Từ láy trong tập thơ Việt Bắc lại lột tả sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những người lính nơi chiến trường, những người vợ, người mẹ ở quê nhà.. Nội dung ngiên cứu gồm ba phần l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA NGỮ VĂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TỪ LÁY
TRONG THƠ TỐ HỮU
TỪ NĂM 1937 ĐẾN NĂM 1961
Sinh viên thực hiện: HUỲNH THANH TUYỀN
HUỲNH THANH THẢO Lớp: D12NV02
Khóa: 2012 – 2014
Giảng viên HD: TS.NGUYỄN HOA PHƯƠNG
Bình Dương, ngày 11 tháng 04 năm 2014
Trang 2UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ Tố HỮU TỪ NĂM
1937 ĐẾN NĂM 1961
- Sinh viên thực hiện: Huỳnh Thanh Tuyền
Huỳnh Thanh Thảo
- Lớp: D12NV02 Khoa: Ngữ Văn Năm thứ: 2
Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: TS Nguyễn Hoa Phương
- Thông qua phân tích giá trị của từ láy trong những tác phẩm sẽ giúp người đọc nắmbắt được nội dung tác phẩm dễ dàng hơn Từ đó, người đọc thấy được tài năng sử dụng
từ ngữ của tác giả và khẳng định thành công của Tố Hữu trong việc vận dụng ngônngữ dân tộc (từ láy) để sáng tác thơ ca
3 Tính mới và sáng tạo:
Tiếp cận thơ Tố Hữu ở khía cạnh từ láy
Đặt việc giải thích ngữ nghĩa thơ Tố Hữu bằng việc so sánh việc sử dụng từ láy trongthơ Tố Hữu với các nhà thơ khác
Nghiên cứu đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu, cụ thể là thông qua từ láy
4 Kết quả nghiên cứu:
Trang 3Thơ Tố Hữu kết hợp một cách tự nhiên ba chủ đề: ngợi ca lẽ sống cao đẹp củangười cách mạng, diễn tả niềm vui hướng về tương lai xã hội chủ nghĩa, thể hiệnnhững cảm nghĩ ân tình thủy chung Ba chủ đề trên, thật ra vẫn có một cơ sở thốngnhất là lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Trong ba tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc và Gió lộng, nhà thơ thể hiện sự tài hoa của
mình trên nhiều phương diện của nghệ thuật sáng tạo thi ca, đặc biệt là việc sử dụngkhéo léo, thích hợp từ láy Có thể nói Tố Hữu sử dụng từ láy mang nhiều biểu hiện sắc
thái khác nhau chẳng hạn như: biểu hiện âm thanh (ù ù, rầm rập, ríu rít, xạc xào…); biểu hiện màu sắc, hình ảnh (rực rỡ, chói lọi,…); biểu hiện hành động, trạng thái, tính chất (bồn chồn, hể hả, vòi vọi, loắt choắt, thoăn thoắt, …).
Từ láy do Tố Hữu sử dụng đa phần là để tả hành động, chứa đựng trong đó lànhững tầng ý nghĩa hết sức đa dạng và phong phú Nhà thơ không dùng những từ láy
có cảm giác mạnh mà đa phần những từ được ông dùng tạo cảm giác nhẹ nhàng nhưngđầy ẩn ý Trong mỗi cách dùng của Tố Hữu không chỉ đơn thuần là tả hay phô bày tàinăng tác giả mà mang những phần chìm buộc người đọc phải ngẫm nghĩ để tìm ra đáp
án Nét đặc sắc chính là tâm trạng nhân vật được gửi gắm vào trong
Trong tập thơ Từ ấy, từ láy Tố Hữu sử dụng mang cảm xúc hân hoan, háo hức
phù hợp với giai đoạn tác giả phát hiện ra lí tưởng Đảng, phát hiện ra con đường đi
đúng đắng dành cho mình Từ láy trong tập thơ Việt Bắc lại lột tả sự cảm thông sâu sắc
của tác giả đối với những người lính nơi chiến trường, những người vợ, người mẹ ở
quê nhà Sang tập thơ Gió lộng, cảm hứng tác giả đưa vào những từ láy là tinh thần
vui sướng, hạnh phúc trước những thắng lợi của nước nhà và ước mơ vào một ViệtNam giàu mạnh, phát triển hơn
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội,giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
* Về lí luận: Nghiên cứu từ láy trong thơ Tố Hữu góp phần làm sáng tỏ nhữngnét độc đáo trong phong cách thơ Tố Hữu nhằm khẳng định tài năng “lá cờ đầu thơ cacách mạng” Đồng thời, xác định giá trị của phương thức láy trong sự phát triển thơ cađương đại
Trang 4* Về thực tiễn: Từ việc khẳng định những đặc sắc của từ láy trong thơ Tố Hữu, thấy được những đặc sắc trong sáng tác của nhà thơ Nó còn góp phần thúc đẩy việc tìm hiểu các tác phẩm văn học dựa trên mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nhất
là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm ở cấp độ từ ngữ
Có thể sử dùng làm tài liệu cho những việc sau:
- Tham khảo khi nghiên cứu thơ Tố Hữu
- Nghiên cứu vế từ láy
- Học tập giảng dạy về thơ Tố Hữu
- Nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu
- Tham khảo trong việc so sánh thơ Tố Hữu với các nhà thơ khác và ngược lại
Ngày 11 tháng 04năm 2014
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Ngày tháng năm
Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)
Người hướng dẫn
(ký, họ và tên)
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Huỳnh Thanh Tuyền
Sinh ngày: 23 tháng 04 năm 1994
Nơi sinh: Sông Bé
Lớp: D12NV02 Khóa: 2012- 2014
Khoa: Ngữ Văn
Địa chỉ liên hệ: 334/12 Ấp 2 Tân Định Bến Cát Bình Dương
Điện thoại: 01694711087 Email: thanhtuyenhuynh2304@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Trang 6STT Họ và tên MSSV Lớp Khoa
1 Huỳnh Thanh Thảo D12NV02 Ngữ Văn
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 8
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 9
1.1.3.1Số lần tác động của phương thức láy 23
1.1.3.2Phân chia từ láy đôi dựa vào cái được
giữ lại trong âm tiết củahình vị cơ sở 24
1.1.3.3Sự thay đổi trật tự trước sau của hình vị
cơ sở so với hình vị láy 24
1.1.4.1Quy tắc chuyển hóa thanh điệu trong các từ
láy đôi theo hai nhóm thanh 28
Trang 101.1.4.2Quy tắc láy đôi về âm thanh và thanh điệu
song cả 2 âm tiết đều có nghĩa 28
1.1.4.3Những từ 2 âm tiết phù hợp với quy tắc láy
cả về âm và về thanh, song cả hai âm tiết
1.1.5Ý nghĩa của từ láy 30
1.1.5.1 Nghĩa tổng hợp khái quát 30
1.1.5.2 Nghĩa sắc thái hóa 30
1.1.5.3 Nghĩa của các khuôn vần láy 32
1.1.5.4Nghĩa của các từ láy tư 33
1.2Giới thiệu chung về các tập thơ 34
1.2.1 Từ ấy (1937 – 1946) 34
1.2.2 Việt Bắc (1946 -1954) 34
1.2.3 Gió lộng (1955 – 1961) 34
Chương 2: Phân tích giá trị trong ba tập thơ
Từ ấy, Việt Bắc và Gió lộng của Tố Hữu 36
Trang 11Trong nền văn học Việt Nam đã có rất nhiều nhà thơ sử dụng thành công từ láytrong các sáng tác của mình Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chúng tôi xin được thu hẹpphạm vi nghiên cứu trong các sáng tác thơ Tố Hữu Thơ Tố Hữu thực sự trở thành một
bộ phận không thể tách rời của đời sống tâm hồn Việt Nam.Từ già đến trẻ, người ViệtNam hầu như chẳng có ai là không thuộc lòng, không yêu thích ít nhiều thơ Tố Hữu.Nếu lấy mức độ phổ cập, sức mạnh chinh phục trái tim quần chúng nhân dân làmthước đo tầm vóc tiếng thơ thì thơ Tố Hữu có thể sánh với bất cứ nhà thơ lớn nào cótrong lịch sử dân tộc và nhân loại
Trong nghành nghiên cứu văn học Việt Nam hiện nay, sau mảng thơ văn củachủ tịch Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu là đề tài có nhiều thành tựu đáng kể Các công trìnhphê bình, giới thiệu của các nhà văn, nhà thơ như: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, XuânDiệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông… các chuyên luận và cácnghiên cứu của các tác giả Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh…đã
đề cập đến nhiều mặt quan trọng khác nhau của thơ Tố Hữu
Thơ Tố Hữu là một nguồn mạch quan trọng tạo nên khuôn mặt đẹp của thơ caViệt Nam hiện đại.Trên nửa thế kỉ qua, nhân dân ta từ trong vòng nô lệ đã quật khởivùng lên dành chính quyền thắng lợi.Tiếng nói thơ ca của Tố Hữu quy tụ, kết tinhđược nhiều mặt, giá trị nhân văn và sức mạnh tinh thần của đời sống dân tộc
Trang 12Trong thơ Tố Hữu, người đọc luôn cảm thấy gần gũi với những nội dung vềcách mạng, về đất nước và nghệ thuật đậm đà tính dân tộc Tố Hữu là một thi sĩ rấtthành công trong việc dung thể thơ lục bát, một thể thơ dân tộc cùng một số phép tu từnhư ẩn dụ, hoán dụ, so sánh Bên cạnh đó, từ láy cũng được nhà thơ đưa vào nhữngsáng tác của mình một cách rất khéo và tài Từ láy trong thơ Tố Hữu đa phần là gợi tả
sự vật, hiện tượng nhưng dù là miêu tả ở góc độ nào nó đều biểu lộ tình cảm, thể hiện
con người tác giả Cách Tố Hữu sử dụng từ láy như một bản năng có sẵn của ông Dù
thuộc loại từ láy nào thì giá trị của chúng đem lại cũng thật sự đáng để người khác họchỏi
Hiện tại, những thành viên trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đều đang theohọc chuyên ngành sư phạm ngữ văn của trường Đại học Thủ Dầu Một Chúng tôi cảmthấy mình có trách nhiệm phấn đấu học tập vì sự nghiệp “Vì lợi ích mười năm trồngcây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Thông qua những lý thuyết được học từ họcphần Từ vựng Tiếng Việt và các học phần liên quan, chúng tôi tiến hành nghiên cứunhững giá trị mà từ láy trong thơ Tố Hữu mang lại
Tố Hữu đã sử dụng rất nhiều từ láy trong sáng tác của ông, song trong bàinghiên cứu này chúng tôi xin chọn ra ba tập thơ tiêu biểu nhất trong sự nghiệp thơ ca
Tố Hữu và tiêu biểu cho ba giai đoạn quan trọng của cuộc kháng chiến trường kì củadân tộc, giai đoạn từ năm 1937 đến năm 1961 Nội dung ngiên cứu gồm ba phần lớn:
Giá trị biểu đạt của từ láy trong tập thơ Từ ấy (1937- 1946)
Giá trị biểu đạt của từ láy trong tập thơ Việt Bắc (1946- 1954)
Giá trị biểu đạt của từ láy trong tập thơ Gió lộng (1955- 1961)
Chúng tôi tin rằng những nghiên cứu đang tiến hành sẽ phần nào giúp chonhóm nghiên cứu nói riêng và các bạn nói chung có được cái nhìn đa chiều và rõ néthơn về cách dùng từ láy trong thơ của Tố Hữu, góp một tiếng nói nhận diện phongcách thơ Tố Hữu, một nhà thơ- chiến sĩ
Bình Dương, ngày 11 tháng 4 năm 2014
Nhóm nghiên cứu
Trang 13LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm
ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, phòng nghiên cứu khoa học đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài
Các thầy cô trong văn phòng khoa Ngữ Văn trường Đại học Thủ Dầu Một đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi tiến hành việc nghiên cứu
Các cán bộ thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một luôn tận tình hướng dẫn những đầu sách tham khảo và phục vụ tận tâm việc mượn tài liệu cần thiết cho quá trình nghiên cứu đề tài
Đặc biệt, Giảng viên hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Hoa Phương đã hướng dẫn tận tâm, chỉ bảo, góp ý và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình hoàn thành đề tài
Xin gửi lới cảm ơn tới bạn bè, các anh chị em trong lớp D12NV02 đã động viên
và giúp đỡ chúng tôi trong những lúc gặp khó khăn
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ anh chị em đã luôn ở bên cạnh động viên và giúpđỡ chúng tôi học tập làm việc và hoàn thành đề tài…
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn nhiều hạn chế, xin ghi nhận tất cả các ý kiến,đánh giá, nhận xét bổ sung cho bài viết này của tất cả thầy cô và các bạn
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm nghiên cứu
Trang 15Con đường thơ của Tố Hữu bắt đầu gần như cùng lúc với con đường hoạt độngcách mạng Thơ ông gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng nên chặng đườngthơ cách mạng của ông cũng song hành với giai đoạn cách mạng, đồng thời thể hiện sựvận động về tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ.
Tập thơ Từ Ấy (1937 – 1946) là chặng đường đầu tiên của đời thơ Tố Hữu,đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ củaĐảng Điều hết sức quan trọng là trong tập thơ Từ Ấy, Tố Hữu đề cập hết các hiệntượng xã hội được thể hiện trong thơ mới lãng mạn và văn học hiện thực phê phánđương thời, và qua mỗi hiện tượng ông đều phát hiện được ý nghĩa chính trị củachúng
Đến với tập thơ Việt Bắc (1946-1954) là tập thơ tiêu biểu của thời kì khángchiến chống thực dân Pháp, phản ánh cuộc hành trình gian khổ đã diễn ra trên suốt “bangàn ngày không nghỉ” của quân và dân ta sau Cách mạng tháng Tám cho đến thắnglợi của chiến dịch Điện Biên Phủ Từ tập thơ Việt Bắc, Tố Hữu thường đặt vấn đề về lẽsống của dân tộc, mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại
Tập thơ Gió Lộng (1955-1961) phản ánh giai đoạn đất nước ta bắt đầu thời kìxây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất Tổ quốc Tập thơ thể hiệnnhững vấn đề dân tộc, cộng đồng, chứ không phải những vấn đề của số phận cá nhân,nói đúng hơn là số phận cá nhân hòa với số phận dân tộc, cộng đồng
Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái chung với lẻ sống lớn, tình cảm lớn, niềmvui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình trongthơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tôi nhân danhĐảng, nhân danh cộng đồng dân tộc Cái tôi trữ tình ấy trên hành trình thơ đã khônglặp lại Tố Hữu đã từng mong ước là không lặp lại mình Điều mong ước tuy giản dịnhưng thật lớn lao đối với cuộc đời thơ dài qua nhiều thập kỉ Tố Hữu đã thực hiệnđược ước mong ấy Vẫn là giọng điệu trữ tình, thiết tha đầm ấm như tiếng nói của contim, như một lời tâm sự dặn dò, vẫn là cái nhìn sắc sảo trên dòng thời cuộc nhưng rồithơ ông vẫn khác biệt, mỗi chặng đường thơ lại mang một vẻ riêng
Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi, coi những sự kiện chính trị lớn của đất nước
Trang 16là đối tượng thể hiện chủ yếu, luôn đề cập đến vấn đề có ý nghĩa lịch sử có tính chấttoàn dân Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà Về thểthơ, Tố Hữu có tiếp thu tinh hoa của phong trào Thơ Mới, của thơ ca thế giới cổ điển
và hiện đại, nhưng ông đặc biệt thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thốngcủa dân tộc Về ngôn ngữ Tố Hữu không chú ý sáng tạo những từ mới, cách diễn đạtmới mà ông thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc
Từ láy là một lớp từ đặc sắc, một phương thức tạo từ độc đáo của Tiếng Việt.Đối với những lĩnh vực khác nhau, từ láy có những vai trò riêng nhất định Đối với thơ
ca, từ láy được coi là công cụ hỗ trợ đắc lực nhờ vào đặc trưng ngữ nghĩa phong phú,
đa dạng, có giá trị biểu trưng, biểu cảm cao Việc tìm hiểu từ láy trong các tác phẩmvăn học không chỉ là một cách tiếp cận đối với một lớp từ chiếm số lượng lớn và đặcsắc của Tiếng Việt mà cũng chính là một con đường để khám phá cái hay, cái đẹp củanền văn học Việt Nam Đặc biệt, thơ Tố Hữu đã phát huy cao độ tính nhạc phong phúcủa Tiếng Việt, nhà thơ sử dụng rất tài tình các từ láy
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu giá trị từ láy trong thơ Tố Hữu, bởi lẽ, suốt hơn haithế kỉ qua, không một ai không thán phục thơ Tố Hữu cả về nội dung lẫn về nghệthuật Chế Lan Viên trong “Lời nói đầu cho tuyển tập 1938 – 1963 của Tố Hữu” đãtừng nhận xét:
“Phong cách dân tộc ở Tố Hữu thể hiện ở chỗ thơ anh giàu chất nhạc, anh nắmrất vững cái âm điệu, vần điệu của dân tộc
… Thơ anh là lối thơ lấy cái đường đi toàn đời, lấy cái hơi toàn tập, lấy cái tứ toàn bài
là chính… Anh là một con chim vụ ở đường bay hơn là bộ lông, bộ cánh, tuy vẫn làlông cánh đẹp”
Ngoài ra, khi bắt tay vào nghiên cứu các tác phẩm thơ của tác giả Tố Hữu chúng tôiphát hiện có rất nhiều tác phẩm của tác giả này có trong chương trình giảng dạy bộmôn Văn ởTrung học Cơ sở và Trung học Phổ thông Nghiên cứu điều này rất cần thiết
và góp phần năng cáo chất lượng chuyên môn, nâng cao hiểu biết
Cuối cùng, Tố Hữu là một trong số những tác giả mà chúng tôi rất yêu thích.Những sáng tác của ông luôn dễ dàng đi vào lòng người đọc nhưng lại rất khó để quên
nó đi Thông qua những sáng tác của Tố Hữu, chúng tôi như cảm được tình đồng đội,tinh thần quyết chiến đấu vì đất nước của nhân dân ta, sự tự hào về những truyền thống
vẻ vang của dân tộc,… cả niềm tin tưởng tuyệt đối vào Đảng và càng khâm phục hơn
Trang 17sự phá cách trong suy nghĩ lẫn sáng tác của “nhà thơ của dân tộc”.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề tài “Giá trị của từ láy trong thơ Tố Hữu từ năm 1937 đấn năm1961”, chúng tôi muốn đạt tới mục đích sau:
- Khảo sát tất cả các từ láy có trong ba tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc” và “Giólộng” của Tố Hữuphân tích giá trị các từ láy mà tác giả đã dùng trong các tác phẩmcủa mình
- Thông qua phân tích giá trị của từ láy trong những tác phẩm sẽ giúp ngườiđọc nắm bắt được nội dung tác phẩm dễ dàng hơn Từ đó, người đọc thấy được tàinăng sử dụng từ ngữ của tác giả và khẳng định thành công của Tố Hữu trong việc vậndụng ngôn ngữ dân tộc (từ láy) để sáng tác thơ ca
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là từ láy trong thơ của Tố Hữu từ năm 1937 đến1961 cụ thể
là trong 3 tập thơ Từ ấy, Việt Bắc và Gió Lộng Chúng tôi muốn tiếp cận thơ Tố Hữu
để làm rõ giá trị biểu đạt của từ láy về mặt tạo hình, gợi tả, gợi cảm
4 NHIỆM VỤ
Để đạt tới những mục đích nêu trên, chúng tôi tập trung giải quyết những vấn đề sau:
1 Thống kê từ láy trong ba tập thơ“Từ ấy”, “Việt Bắc” và “Gió lộng” của TốHữu
2 Phân tích vai trò ngữ nghĩa và giá trị của từ láy trong ba tập thơ để thấy đượctác dụng to lớn của chúng đối với nội dung và nghệ thuật thơ Tố Hữu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được những nhiệm vụ đã nêu, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đãphối hợp nhiều phương pháp khác nhau,các phương pháp đó là:
1 Phương pháp thống kê
Phương pháp này dùng để thống kê từ láy trong ba tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”
và “Gió lộng” của Tố Hữu
2 Phương pháp phân tích tổng hợp:
Trong quá trình tìm hiểu những bài thơ có xuất hiện từ láy trong ba tập thơ “Từấy”, “Việt Bắc” và “Gió lộng “ của Tố Hữu, chúng tôi dùng phương pháp phântích các dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm đã nêu, từ đó rút ra kết luận nhấtđịnh cho bài nghiên cứu
3 Phương pháp miêu tả so sánh:
Trang 18Thông qua việc tìn hiểu từ láy trong ba tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc” và “Giólộng” của Tố Hữu, song song đó chúng tôi tiến hành miêu tả về giá trị củachúng mang lại và trong quá trình đó có so sánh với từ láy trong tác phẩm củamột số nhà thơ khác.
6 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tố Hữu là một nhà thơ xuất sắc.Ông vừa là thi sĩ đồng thời là một chiếnsĩ.Trong thơ Tố Hữu luôn có những nét hấp dẫn để những người làm nghiên cứu muốnkhám phá, tìm tòi.Đã có hàng loạt những bài nghiên cứu về thơ của Tố Hữu.Các côngtrình phê bình, giới thiệu của các nhà thơ nhà văn như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh,Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông,… Các chuyên luận và bài nghiên cứucủa các tác giả Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, NguyễnĐăng Mạnh,… đều đã đề cập đến nhiều mặt quan trọng khác nhau của thơ Tố Hữu
Trước hết phải nói đến chuyên luận Thơ Tố Hữu (NXB Đại học và trung họcchuyên nghiệp) của tác giả Lê Đình Kỵ, xuất bản lần đầu vào năm 1979.Đây có thể gọi
là công trình đầu tiên nghiên cứu về thơ Tố Hữu một cách hệ thống, toàn diện cả nộidung và nghệ thuật Tác giả Lê Đình Kỵ nghiên cứu thơ Tố Hữu qua các tập thơ: Từ
ấy (1937 1946), Việt Bắc (1946 1954), Gió lộng (1955 1961), Ra trận (1962 1971), Máu và Hoa (1972 - 1977) Tác giả đã khái quát những chủ đề lớn trong thơ TốHữu như: chủ đề về Nhân dân - Đất nước - Đảng - Lãnh tụ Những đặc điểm phongcách tư tưởng - nghệ thuật trong sáng tác của nhà thơ như: lãng mạn cách mạng - trữtrình cách mạng, phong cách dân tộc đậm đà… Có thể nói Lê Đình Kỵ đã có nhữngđánh giá hết sức khái quát, toàn diện về thơ Tố Hữu.Chuyên luận của ông rất có ýnghĩa trong đời sống phê bình, nghiên cứu văn học.Tuy vậy, tác giả của chuyên luậnbước đầu tiếp cận thơ Tố Hữu về phương diện xã hội học là chủ yếu Vấn đề từ láytrong thơ Tố Hữu chưa được nghiên cứu, tìm hiểu một cách sâu sắc
-Tác giả Hà Minh Đức với công trình giới thiệu, phê bình Tố Hữu - Cách mạng
và Thơ (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004) tập hợp tất cả các bài viết của tác giảtrong khoảng thời gian gần hai mươi năm Phần Trò chuyện và ghi chép về thơ có ýnghĩa như một món quà của nhà thơ với bạn đọc mà tác giả Hà Minh Đức là ngườitrực tiếp lắng nghe và ghi chép đầy đủ Phần Tiểu luận văn học gồm những bài viết vềquá trình sáng tác qua các lời giới thiệu thơ Tố Hữu, về một tác phẩm và cả lời bình về
Trang 19một vài bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu Trong công trình này Hà Minh Đức có nhữngkhái quát lớn về đời thơ Tố Hữu Ông đánh giá Tố Hữu là “một tài năng thơ ca thuộc
về nhân dân và dân tộc” nêu bật được sáng tạo và thành tựu qua những chặng đườngthơ Qua công trình Tố Hữu cách mạng và thơ, tác giả Hà Minh Đức đã góp phần vàogiới thiệu, nghiên cứu các sáng tác của Tố Hữu
Nghiên cứu về thơ Tố Hữu còn có nhiều tác giả khác: Hoài Thanh, Xuân Diệu,Chế Lan Viên, Huỳnh Lý, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Đình Thi… Trải qua gần bảy mươinăm, các bài viết, phê bình, nghiên cứu về thơ Tố Hữu ngày một nhiều hơn
Nhưng đó thường chỉ là những công trình nghiên cứu chung nhất, hoặc dừng lại
ở thi pháp, tính dân tộc, tính sử thi, tính nhiệp điệu…của thơ Tố Hữu nhưng vẫn chưa
có công trình nào nghiên cứu giá trị từ láy trong ba tập thơ Từ ấy, Việt Bắc và Gió lộng
của Tố Hữu Tuy nhiên, rải rác đây đó vẫn có một số bài viết, một số ý kiến đề cập đếnvấn đề này.Mặc dù vậy, với nguồn tư liệu ít ỏi và hạn chế, đây là một đề tài nghiên cứucòn khá mới, cho nên có thể bản thân người viết cũng không bao quát được hết nguồn
tư liệu
7 ĐÓNG GÓP CỦA BÀI NGHIÊN CỨU
* Về lí luận: Nghiên cứu từ láy trong thơ Tố Hữu góp phần làm sáng tỏ nhữngnét độc đáo trong phong cách thơ Tố Hữu nhằm khẳng định tài năng “lá cờ đầu thơ cacách mạng” Đồng thời, xác định giá trị của phương thức láy trong sự phát triển thơ cađương đại
* Về thực tiễn: Từ việc khẳng định những đặc sắc của từ láy trong thơ Tố Hữu,thấy được những đặc sắc trong sáng tác của nhà thơ Nó còn góp phần thúc đẩy việctìm hiểu các tác phẩm văn học dựa trên mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nhất
là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm ở cấp độ từ ngữ
Có thể sử dùng làm tài liệu cho những việc sau:
- Tham khảo khi nghiên cứu thơ Tố Hữu
- Nghiên cứu vế từ láy
- Học tập giảng dạy về thơ Tố Hữu
- Nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu
- Tham khảo trong việc so sánh thơ Tố Hữu với các nhà thơ khác và ngược lại
8 THỜI GIAN THỰC HIỆN: 7 tháng
Trang 20Từ tháng: 9 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014
9 CẤU TRÚC CỦA BÀI NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu, mục lục và kết luận,phụ lục, tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Phân tích giá trị trong ba tập thơ Từ ấy, Việt Bắc và Gió lộng của Tố Hữu
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Từ láy tiếng việt
1.1.1Khái niệm về từ láy
Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lạitoàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theoquy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao:thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng)của một hình vị hay đơn vị có nghĩa
Trang 221.1.2 Cấu tạo của từ láy
- Về hình thức ngữ âm cũng là một âm tiết như từ tố cơ sở có hình thức ngữ âm
và nghĩa giống hoàn toàn hay bộ phận với từ tố cơ sở
- Từ tố có thể giống từ tố cơ sở về toàn bộ âm tiết, hoặc về phụ âm đầu hayphần vần
- Về thanh điệu nếu từ láy hai âm tiết có thanh điệu đi với nhau theo nhómthanh: thanh cao (hỏi, sắc, không); nhóm thấp (huyền, ngã, nặng)
- Cả từ tố cơ sở và từ tố láy hợp lại thành từ láy
Để nhận biết một từ láy, cần xem xét hai âm tiết trong một từ phức hai âm tiếtxem có đáp ứng đủ những đặc điểm kể trên hay không
Ví dụ:
+ Nằng nặng: từ này 2 âm tiết, từ tố cơ sở là "nặng" ở phía sau, từ tố láy "nằng"
ở phía trước, thanh điệu thuộc nhóm thấp Đây đúng là một từ láy
+ Lấm tấm: từ tố cơ sở là "tấm" ở sau, từ tố "lấm" ở trước, vần cả hai từ tốgiống nhau, thanh điệu thuộc nhóm cao đây là một từ láy
1.1.3 Phân loại từ láy
Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau từ lớn đến nhỏ Cần chú ýđến tính đồng loạt cao của tiêu chí phân loại và thứ tự vận dụng các tiêu chí đó
1.1.3.1 Số lần tác động của phương thức láy
Phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho ta các
từ láy đôi hay từ láy hai âm tiết
Ví dụ:
Gọn → gọn gàngđẹp → đẹp đẽhay → hay ho
Trang 23→ hay hớm
→ hay hay
Tiếp đó phương thức láy có thể tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi để cho
ta các từ láy bốn âm tiết
Phương thức láy 1 Phương thức láy 2
Khểnh - Khấp khểnh → Khấp kha khấp khểnh
nham - nham nhở → nham nham nhở nhở
- lam nham → lam nham lở nhởPhương thức láy cũng có thể tác động một lần vào hình vị một âm tiết cho tamột từ láy ba âm tiết
Phương thức láy:
Sạch → sạch sành sanhtóe → tóe tòe loe
dưng → dửng dừng dưngPhương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một đơn vị hai âm tiết chocác từ láy tư Nhưng các từ láy tư này khác các từ láy tư chân chính nói trên ở chỗ nóchỉ chịu tác động láy có một lần như:
Phương thức láy:
quần áo → quần quần áo áotừng lớp → từng từng lớp lớpcười nói → cười cười nói nói
Để cho đơn giản, chúng ta sẽ không bàn tiếp các từ láy tư và láy ba nữa
1.1.3.2 Phân chia từ láy đôi dựa vào cái được giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở.
Trang 24Nếu toàn bộ âm tiết được giữ nguyên thì ta có từ láy toàn bộ.
xanh → xanh xanh
đỏ → đo đỏtím → tím tímNếu bộ phận âm tiết được giữ lại thì ta có từ láy bộ phận Từ láy bộ phận có thể
là từ láy âm tức là láy mà phụ âm đầu giữ lại, còn vần thì khác:
1.1.3.3 Sự thay đổi trật tự trước sau của hình vị cơ sở so với hình vị láy
Đến đây, tiêu chí "cái được giữ lại" đã hết tác dụng, vì trong các từ láy đôi, trừphụ âm đầu và vần thì không còn cái gì được giữ lại nữa Chúng ta chuyển sang tiêuchí trật tự trước sau của hình vị cơ sở so với hình vị láy kết hợp với tiêu chí sự khácnhau của cái bị thay đổi Ở từ láy âm, cái bị thay đổi là vần của hình vị cơ sở, vần củahình vị cơ sở được chuyển sang vần của hình vị láy giống nhau thành một kiểu nhỏ, tagọi là kiểu láy tận cùng, có nghĩa là đến đó không thể chia thành các kiểu nhỏ hơn
Ở từ láy vần, cái bị thay đổi là phụ âm đầu và kiểu tận cùng sẽ là các từ láy cóphụ âm đầu của hình vị láy giống nhau
1.1.3.4 Các ví dụ
1.1.3.4.1 Từ láy toàn bộ
- Láy toàn bộ thanh điệu giữ nguyên, phụ âm cuối giữ nguyên:
Trang 25xanh → xanh xanh
xương →xương xương đêm → đêm đêm
- Láy toàn bộ, thanh điệu biến đổi theo hai nhóm, phụ âm cuối biến đổi theonguyên tắc:
-p → -m-t → -n
-k (ch)→ -ng (-nh)như đẹp → đèm đẹp
tốt → tôn tốt
ác → ang ácách → anh ách
Trong các từ láy toàn bộ nói trên hình vị láy ở trước và có thanh bằng (thanhngang hoặc thanh huyền) Các từ láy toàn bộ sau đây có hình vị láy ở trước, song cóthanh trắc so với thanh bằng của hình vị cơ sở:
dưng → dửng dưngcon → cỏn con
+ a (vội vã), ac (phờ phạc), ai (dễ dãi), ao (gượng gạo), ang (gọn gàng), ap (mập
Trang 26mạp), at (cháo chát), ay (múa may).
+ e (gọn ghẽ), anh (tập tành), em (móm mém), et (nhẽo nhẹt), eo (ngựa nghẽo).+ i (rầu rĩ), inh (xoàng xĩnh), ít (vờ vịt), ịp (rộn rịp), iu (chắt chiu)
+ ia (giặt ghịa), êm (đậy đệm)
+ ưa (dây dưa), ươi (rã rượi), ương (hơi hướng), ướt (thõng thượt)
+ ua (giẫy giụa), uốc (gân guốc)
+ o (gầy gò),oc(mời mọc), oi (còm cõi), om (nhẹ nhõm)
+ on (ví von), ong (hát hỏng), ot (tỉa tót)
+ ơ (bắt bớ),ơm (hay hớm), ớt (yếu ớt)
+ âm (dựa dẫm), ân (đỡ đần), âu (xương xẩu)
+ ây (run rẩy), ấp (vồ vập)
+ ô (gây gổ), ôi (tức tối), ôn (đần độn), ông (hát hổng), ốt (dại dột)
+ ăng (tung tăng), ăt (héo hắt), ăm(tối tăm), ăn (đầy đặn)
Trang 281.1.4 Những điều cần chú ý về từ láy
1.1.4.1 Quy tắc chuyển hóa thanh điệu trong các từ láy đôi theo hai nhóm thanh
Quy tắc chuyển hóa thanh điệu trong các từ láy đôi theo hai nhóm thanh trongnhiều trường hợp là căn cứ để xác định từ láy đôi Có những từ hai âm tiết, phụ âm đầu
và vần của âm tiết đó tuy vẫn đúng theo quy tắc láy, nhưng thanh điệu của chúngkhông phù hợp với quy tắc nhóm thanh thì chưa hẳn đã là láy đôi chân chính
Ví dụ: "mơ màng", "mơ mộng", "lanh lợi", "êm đềm", "âu sầu", "ủ rũ", có thể
đó là những từ ghép mà cả hai hình vị đều có nghĩa ("mơ", "màng"; "mơ", "mộng";
"âu", "sầu"; hoặc là từ gốc Hán ("lanh", "lợi") Dĩ nhiên cũng có những từ láy chânchính không theo đúng quy tắc nhóm thanh, song những trường hợp này đều có thểgiải thích được ("thâm thẩm", "se sẽ" thay cho "sè sẽ" )
1.1.4.2 Quy tắc láy đôi về âm thanh và thanh điệu song cả hai âm tiết đều có nghĩa
Lại có một số từ hai âm tiết rất phù hợp với quy tắc láy đôi về âm thanh vàthanh điệu song cả hai âm tiết đều có nghĩa (hoặc hiện nay hoặc trước kia đã có nghĩa)như "đền đài", “gậy gộc", "mưa móc", "thuốc thang", "chùa chiền", "hỏi han", "ngặtnghéo", "vung vẩy ", "nhảy nhót" Sau này chúng ta sẽ thấy cả về nghĩa, những từ nàyvừa giống về ý nghĩa của một kiểu từ ghép và vừa giống nghĩa của một từ láy Đây làtrường hợp trung gian giữa từ ghép và từ láy Để cho tiện xếp loại, có thể xem những
từ là những từ ghép (như đền đài, gậy gộc, mưa móc, thuốc thang, ngặt nghèo, vungvẩy, nhảy nhót ) còn những từ ngữ có một hình vị hiện đã mất nghĩa, không dùng độclập và không còn năng lực cấu tạo nữa (như chùa chiềng, hỏi han ) là các từ láy
1.1.4.3 Những từ hai âm tiết phù hợp với quy tắc láy cả về âm và về thanh, song
cả hai âm tiết đều không có nghĩa
Cuối cùng có những từ hai âm tiết phù hợp với quy tắc láy cả về âm và vềthanh, song cả hai âm tiết đều không có nghĩa Trường hợp này lại phân làm ba trườnghợp nhỏ:
- Trường hợp thứ nhất: những từ có hình thức láy, một âm tiết của nó tách riêng
Trang 29không thể dùng độc lập mà vẫn mang ý nghĩa của cả từ như ba ba, cào cào, châu chấu,kền kền, thuồng luồng, (bệnh) thồm lồm, đu đủ, chôm chôm, thằn lằn, cà cưỡng
- Trường hợp thứ hai: những từ có hình thức láy mà một âm tiết riêng có thể
đứng một mình với một ý nghĩa của cả từ như se sẻ, bươm bướm, chuồn chuồn (có thểnói con sẻ, con bướm, con chuồn )
- Trường hợp thứ ba: những trường hợp như hổn hển, lẩm ẩm, đủng đỉnh, ngậm
Sự nghiên cứu từ vựng lịch sử có giúp chúng ta khôi phục lại các hình vị cơ sở (tứccác âm tiết trước kia có nghĩa) trong các từ ở trường hợp thứ ba này
Các hiện tượng trung gian giữa từ láy và từ ghép, giữa từ láy và từ đơn là kếtquả của sự gặp nhau bộ phận giữa các vận động tạo từ khác nhau hoặc là kết quả của
sự biến đổi sau khi vận động tạo từ đã kết thúc
1.1.5 Ý nghĩa của từ láy
1.1.5.1 Nghĩa tổng hợp khái quát
*Nghĩa lập đi lập lại với cùng một trạng thái hoạt động, tính chất Đó là nghĩacủa các từ láy toàn bộ như: ngày ngày, tháng tháng, người người, nhà nhà
Khi giảng nghĩa các từ này, chúng ta có thể dùng công thức giảng nghĩa nhưsau: “nhiều và nào cũng thế”
*Nghĩa khái quát:
Như nghĩa các từ: máy móc,mùa màng, da dẻ nghĩa này gần giống với nghĩacủa từ ghép đẳng lập chuyên loại như: đường sá, chợ búa, bếp núc
Trang 30Các từ láy có nghĩa tổng hợp, khái quát thường có thêm sắc thái mỉa mia, chêbai, đánh giá thấp
1.1.5.2 Nghĩa sắc thái hóa
- Sắc thái hóa có nghĩa là thêm ý nghĩa cho hình vị cơ sở một số sắc thái nào đóchứ không thay đổi hẳn nó
Kết quả của sắc thái hóa có thể là thu hẹp – và kèm theo sự thu hẹp là phongphú thêm nội dung – hoặc mở rộng- và kèm theo sự mở rộng là sự giảm bớt các thuộctính trong nội dung- phạm vi biểu vật của phạm vi cơ sở
- Từ hai ví dụ nói trên có thể kết luận rằng có hai dạng sắc thái hóa của từ láy:+ Thứ nhất: là phi cá thể hóa (nghĩa là làm cho hình vị cơ sở mất khả năng chỉ
cá thể, sự vật, hiện tượng)
Ví dụ: chim chóc, máy móc, chết chóc, tang tóc, múa may, mùa màng,rau ráng, người ngợm, da dẻ, máu me, báo bung sách siếc, học hiệc, nói miếc
+ Thứ hai: cụ thể hóa ý nghĩa hình vị cơ sở
Ví dụ: bối rối, rối rít, lẩn quẩn, rối rít, xấu xí, rục rịch, bấp bênh, tậptễnh, lung lay
- Các sắc thái thêm vảo có thể là:
+ Trạng thái hóa, nghĩa là chuyển một tính chất, một vận động thành một trạngthái diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 31Ví dụ: Xa → xa xôi
Xục → xục xịch+ Kéo dài, dàn trải tính chất, lặp đi lặp lại vận động trong một khoảng thời gian
Ví dụ: Gật → gật gù
Khểnh→ khấp khểnh+ Hạn chế về phạm vi sự vật
Ví dụ:
“Xấu” là từ tố cơ sở được dùng với rất nhiều sự vật khác nhau, nhưng xấu xí chỉdùng cho cái xấu về hình thức, còn xấu xa chủ yếu nói về cái xấu theo tiêu chuẩn đạođức
“Xanh” cũng có cách dùng rộng, nhưng xanh xao thường dùng với nước dangười bệnh
+ Nghĩa sắc thái hóa có thể chỉ các ấn tượng cảm tính: thính giác, xúc giác, vịgiác, khứu giác, thị giác, vận động và các ý nghĩa đánh giá xấu, tốt, mạnh, yếu, nặng,nhẹ mà từ láy mang lại cho nghĩa của từ tố cơ sở
-Nghĩa của các từ láy sắc thái hóa giống với nghĩa của từ láy ghép chính phụsắc thái hóa như: đen xì, đen xỉn, đen thui Vì vậy cách giảng nghĩa 2 loại từ này cũnggiống nhau, đó là giảng nghĩa theo lối miêu tả Miêu tả là lấy một vật làm chủ thể chođặc điểm mà từ láy hay từ ghép sắc thái hóa biểu thị, rồi miêu tả tính chất hoặc vậnđộng của vật đó theo nghĩa của từ láy hay từ ghép sắc thái hóa
Ví dụ:
Giảng nghĩa từ “phất phơ” có thể lấy câu ca dao
“Thân em như tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
làm căn cứ (vật chủ thể là dải lụa)
Trang 321.1.5.3 Nghĩa của các khuôn vần láy
Các từ hoàn toàn mà từ tố láy có thanh bằng đều biểu thị nghĩa giảm nhẹ (do sựtrải rộng trong không gian và sự lặp đi lặp lại nhiều lần) tính chất, vận động mà các từ
tố cơ sở biểu thị: nhè nhẹ, khe khẽ, văng vẳng, gật gù, vây vẫy Nếu từ tố láy ở trước
có thanh trắc thì nghĩa của từ láy hoàn toàn lại là tăng cường: dửng dưng, cỏn con
*Khuôn vần –ăn: thường diễm tả một tính chất đạt chuẩn mực chứng tỏ người
mang hoặc thực hiện tính chất đó là người trung thực, tin cậy được: đầy đặc, tròn trặn,thẳng thắn, ngay ngắn, vuông vắn, đứng đắn, đúng đắn
*Khuôn vần -ấp: thường diễn tả sự dao động đều đặn theo chiều lên xuống hoặc
theo tình thế hiện ra – mất đi: bập bùng, tập tễnh, mấp mô, khấp khểnh, khập khiễng,lấp ló, lấp lánh, nhấp nháy, thập thò
*Khuôn vần –úc: diễn tả dao động theo chiều ngang từ quãng nặng: rục rịch,
nhúc nhích, lúc lắc, ngúc ngắc, trục trặc, phục phịch
*Khuôn vần –iếc: có ý nghĩa phi cá thể hóa kèm theo thái độ phủ định giá trị
thật của sự vật hiện tượng: sách siếc, bàn biệc, ghế ghiếc, áo iếc, học hiệc, nói niếc
*Khuôn vần –ung: biểu thị nghĩa khái quát như ý nghĩa của khuôn vần –iếc biểu
thị nhưng sắc thái coi thường, khinh rẻ hơn: báo bung, tiệc tùng, làm lụng, nhớ nhung,mịt mùng,
1.1.5.4 Nghĩa cùa từ láy tư
Các từ láy kiểu khấp kha khấp khểnh, lúng ta lúng túng, nhí nha nhínhảnh thường được sản sinh từ các từ láy đôi chỉ các trạng thái hoặc tính cách động:lúng túng, nhí nhảnh, hí hửng và có hiệu quả ngữ nghĩa là lập lại một lần nữa các tínhchất ngữ nghĩa, mà các từ láy đôi cơ sở đã có (tức là lặp lại một lần nữa hiệu quả ngữnghĩa của lúng túng, khấp khểnh, nhí nhảnh, hí hửng, )
Các từ láy kiểu bổi hổi bồi hồi, cảu nhảu càu nhau, nham nham nhở nhở, nhănnhăn nhở nhở về thực chất là một kiểu láy toàn bộ với đơn vị gốc có hai âm tiết (khácvới từ láy đôi toàn bộ có hình vị cơ sở một âm tiết) cho nên mang hiệu quả ngữ nghĩacủa từ láy toàn bộ mà hình vị láy ở trước với thanh trắc (lặp lại nhiếu lần và tăng
Trang 33thơ Từ ấy bao gồm ba phần:Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng Máu lửa ghi lại niềm vui
bắt gặp lí tưởng cách mạng của người thanh niên Huế, sự hòa nhập với cuộc đời chung
của dân tộc Xiềng xích là tiếng hát cất lên từ xiềng xích, ngục tù, thể hiện tinh thần
Trang 34đấu tranh kiên cường của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi.Giải phóng khép lại bằng
một niềm vui lớn, niềm vui giải phóng, niềm vui tung phá xiềng xích ngục tù, niềm vuihít thở không khí trong lành sau hàng trăm năm nô lệ, niềm vui bay lên với sông núi,
1.2.3 Gió lộng (1955-1961)
Gió lộng (1955-1961) phản ánh giai đoạn đất nước ta bắt đầu thời kì xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất Tổ quốc.Gió lộng thể hiện niềm vuilàm chủ đất nước, làm chủ đời mình; ca ngợi cuộc sống mới ở miền Bắc và bộc lộ tìnhcảm tha thiết đối với miền Nam Tập Gió lộng tiếp tục khuynh hướng khái quát và cảmhứng lịch sử- dân tộc được mở ra ở cuối tập Việt Bắc Tập thơ thể hiện những vấn đềdân tộc, cộng đồng, chứ không phải là vấn đề cộng đồng cá nhân, nói đúng hơn là sốphận cá nhân hòa với số phận dân tộc, cộng đồng
Trang 35CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ TỪ LÁY TRONG
BA TẬP THƠ TỪ ẤY, VIỆT BẮC VÀ GIÓ LỘNG
CỦA TỐ HỮU
2 1 Giá trị tạo hình, tượng thanh của từ láy trong tập thơ Từ ấy
2.1.1 Máu lửa
Trang 36Tố Hữu không chỉ là một nhà thơ mà ông còn là một nhà cách mạng chânchính Trong các sáng tác của mình, ông luôn định hướng đường đi rõ ràng cho bảnthân Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt Nam, Tố Hữu đãđịnh hướng lí tưởng của ông đến Đảng Tìm thấy Đảng, Tố Hữu đã ví như tìm thấy lí
tưởng, thấy chân lý của đời mình Trong Từ ấy nhà thơ đã gắn mình với cách mạng,
gắn lí tưởng mình với lí tưởng của Đảng và gắn đới sống mình với toàn thể nhân dânlao động nghèo khổ:
“Để hồn tôi với bao hồn khổGần gũi nhau thêm mạnh khối đời”
Từ láy “gần gũi” được nhà thơ sử dụng phần nào thể hiện khát vọng của mình Ôngkhông sử dụng “bên cạnh” mà là “gần gũi” ý chỉ quan hệ thân mật, thân tình Nhà thơkhông chỉ đặt mình bên cạnh nhân dân lao động mà là muốn gắn mình với nhân dânlao động Tố Hữu muốn trở thành một người anh, người em, người con trong đại giađình ấy Cách ông sử dụng từ láy “gần gũi” đã góp phần truyền đạt ý muốn của nhàthơ
Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, TốHữu còn thể hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: vì lẽ sống hi sinh cho cuộc sống – Đời như Mác là tìnhcao nghĩa rộng, xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cáchmạng Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người than bụi, lầy bùn là lựclượng tiếp nối của vạn kiếp phôi pha, là lực lượng lớn mạnh của vạn đầu em nhỏ
“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏKhông áo cơm, cù bất cù bơ”
Trang 37Từ láy tư “cù bất cù bơ” được tác giả đưa vào cuối bài đã nâng tính nhân đạo của bàithơ lên một góc độ khác Dựa vào từ láy đôi “cù bất”, tác giả sử dụng phương thức láytác động lần hai tạo nên từ láy tư “cù bất cù bơ” Tố Hữu không chỉ gắn mình vớinhững người có điều kiện mà là gắn mình với cả những tầng lớp thấp nhất của xã hội –một tầng lớp không đủ cơm ăn, áo mặc, phải lang thang không nhà không cửa “Cù bất
cù bơ” đã càng khẳng định khát vọng mạnh mẽ của một nhà cách mạng trẻ Một khátvọng gắn kết mọi thành phần trong xã hội thành một khối thống nhất
Trong một xã hội mà sự phân biệt giàu nghèo là một bức tường, ngăn cách conngười với nhau Tố Hữu thấy được điều đó và cũng cảm nhận sâu sắc những nghịch lícủa xã hội ấy Dù là thuộc tầng lớp tiểu tư sản nhưng nhà thơ đã đứng trên lập trườngmột người dân thường mà nhìn nhận vấn đề:
“Hai đứa bé cùng chung nhà, một tuổiCùng ngày thơ, khờ dại, như chim nonBụi đời dơ chưa vẫn đục hồn nonCùng trinh tiết như hai tờ giấy mới”
Trong bài thơ Hai đứa trẻ nhà thơ đã đặt ra những sự đối lập giữa hai đứa bé cùng
chung một nhà Tuy nhiên một đứa là con chủ nhưng đứa kia lại là con của mụ làmthuê Dù là cùng chung sống dưới một mái nhà nhưng sự khác biệt mà tác giả nêu lênthật đáng để người đọc quan tâm:
“Ồ lại chửa! Đứa xinh tròn mủm mỉmCười trong chăn và nũng nịu nhìn meĐứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lêGhèn nhầy nhụa ruồi bu trên môi tím”
Tác giả đã vạch ra một đường ranh của sự đối lập một cách mạnh và sắc TốHữu sử dụng từ láy “mủm mỉm” để gắn với đứa con nhà chủ, nhà thơ đã miêu tả một
Trang 38đứa bé không chỉ ăn no mà có vẻ cũng sống rất sung sướng Từ “mủm mỉm” có nghĩacười hơi hé môi Tác giả tả một đứa bé với tất cả sự xinh xắn, đáng yêu, đang đượcnuôi nấng trong nệm ấm, chăn êm và cũng không khó để người đọc tưởng tượng mộtcuộc sống sung túc mà đứa bé được hưởng.
Tuy vậy, không phải ai sinh ra cũng được trời ban cuộc sống tốt đẹp Điềunghịch lí ở đây chính là sự đối lập một cách khắc nghiệt giữa hai cá thể chung một máinhà Trẻ em có quyền được hưởng những gì tốt đẹp nhất nhưng đứa bé sinh ra từ mộtngười giúp việc thì lại bị tước đi cái quyền ấy như một quy luật xã hội Nếu đứa trẻtrên tròn “mủm mỉm” thì đứa bé dưới đây lại ghèn “nhầy nhụa” Tố Hữu không viếtnhiều, những từ láy ông dùng để tả về đứa con của mụ giúp việc đầy sức gợi tả Ngườiđọc khi bắt gặp từ láy “nhầy nhụa” dường như đang bắt gặp đứa bé ấy ngoài đời thực.Một đứa trẻ dính lầy nhơ bẩn Một đứa trẻ mà sự quan tâm chỉ đi qua em mà khôngtiếp cận em Đứa trẻ ấy cho người khác cảm thấy sự xa lánh Nếu như con chủ khiếnngười đối diện muốn nâng niu, chìu chuộng, ấp ôm thì đưa trẻ dơ bẩn kia hoàn toànkhiến người đối diện không có cảm giác như thế Chính cách láy âm dựa trên hình vị
cơ sở là nhầy, tác giả đã tăng thêm sắc thái thảm thương hơn của đứa bé Đọc câu thơcủa Tố Hữu, người đọc không khỏi xót thương Dường như chính trong những câu chữtưởng chừng vô tri lại đang tố cáo cái xã hội lúc bấy giờ Một xã hội phân biệt giai cấpsâu sắc, một xã hội
“Con vua thì lại làm vuaCon sãi ở chùa thì quét lá đa”
Dùng hình ảnh hai đứa bé ám chỉ hai thế cực của đời sống xã hội Việt Nam.Một bên giàu sang được quyền ăn ngon, mặc đẹp, nệm ấm, chăn êm Một bên lạinghèo khổ nên khép nép, bị rẻ khinh
Đặc điểm nổi bật của thơ Tố Hữu là cái cảm hứng xã hội Nhưng khi mô tả
“những con người nhỏ bé”, “những nạn nhân của xã hội” Tố Hữu không bao giờ cóthái độ ban ơn, cũng không lí tưởng hóa họ mà nhà thơ dùng chân tình để đi đến suynghĩ của họ và dùng trái tim để đến được trái tim Cô gái “rày đây mai đó” trong
Tương tri đã được Tố Hữu dành cho sự đồng cảm hết sức chân thành Sự cảm thông ấy
Trang 39không đồng nghĩa với tội nghiệp mà là tác giả đang sống với những gì cô gái đang trảiqua Tác giả muốn cô gái biết rằng: bên cạnh cô vẫn sẽ có người đồng hành Vì vậyđừng từ bỏ quyền sống, đừng vội gác tay trước hoàn cảnh
“Anh nhìn em không nóiNhẹ nhẹ để bàn tayTrên đầu non tóc rối
Rũ rượi xõa ngang vai”
Một hành động đưa bàn tay lên “tóc rối” của anh dù không kéo dài nhưng đủ là điểmnhấn, đủ trở thành trung tâm cảm xúc của tác giả Sự thấu hiểu của Tố Hữu khôngdừng lại ở cảm nhận bề ngoải mà ở cả những chi tiết tưởng chừng không ai quan tâm
“Trên đầu non tóc rối
Rũ rượi xõa ngang vai”
Nếu như từ láy “rũ rượi” mang ý nghĩa bơ phờ, mệt mỏi, không cử động nổi để chỉtrạng thái con người thì trong câu này tác giả lại dùng cho hình dáng tóc cô gái Nétđặc sắc trong câu thơ trên là tác giả miêu tả tóc nhưng lại hàm chứa cả một cuộc đời,một số phận của cô gái Chính dòng đời đã khiến cô gái bị cuốn vào những thị phi, oantrái để rồi chính cô gái về thể xác lẫn tinh thần dường như mất hết sức sống Mái tócrối rũ rượt ghi dấu ấn những nẻo đường mà cô đã đi qua Cô đã không còn sức và cũngkhông còn đủ niềm tin cho hành trình tiếp theo của mình Đối với cô, sự bước đi chỉ làmột cách cô chống chế trước cuộc đời hay nói đúng hơn là cô chỉ biết thả trôi số phậnmình vào xã hội
Người đọc đang giật mình phát giác sự thật về thân phận người phụ nữ lúc bấygiờ Dù đã giảm đi sự khắc nghệt hơn so với thời phong kiến, tuy nhiên, trong xã hộinày, người phụ nữ cũng chỉ là những món hàng có thể mua bằng tiền và là thú vui củanhững kẻ được cho là nhiều tiền, nhiều của, nhiều quyền lực
Trang 40Tố Hữu là một nhà thơ luôn đặt mình vào cuộc sống của ngưởi nhân dân lao động.
Nếu như Tương tri là hình ảnh một cô gái tha phương, Hai đứa trẻ chứa đựng hình ảnh người mẹ làm thuê thì Vú em lại kể câu chuyện về một người mẹ phải xa con Nỗi đau
đờn nào hơn khi một người mẹ lại phải gửi con nương sớm cũ Có thể nói Tố Hữu làmột nhà thơ không ngại tìm hiểu, ông chưa bao giờ thấy đủ trước những cảnh đờinghèo khổ Đối với ông dù là một vú em nhưng ẩn sau lại là cả một nghị lực, một nghịlực chống chọi với cuộc đời rất mạnh mẽ một tấm lòng người mẹ được Tố Hữu khắchọa qua những chi tiết: chợt thức lúc đêm khuya, buồn bã mà dường như nghe được cảgió
“Gió vẫn vô tình lơ đãng bayNhững tàu cau yếu sẽ lung lay”
Tưởng chừng những câu thơ chỉ đơn thuần là tả cảnh, tả vật nhưng lại chứa đựng sâubên trong là cả một tâm trạng đau đớn khôn xiết Hình ảnh tàu cau lung lay trước gióđược ví như sự lo sợ cho cuộc sống những đứa con nhỏ ở nhà của người mẹ Từ láy
“lung lay” khi gắn vào chỉ trạng thái của cây xanh ý chỉ sự rung chuyển, ngả nghiêng,cuộc sống những đứa trẻ khi không có mẹ bên cạnh cũng ngả nghiêng không nơi bámvíu Giả sử tác giả sử dụng lay động thì mức độ nguy hiểm sẽ giảm đi Bằng cách đặthình vị cơ sở phía sau, từ láy “lung lay” gợi một cảm giác như nó rung chuyển đến tậngốc rễ, vô cùng nguy hiểm.Nếu không đặt mình vào cuộc đời người mẹ tác giả sẽkhông thể tả chính xác suy nghĩ, cảm xúc của người mẹ xa con
Nguyễn Du từng viết “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Quả đúng như thế, khitâm trạng con người đã là vực thẳm thì hiển nhiên cảnh vật xung quanh họ cũng sẽthay đổi sắc thái, trở nên xám xịt hơn Nếu như hôm nay thay cho những làn gió là cơnbão dông, có lẽ những tàu cau kia không thể bám trụ Đứa con xa mẹ liệu rồi có vượtqua cơn giống tố cuộc đời Những âm thanh gió lúc này càng khiến trái tim người mẹ
bị bóp ngạt
“Xạc xào động cánh đau lòng mẹNghe tiếng lòng con vẳng tới đây”