũng rất phong phú và đa dạng Nh-ng để nghiên cứu nó một cách sâu sắc, để làm nổi bật lên giá trị của màu sắc trong thơ ca thì ch-a nhiều Trong "những thế giới nghệ thuật thơ" của Trần Đình Sử và “ những vấn đề lí thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ” của các tác giả Đại Học Vinh Ta thấy ở cuốn "những thế giới nghệ thuật thơ" có bài viết
về "ngôn ngữ màu sắc trong Truyện Kiều" và ở cuốn sách “ những vấn đề lí thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ” có bài viết của tác giả Biện Minh Điền về
“ngôn ngữ màu sắc và màu sắc ngôn ngữ” trong thơ Nguyễn Khuyến ở trong những bài viết của những tác giả họ đã tìm thấy đ-ợc it nhiều vị trí của màu sắc trong văn học nh-ng đó là màu sắc trong đôi mắt của các nghệ sĩ thời trung đại
Trang 6nó ch-a trở thành xu h-ớng mà mới lẻ tẻ rải rác, chỉ là mầm mống nền tảng cho những gia đoạn văn học tiếp theo
B-ớc sang giai đoạn văn học hiện đại thì ngôn ngữ chỉ màu sắc trong thơ càng phong phú hơn nhiều và đã có một số bài viết, bài nghiên cứu về nó ở luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh “ khảo sát nhóm từ biểu thị màu sắc trong Thơ Mới” (1932- 1945) Hay một số bài viết của Đào Thản với bài viết
“Hệ thống chỉ màu phụ trong tiếng Việt” và “Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc của tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quát” Và đặc biệt là bài viết của tác giả Lê Anh Hiền về “ cách dùng tính từ chỉ màu sắc của Tố Hữu” Tất cả bài viết này đã bắt đầu đi vào h-ớng phân tích giá trị của thi phẩm qua ngôn ngữ màu sắc Trong bài viết của tác giả Lê Anh Hiền về tính từ chỉ màu sắc của Tố Hữu tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các lớp nội dung, ngữ nghĩa cấu trúc của ngôn ngữ màu sắc trong thơ Tố Hữu ở luận văn này chúng tôi cũng triển khai theo h-ớng đó nh-ng chúng tôi khảo sát sâu hơn những màu sắc đặc biệt là các sắc
độ của màu xuất hiện trong thơ Ông từ đó để chuyển tải hết đ-ợc nội dung và ý nghĩa của các từ chỉ màu trong thơ Tố Hữu
Màu sắc trong thơ Tố Hữu rất đa dạng với nhiều sắc độ khác nhau, có những bài thơ nh- một bức họa sinh động gắn liền với thiên nhiên đất n-ớc, nó làm nên vẻ đẹp của con ng-ời, của đất n-ớc thêm sinh động và luôn lấp lánh những sắc màu qua từ ngữ thơ của ông
0.3 Nhiệm vụ và đối t-ợng nghiên cứu
a Nhiệm vụ
Đề tài này đi sâu vào các nhiệm vụ sau:
- Thống kê các từ ngữ chỉ màu sắc xuất hiện trong các tập thơ của Tố Hữu
- Phân loại các từ chỉ màu sắc đã thống kê đ-ợc
- Chỉ ra ý nghĩa và giá trị thẫm mỹ của các từ chỉ màu sắc đó
Trang 7b Đối t-ợng
Đề tài này lấy đối t-ợng khảo sát là lớp từ chỉ màu sắc xuất hiện trong thơ
Tố Hữu in trong cuốn“ Tố Hữu thơ” (nhà xuất bản giáo dục) gồm các tập thơ sau:
0.5 Bố cục khoá luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khoá luận đ-ợc triển khai trên 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1 Một số vấn đề chung
Ch-ơng 2 Thống kê, phân loại từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Ch-ơng 3 Hiệu quả nghệ thuật của từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Trang 8Mẹ vốn là con gái của một cụ Tú ở nhà quê nên thuộc rất nhiều câu hát, bà là ng-ời cung cấp ca dao,tục ngữ và Tố Hữu từ tuổi lên bảy đã làm ng-ời “ Th- ký” cho bố Hồi ấy Tố Hữu cho đó là một điều đáng sợ, mới 4 giờ sáng mà bố đã lôi dậy bắt chép hàng chục câu ca dao và kho sách cứ dày lên mãi ấy thế rồi quen
đi Tố Hữu dần dần nhớ đến thuộc những câu hát cũ, cho tới lớn lên, những tiếng, chữ, âm điệu ấy cứ ngân nga mãi trong lòng Và cha của Tố Hữu cũng rất thích làm thơ, những ng-ời phải nghe thơ Ông tr-ớc hết là bà mẹ Tố Hữu và Tố Hữu Thơ ông chẳng hay lắm nh-ng đ-ợc cái âm điệu cái thể thơ Đ-ờng nghe rất thích nên Tố Hữu cũng sớm quen với cái luật “ trắc trắc bằng bằng” từ tuổi nhỏ MẹTố Hữu mất sớm lúc Tố Hữu mới 12 tuổi Tố Hữu là con út, con c-ng nên th-ờng
đ-ợc mẹ ấp ủ ru bằng tiếng hát ngọt ngào của ng-ời đàn bà xứ Huế Cha là ng-ời nghiêm khắc nh-ng th-ơng con và rất tích cực dạy làm thơ, nhiều khi khách đến nhà lại bắt Tố Hữu “ biểu diễn tài nghệ” làm mấy câu tứ tuyệt chào khách Nhờ vậy mà khi lớn lên, bắt đầu thích làm thơ và có đ-ợc chút ít “ vốn” về hình thức thơ ca dân gian và cổ điển
Khi vào tr-ờng trung học Tố Hữu văn học Pháp thế kỉ XVIII ở tuổi 16 có lúc Ông đã làm thơ lãng mạn đăng lên Hà Nội Báo và trào l-u thơ ca này đã để lại dấu ấn trong thơ Thế nh-ng chỉ khi bắt gặp phong trào mặt trận dân chủ thì
nó nh- một luồng gió mới thổi lộng vào tâm hồn nhà thơ Năm 1937 Tố Hữu
Trang 9ánh sáng của Đảng thì lí t-ởng cách mạng chi phối cuộc đời của Ông Thơ ca là niềm say mê đối với Tố Hữu là một thứ tình yêu nh-ng Tố Hữu đã hi sinh tất cả
để làm tròn nhiệm vụ của một ng-ời chiến sĩ cộng sản Sự nghiệp sáng tác của
Tố Hữu trải dài theo thời gian, các tập thơ “ Từ ấy” (1937- 1946) cho đến “ Việt Bắc” , “ Ra trận” , "Gió lộng", “ Máu và hoa” , “ Một tiếng đờn” (1992) Thơ Tố Hữu đã đi chọn một chặng đ-ờng dài từ riêng đến chung và từ chung trở thành riêng Từ ấy là tập thơ mang rõ nét tình cảm ban đầu, chân thực trong sáng của tuổi trẻ đến với cách mạng, cái tôi tìm đến cuộc đời chung, đến với lẽ sống đẹp
đẽ, hoà nhập “ Một tiếng đờn” cũng là một khúc riêng chung là những chiêm nghiệm suy nghĩ của một đời trên nửa thế kỉ đấu tranh qua bao buồn vui, đ-ợc mất, hồn thơ đang lắng lại với thời gian, gợi mở nhiều tâm sự của tác giả Có thể nói những sáng tác của Tố Hữu ngay từ đầu cho đến bây giờ đều đ-ợc tồn tại và l-u truyền theo lịch sử, mỗi tập thơ là những nhân chứng sống, chứng kiến bao cuộc chiến tranh xâm l-ợc của đất n-ớc ta và sự chiến thắng vẻ vang cùng với bao đổi thay của dân tộc
Trần Huy Liệu đã khẳng định Tố Hữu là “ một thi sĩ, một chiến sĩ” và “ thơ
Tố Hữu không phải là một trò tiêu khiển mà là một khí cụ đấu tranh” Trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp thơ Tố Hữu trực tiếp đi vào cuộc sống, sống trong sự tiếp nhận, trong sự nồng hậu của quần chúng kháng chiến Suốt nhiều thập kỉ Tố Hữu vẫn đ-ợc xem là “ lá cờ đầu của thơ cách mạng” Ông
là ng-ời đốt lửa và gieo hạt trên cánh đồng thơ ca cách mạng của dân tộc mình, với một tình yêu và một lòng tin không bao giờ vơi cạn
1.1.2 Vai trò của Tố Hữu trong thơ ca cách mạng
Có thể nói Tố Hữu là con chim đầu đàn, có vai trò mở đầu và dẫn dắt nền thơ ca cách mạng Việt Nam Thơ cách mạng của ông có sức quyến rũ kì lạ Bởi
lẽ ng-ời đọc tìm đến và quan trọng hơn là ở lại lâu dài với nhà thơ Tr-ớc hết là vì họ cảm nhận đ-ợc ngọn lửa lí t-ởng ngời sáng cùng một trái tim yêu th-ơng con ng-ời rộng lớn và sâu thẳm, vốn là phẩm chất của những tài năng lớn đã toả
Trang 10ra từ nhà thơ đó Điều này đã làm cho “ Tố Hữu và thơ của Ông ngời lên một ánh sáng riêng biệt giữa một số đông các nhà thơ khác” Và với Tố Hữu lần đầu tiên trong lịch sử n-ớc nhà chúng ta có một kiểu nhà thơ hoàn toàn mới, nhà thơ của giai cấp vô sản, nhà thơ- chiến sĩ, biết đem đời mình và thơ mình ra chiến đấu cho ngọn cờ lí t-ởng cao cả vì độc lập, tự do của tổ quốc Thơ Ông là thơ kêu gọi, thơ chiến đấu, thơ hành động, là thơ “ mang cánh lửa” , “ đốt cháy trái tim con ng-ời và ngọn lửa thần của đại nghĩa” (Xuân Diệu) và đã có biết bao nhiêu ng-ời cảm động vì thơ Ông và từ thơ Ông mà đến với cách mạng ở Tố Hữu có
sự hoà quyện chặt chẽ giữa cái lí t-ởng cao đẹp mà Ông theo đuổi, với tâm hồn trong trẻo tràn đầy nhiệt huyết cách mạng và tình yêu Tổ Quốc nồng cháy cùng một nỗi cảm thông, xót th-ơng những con ng-ời lao khổ bị áp bức bóc lột đã làm nên gốc rễ và nguồn mạch sáng tạo của Ông trong suốt cuộc hành trình dài sau này
Sỡ dĩ thơ Tố Hữu có chất men lửa nồng nàn, có sức thanh lọc tâm hồn và kêu gọi con ng-ời v-ơn lên chính là vì trong trái tim Ông luôn bừng cháy ngọn lửa lí t-ởng của chủ nghĩa cộng sản và thơ ông do vậy mang đậm ý thức cách mạng vô sản và tính chiến đấu đã có tác dụng thức tỉnh, giục giã con ng-ời vùng lên đấu tranh
Thơ đối với Tố Hữu không phải là mục đích mà là ph-ơng tiện là một thứ
vũ khí sắc bén giúp Ông làm cách mạng Thơ hết là “ Tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí …” giữa cuộc đời Chính vì lẽ đó mà thơ Ông có tiếng nói sâu xa giữa dòng đời và có sức lắng đọng trong lòng độc giả Sức cảm hoá
đồng hoá, mối giao l-u tuyệt diệu ấy đã góp phần đ-a thơ Tố Hữu có vai trò hết sức quan trọng trong nền văn học cách mạng và chính điều này đã giúp cho thơ
Ông tr-ờng tồn mãi mãi với thời gian
1.2.1 Khái niệm màu sắc
Màu sắc là hiện phong phú, gần gũi mà con ng-ời nhận biết đ-ợc liên tục
Trang 11sắc luôn biến đổi trong các t-ơng quan bất tận của chúng d-ới tác động của các nguồn ánh sáng khác nhau Nguồn ánh sáng chủ yếu vẫn là ánh sáng mặt trời,
ánh sáng mặt trời lại liên tục thay đổi: ánh sáng buổi bình minh khác với buổi tr-a, chiều, tối Nguồn ánh sáng không chỉ tác động vào đối t-ợng có màu mà còn có tác động vào cả bộ máy quang học của con ng-ời là đôi mắt Bản thân đôi mắt với sự khép mở d-ới tác động của nguồn sáng, cũng thay đổi liên tục và tinh
vi Nh- vậy đó là một hiện t-ợng hội tụ 3 yếu tố: ánh sáng, một vật thể và một hệ thống tiếp thu nh- mắt
ánh sáng mặt trời đ-ợc phân tích thành quang phổ gồm 7 màu khác nhau
mà mắt th-ờng có thể nhìn thấy đ-ợc: Đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Tuy nhiên ánh sáng mặt trời lại không màu gần nh- màu trắng Quang phổ đ-ợc
đo bằng các b-ớc sóng [400 - đỏ thẫm đến 700 - xanh tím, milicrômét] bên cạnh
vị trí quang phổ hay là sự chuyển màu Phạm vi màu còn bao gồm hai khía cạnh khác nhau trong cùng một hệ thống liên kết Đó là sự tịnh tiến theo hình trụ đ-ợc biết đến nh- một hình khối màu ba chiều Sự bão hoà hạ thấp về phía trục trung tâm tạo ra hạt nhân màu của những màu xám trung tính, từ màu trắng từ điểm cuối chỗ sáng chói nhất đến màu đen ở cực đối lập Mặc dù nói đúng theo kiểu vật lí, thì “ đen” là sự thiếu vắng màu của bất kì “ màu sắc‟‟ nào “ trắng” là sự phân biệt quang phổ nh-ng trong các phạm trù đ-ợc phân biệt ở những hệ thống màu phổ cập , những vị trí màu sắc này (đen, trắng, xám ) trong hình khối màu
đ-ợc tính gộp với các vị trí đ-ợc xác định trong giải quang phổ
Môi tr-ờng xung quanh chúng ta dù là tự nhiên hay nhân tạo cũng đều là thế giới của màu sắc Tất cả vật đều có màu và rất ít khi màu của chúng trùng hợp nhau, tại sao mỗi vật lại có màu khác nhau nh- thế?
Nh- đã nói ánh sáng là một loại có sóng có nguồn sáng phát ra, bảy ánh sáng khác màu có bảy b-ớc sóng khác nhau Khi những sóng ánh sáng ấy truyền
đi và chiếu vào mắt ta sẽ tạo ra cho hệ thống thần kinh của chúng ta những cảm giác khác nhau, do đó ta phân biệt đ-ợc màu sắc khác nhau của sự vật
Trang 12Khi ánh sáng mặt trời chiếu lên các vật, những vật đó sẽ hấp thụ một phần, còn phần kia bị những vật đó phản chiếu Kết cấu vật chất khác nhau của mỗi vật thể quy định sự khác biệt trong khả năng hấp thụ và phản chiếu các sóng ánh sáng Chẳng hạn nếu ánh sáng chiếu lên một loại vải, mà loại vải này chỉ phản chiếu một thứ ánh sáng màu đỏ, và hấp thụ các loại ánh sáng màu khác thì ta sẽ nhìn thấy miếng vải đó có màu đỏ Một loại vải khác nếu chỉ phản chiếu ánh sáng màu vàng và hấp thụ ánh sáng màu khác thì nó sẽ có màu vàng
Vì sao một số vật nh- tờ giấy hay bức t-ờng quét vôi khi ánh sáng mặt trời chiếu lên thì có màu trắng? Đó là vì vật thể có khả năng phản chiếu đ-ợc tất cả các loại ánh sáng nó có b-ớc sóng khác nhau, sau đó các loại ánh sáng ấy phản chiếu vào mắt ta khiến ta trông thấy hỗn hợp nhiều màu khác nhau, do đó ta thấy
tờ giấy và bức t-ờng đều có màu trắng Ng-ợc lại khi ánh sáng mặt trời chiếu lên nhọ nồi hoặc hồ bóng những vật thể đó sẽ hấp thụ tất cả các loại ánh sáng khác màu, không phản chiếu loại ánh sáng nào, nên ta không nhìn thấy thứ ánh sáng nào cả và cảm thấy chúng có màu đen
Hoặc khi cho ánh sáng mặt trời chiếu lên một miếng vải nếu miếng vải đó
có khả năng phản chiếu một lúc hai thứ ánh sáng màu đỏ và màu da cam, ta sẽ nhìn thấy ánh sáng hỗn hợp hai loại màu và thấy miếng vải đó có màu đỏ da cam, nếu ánh sáng màu đỏ chiếu nhiều hơn thì miếng vải đó có màu đỏ da cam sẫm, nếu ánh sáng màu da cam nhiều hơn thì miếng vải có màu đỏ da cam nhạt
Nh- vậy nếu một vật có khả năng phản chiếu một lúc vài loại ánh sáng màu thì màu sắc vật đó là màu sắc hỗn hợp của các ánh sáng màu đ-ợc phản chiếu Thế giới quanh ta mỗi vật có một màu sắc riêng, hoặc có những vật có nhiều màu chính là do mỗi vật có khả năng hấp thụ và phản xạ ánh sáng khác nhau, hoặc cùng một vật nh-ng bộ phận của vật có khả năng phản chiếu một hoặc nhiều loại ánh sáng khác màu này, bộ phận kia lại có khả năng phản chiếu một lúc những ánh sáng màu khác Vì vậy có vật chỉ một màu đơn thuần, vật
Trang 131.2.2 Màu sắc trong ngôn ngữ và vai trò của màu sắc trong thơ
1.2.2.1 Màu sắc trong ngôn ngữ
a) Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) màu sắc đ-ợc định nghĩa: Khi đóng vai trò là danh từ – có hai nghĩa cơ bản sau:
- Màu sắc : 1 Các màu không kể trắng và đen (nói khái quát)
Ví dụ : Bức tranh nhiều màu sắc, màu sắc loè loẹt, màu sắc hài hoà
2 Tính chất đặc thù
Ví dụ : Nghệ thuật đ-ợm màu sắc dân tộc, màu sắc tôn giáo, màu sắc thời
đại…
- Màu sắc ẩn hiện: Màu sắc gây cảm giác khi xa khi gần khi mờ, khi tỏ,
do sử dụng có cung bậc các mảng màu sáng tối xen nhau
Bản thân từ “ màu” cũng gợi lên sắc thái biểu thị “ sắc” , “ Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê định nghĩa:
Màu: 1 Thuộc tính vật thể hiện ra nhờ tác động của ánh sáng và nhận biết
đ-ợc bằng mắt cùng với hình dáng giúp phân biệt vật này với vật khác
Ví dụ : + Màu đỏ của hoa ph-ợng
+ Màu xanh của n-ớc biển
2 Chất dùng để tô thành các màu khi vẽ
Ví dụ : Pha màu, hợp màu
3.Màu không kể đen và trắng (nói khái quát )
Ví dụ: ảnh màu, phông màu, phim màu
4 Toàn bộ nói chung những biểu hiện bên ngoài tạo nên cảm giác
có một tính chất nào đó
Ví dụ : Bầu không khí đ-ợm màu tang tóc…
b) Đi vào ngôn ngữ, màu sắc mang nghĩa bản thể (nét nghĩa miêu tả) và nét nghĩa dụng học, nói cách khác nó thuộc cấu trúc biểu niệm
Cấu trúc biểu niệm bao gồm nét nghĩa bản thể và nét nghĩa dụng học, các nét nghĩa này không đồng nhất Hai thành phần nội dung của ngôn bản là: Nội
Trang 14dung miêu tả và nội dung liên cá nhân Trong cấu trúc ý nghĩa của từ cũng có sự phân biệt các nét nghĩa miêu tả và nét nghĩa liên cá nhân, tức là nét nghĩa dụng học Trong cấu trúc biểu niệm của từ có không ít nét nghĩa phản ánh các thuộc tính của sự vật, hoạt động tính chất… trong thực tế những thuộc tính này là do co ng-ời gán cho sự vật, hoạt động, tính chất qua sự cảm nhận, qua tri giác, nhận thức của mình Không có con ng-ời không có nét nghĩa đó Các từ ngữ chỉ màu sắc cũng mang đầy đủ những đặc điểm đó
Ví dụ: Khi ta nói cấu trúc biểu niệm của từ “ hồng‟‟
“hồng hào” còn có nét nghĩa: “biểu thị trạng thái khoẻ mạnh” Nét nghĩa này rõ ràng là nét nghĩa do con ng-ời thì không có từ “ hồng hào” Đây là nét nghĩa có tính dụng học
Các sự vật, hiện t-ợng, tính chất vốn tồn tại nh- một thực thể khách quan Màu sắc cũng không nằm ngoài quy luật đó Khi đi vào ngôn ngữ các thực thể
đó thành ý nghĩa biểu vật, tức sự ngôn ngữ hoá vật chất, hiện t-ợng khách quan
đã là sự kiện dụng học rồi Con ng-ời có khả năng ít ra là phân biệt đ-ợc bảy màu trong quang phổ nh-ng không nên nghĩ rằng: xanh, đỏ, tím, vàng… là màu sắc khách quan Việc chọn lựa thuộc tính nào để ngôn ngữ hoá chúng, biến chúng thành nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm cũng là sản phẩm của hoạt đọng con ng-ời Sự thật có rất nhiều động vật mù màu, chẳng hạn nh- loài chó, nó chỉ
Trang 15sắc khác nhau trong ngôn cũng bắt nguồn từ con ng-ời, nghĩa là dựa trên cái nền dụng học tiềm ẩn: có con ng-ời mới có màu sắcđó, có những màu sắc nh- chúng ta đã đ-ợc gọi tên trong ngôn ngữ
Nh- vậy, tên gọi của các màu sắc mang tính võ đoán và nó đ-ợc quy định theo nhận thức khách quan mà con ng-ời gán ghép áp đặt Vì thế nó bị chi phối bởi ý thức và quan niệm chủ quan của con ng-ời
Ví dụ: Th-ờng lá của cây mang màu xanh nh-ng tại sao sắc màu đó lại gọi tên là xanh thì không ai giải thích đ-ợc Tính võ đoán nằm ở đó
Nhóm từ chỉ màu sắc không đơn thuần chỉ có xanh, đỏ, da cam, lục, lam, chàm, tím, mà ngay trong bảy sắc màu cơ bản đó cũng tồn tại những sắc độ khác nhau
Ví dụ: Cũng chỉ màu xanh nh-ng xanh khác với xanh lè, xanh rì, xanh ngắt, xanh non… và mỗi cấp độ màu xanh đó th-ờng đ-ợc gắn với những liên t-ởng, những sự gán ghép cố hữu cho những sự vật hiện t-ợng nhất định, trong ngôn ngữ học gọi đó là ý nghĩa liên hội (ý nghĩa liên hội là tất cả các ý nghĩa cố
định ch-a đi vào cấu trúc, ch-a nằm trong quan hệ riêng cho từng từ hay từng
đơn vị ngôn ngữ)
Ví dụ 1: Từ “ đỏ” có ý nghĩa liên hội “ đỏ của lá cờ”
Nếu đem so sánh nét nhĩa liên hội “ đỏ của lá cờ” với nét nghĩa “ của động vật sơ sinh” (trong từ “ đỏ hỏn‟‟ ) với nét nghĩa của mắt trong từ “ đỏ nọc” cho thấy hai nét nghĩa của hai từ sau có tác dụng tạo nên sự trái ng-ợc giữa chúng với nhau và với từ đồng cấp khác: “ đỏ hây” , “ đỏ ửng” , “ đỏ bầm” , “ đỏ loét”… chúng đã là một thành tố của cấu trúc biểu niệm của hai từ này ý nghĩa liên hội
“của lá cờ” ch-a có tác dụng nh- vậy đối với từ “đỏ‟‟
Tất nhiên “ đỏ nọc” , “ đỏ hỏn” , cũng có ý nghĩa liên hội Đối với “ đỏ hỏn”
là yếu đuối, bé nhỏ, đáng th-ơng lẫn với đôi chút kinh tởm… Đối với từ “ đỏ nọc”
là điên giận, hung bạo, mạnh mẽ, nguy hiểm, độc ác… Những ý nghĩa liên hội
Trang 16vừa dẫn, cùng tính chất với các ý nghĩa liên hội khác của từ “ đỏ” nh- “ khẩn cấp” , “ nguy hiểm” , “ t-ng bừng”
Ví dụ 2: Từ “ xanh” gợi liên hội đến sắc màu của lá cây, của n-ớc biển Nh-ng nếu đem so sánh nét nghĩa liên hội đó với nét nghĩa làn da ng-ời trong từ
“xanh xao”, “xanh mét”, “xanh rớt” và ý nghĩa ví với bản chất con ng-ời trong
từ “ xanh vỏ đỏ lòng” cho thấy nét nghĩa của 2 từ sau có tác dụng tạo nên sự trái ng-ợcgiữa chúng với nhau và với các từ đồng cấp khác nh-: “ xanh biếc” , “ xanh lè” , “ xanh lơ” , “ xanh hoà bình”…Dù rằng “ xanh mét” , “ xanh rớt” , “ xanh xao” ,
“xanh vỏ đỏ lòng” cũng có ý nghĩa liên hội “Xanh mét”, “xanh rớt”, “xanh xao” gợi sắc thái ốm yếu, bệnh tật thì “ xanh vỏ đỏ lòng” khiến liên hội đến những ng-ời có những biểu hiện bên ngoài trái ng-ợc hẳn với bản chất (hàm ý chê bai)
Nh- vậy các từ chỉ màu sắc mang ý nghĩa liên hội nên nó nặng về tính chất chủ quan, không ổn định và rất không thuần nhất: có những ý nghĩa liên hội của từng cá nhân có những ý nghĩa liên hội của từng cá nhân, có những ý nghĩa liên hội của từng nhốm nghĩa theo nghề nghiệp, tôn giáo… trong một xã hội
c) Xét ở ph-ơng diện hệ thống: từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt có 2 lớp từ cơ bản sau:
- Lớp từ cơ sở: (lớp từ trừu t-ợng) gồm 9 màu: đen, trắng, đỏ, vàng, xanh, tím, nâu, hồng, xám
Lớp từ này có đặc điểm sau:
+ Về mặt hình thức: - Đa số là từ đơn tiết
- Là lớp từ phổ biến và đ-a vào sử dụng rộng rãi + Về mặt ý nghĩa: có phạm vi hiểu vật rộng rãi, đ-ợc sử dụng cho một số l-ợng đa dạng các sự vật hiện t-ợng
Chín từ này có khả năng tạo ra hàng loạt từ chỉ màu phát sinh với phạm vi hiểu vật hẹp hơn Đây là đặc điểm quan trọng nhất nhằm miêu tả sự vật hiện t-ợng một cách chính xác, trọn vẹn
Trang 17Ví dụ: Từ “ xanh” có khả năng phát sinh các từ mới mang ý nghĩa hẹp nh-: xanh lè, xanh xao, xanh rớt… chính các lớp từ phát sinh làm nên nét độc đáo về ý nghĩa trong vốn từ chỉ màu tiếng Việt
- Lớp từ cụ thể: (hay còn gọi là lớp từ đặc tr-ng) ở đây chúng đ-ợc m-ợn trực tiếp từ tên gọi của đối t-ợng, sự vật và thuộc tính sự vật trong thế giới khách quan, chẳng hạn:
+ Nhóm từ chỉ các loại màu vải vóc, len sợi nh-: vàng tơ, vàng cà rốt, xanh công nhân, tím nhung…
+ Nhóm từ gọi tên màu của các kim loại, khoáng sản: tím than, xanh thép, trắng bạc, màu đồng gỉ…
+ Nhóm từ chỉ màu sắc tự nhiên: trắng tuyết, xanh da trời, xanh n-ớc biển
+ Nhóm từ và tên gọi từ màu một số loại thức ăn, thức uống : màu bánh mật, màu kem, trắng sữa, vàng mật ong…
+ Nhóm từ chỉ tên gọi từ màu các loại thực vật: đỏ bồ quân, màu cỏ ấu, màu cốm, màu chanh…
Ngoài ra lớp từ màu sắc trừu t-ợng và lớp từ chỉ màu sắc cụ thể còn có những loại từ khác hình thành bằng từ ghép chỉ màu sắc Nó đ-ợc phát sinh từ chín màu cơ bản:
Ví dụ: + Từ “ đen” có thể phát sinh hàng loạt từ khác trong hệ thống từ
đen: đen nhức, đen nháy, đen huyền, đen láy, đen giòn, đen kịt…
+ Từ “ đỏ” : đỏ au, đỏ bừng, đỏ cạch, đỏ ối, đỏ…
+ Từ “ tím” : tím bầm, tím ngắt, tím biếc…
+ Từ “ xám” : xám ngắt, xám xì, xám xịt…
+ Từ “ xanh” : xanh mét, xanh ngắt, xanh rì, xanh non…
Nh- vậy các từ chỉ khái niệm về màu sắc tr-ớc hết nó mang ý nghĩa định danh, giúp con ng-ời phân biệt sự khác nhau giữa các sắc màu Bên cạnh đó bản thân các từ chỉ màu, nhất là các từ chỉ màu cụ thể luôn kèm những nét nghĩa nhất định
Trang 181.2.2.2 Vai trò của màu sắc trong thơ
Màu sắc là lĩnh vực không xa lạ đối với bất cứ một thời đại nào, dân tộc nào, màu sắc đi qua thời gian,đến khắp mọi nơi mọi miền và dần dần hình thành nên những hiện t-ợng màu sắc mang dấu ấn của thời đại của dân tộc, của cộng
đồng đó Và màu sắc đó đi vào trong thơ cũng rất tự nhiên Thế giới thiên nhiên muôn màu sắc này đi vào trong thơ qua con mắt của thi nhân trở nên lung linh,
đầy ánh màu Chính vì thế màu sắc trong thơ có vai trò rất quan trọng, nó thể hiện ở một số vai trò sau:
- Màu sắc chuyển tải nỗi niềm của thi nhân tr-ớc cuộc đời,cảnh vật và con ng-ời
- Màu sắc góp phần xây dựng thế giới thiên nhiên tràn đầy sắc màu nghệ thuật
- Màu sắc còn đem lại một ngôn ngữ thơ gắn ngữ điệu - cảm xúc của con ng-ời
- Màu sắc còn tạo nên cái nhìn h-ớng ngoại - một nhãn quan tạo hình trong thơ
Tiểu kết
Nh- vậy qua việc tìm hiểu “ Một số vấn đề chung” ta hiểu một cách sâu sắc hơn về con ng-ời, vị trí, vai trò của Tố Hữu và thơ Tố Hữu trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam Đồng thời ta hiểu đ-ợc màu sắc là gì? vai trò của màu sắc trong cuộc sống nh- thế nào? và vai trò của màu sắc trong ngôn ngữ đ-ợc thể hiện ra sao? Và để từ đó ta có thể khẳng định rằng màu sắc nó là yếu tố vô cùng quan trọngnó có thể giúp con ng-ời phân biệt đ-ợc sự vật này hay sự vật khác trong cuộc sống Và trong thơ văn thì màu sắc không chỉ để phân biệt các sự vật với nhau mà còn giúp cho các thi nhân bộc lộ tình cảm, nỗi niềm của mình để giao hoà với thế giới xung quanh Và từ đó tạo nên những bức tranh thiên nhiên quyến rũ lòng ng-ời
Trang 19Qua khảo sát chúng tôi đã thống kê ra tất cả các màu sắc xuất hiện trong thơ và thu đ-ợc kết quả là tác giả đã sử dụng đến 19 màu sắc khác nhau hoặc gần nhau
Trang 20Cụ thể là với các màu xuất hiện nhiều là: xanh 216 lần (chiếm 30,6%), đỏ
150 lần (chiếm 21,2%), vàng 93 lần (chiếm 13,2%), trắng 81 lần (chiếm 11,5%)
và hồng 61 lần (chiếm 8,64%) Còn những màu xuất hiện ít nh-: đen 25 lần (3,54 %), bạc 24 lần (3,4%), nâu 12 lần (1,7 %)… và thậm chí có những màu chỉ xuất hiện có một lần nh-: huyền, chàm, lục, h-ờng 2 lần (0,28%), ngà 3 lần (0,43%)
Khi quan sát từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu cũng nh- trong thơ Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo thì ta bắt gặp nhiều màu sắc t-ơi hơn màu tối Tuy nhiên muốn xác định đ-ợc tính chất của màu sắc trong một tác phẩm thơ, ta phải xét các từ màu sắc đó trong mối liên hệ với từ khác của câu thơ (thì
ta mới thấy đ-ợc ý nghĩa của màu đó) Nh- Giắc-xơn viết: "nói rằng lời nói gồm những từ ch-a đủ, nó gồm những từ liên quan đến nhau một cách đặc biệt: nếu không có một quan hệ qua lại đặc biệt đối với các thành viên của nó thì một câu nói bằng lời lẽ… không tạo nên một mệnh đề gì hết" (ch-ơng 2 Hai mặt của ngôn ngữ và hai kiểu bệnh mất tiếng) Mối quan hệ đó tr-ớc tiên là sự tổ hợp của tính từ màu sắc với danh từ, động từ, và các tính từ khác và quan trọng hơn là với
Trang 21mắt vàng, má vàng (xấu), vàng t-ơi, vàng chói (đẹp) khác với vàng khô, vàng úa (xấu)… “ đen” là một màu tối th-ờng mang ý nghĩa xấu (đất đen , bóng đen , thâm đen…) nh-ng “ lóng lánh mắt đen” thì lại rất đẹp Và cũng là màu "biếc" nh-ng nằm trong những kết hợp khác nhau thì ý nghĩa có thể có khía cạnh khác nhau:
Nên bâng khuâng s-ơng biếc nhớ ng-ời đi
Nh- chúng ta đã biết Tố Hữu là nhà thơ cách mạng, quá trình sáng tác thơ của Tố Hữu gắn với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, do vậy mà sáng tác thơ của Tố Hữu luôn luôn h-ớng đến một t-ơng lai t-ơi sáng của dân tộc, của đất n-ớc và điều này thể hiện rõ ở những từ chỉ màu sắc trong thơ của ông Và do vậy những câu thơ có màu sắc t-ơi sáng chiếm số l-ợng lớn Cho nên ta có thể nói rằng màu sắc trong thơ của Tố Hữu nhìn chung là t-ơi sáng, rực rỡ, phản ánh cái nhìn lạc quan của nhà thơ đối với cảnh vật thiên nhiên
Nh- vậy ta có nhận xét chung về một số màu sắc có tần số xuất hiện cao trong thơ Tố Hữu:
a) Màu xanh
Nói đến màu xanh th-ờng gợi cho ta cảm giác non mát và bình yên nó th-ờng gắn liền với cỏ cây hoa lá, nó th-ờng là biểu t-ợng cho tuổi trẻ, -ớc mơ… trong thơ của Tố Hữu thì màu xanh xuất hiện với tần số cao nhất (216 lần) nhìn
Trang 22chung thì nó là màu xanh t-ơi mát, nó không chỉ là màu xanh của cỏ cây hoa lá
mà còn là “ màu xanh quê h-ơng” , “ màu xanh của tình yêu đằm thắm” “ màu xanh chiến thắng “ (Chiếc áo xanh -1965), màu xanh của hy vọng (Xuân 69), màu xanh của tuổi trẻ
Màu xanh trong thơ của Tố Hữu nó xuất hiện gắn liền với cỏ, cây, hoa, lá, với bầu trời, thiên nhiên thể hiện sự t-ơi sáng của thiên nhiên của vũ trụ bao la rộng lớn:
Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời xanh biển rộng ruộng đồng n-ớc non
(Sáng tháng năm, 1951)
Hoặc
Rừng xanh hoa chuối đỏ t-ơi
Đèo cao nắng ánh dao cài thắt l-ng
(Việt Bắc, 1954)
Vì muôn đời hoa lá t-ơi xanh
Ta quyết thắng giành mùa xuân đẹp nhất
(Bài ca xuân 68)
Màu xanh còn thể hiện không khí t-ơi vui đàm ấm hạnh phúc, đ-ợc h-ởng
độc lập tự do, cuộc sống ấm no của lòng ng-ời:
Trời bỗng xanh hơn nắng chói loà
(Theo chân Bác, 1970)
Màu xanh còn biểu t-ợng cho chiến thắng, của quê h-ơng và màu xanh của tình yêu:
- Với màu xanh chiến thắng
Của miền Nam yêu th-ơng
- Anh sẽ quen gian khổ
Với màu xanh quê h-ơng
Trang 23Của tình yêu đằm thắm
(Chiếc áo xanh, 1965)
Và màu xanh trong thơ của Tố Hữu còn xuất hiện với màu xanh của hi vọng, màu xanh của tuổi trẻ:
Lại là đất xanh t-ơi cuộc sống
Và xanh nhất màu xanh hi vọng
(Xuân 69)
Đồng ngô non phơi phới tuổi xuân xanh
Quê h-ơng con đây mùa ngọt lành
(Giữa ngày xuân)
Trong thơ Tố Hữu, màu xanh đ-ợc gắn với rất nhiều đối t-ợng khác nhau, nó không chỉ là màu xanh của cây, của quê h-ơng, của tình yêu, của tuổi trẻ mà màu xanh còn thể hiện cho những kỉ niệm t-ơi tắn của một thời mơ mộng, thiết tha yêu đất n-ớc, yêu con ng-ời…
Có thể nào quên? Hỡi Miền Nam sâu thẳm
Của lòng ta! Hỡi ngày xanh thắm
(Có thể nào yên, 1962)
Tố Hữu còn viết nhiều, nói nhiều đến tấm lòng xanh
Nghe con chim hót trong lồng tim xanh
(Tiếng sáo Li Quê , 1938)
Hay
Lòng ta nh- n-ớc H-ơng Giang ấy
Xanh biếc lòng sông những bóng thông …
(Quê mẹ, 1955)
Và màu xanh còn gợi lên cho ta một sự th-ơng cảm dạt dào về cái chết
đẹp đẽ, một sự hi sinh thanh khiết cao cả… khi nói về cái chết của Phạm Hồng Thái tác giả viết: "chết nh- dòng n-ớc xanh" (1956)
Trang 24Nh- vậy ta thấy rằng trong thơ Tố Hữu, màu xanh đ-ợc thể hiện một cách tràn ngập, đ-ợc gắn với nhiều đối t-ợng khác nhau thể hiện sự t-ơi vui, t-ơi mát Màu xanh không chỉ của cỏ, cây, của bầu trời, mà còn là màu xanh của tình yêu, xanh của ruổi trẻ, xanh của hi vọng xanh của t-ơng lai… Hay nói cách khác, màu xanh trong thơ Tố Hữu không chỉ là màu xanh của vũ trụ bao la mà chính là màu xanh trong tâm hồn gắn với giá trị thiêng liêng Chính điều này thể hiện một sức sống, sự lạc quan vào t-ơng lai, vào cuộc sống
b) Màu đỏ
Nếu nh- màu xanh gắn với cỏ cây, hoa, lá, với tình, với tuổi trẻ… thì màu
đỏ gắn với hình ảnh ngọn lửa, đến mặt trời, đến máu và đặc biệt là làm ng-ời ta nghĩ đến màu của cách mạng
Tr-ớc kia màu “ đỏ” cũng đ-ợc dùng trong thơ nh-ng phần lớn chỉ với t- cách là một màu tự nhiên nh- những màu khác:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong v-ờn sắc đỏ rũa màu xanh
Trang 25Ta đi tới bốn nghìn năm lịch sử
Đêm nay tràn hoa đỏ nhụy vàng t-ơi
(Vui bất tuyệt, 1946)
Hôm nay đ-a tôi qua những căn nhà
Kể lại từng ch-ơng sử đỏ
(Với Lê-nin, 1958)
Hay màu đỏ nó t-ợng tr-ng cho màu máu của trái tim:
Anh gục xuống , không, anh thẳng dậy
Hãy còn hô: Việt Nam muôn năm
Máu tim anh nhuộm đỏ đất anh nằm
(Hãy nhớ lấy lời tôi, 1964)
Có khi hình ảnh mùa xuân, hình ảnh đất n-ớc đang chiến đấu, sự hi sinh của những chiến công oanh liệt:
Hỡi mùa xuân lộng lẫy mai vàng
Hãy sớm nở trang hoàng dải đất
Đỏ thắm màu hi sinh và những chiến công đẹp nhất
(Xuân 69)
Màu đỏ trong thơ của Tố Hữu, còn thể hiện hình t-ợng Bác Hồ vĩ đại đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam làm cách mạng gian khổ nh-ng vinh quang:
Ng-ời ngồi đó với cây chì đỏ
Vạch đ-ờng đi từng phút từng giờ
(Sáng tháng năm, 1951)
Màu đỏ còn t-ợng tr-ng cho tình cảm đỏ, -ớc mơ đỏ, t-ơng lai đỏ, nụ c-ời đỏ:
Mà nói vậy: trái tim ta đó
Rất chân thật chia ba phần t-ơi đỏ (Bài ca mùa xuân 1961)
Máu đã rơi nhiều đỏ -ớc mơ
(Xuân sớm, 1961)
Trang 26H-ớng đến một t-ơng lai rực đỏ:
Bốn ph-ơng trời đỏ rực t-ơng lai
(Dậy lên thanh niên)
Hay
Đã vui rồi môi đỏ nụ c-ời hoa
(Mùa thu mới, 1958)
Và đặc biệt là hình ảnh cờ đỏ xuất hiện rất nhiều, trở thành biểu t-ợng đẹp
đẽ nhất trong thơ của Tố Hữu:
Hai ngọn cờ đỏ máu thơm t-ơi
Chiến thắng ôm nhau, biên c-ơng mở hội
(Đ-ờng sang n-ớc bạn, 1956)
Hay
Hôm nay biên giới mùa xuân dậy
Núi trắng hoa mơ cờ đỏ đ-ờng
(Mục nam quan, 1957)
Màu đỏ trong thơ của Tố Hữu với tần số xuất hiện sau màu xanh nó cũng gắn với nhiều đói t-ợng và những ý nghĩa khác nhau: gắn với máu, với cờ, với tình cảm, với -ớc mơ… cũng từ đó mà ta ý thức trọn vẹn về màu đỏ, tạo nên sự rực rỡ trong thơ Tuy nhiên không phải màu đỏ trong thơ của Tố Hữu đã thoát li khỏi hẳn quá khứ truyền thống Cái gót đỏ trong trắng vô tội trong câu ca dao
“còn cha gót đỏ nh- son”… đã đ-ợc nhà thơ tái hiện trong câu thơ viết về chị Trần Thị Lý:
Em sẽ đứng dậy trên đôi chân tuổi trẻ
Đôi gót đỏ lại trở về quê mẹ
(Ng-ời con gái Việt Nam, 1958)
Tuy nhiên hình ảnh này xuất hiện rất ít trong thơ Tố Hữu và không phải là hình ảnh chủ đạo trong thơ Ông
Trang 27c) Màu vàng
Khi nói đến màu vàng ng-ời ta th-ờng liên t-ởng đến thứ kim loại quý hiếm cùng tên gọi Vì thế mà "vàng" biểu hiện sự quý hiếm, với các kết hợp: tuổi vàng, cơ hội vàng, quả tim vàng, lời vàng, tấm lòng vàng, thiên sử vàng, bạn vàng…
Mặt khác màu vàng còn gắn với sự héo úa của cây trái nên cũng gợi lên cảm giác ốm yếu, bệnh tật, t-ơng phản với màu đỏ khoẻ mạnh Vì thế mới có sự phân biệt nhạc vàng (nhạc thời Mỹ nguỵ) với nhạc đỏ (nhạc cách mạng)
Đó là sự biểu tr-ng màu vàng x-a nay ng-ời ta th-ờng hiểu Vậy thì màu vàng xuất hiện trong thơ của Tố Hữu thì nh- thế nào?
Màu vàng đi vào trong thơ Tố Hữu với nhiều ý nghĩa khác nhau, và có những kết hợp khác nhau Tuy thơ Tố Hữu, màu vàng cũng gắn với lá, với trăng, với thuốc pháo, của mái tóc, của mùa, của mắt, của úa, của khô và đặc biệt là gắn với hình ảnh “ sao vàng‟‟ trở thành hình ảnh chủ đạo trong thơ Tố Hữu
Màu vàng trong thơ Tố Hữu xuất hiện với nhiều sắc thái và ý nghĩa khác nhau nh-: vàng khô, vàng úa khác với vàng t-ơi, vàng chói, có sự đối lập giữa xấu và đẹp:
áo quần lam rách duới dáng bơ phờ
Múc gió vàng trong những nón vàng khô
(Tr-a tù, 1939)
Hay
ý chết đã phơi vàng héo úa
Mùa thu lá sắp rụng trên đ-ờng
(Dửng d-ng, 1938)
Khác với:
Ta đi tới bốn nghìn năm lịch sử
Đêm nay tràn hoa đỏ nhuỵ vàng t-ơi
(Vui bất tuyệt, 1946)
Trang 28Màu vàng trong thơ Tố Hữu thể hiện sự cao quý, thiêng liêng gắn với “ tên vàng” , „ thiên sử vàng” :
(Ba m-ơi năm đời ta có đảng )
Màu vàng trong thơ Tố Hữu tuy có đôi lần xuất hiện với màu vàng héo
úa, còn hầu nh- màu vàng xuất hiện sự t-ơi đẹp, sự quý hiếm, thiêng liêng, màu vàng của cách mạng Nh- ở Thơ Mới màu vàng th-ờng gắn với nỗi buồn, gắn với mùa thu, với lá vàng héo úa, với trăng:
Màu vàng trong “ tiếng thu” của L-u Trọng L- đ-ợm “ sắc thu”
(Còn chi nữa - L-u Trọng L-)
Màu vàng đó là sắc màu của quá khứ, của nuối tiếc, của xa x-a
Màu vàng trong thơ của Tố Hữu là màu vàng t-ơi sáng, màu vàng của lá
cờ cách mạng, màu vàng của chiến thắng Nó biểu hiện ở hình ảnh “ sao vàng” hình ảnh này xuyên suốt trong thơ của Tố Hữu, với tần số xuất hiện dày đặc: Tiến lên giành quyền sống
D-ới cơ đỏ sao vàng
(Giết giặc, 1945)
Hình ảnh sao vàng thôi thúc ý chí quyết tâm chiến thắng của nhân dân ta,
Trang 29Quyết chiến quyết thắng cơ đỏ sao vàng vĩ đại
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)
Hay
T-ớng quân bay lố nhố cơ hàng
Trông: chúng ta cơ đỏ sao vàng
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)
Và sao vàng còn nh- sự kiêu hãnh, hiên ngang;
Em sẽ đi trên đ-ơng đầy thênh thang
Nh- những ngày x-a rực rỡ sao vàng
(Ng-ời con gái Việt Nam, 1958)
Nhìn chung màu vàng xuất hiện trong thơ của Tố Hữu không phải là màu vàng của sự u buồn , của màu vàng tàn tạ, héo úa mà màu vàng ở đây rực rỡ, khoẻ khoắn góp phần cho thơ đ-ợm sắc màu
d) Màu trắng
Màu trắng th-ờng gợi lên vẻ sạch sẽ, rõ ràng và chứng tỏ sự thuần khiết
“không pha lẫn” Chính yếu tố nghĩa “không có gì” này tạo ra nhiều biểu tr-ng thú vị: trắng án - không có tội; bỏ phiếu trắng- không có ý kiến, không đồng ý; tay trắng; chân trắng; không có của cải; vùng trắng, cơ sở trắng - không có phát triển; thức trắng - suốt đêm không ngủ… nh-ng ở mức độ cao nhất khoán trắng - khoán toàn bộ; trắng địch - hết địch…
Đó là những biểu tr-ng thú vị của màu trắngmà ta th-ờng gặp trong cuộc sống Vậy thì màu trắng đã đi vào trong thơ Tố Hữu đ-ợc miêu tả nh- thế nào? màu trắng trong thơ của Tố Hữu với nhiều ý nghĩa khác nhau Màu trắng một mặt khêu gợi cái lạnh lẽo, sự trống rỗng, chết chóc ghê rợn:
Một vùng trắng bãi tha ma
Lặng im không một tiếng gà gáy tr-a
(Bà má Hậu Giang, 1941)
Trang 30Ngày mai trong giá trắng ngần
Cô thôi kiếp sống đàythan giang hồ
(Tiếng hát sông H-ơng, 1938)
Quê h-ơng ta nghe phất phới trong lòng
Đôi cánh cò trắng vẫn mênh mông
(Trên đ-ờng thiên lý, 1964)
Sự lạc quan, t-ởng vào cuộc sống, vào t-ơng lai:
Ng-ời con gái, l-ợn quan đồng hớn hở
Quê em đó! Hàm răng em trắng nở
(Giữa ngày xuân, 1963)
Và màu trắng còn thể hiện sự thanh khiết của thiên nhiên, sức sống t-ơi mát của vũ trụ bao la:
M-ờng Thanh, Hồng cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng v-ờn cam lại vàng
Trang 31Thể hiện niềm vui:
Xuân b-ớc nhẹ trên nhành non lá mới
Bạn đời ơi, vui chút cả trời hồng
(ý xuân, 1939)
“Trái tim hồng” sự thiêng liêng:
Chết mà ch-a giết đ-ợc lũ đê hèn
Trái tim hồng chết uất máu bầm đen
(Thù muôn đời muôn kiếp không tan, 1959) Tác giả sử dụng âm Hán Việt “ hồng” cũng có nghĩa là “ cờ đỏ” , để làm giảm bớt sắc độ màu “ hồng” ở đây thực ra cũng là đỏ nh-ng nó thể hiện sự t-ơi tắn chứ không rực rỡ nh- đỏ:
Dù ai quay h-ớng đổi lòng
Con thuyền ta với cờ hồng cứ đi
(Phút giây…, 1979)
Về ph-ơng Đông, ta về ph-ơng Đông
Trang 32Cùng ph-ơng Tây, gi-ơng ngọn cờ hồng
Vừa trở lại Đôi má hồng rạng rỡ
Nh- cô gái đầu tiên sinh nở
(Chào năm 2000)
Thơ của Tố Hữu khác với Thơ mới, Thơ mới màu hồng th-ờng gợi lên hình ảnh đôi má của ng-ời con gái:
Đôi má hồng em chúm nụ c-ời
Đôi mắt em say màu xam lạnh
Màu hồng trong thơ Tố Hữu chỉ xuất hiện có hai lần là gắn với hình ảnh
đôi má Còn nhìn chung nó xuất hiện với ý nghĩa t-ơi vui đầm ám, linh thiêng -
và từ đó nó tạo nên giá trị tinh thần, giá trị vĩnh cửu của lí t-ởng
h) Màu đen
Nh- ta đã biết màu đen th-ờng gợi lên cảm giác tăm tối, không rõ ràng, lạnh lẽo do đó là biểu t-ợng có ý nghĩa xấu Những hình ảnh nh-: đem đen, bùn
Trang 33đen xuất hiện, gợi lên cái u buồn nghê rợn, căm uất tr-ớc những tàn tích cũ của
thế lực bạo tàn còn tồn tại, đó là sự nhớp nháp nghèo khổ:
Những phố chợ gầy đen hấp hối
Bỗng tuôn trào n-ớc mắt hoan hô
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta, 1955) Màu đen biểu hiện sự chết chóc, nặng nề, sự căm hờn:
Mẹ ơi! đừng khóc nữa mà héo hon
Đất đen phủ nặng mình con
(Cho đời tự do, 1949)
Hay
Xin hãy trông những đôi mắt nhỏ
Đôi tròng đen lặng gió r-ng r-ng
(Miền Nam, 1963)
Và màu đen là sự hung tợn, dã man:
Giặc xanh đến với lũ diều hâu
Che ánh mặt trời đen ánh mặt đất
(Hành khúc, 1963)
Hoặc
Bầy giết thuê và lũ viết thuê
Hai hàng đen, súng cắm l-ỡi lê
(Hãy nhớ lấy lời tôi, 1964)
Màu đen trong thơ Tố Hữu bao hàm lên một sự ảm đạm, thê l-ơng, u
buồn Duy chỉ có câu thơ “ long lanh mắt đen nhìn biển biếc” (từ Cu Ba) là nói
cái đôi mắt đẹp nh-ng nó vẫn chứa nỗi buồn xa xăm
Nh- thế ta thấy nhóm từ biểu thị màu sắc trong thơ Tố Hữu với những
màu xuất hiện nhiều: xanh, đỏ, trắng, vàng, hồng, còn những màu: đen, xám,
nâu, bạc,… xuất hiện ít hơn Cũng từ đó ta thấy màu sắc với gam màu sáng, gam