Còn nhà thơ Phạm Hổ, ngời theo dõi thơ Khoa trong nhiều năm cũng có nhận xét: “Đọc thơ Khoa, ta thấy làng quê Việt Nam hiện ra, với biết baonhiêu cảnh vật, bao nhiêu con ngời… đều nổi ti
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Chúng ta đều biết rằng, mỗi ngời đến với thơ ca bằng nhiều con đờngkhác nhau, có ngời đến với thơ ca từ tuổi ấu thơ, nhng cũng có ngời sau nhữngtrải nghiệm cuộc đời mới tìm đến với thơ ca để bộc bạch nỗi lòng mình Trần
Đăng Khoa thuộc trờng hợp thứ nhất, mới bảy tuổi đã có thơ và nhanh chóngxuất bản tập thơ đầu tay khi còn ở lứa tuổi thiếu niên Từ đó cho thấy tài năngcủa tác giả đã đợc bộc lộ ngay từ khi còn rất nhỏ Đây là một hiện tợng rất ít khixảy ra trên thế giới Tất nhiên, Trần Đăng Khoa không phải là ngời duy nhất làm
đợc thơ khi còn nhỏ Ngợc dòng thời gian quay trở về với lịch sử Trung Hoa thời
Trang 2nhà Đờng có hai nhà thơ lớn cũng phát lộ tài năng còn bé nh Đỗ Phủ (bảy tuổilàm thơ), Lý Bạch (8 tuổi làm thơ), nhng mãi đến sau này tên tuổi của họ mới đ-
ợc biết đến
Nh vậy, chúng ta có thể thấy đợc vị trí và tầm quan trọng của thơ Trần
Đăng Khoa đối với độc giả yêu thơ
1.2 Đối với mỗi con ngời, hình ảnh làng quê thân thơng luôn có vị trí
đặc biệt trong trái tim mình Đó là những cảnh vật quen thuộc gần gũi cùngnhững con ngời đang gắn bó đờng đời của mình Để rồi mỗi khi nhớ về chúng,trong ta lại hiện lên bao hình ảnh cùng với sắc màu riêng Mỗi cảnh vật conngời đều gắn với một sắc màu mang tính đặc trng riêng
Với mong muốn tìm hiểu lớp chỉ màu sắc trong việc thể hiện hình ảnhlàng quê trong thơ Trần Đăng Khoa, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này
để thấy đợc cách cảm nhận riêng biệt, độc đáo của nhà thơ Trần Đăng Khoa
2 Lịch sử vấn đề.
Chúng ta đều biết rằng trong ngôn ngữ thơ ca thì từ chỉ màu sắc cũng rấtphong phú và đa dạng Nhng để nghiên cứu nó một cách sâu sắc, để làm nổibật lên giá trị của màu sắc thơ ca thì cha nhiều Trong “Những thế giới nghệthuật thơ” của Giáo s Trần Đình Sử (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998), và
“Những vấn đề lý thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ” của tập thể tác giảgiảng viên khoa ngữ văn Trờng Đại học Vinh (NXB Giáo dục, 2001) đã cónhững bài viết thật sự bàn về giá trị của sắc màu nghệ thuật Trần Đình Sửnhìn thấy sắc màu trong Truyện Kiều, Biện Minh Điền tìm ra đợc cái hay củangôn ngữ màu sắc và màu sắc ngôn ngữ trong thơ của Nguyễn Khuyến.Những bài viết của các tác giả trên đã nhìn thấy đợc ít nhiều vị trí của màu sắctrong văn học nhng đó là màu sắc trong đôi mắt của các nghệ sĩ thời trung đại,
nó cha trở thành xu hớng mà mới lẻ tẻ rải rác, chỉ là mầm mống nền tảng chonhững giai đoạn văn học tiếp theo
Bớc sang giai đoạn văn học hiện đại thì ngôn ngữ chỉ màu sắc trong thơcàng phong phú hơn nhiều và đã có một số bài viết, bài nghiên cứu về nó Đó
là luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh “Khảo sát nhóm từ biểu thị
Trang 3màu sắc trong thơ mới”, hay một số bài viết của Đào Thản “Hệ thống từ chỉmàu phụ trong tiếng Việt” và “Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc của tiếng Việttrong sự liên hệ với mấy điều phổ quát”, rồi bài viết của tác giả Lê Anh Hiền
“Cách dùng tính từ chỉ màu sắc của Tố Hữu” Tất cả những bài viết này đã bắt
đầu đi vào hớng phân tích giá trị của thi phẩm qua ngôn ngữ màu sắc
Ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn, thơ Trần Đăng Khoa đã tạo nên mộthiện tợng lạ “xa nay cha từng có” thu hút đợc sự chú ý của đông đảo giới phêbình nghiên cứu trong và ngoài nớc với nhiều ý kiến khác nhau Nhà thơ TốHữu viết: “Tập thơ Góc sân và khoảng trời có rất nhiều bài thơ hay, tập thơnày có vị trí xứng đáng trong thơ Việt Nam và tôi cha thấy trên thế giới trẻ emnào lại có những bài thơ nh vậy cả, tinh hoa văn hoá dân tộc đã dồn đúc lạitrong một số ít ngời, trong đó có Khoa” (An ninh thế giới,số 116,11-3-1999)
Đi sâu vào thế giới thơ Trần Đăng Khoa, ta thấy đợc biết bao điều lýthú, cái hay cái đẹp, những tinh hoa văn hoá dân tộc, hồn quê đất nớc Nhànghiên cứu Vân Thanh đã viết: “Thơ Khoa những dòng thơ tơi mát, hồn nhiên,những dòng thơ ấm áp tình ngời đã làm tăng lên trong mỗi ngời đọc tình yêuquê hơng và lòng tự hào dân tộc” Giáo s Nguyễn Đăng Mạnh khi tiếp xúc vớithơ Trần Đăng Khoa cũng có nhận định: “Làng quê đã tạo nên thơ Khoa từmàu sắc đến linh hồn”
Nh vậy, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về thơ Trần Đăng Khoa và thấy
đợc giá trị trong việc thể hiện hình ảnh làng quê và con ngời Việt Nam với bao
sự vật, hiện tợng cụ thể Và cũng đã phần nào thấy đợc vai trò của từ chỉ màusắc với hình ảnh làng quê Tuy nhiên, họ mới chỉ bớc đầu đề cập đến chứ chathực sự đi sâu vào khai thác từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa
Với mong muốn tiếp nối những kết qủa của những ngời đi trớc, trongphạm vi của kháo luận này chúng tôi đi vào nghiên cứu thơ Trần Đăng Khoa
từ góc nhìn của từ chỉ màu sắc trong việc thể hiện bức tranh làng quê ViệtNam đơng thời Ngay từ thuở xa xa màu sắc đã đợc hiện diện khắp chốn khắpnơi trong cuộc sống con ngời Và màu sắc cũng đã chuyển tải vào ngôn ngữ vàmang giá trị biểu đạt nhất định
Trang 4Trong thơ Trần Đăng Khoa, lớp từ chỉ màu sắc đã tô điểm cho thiênnhiên đất nớc và con ngời một chiếc áo lung linh huyền diệu.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Mục đích.
Qua việc khảo sát và miêu tả nhóm từ biểu thị màu sắc trong thơ Trần
Đăng Khoa, khoá luận đi vào phân tích ngữ nghĩa và hiệu qủa nghệ thuật củachúng trong việc khắc họa nên bức tranh làng quê Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ
Với phạm vi của một khoá luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu những vấn
đề sau:
- Khảo sát, thống kê, phân loại từ chỉ màu sắc
- Vai trò của từ chỉ màu sắc đối với hình ảnh làng quê
- Những hiệu quả nổi bật do từ chỉ màu sắc đa lại
- Đặc điểm nghệ thuật sử dụng từ chỉ màu của nhà thơ Trần Đăng Khoa
4 Đối tợng nghiên cứu.
Để giải quyết vấn đề đã nêu, chúng tôi tập trung nghiên cứu những bàithơ đợc in trong “Thơ chọn lọc” của Trần Đăng Khoa – là tập hợp nhữngsáng tác của Trần Đăng Khoa từ thuở ấu thơ cho đến tuổi trởng thành Cụ thể
là từ chỉ màu sắc xuất hiện trong tập thơ
5 Phơng pháp nghiên cứu.
Lấy nhóm từ biểu thị màu sắc để nghiên cứu nhằm làm rõ giá trị thểhiện làng quê của thơ Trần Đăng Khoa, đề tài áp dụng nhiều phơng phápnghiên cứu khác nhau:
- Phơng pháp thống kê, phân loại
- Phơng pháp phân tích, dẫn giải vấn đề
- Phơng pháp quy nạp (tổng hợp, khái quát hóa)
6 Cấu trúc của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của khóa luận đợc chia thành ba chơng:
Trang 5- Ch¬ng 1: Giíi thuyÕt chung vÒ t¸c gi¶ vµ néi dung nghiªn cøu cñakhãa luËn
- Ch¬ng 2: Bøc tranh lµng quª ViÖt Nam qua kh¶o s¸t tõ chØ mµu s¾ctrong th¬ TrÇn §¨ng Khoa
- Ch¬ng 3: Bøc tranh lµng quª ViÖt Nam qua nghÖ thuËt sö dông tõ chØmµu s¾c trong th¬ TrÇn §¨ng Khoa
Ch¬ng 1.
Giíi thuyÕt chung vÒ t¸c gi¶ vµ néi dung
nghiªn cøu cña khãa luËn
1.1 Vµi nÐt vÒ t¸c gi¶ TrÇn §¨ng Khoa vµ sù nghiÖp s¸ng t¸c.
Trang 6Đăng Khoa đến với thơ và làm thơ từ rất sớm Anh lớn lên bằng lời ru của ngời
mẹ vốn yêu thích Truyện Kiều và thờng hát cho anh ngủ mỗi ngày, Khoa còn
có một ngời anh trai yêu thơ văn Sống trong môi trờng nh vậy đã tạo cho cậu
bé Trần Đăng Khoa sớm tiếp xúc với thơ và tạo nên những vần thơ hồn nhiên ,trong sáng, bình dị mà mộc mạc chân thành mang đầy chất chân quê Đó lànhững cảm xúc từ chính sự vật hiện tợng xung quanh cậu bé Trần Đăng Khoa
Đây cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo xuyên suốt hành trình thơ ca của anh.Thơ anh mang đầy hơi thở của một miền quê đã gắn bó máu thịt và nuôi dỡnghồn thơ anh cất cánh bay cao, bay xa vào khu vờn thơ chung của nớc nhà
Từ năm bảy tuổi đã làm bài thơ đầu tiên “Con bớm vàng” và nhanhchóng trở thành một hiện tợng lạ trong văn học nớc nhà Tài năng đặc biệt ấy
đã đợc phát hiện, ơm mầm và nuôi dỡng ngày một phát triển, lên hoa kết qủa
Sinh ra giữa lúc đất nớc đắm chìm trong cảnh bom đạn, cả dân tộc cùngchung vai góp sức đánh đuổi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Trần Đăng Khoahăng hái tham gia góp sức mình vào cuộc kháng chiến của dân tộc Năm 1975,lúc vừa tròn 17 tuổi và đang học năm cuối cùng cấp 3, Khoa xung phong vào
bộ đội Anh tham gia làm nhiệm vụ quốc tế ở Camphuchia và sống cuộc đờingời lính trên đảo Trờng Sa một khoảng thời gian đáng kể Vừa tham gia vàomọi công tác cách mạng và kháng chiến, Trần Đăng Khoa vừa tiếp tục theo
đuổi niềm đam mê thơ ca của mình
Trần Đăng Khoa đã đợc vào học ở trờng viết văn Nguyễn Du khóa 11,
đợc cử đi học tại trờng viết văn Gorki (Nga)
Về nớc, anh làm việc tại tạp chí Văn nghệ quân đội Hiện nay, Trần
Đăng Khoa vừa làm thơ, viết văn thơ và phê bình văn học
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Trong hành trình sáng tạo nghệ thụât của mình, kể từ khi vào nghề cho
đến nay, Trần Đăng Khoa đã sáng tác đợc khá nhiều tác phẩm giá trị, đợc xuấtbản trong nớc và giới thiệu ra nớc ngoài
- Các sáng tác đã xuất bản trong nớc:
+ Góc sân và khoảng trời Hải Dơng, 1968
+ Từ góc sân nhà em Kim Đồng, 1968
Trang 7+ Thơ Trần Đăng Khoa (Tập 1) Hải Dơng, 1970
+ Đánh thần hạn (trờng ca) Văn nghệ Hà Nội, ( 336)
+ Từ góc sân nhà em (tập khác) Hải Dơng,1972
+ Góc sân và khoảng trời (tập khác) Kim Đồng, 1973
+ Khúc hát ngời anh hùng (trờng ca) Văn nghệ quân đội,1974
Những tác phẩm trên cho ta thấy độ sung sức của một cây bút tài năng.Hiện nay, mặc dù Trần Đăng Khoa rất ít viết thơ nhng những giá trị của cáctập thơ đã đợc xuất bản luôn có vị trí xứng đáng trong lòng độc giả yêu thơ
2 Làng quê – nguồn cảm hứng sáng tạo của Trần Đăng Khoa.
Chắc hẳn rằng trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê để yêu, đểthơng và để nhớ Ai chẳng sinh ra và lớn lên tại một chốn quê cụ thể với biếtbao kỷ niệm vui buồn, và chúng ta luôn giành chọn vẹn tình cảm của mình
đối với vùng đất thân yêu ấy Chẳng thế mà từ xa tới nay làng cảnh quê hơngViệt Nam đã trở thành chủ đề, thành nguồn thi hứng bất tận cho thơ ca nóiriêng và văn học nói chung Có thể kể đến những nhà thơ: Nguyễn Khuyến,Anh Thơ, Đào Văn Cừ, Nguyễn Bính… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về đều nổi tiếng bởi những bài thơ vềlàng quê và mỗi ngời đều có nét đặc sắc riêng, tạo đợc ấn tợng sâu sắc tronglòng độc giả
Trang 8Trần Đăng Khoa là lớp ngời đi sau, tiếp tục kế thừa lớp đàn anh để có
đợc những tác phẩm mới mang đậm phong vị làng quê Việt Nam Nghiên cứuVân Thanh đã nhận xét: “Thế giới thơ Khoa bắt nguồn từ những cảnh vật sinhhoạt quen thuộc Đọc thơ Khoa ta nh đợc tắm gội trong một không khí riêng,không lẫn đợc, của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Em nói những gì em thấy,
em cảm bằng giọng điệu của riêng mình”, [18;36], Nhà thơ Việt Nam hiện
đại – NXB Khoa học xã hội – 1984 Van Thanh cũng còn cho rằng: “ThơKhoa bắt đợc nhiều màu sắc, âm thanh, hơng vị của thế giới bên ngoài, củathiên nhiên hoa cỏ, của sinh hoạt quê hơng, đồng nội” [18;39]
Còn nhà thơ Phạm Hổ, ngời theo dõi thơ Khoa trong nhiều năm cũng
có nhận xét: “Đọc thơ Khoa, ta thấy làng quê Việt Nam hiện ra, với biết baonhiêu cảnh vật, bao nhiêu con ngời… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về một làng quê miền Bắc, cụ thể hơn cáilàng quê của chính Đọc thơ Khoa (xã Quốc Trấn, huyện Nam Sách, tỉnh HảiHng) Nhng các em ở các làng quê khác đều thấy cái làng quê kia rất gần gủivới mình Bởi ở đâu lại chẳng có ở góc sân, những khoảng trời và những cánh
cò bay” [11;42] Và: “Có thể khẳng định rằng hầu nh toàn bộ thơ của Trần
Đăng Khoa là viết bằng lòng yêu thơng, yêu thơng từ cỏ đến loài vật, từ ngờithầy trong nhà đến bà con trong làng, trong xóm quanh năm quen một việcruộng đồng, từ Bác Hồ kính yêu đến các thầy cô giáo, các bạn bè cùng lớp,các anh bộ đội, các cô bác công nhân đào than… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về ” [11;29] Tình cảm ấy đã “toả hơng” trong những bài thơ ta viết
Trớc sau Trần Đăng Khoa vẫn giành trọn vẹn tình cảm cho quê hơngyêu dấu của mình, chính tình cảm đó đã nuôi dỡng anh thành ngời:
Quê hơng mỗi ngời chỉ một
Nh là chỉ một mẹ thôiQuê hơng nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành ngời
1.3 Màu sắc và từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa
1.3.1 Màu sắc nói chung
1.3.1.1 Màu sắc ngoài ngôn ngữ
Trang 9Trong đời sống, màu sắc có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, nhìn ra thiênnhiên, biển trời bát ngát một màu xanh, mây trắng bồng bềnh, mái ngói đỏ tơi,tờng vôi trắng, hoa lá muôn màu… đều nổi tiếng bởi những bài thơ vềvà xung quanh ta những vật dụng thờngngày, sách báo tranh ảnh, quần áo cái nào cũng đợc tô điểm bằng những màusắc, tạo nên sự đa dạng phong phú và vui mắt Nghĩa là tất cả cảnh vật xungquanh ta đều có màu sắc Màu sắc cảnh vật rất phong phú làm cho con ngờivàcuộc sống thêm tơi đẹp yêu đời.
Thông thờng mắt con ngời nhận biết đợc vô vàn màu sắc và màu sắcluôn biến đổi trong các tơng quan bất tận của chúng dới tác động của cácnguồn ánh sáng khác nhau Nguồn ánh sáng chủ yếu vẫn là ánh sáng mặt trời,
ánh sáng mặt trời lại liên tục thay đổi: ánh sáng buổi bình minh khác với buổitra, chiều, tối Nguồn ánh sáng không chỉ tác động vào đối tợng có màu màcòn tác động vào bộ máy quang học của con ngời là do đôi mắt Bản thân đôimắt với sự khép mở dới sự tác động của nguồn sáng, cũng thay đổi liên tục vàtinh vi, nh vậy đó là một hiện tợng hội tụ đủ ba yếu tố : ánh sáng, một vật thể
và một hệ thống tiếp thụ nh mắt
Có thể nói, màu sắc trong tự nhiên đồng nhất với giải quang phổ mà ta
có lần lợt các màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam, tràm, tím Đó là các màu, cáckhoảng nhìn thấy đợc của mắt Ranh giới giữa các màu nhiều khi chỉ là sự t-
ơng đối
Trong sáng tạo nghệ thụât không thể thiếu đợc màu sắc, vì màu sắc làmột trong những ngôn ngữ tạo hình rất quan trọng Đối với hội họa, các nhànghiên cứu đã đa ra khái niệm “vòng tròn màu” và “dải phổ màu” để nói đếncái gốc của việc nghiên cứu màu ánh sáng là cái đầu tiên, và ngời ta đã tìm ra
ba màu gốc “thánh ba ngôi” là : Đỏ – vàng – lam Ba màu này kết hợp từng
đôi một cho ta ba màu phái sinh cơ bản nữa là: da cam, lục, tím Theo đĩa màucủa Niutơn ta có ba màu gốc là đỏ – vàng – lam với hai màu nóng, một màulạnh (đỏ – vàng: nóng; lam: lạnh ) Ba màu nhị hợp là xanh lục, da cam vàtím với hai màu lạnh một màu nóng (lục tím: lạnh; cam: nóng) Nh vậy vòngtròn màu có hai nửa nóng lạnh với ba màu lạnh và ba màu nóng Các màu đặt
Trang 10cạnh nhau hoặc đối lập nhau tạo nên vòng tròn màu đều nảy sinh ra màu Độsáng tối của màu quyết định sắc độ của màu sau:
Bảng màu
Sự nhận biết màu sắc là do thị giác đem lại, nhng nó không bao giờ táchkhỏi các hiệu qủa tâm lý, xúc cảm do màu gây ra Màu sắc có tác động tớitrạng thái tình cảm của con ngời, gam màu tơi làm ngời ta vui vẻ phán chấn,gam màu trầm hợp với sự suy t, gam màu tím lạnh gợi lên nỗi nhớ nhung manmác… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về Màu sắc đã có tác động một cách phức tạp tinh vi và rất nhanh nhạyvào tâm lý con ngời và gây ra xúc cảm, liên tởng, xây dựng tình cảm con ngờimạnh mẽ Tâm lý màu dựa trên một loạt thói quen không ổn định của con ngời
về màu Đó là các thói quen thị giác màu có tính phổ quát nhất Tuy nhiên, do
điều kiện lịch sử của mỗi dân tộc, khí hậu, địa lý, tôn giáo, t tởng, các phongtục văn hoá mà mỗi dân tộc cố kết dần cho mình một tâm lý màu riêng vớinhững nét độc đáo riêng Với các nhân con ngời cũng vậy, mỗi ngời có mộttâm lý màu hình thành do kinh nghiệm màu trong lịch sử cá nhân để lại Tác
động tâm lý của màu còn phụ thuộc vào ngữ cảnh và tình huống, nó khôngtách khỏi tình trạng tâm lý cụ thể của ngời cảm thụ màu
1.3.1.2.Màu sắc trong ngôn ngữ
a) Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên ), màu sắc đợc địnhnghĩa:
- Khi đóng vai trò là danh từ – có hai nghĩa cơ bản sau:
+ Màu sắc: các từ không kể đen và trắng (nói khái quát) Ví dụ: bứctranh thiên nhiên ngập tràn sắc màu; tính chất đặc thù Ví dụ: bài nói chuyệnmang đậm màu sắc chính trị
đỏ
Đỏ cam
Huyết dụ tím
lam Vang cam
cam
Trang 11+ Màu sắc ẩn hiện: màu sắc gây cảm giác khi xa khi gần, khi mờ khi tỏ
do sử dụng có cung bậc các mảng màu sáng tối xen kẽ nhau
- “Bản thân từ màu” cũng gợi lên sắc thái biểu thị “sắc”: thuộc tính vật
lý thể hiện ra nhờ tác động của ánh sáng và nhận biết đợc mắt cùng với hìnhdáng giúp phân biệt vật này với vật khác Ví dụ: màu xanh nớc biển; chất dùng
để tô thành các màu khi vẽ Ví dụ: pha màu, hợp màu; màu không kể đen vàtrắng Ví dụ: ảnh màu, phông màu; toàn bộ nói chung những biểu hiện bênngoài tạo nên cảm giác có một tính chất nào đó Ví dụ: bầu không khí đợmmàu huyền bí
b) Đi vào ngôn ngữ, màu sắc mang nghĩa bản thể, nghĩa dụng học, nói
cách khác nó thuộc cấu trúc biểu niệm Các nét nghĩa này không đồng nhất
Ví dụ:
Cấu trúc biểu niệm của từ “hồng” có nét nghĩa phạm trù: thuộc tính vật
lý, có cảm giác, về thị giác- màu sắc Đây là nét nghĩa miêu tả, phản ánh thuộctính bản thể của màu “hồng” Nếu đem so sánh “hồng” và “hồng hào” có một
số đặc điểm khác biệt, “hồng hào” chỉ màu da con ngời và đây cũng chính lànét nghĩa miêu tả, ngoài ra nó còn mang nghĩa biểu thị trạng thái khoẻ mạnh
do con ngời cấp cho nó và đây là nét nghĩa dụng học
Các sự vật, hiện tợng, tính chất vốn tồn tại nh một thực thể khách quan.Màu sắc cũng không nằm ngoài quy luật đó Khi đi vào ngôn ngữ nó mang ýnghĩa biểu vật, tức là ngôn ngữ hoá vật chất, hiện tợng khách quan đã là sựkiện dụng học rồi Con ngời có khả nhận biết đợc những màu trong quangphổ: đỏ, xanh, tím, vàng, lam… đều nổi tiếng bởi những bài thơ vềlà các màu sắc khách quan Việc lựa chọnthuộc tính nào để, biến chúng thành nét nghĩa trong ý biểu niệm cũng là sảnphẩm hoạt động của con ngời với tên gọi khác nhau là do con ngời cấp chochúng Nghĩa là tên gọi màu sắc mang tính võ đoán Bị chi phối bởi ý thức vàquan niệm chủ quan của con ngời
Ví dụ: Lá cây mang màu xanh nhng chúng ta không lí giải đợc vì sao lạigọi nh vậy Tính võ đoán nằm ở đó
Trang 12Nhóm từ chỉ màu sắc không đơn thuần chỉ có đỏ, cam, vàng, lục lam,chàm, tím, mà ngay trong bảy màu cơ bản đó cũng tồn tại những sắc độ khácnhau
Ví dụ: Xanh khác xanh lè, xanh rì, xanh ngắt, xanh non… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về Mỗi cấp độmàu xanh gắn với những liên tởng, gán ghép cố hữu cho những sự vật, hiện t-ợng nhất định mà ta gọi là nghĩa liên hội
Chính nghĩa liên hội làm nên tính phong cách, khác biệt cá nhân trongviệc sử dụng màu sắc trong thi phẩm của mình Sự xuất hiện tần số sắc màunày ít, làm nên một thế giới sắc màu rực rỡ cũng là điều dễ hiểu, dễ lý giải
c) Xét ở phơng diện hệ thống: Từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt có hailớp từ cơ bản
- Lớp từ cơ sở gồm chín màu đen, trắng, đỏ, vàng, xanh, tím, nâu, hồng,xám Lớp từ này có đặc điểm:
+ Hình thức: Đa số là từ đơn tiết, lớp từ phổ biến và đa vào sử dụng rộngrãi
+ ý nghĩa: Có phạm vi biểu vật rộng rãi, đợc sử dụng cho một số lợng
đa dạng các hiện tợng
Chín từ này có khả năng tạo ra hàng loạt từ chỉ màu phái sinh biểu vậthẹp hơn Đây là đặc điểm quan trọng nhất nhằm miêu tả sự vật hiện tợng mộtcách chính xác, trọn vẹn
Ví dụ: Từ “trắng” có khả năng phái sinh ra các từ mới mang ý nghĩa hẹphơn nh: trắng tinh, trắng xốp, trắng nõn… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về Tạo nên sự độc đáo về ý nghĩatrong vốn từ chỉ màu sắc của tiếng Việt
- Lớp từ cụ thể: Là lớp từ mợn trực tiếp từ tên gọi của đối tợng, sự vật vàthuộc tính sự vật trong thế giới khách qua, chẳng hạn:
+ Nhóm từ chỉ các loại màu vải vóc, len sợi nh: vàng tơ, xanh côngnhân, tím nhung… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
+ Nhóm từ gọi tên màu của các kim loại, khoáng sản: tím than, xanhthép, trắng bạc… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
+ Nhóm từ chỉ màu sắc tự nhiên: xanh da trời, xanh nớc biển, nâu đất… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Trang 13+ Nhóm từ chỉ màu lấy tên gọi từ màu động vật: màu da bò, xanh trứngsáo, xanh cổ vịt… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
+ Nhóm từ gọi tên màu từ một số loại thức ăn, thức uống: màu bánhmật, màu kem trắng sữa
+ Nhóm từ chỉ tên gọi màu các loại thực vật: đỏ bồ quân, vàng chanh,màu cốm… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Ngoài ra, lớp từ màu sắc trừu tợng và lớp từ chỉ màu sắc cụ thể còn cónhững loại từ khác hình thành bằng từ ghép chỉ màu sắc Nó đợc phái sinh từchín màu cơ bản Ví dụ: Đen: đen nhánh, đen xì, đen huyền… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về; Đỏ: đỏ au, đỏ
ối, đỏ bừng… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về; Tím: tím ngắt, tím biếc, tím phớt… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Nh vậy các từ chỉ khái niệm về màu sắc trớc hết mang ý nghĩa địnhdanh, giúp con ngời phân biệt sự khác nhau giữa các sắc màu Bên cạnh đóbản thân các từ chỉ màu, nhất là các màu chỉ màu cụ thể luôn kèm những nétnghĩa nhất định
1.3.2 Mối quan hệ giữa từ chỉ màu sắc và hình ảnh sự vật trong thơ.
Nh ta đã biết, màu sắc trong thơ là một chất liệu hầu nh không thể thiếu
đợc Màu sắc thể hiện bức tranh thiên nhiên đất nớc, con ngời mang đầy màusắc nghệ thuật Lớp từ chỉ màu bao phủ lên cảnh vật làm cho cảnh vật trở nên
đẹp hơn và thể hịên đợc ý đồ nghệ thụât của ngời nghệ sĩ Màu sắc góp phầntô điểm cho cảnh vật và cảnh vật chính là cái để màu sắc thể hiện ra bênngoài Chẳng hạn bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ:
Màu thời gian không xanhMàu thời gian tím ngắtQua lớp từ này mà hình ảnh cuộc sống đợc khúc xạ và phản chiếu lại
Tiểu kết
Phần giới thuyết chung cung cấp cho chúng ta những thông tin về tácgiả, sự nghiệp sáng tác với những tác phẩm có giá trị Thông qua đó chúng tacòn hiểu đợc khái niệm màu sắc và vai trò của màu sắc trong cuộc sống conngời nói chung và trong ngôn ngữ nói riêng Màu sắc giúp con ngời phân biệt
sự vật này hay sự vật khác trong hiện thực Trong thơ văn thì màu sắc không
Trang 14chỉ để phân biệt các sự vật khác nhau mà còn giúp cho các thi nhân bộc lộ tìnhcảm, nỗi niềm của mình để giao hoà với thế giới sung quanh Từ đó tạo nênbức tranh thiên nhiên quyến rũ lòng ngời.
Chơng 2.
Bức tranh làng quê việt nam qua Khảo sát từ chỉ màu sắc trong thơ trần đăng khoa
2.1 Bảng thống kê phân loại từ chỉ màu sắc và nhận xét chung.
Qua khảo sát thơ Trần Đăng Khoa, chúng tôi bớc đầu đã có đợc cái nhìnkhá bao quát về những từ chỉ màu sắc đợc tác giả sử dụng Nhóm từ này đợc Trần
Đăng Khoa đa vào thơ mình một cách rất tự nhiên, chân thật và giản dị Dựa vào
ý kiến của Đỗ Hữu Châu trong “Cơ sở từ vựng ngữ nghĩa” có chín màu: đỏ, vàng,xanh, hồng, trắng, xám, tím, nâu đen là những màu cơ sở, những màu có thể pháisinh ra các sắc độ khác của màu
Nhìn một cách tổng quát, số lợng sắc màu trong thơ Trần Đăng Khoa,chúng ta thu đợc kết quả nh sau:
Bảng 1: Bảng thổng kê tổng hợp về nhóm từ chỉ màu sắc.
TT Tên màu Số lợt dùng Số lợng sắc độ màu Hệ số sử dụng Tỉ lệ (%)
Trang 15Bảng màu sắc của Trần Đăng Khoa không có sự chênh lệch quá lớn về sốlợng mà có sự tơng đơng trong các nhóm màu Nhóm từ chỉ màu sắc tơi sáng nhmàu xanh, vàng, đỏ, trắng đợc sử dụng tơng đối nhiều.
Gam màu hồng đợc sử dụng không nhiều nhng do ít sắc độ nên có hệ số sửdụng cao nhất 12,5
Những màu nh tím, xám, nâu ít đợc tác giả lựa chọn Từ đó cho thấy tâmhồn tơi trẻ của Trần Đăng Khoa trong cách cảm nhận cuộc sống Với con mắtquan sát mọi vật qua lăng kính màu tơi sáng thể hiện tình yêu quê hơng đất nớccủa một hồn thơ trẻ trung
Chúng ta sẽ cùng đi vào tìm hiểu một số màu sắc đợc Trần Đăng Khoa sửdụng nhiều trong thơ của mình
Trang 16có số lợt dùng nhiều nhất trong thơ Trần Đăng Khoa, từ gam màu chủ đạo này
mà bức tranh thiên nhiên tạo vật tràn đầy sức sống chốn làng quê
Từ hình ảnh bầu trời xanh, mặt nớc biển xanh, cỏ cây hoa lá tơi xanh:
Lá xanh nh mảnh mây trời lao xao
(Vờn cải)
Cúc tần xanh, tơ cuộn vàng lng giậu
(Ngày mai tra trận)
Thiên nhiên tạo vật đợc bao phủ bởi màu xanh tràn căng sức sống
Màu xanh còn là màu của lá cờ, của niềm tin và hi vọng vào ngày mai tơisáng của đất nớc:
Ba Đình vẫn xanh cây
(Hà Nội )
Xanh trên nhà Bác vẫn trời mùa thu
(Đất trời sáng lắm hôm nay )
Lá cờ miền Nam nửa đỏ, nửa xanh.
Nhng màu xanh cũng có khi lại gợi lên sự tàn tạ,héo khô của con ngời :
Biết bao chàng trai trẻ đẹp
Mê em , lặn lội vào đây
Rồi xanh xao đến khô gầy
Rồi lú đờng về, hoá đá
(Gửi em ở Ninh Bình)
Rêu xanh bậc đá, lá rơi úa vàng
( Ngôi đền Bãi Cháy)
Hơn hết, đó là màu của sự sống đang bắt đầu, cây cối đâm chồi nảy lộc:
Chồi biếc về nảy sinh vờn tợc
(Nói Với cháu)
Cỏ vẫn xanh biêng biếc ở trên trời
(Nghĩa trang Văn Điển)
Nh vậy, màu xanh chủ yếu vẫn đợc dùng để vẽ lên hình ảnh thiên nhiêntạo vật với sự tơi non, tràn căng nhựa sống Chỉ duy nhất một trờng hợp dùng đểgợi lên màu da con ngời ở trạng thái không khoẻ mạnh (xanh xao)
b Màu vàng.
Trang 17Bên cạnh gam màu xanh chủ đạo thì màu vàng cũng đợc sử dụng khá nhiều màuvàng gợi lên hiện tợng quá khứ xa xăm, sự giàu sang và phú quý và cũng gợi lên
sự tàn tạ, hiu hắt của hoa lá cỏ cây vào thời điểm cuối mùa Trần Đăng Khoa đã
sử dụng màu này với nhiều nét nghĩa bao hàm.Cũng nh màu xanh, đây là gammàu tơi sáng và nổi bật , thu hút thị giác của con ngời
Trớc hết chúng ta thấy màu vàng dùng để chỉ màu sắc thực của cảnh vật:màu của lúa chín, của ánh trăng, của sắc nắng, của cánh diều chao nghiêng haycủa chú bớm nhỏ… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
(Trờng ca ngời anh hùng)
Màu vàng, còn gợi lên sự tàn tạ, héo úa vào cảnh vật cuối mùa:
Lá vàng vẫn bay sân giếng
( Khi mùa thu sang)
Quả vàng héo hắt, la tha
( Mùa đông và cây sầu đông)
Rêu xanh bậc đá, là rơi úa vàng
(Ngôi đền Bãi Cháy)
Gợi sự no đủ, giàu sang phú quý:
Hạt vàng làng ta
(Hạt gạo làng ta )
Màu vàng tạo nên một không gian rực sáng cho làng quê
c Màu đỏ:
Gam màu ấm nóng và mạnh mẽ, gợi cảm giác tơi sáng, rực rỡ, là màu của
ớc mơ và hi vọng Đợc dùng với mời bảy sắc độ khác nhau: đỏ hoe , đỏ đào, đỏ
Trang 18ối , đỏ thắm , đỏ lừ , đỏ au … đều nổi tiếng bởi những bài thơ vềMàu đỏ thờng gợi đến cách mạng,kháng chiến,màucủa lá cờ cách mạng,… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Anh kể lại, giọng tâm tình nho nhỏ
Thỉnh thoảng cái vành tai lại đỏ
(Điều anh quên không kể )
Trong tầm ngắm súng thù, vẫn treo cao cờ đỏ
(Điều anh quên không kể )
Bác ơi! cháu đến đây rồi
Ba Đình phợng đỏ, một trời tiếng ve
( Đất trời sáng lắm hôm nay)
Vành đai đỏ và liên minh kháng chiến
( Bác Nêruđa)Màu của máu, gợi đến sự đau thơng và mất mát:
Bạn nào mắt cũng đỏ hoe
( Hoa xơng rồng)
Cụ vuốt mặt, lòng bàn tay thấy đỏ
(Trờng ca ngời anh hùng)
Có bao nhiêu sự vật đợc khoác màu áo đỏ chói chang sặc rỡ:
Chuột chạy giàn bí đỏ
(Nửa đêm tỉnh giấc)
Vài ngôi nhà đỏ ngói
(Bên sông Kinh Thầy)
Mặt trời mọc dới chân nh một giọt phẩm đỏ
( Lời của than)
Góc tờng đỏ ngói khoảng trời xanh mây
( Giữ cho chúng cháu khoảng trời bình yên)Hình ảnh quân thù với con mắt đỏ nọc chứa đầy sự độc ác, là nỗi kinhhoàng và sự căm thù của nhân dân ta:
Mắt đỏ vằn gian giảo
Trang 19Nàng mây áo trắng ghé vào soi gơng
( Buổi sáng nhà em)
Lá xanh dòng nớc bạc
(Cây đa)Hình ảnh ngời mẹ tảo tần vất vả đợc hiện lên qua dáng hình, qua tấm áo inhằn dấu vết của thời gian:
áo mẹ ma bạc màu
(Khi mẹ vắng nhà)
áo bạc màu nắng gió
( Đi tàu hoả)Sắc trắng còn làm chúng ta liên tởng đến sự lạnh lẽo, buốt giá, trống rỗng
Con trâu đen lông mợt
(Ma)
Kiến đen uống rợu la đà
Trang 20(Đám ma bác giun)Hiện tợng thời tiết không đẹp, báo hiệu trời nổi giông bão:
Chiều về cuồn cuộn mây đen
( Hạ Long)Chủ yếu dùng để nói về bóng đêm, sự tăm tối và quân thù, gợi lên sự chếtchóc:
Điện hồng mái ngói, bạn bè hò reo
(Nhớ và nghĩ)
Hy vọng đợc nhen lên trong lòng mỗi con ngời:
Pháo vơn theo ngọn cờ hồng
( Tiếng chim chích choè) Mỗi ngời đều hy vọng về một ngày mai, đất nớc hoà bình độc lập, cuộcsống ấm no và hạnh phúc hơn
h Các màu còn lại: Tím, xám, nâu ít đợc sử dụng hơn mà chỉ đợc đa vào
nh một vài nét chấm phá tô đậm thêm cho những sắc màu khác:
Đòn ra chủ quất tím ngời
( Chuyện của bà)
Trang 21Mặt chúng xám đi
( Hớt hải )
Và du kích áo nâu chân đầy bùn đất
(Hạ Long) Ngoài những sắc màu trên, trong thơ Trần Đăng Khoa chúng ta còn bắt gặpmột số màu sắc tổng hợp, có số lợng vừa phải (14 lợt dùng) để bổ sung thêm vàobức tranh sắc màu của Trần Đăng Khoa Do đó, chúng cũng giữ vai trò đáng kể:màu tơi non, màu lửa loang, màu bụi đất, màu lá tơi… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Nh màu của nắng
(Ngắm hoa)
Nh màu của ma
In lên màu mây hoang dã
(Cây bão táp ở đảo Nam Yết)
Chỉ còn màu bụi đất Toả mát màu da con gái
(Thơ vui tặng mẹ vợ)Nhóm màu chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa đợc tổ chức một cáchhài hoà, các màu đan xen vào nhau làm nổi bật lẫn nhau và cùng nhau nổi bật.Nỗi màu sắc một nét nghĩa nhng điều góp phần biểu đạt bức tranh muôn sắc màucủa làng cảnh Việt Nam Từ hình ảnh sự vật cho đến con ngời luôn luôn có sựbiến hoà, biến chuyển vận động, thể hiện cái nhìn của tuổi thơ, dần theo nămtháng chuyển sang con mắt tinh tế của một thanh niên đã trởng thành
2.2 Nhóm từ chỉ màu sắc xét về mặt cấu tạo từ Tiếng Việt.
Xét về đặc điểm cấu tạo, vốn từ Tiếng Việt đợc cấu tạo theo những kiểunhất định Dựa theo ý kiến của tiến sỹ Nguyễn Hoài Nguyên, chúng ta có sơ đồphân loại sau:
Vốn từ
Từ đơn tiết Từ đa tiết
(Chỉ có một âm tiết) (Có trên một âm tiết)
Trang 22Từ láy âm Từ ghép nghĩa Từ ngẫu kết
(Quan hệ ngũ âm) (Quan hệ ngữ nghĩa) (Không có quan hệ)
Đối chiếu với nhóm từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa, chúng tôi
đã thu đợc kết quả nh sau:
Bảng 2: Phân loại cấu tạo từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa:
Sắc xanh cả cây cỏ, mây nớc đợc khắc hoạ trong thơ thực sự sinh động vàchân thực lạ thờng:
Tre xanh nghển cổ nhìn
(Bắt ông rừng nộp củi)
Đất trời đỏ ngói khoảng trời xanh mây
(Giữ cho chúng cháu khoảng trời bình yên)
Trang 23Ta có thể dễ dàng hình dung cảnh vật trong thực tế mà không cần phải có
sự liên tởng nào, bản thân sự vật đã đợc tô điểm đúng nh ở ngoài đời Ta có cảmgiác dờng nh Trần Đăng Khoa đã “bê nguyên xi” từng mảng màu sắc thực vàothơ anh
Cánh đồng lúa chín vàng nh muốn gọi ngời nhân dân đến thu hoạch:
Lúa vàng trong đáy mắt
Mây trắng đi lững thững dới kia
(Th viết bên cửa sổ máy bay)
Mây ngàn năm phủ trắng
(Gửi Bác Trần Nhuận Ninh)
Có một nhà văn đã từng nói “Nhà văn là th là trung thành của thời đại ”
nghĩa là phải phản ánh cuộc sống nh nó vốn có Trần Đăng Khoa là một ngời làmthơ và anh đã phản ánh những vấn đề của cuộc sống rất chân thực, cụ thể, miêu tảtheo cảm nhận riêng của mình Từng mảng màu đợc đa vào trong thơ đã gópphần thể hiện bức tranh muôn màu sắc của thiên nhiên tạo vật, cuộc sống con ng-
ời Qua đó mà ngời đọc có thể cảm nhận thêm những cảnh đẹp muôn màu củalàng quê Việt Nam
2.3 Bức họa đồng quê.
Thông qua những màu sắc cụ thể, khi đi vào thơ, Trần Đăng Khoa đã tạodựng nên cả một thế giới hình ảnh về thiên nhiên và cuộc sống con ngời làng quêlung linh sắc màu Làng quê ấy có thể là làng quê của Trần Đăng Khoa từ thuở
bé thơ mà cũng có thể là những cảnh vật mà anh có dịp đặt chân đến trên con đ ờng đời của mình Chính những màu sắc đó tạo nên sức sống cho cảnh vật rấtchân thực nhiều hình nhiều vẻ Chúng ta có thể phân chia các hình ảnh thơ vàmàu sắc tơng ứng nh sau:
Trang 24-Bảng 3: -Bảng phân chia màu sắc và hình ảnh thơ tiêu biểu.
đồng lúa, mây trời, nớc biển, qủa cây, rêu, làn sơng núi, xi măng, bậc cửa… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Đồng lúa chín,
ánh trăng,
ánh nắng, sắc hoa, màu mây, sắc lá, quả
cây, làm loại quý, con bớm, chú bớm, chú
Cánh cò, sắc hoa, màu nớc, màu mây,
ánh trăng,
ánh lửa, lá
cây, bụi đ- ờng, màu
đất, mắt gà, giận giữ… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Cánh
cò, sắc hoa, màu nớc, màu mây, lửa,
ánh trăng, sơng, vôi,
đất trời, cá, gạo… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Con trâu, con hến, con cá, màu mây, than, màu máu, mặt nớc, gốc cây … đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Bông hoa,
ánh nửa, nắng ban mai, kẹo, lá cờ,
ánh trăng, màu nớc, phù
sa, ớm, màu ngói,
b-ánh
điện, b- ớm… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Tia lửa, bông hoa, cánh buồm ráng chiều,
Gốc cây
Đảo nhỏ
Trang 25chú, bông ngô, tơ
tằm, con gà… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về Con ngời với
cuộc sống làng
quê
ánh mắt, màu áo, con ng-
ời, gắn với hình
đựng súng của quân giặc, gắn với ngời anh hùng, cái chết
… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Vành tai, màu, tóc, cổ ngời, lòng bàn tay, môi, máu,
ánh mắt.
cái chế.
trẻ nhỏ, mái nhà mẹ, ngực,
Mái tóc, con quỷ hại ngời vành tang,
áo mẹ, chân râu, nghĩa trang, ngời anh hùng.
Mái tóc, bảng, máu ngời, khẩu súng
kẻ thù,
đầu.
Mặt ng- ờimá
u, chiếc khăn, màu da
Đèn soi, kín ngời
Chân ngời, mặt ngời,
Yếm,
áo
Trang 26cổ… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
Những sự vật hiện tợng đợc nhà thơ bao phủ lên nhiều sắc màu khác nhau,tạo nên một sự hoà phối màu sắc Nếu nh ngời hoạ sỹ khéo léo trộn các màu đểtạo nên bức tranh nhiều màu sắc thì Trần Đăng Khoa cũng có sự trao chuốt vàphối hợp các từ chỉ màu sắc với nhau tạo nên bức tranh làng cảnh Việt Nam mộtthời
2.3.1 Cảnh vật làng quê
Đó là những hình ảnh đã gắn bó mật thiết với cậu bé Trần Đăng Khoa vàtrở thành nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chủ đạo Trong thơ khoa hình ảnhcảnh vật làng quê xuất hiện mật độ khá dày đặc
2.3.1.1 Hình ảnh thiên nhiên đất trời, cỏ cây hoa lá.
Cả một không gian nghệ thuật rất đẹp, rất thơ mộng đợc Trần Đăng Khoatạo dựng trong thơ Từ hình ảnh mảnh sân ruộng vờn đến khoảng không giannghệ thuật ngoài quê hơng, những nẻo đờng mà bớc chân hành quân của ngờichiến sĩ trẻ Trần Đăng Khoa có dịp đi qua
Trần Đăng Khoa gắn bó trớc hết với những cảnh vật thân quen gần gũi hàngngày của mình.Từ thuở bé thơ anh đã gắn bó mảnh sân ruộng vờn với bao nhiêu
là cảnh vật Mỗi cảnh vật lại mang những sắc màu riêng tạo nên một bức tranhthiên nhiên tuyệt đẹp
Ông mặt trời có sự biến đổi sắc màu, hiện lên với hai sắc độ chính là màu
đỏ và màu hồng, lúc đậm lúc nhạt soi chiếu lên muôn vàn sự vật Hình ảnh mặttrời đỏ cũng từng đợcnhiều nhà thơ sử dụng:
Mặt trời xuống biển nh hòn lửaSóng đã cài then đêm sập cửa
(Đoàn thuyền đánh cá _ Huy Cận)Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Viếng lăng Bác – Viễn Phơng)
Trang 27Mặt trời đợc ví nh màu đỏ của hòn lửa, hay vầng hào quang tỏa ra từ Bác
Hồ vĩ đại Trần Đăng Khoa cũng có cách so sánh mặt trời rất thú vị, nó nh mộtgiọt phẩm đỏ:
Mặt trời mọc dới chân nh một giọt phẩm đỏ
(Lời của than)Lúc sáng sớm, mặt trời vừa nhô lên từ đằng đông một màu đỏ rực, banphát ánh sáng cho muôn loài Có lúc lại đợc nhìn với một sắc độ nhạt hơn:
Phơng đông
Xoè hồng
Nan quạt
(Tiếng trống làng) Cũng là mặt trời lúc ban mai, ánh nắng đang dìu dịu chứ cha gay gắt nhgiữa tra
Buổi đêm, ánh sáng của trăng chiếu xuống vạn vật với một sắc màu lunglinh mờ ảo, hình ảnh trăng đợc miêu tả với sự tràn đầy, so sánh với nhiều sự vật:trăng nh cái mâm con, quay tròn … đều nổi tiếng bởi những bài thơ về bánh ô tô, trăng tròn nh mắt cá, trăng tròn
nh quả bóng Những cách ví von thật hồn nhiên , có lẽ chỉ có con mắt của trẻ thơmới có những sự so sánh liên tởng nh thế
Sắc vàng đợc rất nhiều nhà thơ sử dụng để chỉ ánh trăng:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
(Nhớ rừng – Thế Lữ)
Đêm thanh đập lửa trăng vàng Nếu sao thấp sáng trên màn trời xanh
(Hè - Đoàn Văn Cừ)
Còn đâu ánh trăng vàng
Nở trên làn tóc rối
(Còn chi nữa – Lu Trọng L)Trần Đăng Khoa cũng sử dụng màu vàng để miêu tả ánh trăng:
Trăng nở vàng nh xôi Mái nhà ớt ánh vàng
Trang 28Qua cái nhìn của cậu bé Trần Đăng Khoa, mặt trăng mang màu sắc của quảcây đang chín, đây là sự cảm nhận riêng của Khoa chứ không đơn thuần là màusắc thực nữa:
Trăng ơi… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về từ đâu đến Hay từ cánh rừng xa
Trăng hồng nh quả chín
Lửng lơ trên mái nhà
(Trăng ơi… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về từ đâu đến?)
Đêm rồi cũng qua đi nhờng chỗ cho ngày mới đến, ánh nắng chiếu lêncảnh vật cũng có sự biến đổi sắc màu Nổi bật lên là nắng vàng rực rỡ
Để mái nhà gianh mẹ đợc yên ả
Em nghe thầy đọc bao ngày
Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà
(Nghe thầy đọc thơ)Màu đỏ của nắng đợc hình thành qua tiếng thơ trầm ấm của thầy tích tụ lâu
mà đọng lại thành Nó đâu còn là màu sắc tự nhiên đơn thuần nữa, tiếng thơ đãlàm lay động lòng ngời, lay động cậu bé Trần Đăng Khoa và lan truyền sức ảnhhởng tự nhiên và sắc nắng cũng không phải là ngoại lệ
Trang 29Nắng đợc nhìn nhận trong sự vận động biến đổi không ngừng, từ vàng sang
đỏ rồi lại chuyển thành hồng:
Nắng hồng chín rực
Bỗng nhiên bay vào
(Đám tam cúc)
Đầu hè không thấy giọt sơng
Rung rinh cành táo đã ơm nắng hồng
(Kính tặng chú Tố Hữu)Nắng cũng nh quả cây đến độ chín, nắng đã lặn vào trong quả táo để tạonên sắc quả chín trông thật ngon mắt và hấp dẫn
Đối với quê, hơng hình ảnh cánh đồng lúa là một đặc điểm không thể thiếu
đợc bởi nó gắn bó với ngời nông dân từ bao đời nay, cánh đồng là nơi hạt lúa cảkhoai ơm mầm hết đọng để nuôi dỡng con ngời Màu xanh non mỡ màng của lúa
đang phát triển :
Bền ruộng lúa xanh non
(Em kể chuyện này)Qua thời gian, cây lúa đã đơm bông kết hạt, thành những hạt lúa mẩybông, vàng óng:
Thóc mọc áo vàng óng
(Thôn xóm vào mùa)
Cứ chín vàng, vàng tơi
(Cái sân)Cả một không gian rực vàng của lúa chín, gợi lên khung cảnh nhộn nhịpcủa làng quê vào mùa Từ hạt lúa đợc ngời nông dân đa về xay xát để tạo nênnhững hạt gạo trắng tinh:
Trắng tinh hạt ấm, hạt no
(Nhớ và nghĩ)Thôn xóm trràn ngập niềm vui hân hoan với vụ mùa bội thu, thóc gạo đầynhà Trải qua cả một quá trình từ cây lúa xanh non chuyển thành bông lúa vàng,hạt gạo trắng chính là thành phẩm cuối cùng cho thấy công sức lao động của ngờinông dân bỏ ra đã đợc đáp đền xứng đáng
Trang 30Màu sắc của nớc cũng có nhiều biến đổi, màu trắng xuất hiện tơng đốinhiều:
Đất trời
Mù trắng nớc
(Ma)Nơi kia là mấy chịThì thòm tát gầu dai Nớc reo theo lòng máng
Bọt tung trắng hoa nhài.
(Cánh đồng làng Điền Trì)
Đối với ngời nông dân, nớc rất cần thiết trong sinh hoạt, trong nôngnghiệp Nớc xuất hiên cùng với niềm vui của ngời nông dân Vì thế mà hình ảnhdòng nớc thờng gắn với ruộng đồng:
Làng em có cây đaBên nơng nứa giữa đồng
Lá xanh dòng nớc bạc Biển lúa vàng mênh mông
(Cây đa)
Rồng phun nớc bạc
Là chiếc máy bơm
(Kể cho bé nghe)Mặt nớc Hồ Gơm đợc Trần Đăng Khoa ví nh màu mực pha rất trong xanh
và đẹp vô cùng :
Hà Nội có Hồ Gơm
Nớc xanh nh pha mực
(Hà Nội)Chính sự so sánh làm nổi bật lên vẻ đẹp của một địa điểm nổi tiếng HàNội – Hồ Gơm, làn nớc trong xanh gợi lên sự trong sạch của cảnh vật Nớc biểncũng luôn mang sắc xanh:
Hay biển xanh diệu kỳ
(Trăng ơi… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về từ đâu đến?)
Sắc biển xanh trên những mái nhà
Trang 31(Mang biển về quê)Nớc còn có màu đỏ nữa, đó là màu của nớc sông đang đỏ lên vì nỗi nhớ,tác giả đã cấp cho sự vật sự cảm nhận nh con ngời:
là tình cảm riêng của mình đối với quê hơng, làng xóm Việt
Là cây cũng đợc nhìn nhận trong sự chuyển biến của màu sắc từ xanh cho
đến vàng, đỏ Sắc xanh đầy sức sống:
Hàng cây bom cháy dở
Lên chồi xanh thớt tha
(Cầu Cầm)
Bom đạn của kẻ thù không tàn phá nổi sức sống bền bỉ của cỏ cây, chúngtiếp tục đâm chồi xanh tốt, vẫn vơn lên trong bom đạn: để đón lấy ánh nắng mặttrời và tiếp thêm sinh khí để nuôi cây lớn lên:
Cây lúa mừng vui phất cờ
Dây khoai nảy xanh lá mới
( Con cò trắng muốt)
Những cánh rừng xanh cùng với vầng trăng bạc
( Th thơ)Còn màu xanh là còn sự sống, cây cối xanh tơi vơn lên cho thấy cái nhìn
đầy tin tởng, niềm yêu đời, yêu cuộc sống của nhà thơ Sắc lá không phải lúc nàocũng mang màu xanh, nó còn chuyển sang màu đỏ do tác động của ngoại cảnh:
Sau làn ma bụi tháng ba
Lá tre bỗng đỏ nh là lửa thiêu
( Tháng ba)
Trang 32Đến đêm đông giá lạnh
Lá còn cháy đỏ trời… đều nổi tiếng bởi những bài thơ về
( Cây bàng mùa đông)Màu lá còn đợc tô điểm bởi sắc vàng, là màu của là giá sắp rồi khỏi cành,màu vàng đẹp nhng cũng gợi lên sự tàn phai héo úa:
Những cuống lá vàng nh mật đọng
( Nói với con gà mái)
Sự so sánh rất đẹp và có cả vị ngọt trong đó nữa:
Lá vẫn bay vàng sân giếng
( Khi mùa thu sang)Chiếc lá đã rời xa cành của nó để chao nghiêng đi nơi khác Trần ĐăngKhoa đã có hai câu thơ miêu tả tiếng lá rơi mà Tố Hữu gọi đó là “giời mợn cáimiệng của trẻ con để làm thơ ngời lớn”:
Ngoài thềm rơi chiếc lá đa Tiếng rơi rất mỏng nh là rơi nghiêng
Sự cảm nhận sắc lá từ xanh chuyển sang vàng chứng tỏ sự quan sát tỉ mỉcủa Trần Đăng Khoa, từ lúc xanh tơi đến lúc vàng úa để kết thúc vòng đời củamột chiếc lá
Dới vòm lá, những chùm quả cây cũng đợc miêu tả rất cụ thể Trần ĐăngKhoa đã lựa chọn thời điểm lúc quả cây chín với màu hấp dẫn nh mời gọi Đó làsắc đỏ của qủa chín:
Chôm chôm chín thẫm lng đồi
(Giữ cho chúng cháu khoảng trời bình yên )
Chuột chạy giàn bí đỏ
(Nửa đêm tỉnh giấc)Hay sắc vàng hấp dẫn của quả nhãn nhờ sắc nắng nhuộm lâu mà thành :
Mấy ngàn ngày bom quaNhãn vẫn về đúng vụCùi nhãn vừa vào sữa
Vỏ thẫm vàng nắng pha
(Hơng nhãn)